Tuesday, June 23, 2015

Vign_adida_69
     TỰ LỰC và THA LỰC trong TỊNH ĐỘ

     1.TỰ LỰC của người tu Tịnh Độ.


       Trong Tịnh độ, tự lựcrất cần thiết: mình phải phát nguyện vãng sanh và thực hành những phương pháp Quán và Niệm mà Đức Phật Thích Ca dạy trong những kinh Căn bản của Tịnh độ: Kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh ĐT Vô Lượng Thọ; những kinh khác như Pháp Hoa và Hoa Nghiêm là để bổ sung cho Hiểu (Pháp Hoa) và Hành (Hoa Nghiêm) đại thừa pháp Tịnh Độ.

       THÍ DỤ: Áp dụng kinh VLT, Sám hối vãng sanh và Công đức vãng sanh. Ngoài việc phát nguyên, chúng ta chỉ cần Sám hối, dùng Trì danh Niệm Phật (A Di Đà) mà sám hối, vì mỗi một niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà đều có tác dụng trừ được Tội và Nghiệp đã làm từ Vô thỉ (Tội tùng Tâm tạo, Tội tùy Tâm diệt), dĩ nhiên sám hối rồi thì không tái tạo nữa (có Sám phải có Hối); đến khi mạng chung tuy nghiệp và tội chưa tiêu trừ hết, nhưng nhờ Tha lực của Phật A Di Đà cho đới nghiệp vãng sanh, vì khi nhập vào thế giới Cực Lạc rồi, trong đó không có tam ác đạo, không có THAM vì muốn gì đều được, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc khỏi cần nấu nướng, may giặt, muốn tắm có ao hố với nước có 8 công đức, muốn nghe kinh thi ngồi dưới cội cây Bồ đề của TG Cực Lạc, có vị Phật mình muốn ngài nói kinh gì sẽ được Phật đó nói kinh cho nghe; do đó lòng tham không cần thiết !

       Tiếp theo, những người có khả năng bố thí (tài thí, pháp thí, vô úy thí) thì mỗi khi làm xong một việc bố thí liền hồi hướng công đức gởi về TGCL cầu cho mọi chúng sanh cũng được vãng sanh như mình, giống như ta đi làm có tiền dể dành trong quỹ Tiết kiệm hoặc tài khoản tiết kiệm, khi cần dùng có ngay, ai cần cho họ. Vậy làm công đức và HỒI HƯỚNG về TG Cực Lạc cũng là một lối Tu, tự lực + phát nguyện vãng sanh, Đức Phật A Di Đà sẵn sàng tiếp dẫn chúng ta vãng sanh Cực Lạc khi mạng chung, khỏi cần cầu siêu. Tuy nhiên nếu khi mạng chung mà có được Thiện tri thức là những hv NLVT-TL ở cấp V (L13++ cũ) trở lên, phóng quang hay truyền điện đưa linh hồn siêu thoát về TGCL thì rất là bảo đảm.

        Nếu một phật tử tu Tịnh độ mà có học NLVT-TL đến cấp VII (lớp 20 Tổng hợp) thì chắc chắn là thân không  bệnh nặng khi lâm chung, tâm đã ở trong trạng thái Không (L20.1) và chân Thường, chân Lạc (L20.2) thì người nầy không cần trợ lực vãng sanh nữa, mà họ có thể trong trạng thái chân Ngã và chân Tịnh "hội nhập" vào một thể xác khác <đã chọn lựa sẵn> để tiếp tục con đường Bồ-Tát đạo, hóa độ chúng sanh.

      2. THA LỰC của Phật Di Đà

      Trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, nguyện nào cũng kèm theo "nếu không được vậy tôi không làm Phật”. Đó là sự bảo dảm nhất so với 12 lời nguyện của Phật Dược Sư Lưu Ly.

       Đức Phật Di Đà chưa bao giờ xuống trần gian nầy như Phật Thích Ca. Theo kinh VLT, Ngài ngự trị ở phương Tây, quốc độ của Ngài gọi tên là thế giới CỰC LẠC, không có điều khổ, tức là An Lạc quốc hay Niết Bàn.

       Phật A Di Đà có đủ Tình Thương (Từ Bi) và Trí Tuệ cho nên bên cạnh Ngài luôn luôn có Bồ-Tát Quán Thế Âm (Từ bi) và Đại Thế Chí (Trí Tuệ). Đức Phật Thích Ca chỉ là Đạo sư, chỉ đường, cho thuốc, chứ Ngài (Thích Ca) không ra tay cứu vớt chúng sanh ra khỏi bể Khổ. Bởi vậy sau khi nhập diệt quá lâu rồi, lời Phật TC dạy đã 4 được viết lai, diễn tả theo bản ý, bản ngã của mình, nhất là các Tổ Trung Hoa quá giỏi về văn chương triết học, đã viết lại (gọi là kiết tập kinh điển), nên chúng ta mới có bộ kinh HOA NGHIÊM dày bằng 8 lần kinh Pháp Hoa, tất cả đều là phương phương tiện đi tìm chân lý. Học và Tu theo Tịnh độ, chúng ta chỉ cần một bộ kinh ngắn như Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ là đủ rồi. Học nhiều mà không Hành cũng như không; học ít mà có Hành, thực hành, thực hiện, thì thành công.

                                           BỐN PHÁP NIỆM PHẬT     

        PHÁP MÔN NIÊM PHẬT căn cứ vào kinh Quán Vô Lượng Thọ, phép quán thứ 16 trong 16 phép quán. Nghĩ đến danh hiệu Phật A Di Đà, xướng/đọc lên danh hiệu của Ngài <NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT> gọi tắt là "lục tự Di Đà". Khi xướng/đọc 6 tiếng Nam-Mô-A-Di-Đà-Phật thì tai hắng nghe từng tiếng cho rõ ràng (đây là quán âm thanh), ý chỉ nghĩ tới 6 chữ < lục tự> đó không dược rời một chữ (đây là tưởng quán), nếu cần, tưởng tượng chữ viết Nam Mô A Di Đà Phật bằng Việt ngữ hoặc Hoa ngữ. Luôn luôn bám sát vào lục tự hồng danh đó, lúc đầu niệm lớn tiếng gọi là Cao thanh Trì danh, đế lấn áp tất cả âm thanh khác, mắt nhắm lim dim (đừng ngủ quên), ý thì như trên đã nói bám vào 6 tiếng niệm Phật, không cho vọng tưởng xen vào. Sau một thời gian, niệm nhỏ tiếng lại cho dở mệt, gọi là Đê thanh Trì danh. Kế đến giai đoạn ba của pháp Niệm Phật là Kim Cang Trì Danh: niệm thầm, chỉ nhấp nháy miệng, tiếng rất nhỏ vừa đủ mình nghe không cho người khác nghe mình niệm Phật; ý vẫn như trên nhưng mãnh liệt hơn: ý thức bám sát từng tiếng niệm Phật, cứng như kim cương, không để xao lãng tiếng niệm phật. Lúc nầy vọng tưởng bị Kim Cương chận lại. Giai doạn thứ tư và cũng là giai doạn chót của Công phu Niệm Phật: Mật niệm Trì danh, tức là niệm thầm trong ý thức mà thôi, không có tiếng niệm Phật nữa, ngậm chặt miệng, dùng ý thức dưa tiếng niệm Phật theo âm điệu và tiếng nhịp mõ như các lần trước, kỳ nầy cũng không gõ mõ nữa, hoàn toàn im lặng, chỉ có mình biết mình niệm Phật trong ý thức mà thôi. Niệm Phật kiểu nầy, ngồi đâu niệm Phật cũng được, nhưng nhớ rằng chúng ta đang niệm Phật, không được xao lãng một giây (sec) đồng hồ. Khi nầy, tập trung định lực vào tiếng niệm Phật "mật niệm". không kể không gian và thời gian, giống như ngồi Thiền vậy nhưng không chú trọng thế ngồi (bán già, kiết già). Đi trên xe bưýt (Bus) mà niệm Phật kiểu nầy, coi chừng xe chạy quá trạm mình muốn xuống. Tiện nhất là ra công viên ngồi chơi, nhưng là Niệm Phật.
                           NIỆM PHẬT TAM MUỘI

     
TAM MUỘI có nghĩa là Đai định. Nên biết rằng Thiền định mục dích là vào Không: không vọng tưởng, tâm vắng lặng. Trong khoa Năng Lượng VT-Tâm linh chúng ta gọi là Băng tần Số Không hay là Tâm Không. Sau khi niệm Phật vào trạng thái Mật niệm trì danh, nhờ ý thức bám vào danh hiệu Phật Di Đà mà các vọng tưởng không xen vào   được, chỉ có nhất (một) tâm niệm Phật. Tâm gần như không còn dao động "tâm viên ý mã" nữa, nhờ danh hiệu Phật mà giữ được "nhất tâm". Bây giờ hành giả Niệm Phật "XẢ NIỆM" tức là buông bỏ ý niệm, không còn giữ danh hiệu Phật nữa, tâm trở nên vắng lặng như vào thanh tịnh địa của Tứ thiền Sắc giới

     Trạng thái nầy gọi là Vô niệm trì danh:Niệm Phật mà không có niệm nào; Không niệm mà niệm vì hành giả đang ở trong trạng thái niệm Phật. Đây gọi là
Niêm Phật Tam Muội hay Niệm Phật định lặng.
      Nếu trong thời gian nhập định Tam muội nầy mà hơi thở không còn nữa nhưng thân bất động trong tư thế thiền định, thì người nầy đã "Vãng Sanh" hoặc "Nhập hữu dư Niết Bàn".HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2015.

No comments:

Post a Comment