Friday, March 19, 2021

THÍCH CA PHƯƠNG CHÍ CHƯƠNG BỐN DI TÍCH Từ thời nhà Hán đến thời Tiền Đường, những người sang Ấn Độ trong đó đạo chúng lắm nhiều chưa thể nói hết, như sự ghi chép ở sau. Vả lại y cứ ngay trong thời Tiền Đường, năm trước sứ giả đã đi thì có ba đường. Y cứ theo đường đủ trải qua trông thấy các di tích thì nay đây theo tuần tự mà trình bày. Đường phía Đông theo hướng Tây Bắc của Hà Châu vượt qua sông lớn lên đảnh núi Mạn Thiên gồm bốn trăm dặm đến Thiện Châu, lại theo hướng Tây gần một trăm dặm đến Thiện Thành là thuộc địa của Trấn Cổ Châu vậy. Lại theo hướng Tây Nam gần trăm dặm đến Cố Thừa phong mậu là xứ Tùy Hổ Thị, lại theo hướng Tây gần hai trăm dặm đến Thanh Hải, trong biển có núi nhỏ, chu vi biển ấy rộng hơn bảy trăm dặm. Theo hướng Tây Nam của biển là đến Thổ Cốc Hồn Nha Trướng, lại theo hướng Tây Nam đến ranh giới của nước ấy tên là Bạch Lan Khương, ranh giới phía Bắc là đến thành Tích Ngư, theo hướng Tây Bắc là đến nước Đa Di. Lại theo hướng Tây Nam đến nước Tô Tỳ, theo hướng Tây Nam đến nước Cảm. Lại theo hướng Nam hơi lệch về hướng Đông đến nước Thổ Phiên. Lại theo hướng Tây Nam đến nước Tiểu Dương Đồng. Lại theo hướng Tây Nam vượt qua ải Đút Thương Khả là biên giới phía Nam nước Thổ Phiên vậy. Lại theo hướng Đông hơi lệch về phía Nam, vượt qua mạt thượng, thêm ải Tam Tỷ, theo hướng Đông Nam đi vào hang, trải qua mười ba từng cấp thềm bay, mười chín sạn đạo, lại theo hướng Đông Nam hoặc Tây Nam, vin cây men lành đi đường hoang dã hơn mười bốn ngày mới đến nước Ni Ba La thuộc Bắc Ấn Độ. Nước ấy cách nước Thổ Phiên khoảng chín nghìn dặm, giữa đường trong đó, từ Đông Xuyên. Thiện Châu đi hơn trăm dặm, lại theo hướng Bắc đi ra hơn sáu trăm dặm đến Lương Châu. Về hướng Đông các Kinh Đô hai nghìn dặm. Từ Lương Châu theo hướng Tây hơi lệch về hướng Bắc cách bốn trăm bảy mươi dặm là đến Cam Châu. Lại theo hướng Tây cách bốn trăm dặm là đến Túc Châu. Lại theo hướng Tây hơi lệch về hướng Bắc cách bảy mươi năm dặm là đến ải Ngọc Môn cũ, ải đó nằm giữa khoảng núi hai phía Nam Bắc, lại theo hướng Tây gần bốn trăm dặm là đến Qua Châu. Lại theo hướng Tây Nam vào bãi sa mạc hơn ba trăm dặm là đến Sa Châu, lại theo hướng Tây Nam vào bãi sa mạc hơn bảy trăm dặm là đến nước Nạp Phiệt Ba xưa cũ tức là Xứ Lũ Lan cũng còn gọi là Thiện Châu. Lại theo hướng Tây Nam đi hơn ngàn dặm là đến nước Chiết Ma Đà Na, tức là xứ Thư Mạt. Lại theo hướng Tây đi hơn sáu dặm là đến nước Đô La xưa cũ, đều là thành quách hoang tàn. Lại theo hướng Tây vào đại Lưu Sa đi hơn bốn dặm là đến cảnh vực phía Đông nước Cù Tát Đát, theo Hán sử thì cho đó là Vu Điền, nơi trấn thú trị vì của nhà Hán trong thời đô hộ, về phía Đông nước đó cách thành Trường An chín nghìn sáu trăm bảy mươi dặm, ải ở đó tên là thành Ni Nhưỡng, người xứ đó tự cho là nước Vu Độn vậy. Chu vi nước đó hơn bốn nghìn dặm, cát sỏi nhiều hơn một nửa, Chùa Chiền có hơn trăm ngôi, Chư Tăng có khoảng năm nghìn vị học theo Giáo Pháp Đại Thừa. Từ ải ấy đến sông Bễ Ma cách hơn hai trăm dặm. Trong thành Bể Ma có một Tôn Tượng đứng bằng gỗ Chiên Đàn cao hơn hai trượng, rất lắm linh dị ánh sáng luôn tỏa phỏng. Những người tật bệnh tùy sự thống khổ mà đem vàng mỏng thấp vào trên Tượng bèn liền lành khỏi. Tôn Tượng ấy vốn ở tại nước Kiều Thưởng Di, do Vua Ổ Đà Diểu Na tạo nên, Tôn Tượng vượt bay giữa không trung mà đến nước ấy. Về hướng Bắc là thành Hát Lao Lạc Ca có vị La Hán kỳ dị, mọi người thường sang kính lễ, mới đầu Vua không tin đem cát bụi tung vãi nói vị La Hán ấy. Vị La Hán ấy mới báo cùng người kính tin rằng: Bảy ngày sau cát bụi sẽ tràn đầy khắp thành, sau đó hai ngày mưa vật báu đầy cả đường đi. Đến đêm của ngày thứ bảy quả nhiên mưa đất bụi đầy Thành, lược không đề sót người nào, người được báo trước, bèn dự bị làm hàng đất theo lỗ mà ra. Phía Đông đến Bễ Ma, Tôn Trượng ấy cũng đồng đến. Lại có dự ghi rằng: Đến lúc Giáo Pháp hoại diệt, Tôn Tượng ấy sẽ vào Long Cung. Thành Hát Lao ấy đến nay là gò đồi lớn, Vua muốn đào bới vật báu hẳn gặp phải phong biến. Lại từ thành Bể Ma theo hướng Tây đi khoảng ba trăm ba mươi dặm mới đến Quốc Thành, nơi Vua định đô. Theo hướng Nam cách khoảng mười dặm có một ngôi Chùa lớn do Tiên Vương dựng tạo. Lại theo hướng Tây Nam cách hơn mười dặm có một ngôi Chùa có Tôn Tượng đứng được ép dệt bằng vải sợi. Tôn Tượng ấy từ nước Khuất Chi đến. Xưa kia có kẻ bề tôi sang đó kính lễ, khi trở về quê cũ, kẻ bề tôi ấy xa nghĩ nhớ không thôi, Tôn Tượng ấy ban đêm bèn xuất hiện đến. Kẻ bề tôi đó mới xả thí vườn nhà làm Chùa. Từ Đô Thành về hướng Tây cách hơn ba trăm dặm là đến thành Bột Già Di, ở đó có Tôn Tượng ngồi cao bảy thước, tướng hảo không đâu sánh bằng, trên đầu Tôn Tượng có Bảo Quan thường luôn tỏa hiện ánh sáng. Từ Đô Thành về hướng Tây cách khoảng một trăm sáu mươi dặm, giữa đường chỉ có bãi sa mạc lớn, chỉ có chuộc những thân mình lớn như con dím, lông sắc màu vàng bạc. Xưa trước Hung Nô đến đánh cướp, Vua nguyện cầu chuộc linh ban đêm đến cắn người, ngựa, các thứ binh khí gãy đứt hư hoại, tự nhiên rút chạy lui. Từ Đô Thành về hướng Tây cách khoảng năm dặm có một ngôi Chùa có Bảo Tháp cao hơn năm thước, phần nhiều hay hiện tướng tỏa phóng ánh sáng. Vua cảm được vào trăm viên Xá Lợi, vì La Hán dùng tay phải nâng Bảo Tháp đặt yên vào trong hộp mới hạ xuống không nghiêng động. Từ Đô Thành về hướng Tây Nam cách hơn mười dặm có núi Cù Thất Lăng Già, Trung Hoa gọi là Ngưu Giác, ở đó có ngôi Chùa có Tôn Tượng tỏa hiện ánh sáng. Xưa kia Đức Phật từng đến xứ đó vì các hàng Trời người mà giảng pháp, dự ghi dựng lập nước ấy sùng kính chuyên học Đại Thừa, trong Thạch Thất Sơn Nham có một vị La Hán nhập diệt tâm định chờ đợi Đức Phật Di Lặc từ thị ra đời. Trước đây khoảng vài trăm năm sườn núi sụp đổ bít lấp cửa nẻo. Biên giới phía Nam nước ấy tiếp liền với nước Đông Nữ. Từ Quốc Thành theo hướng Tây vượt qua núi hang đi hơn tám trăm dặm đến nước Chước Cu Ca, tức là Trở Cừ, cảnh vực phía Nam nước ấy chu vi hơn ngàn dặm, Chùa Phật có hơn mười ngôi, Chư Tăng ngoài trăm vị đều học theo Giáo Pháp Đại Thừa. Về phía Nam nước ấy có núi dựng Tháp Đa La, dòng suối xanh mát tốt tươi, Thanh thất sâu lắng, có ba vị A La Hán hiệu nhập Diệt Định, râu tóc luôn dài Chư Tăng thường cắt cạo. Chư Tăng ở năm xứ Ấn Độ những vị tu hành chứng quả phần nhiều ở tại thất ấy. Lại theo hướng Bắc gần ba trăm dặm mới đến Đô Thành, chu vi Đô Thành ấy rộng hơn mười dặm, núi đồi liền tiếp nhau phụ thuộc gắn liền với hai dòng sông. Lại theo hướng Tây Bắc nước đó lên đảnh núi Đại Sa, vượt qua sông Tỷ Đa cách hơn năm trăm dặm đến nước Khư Sa, tức là nước Sơ Lặc. Chu vi nước đó rộng hơn ngàn dặm, có khoảng vài trăm ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vạn vị, đều tập học theo Tiểu Thừa Hữu Bộ, đất đai xứ đó có nhiều đá sỏi. Ở đó có tập tục người chết ép dầu dẹp mỏng. Từ đó theo hướng Nam đi trên đường núi đồi hoang dã lắm đá sỏi hơn năm trăm dặm là đến nước Ô Sát, chu vi nước đó rộng hơn ngàn dặm, chu vi của Đô Thành rộng hơn mười dặm. Về phía Nam gần kề sông Tỷ Đa, dân chúng kính tin Phật Pháp, Chùa Chiền có hơn mười ngôi, Chư Tăng ngàn vị đều tập học theo pháp Tiểu Thừa, từ phía Tây Thành Đô cách hơn hai trăm đến núi lớn. Trên đảnh núi có ngôi Tháp, vài trăm năm trước, sườn núi tự nhiên sụp đổ, trong đó có một vị Tỳ Kheo nhắm mắt tỉnh tọa, thân hình rất to lớn, râu tóc rũ xuống, che phủ cả mặt vai, Vua nước ấy đem đầu tô đến rưới vào và đánh kiền chùy, vị Tỳ Kheo ấy mở cao mắt trong nhìn và hỏi rằng: Thầy của ta là Đức Phật Ca Diếp Ba, đến nay mới nghe là đã nhập Niết Bàn ư? Lại hỏi: Đức Phật Thích Ca đã ra đời chưa? Mọi người đáp: Đã nhập Niết Bàn rồi. Vị Tỳ Kheo ấy liền bay lên giữa hư không phóng hóa lửa tự thiêu thân. Đất xứ đó sản sinh ra các thứ ngọc trắng đen xanh v.v... Từ Quốc Thành theo hướng Tây vượt qua sông lên Thông Lãnh, men theo phía Đông sườn núi đi hơn tám trăm dặm là đến Phước Xá. Xứ đó nằm giữa bốn núi vuông rộng hơn trăm khoảng không có cây cối lớn chỉ có loài cỏ dại, nhân duyên như ở nói riêng. Lại theo hướng Tây Nam vượt Đại Lãnh đến nước Khiết Bàn Đà, chu vi nước đó rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Thành Đô rộng hơn năm mươi dặm. Phía Bắc là gối lưng với sông Ấy Đa. Nơi rất kính tin Phật Pháp. Chùa chiền có hơn mười ngôi, chúng Tăng có hơn năm trăm vị tu học theo phải Tiểu Thừa Hữu Bộ. Về phía Đông Nam nước đó có một thạch thất lớn và có hai cửa, mỗi bên có một vị A La Hán nhập diệt tâm định đã trải qua hơn bảy trăm năm, râu tóc mọc dài, mỗi năm có người riêng vì đến cắt cạo. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn ba trăm dặm mới đến Vương Đô, về phía Đông Nam gần sông Tỷ Đa, núi non tiếp liền. Lại theo hướng Tây hơi lệch về phía Nam leo lên núi. Băng tuyết trải dài hơn năm trăm dặm mới đến sông Ba Ma La. Hai phía Đông Tây dài hơn ngàn dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn trăm dặm, hoặc có nơi hẹp không tới mười dặm, y cứ giữa khoảng Nam Bắc của núi Tuyết. Đất thuần muối mặn nhiều đá, cây cỏ hiếm ít, không có người ở. Theo phía Nam của sông vượt qua núi có nước Bát Lộ La. Sông đó tại trên Đại Thông Lãnh, là núi cao nhất trong Thiệm Bộ Châu, trong đó có ao Đại Long hai phía Đông Tây dài hơn ba trăm dặm hai phía Nam Bắc rộng hơn năm mươi dặm, sản sinh ra trứng lớn. Nước sông ấy theo dòng về hướng Tây chảy đến nước biên giới phía Đông Đạt Ma Tất Đế hợp cùng dòng với sông Phược Sô. Nên từ đó trở về hướng Tây các dòng sông đều đổ về hướng Tây. Ở phía Đông xuất phát ra một dòng sông theo hướng Đông Bắc chảy về đến biên giới phía Tây nước Khư Sa hợp cùng dòng với sông Tỷ Đa. Từ đó các sông ở phía Đông đều chảy đổ về hướng Đông. Ở phía chánh Nam của ao rồng là ao Vô nhiệt não, về phía chánh Bắc là sông Thiên Truyền, ngay phía Nam của ao có đảnh núi lớn lên tên là Bà La Tê La hai phía Nam Bắc cách xa nhau ba bốn trăm dặm. Đất ở đó rất cao, về phía Bắc của ao tức là đại Thông Lãnh vậy. Theo Thủy Kinh nói là: Cao có thể hơn ngàn dặm, hai bên đầu thấp xuống, hai phía Nam Bắc đỉnh núi dựng đứng hàng số rất nhiều có hơn trăm khoản. Có nhiều núi thông, ven núi nguy hiểm, cây thông sắc màu xanh biếc, nhân lấy đó mà đặt tên vậy. Phía Nam của đảnh núi là tiếp liền với núi tuyết, phía Bắc đến sông Thiên Tuyền xa dài khoảng hai nghìn năm trăm dặm, phía Đông đến tận nước Ô Sát, phía Tây tới nước Đạt Hoài dài xa hơn ba nghìn dặm. Từ sông ấy theo hướng Tây Nam vào núi hiểm hơn bảy trăm dặm là đến nước Thương Di, chu vi nước đó hai nghìn sáu trăm dặm, đất xứ đô sản sinh giống Thư Hoàng. Người dân nước đó kính tin Phật Pháp, chỉ có hai ngôi Chùa, Chư Tăng cũng hiếm ít. Lại theo hướng Bắc vượt qua núi đá lớn nước Đa Ma Tất Đế là đến nước Thi Khí Ni, chu vi nước đó rộng hơn hai nghìn dặm, núi đá sỏi tiếp liền với đồng hoang. Lại theo hướng Nam vượt núi sông đến nước Đạt Ma Thiết Tất Đế, còn gọi là nước Thiết Khẩu, nước Hộ Mật tức chốn đất xưa cũ của Đổ Hóa La, tại giữa hai bên núi, hai phía Đông Tây dài rộng một nghìn năm trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài rộng gần một trăm dặm, có nơi nhỏ hẹp chưa đến mười dặm, phía Đông gần đến sông Phược Sô, Chùa Chiền có hơn mười ngôi, Chư Tăng hiếm ít. Tại thành có ngôi Chùa có Tôn Tượng đá phía trên giăng treo lọng tròn bằng vàng đồng, dùng các vật báu trang sức, như có người xoay chuyển quanh thì lọng cũng theo đó xoay chuyển, người dừng nghỉ, lọng cũng dừng yên. Khắp bốn phía là vách tường đá, chẳng thể lường biết cớ sao vậy, có thuyết cho là do sức Thánh tạo nên thế, hoặc có người cho đó là cơ quan bí mật. Lại theo hướng Tây Nam lên núi vào hang đi hơn năm trăm dặm đến nước Quật Lãng Noa, cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi hơn hai nghìn dặm, hiếm ít người tin hướng Phật Pháp. Lại theo hướng Tây Bắc vượt qua đỉnh núi đi hơn ba trăm dặm đến nước Dâm Bạc Kiện, cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng lớn hai nghìn dặm, Đô Thành rộng lớn mười dặm. Lại theo hướng Tây Bắc vượt núi hang đi hơn hai trăm dặm đến nước Bát Đạt Sáng Na cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, Đô Thành men trên sườn núi rộng khoảng sáu bảy dặm, có bốn ngôi Chùa, Chư Tăng cũng hiếm ít. Cách núi hang về hướng Tây đi hơn hai trăm dặm đến nước Tứ Ma Đát La cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, núi sông gần một nửa, có vài mươi thành quách kiên cố. Lại theo hướng Tây vượt qua núi hang đi hơn ba trăm dặm đến nước Khất Lật Sắt Ma cũng là chốn đất xưa cũ. Hai phía Đông Tây rộng hơn ngàn dặm, hai phía Nam Bắc rộng ba trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng mười năm dặm. Lại theo hướng Bắc đến nước Bát Lợi Hạt, cũng là chốn đất xưa cũ, rộng hơn trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài rộng hơn ba trăm dặm, Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Lại tứ nước Khất Lật theo hướng Tây vượt qua núi cao vào hàng động, trải qua sông mối Kinh Thành đi hơn ba trăm dặm đến nước Măng Kiện cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng hơn bốn trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng mười sáu dặm. Theo hướng Bắc vượt qua sông đến nước A Lợi Ni cũng là chốn đất xưa cũ. Chu vi rộng hơn ba trăm dặm, men theo hai bên bờ sông Phược Sô. Chu vi Đại Thành rộng mười năm dặm. Theo hướng Đông vượt qua sông đến nước Át La Hồ, cũng là chốn đất xưa cũ, về phía Bắc gần sông trước, chu vi rộng hơn hai trăm dặm, chu vi Đại Thành rộng mười năm dặm. Lại từ nước Măng Kiện theo hướng Tây đi hơn trăm dặm ra khỏi Thông Lãnh, từ đầu hướng Tây men tìm theo núi xuống đến nước Hoạt, cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Vương Thành hơn hai mươi dặm. Vua nước đó là người Đột Quyết. Từ Thiết Môn trở về hướng Tây, các nước nhỏ phần nhiều đều tùy thuộc Đột Quyết, là địa vức bình an, phong tục dân chúng phần nhiều kính tin Phật, Chùa Chiền có hơn mười ngôi, Chư Tăng khoảng vài trăm vị, tu học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Lại theo hướng Tây đến nước Phược Hạt, chu vi rộng khoảng bốn năm trăm dặm. Lại theo hướng Đông Nam vượt qua núi hang và các Thánh đi hơn ba trăm dặm đến nước Hoạt Tất Đa, cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi nước đó gần ngàn dặm, Đô Thành rộng hơn mười dặm, núi nhiều, sông hẹp, rất mực gió lạnh, có ba ngôi Chùa Chư Tăng hiếm ít. Lại theo hướng Đông Nam vào hang vượt đảnh núi, qua các thành nhỏ đi hơn bốn trăm dặm đến nước An Đát La Phược cũng là chốn đất xưa cũ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, chu vi Vương Thành rộng mười năm dặm đều thuộc nước Đột Quyết. Có ba ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vài mươi vị, có một ngôi Tháp của A Dục Vương, núi đồi liền tiếp nhau, thường luôn rét lạnh. Từ đó theo hướng Tây Nam lên núi Tuyết lớn đến đầu phía Đông đảnh núi Bà La Tê La, đi suốt ba ngày là đến trên đảnh núi, đứng đó trông nhìn khắp cùng Nam Thiệm Bộ Châu, các núi thảy đều thấp nhỏ ở bốn phía. Lại men theo đảnh núi xuống, đi cũng mất ba ngày đến nơi đảnh núi cao vợi hang hốc quanh co phải đục băng mà vượt qua, theo hướng Tây trải qua biên giới nước Ca Tất Thí và vài mươi thành ấp nhỏ, lại theo hướng Tây Nam đi vài mươi dặm mới đến Vương Đô. Lại theo hướng Tây hơi lệch phía Nam đi suốt một nghìn ba trăm dặm, vượt qua núi sông đến nước Phất Lật Thị Tát Thàng Na, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn ngàn dặm, chu vi Vương Thành hơn hai mươi dặm, dân chúng rất kính tin Phật Pháp. Từ đó theo hướng Nam đi hơn năm trăm dặm đến nước Tào Củ Tra, còn gọi là nước Tảo Lợi, chu vi hơn bảy nghìn dặm, chu vi Vương Thành rộng hơn ba mươi dặm, núi sông gần một nửa, có khoảng trăm ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vài vạn vị đều theo học pháp Đại Thừa. Có mười ngôi Tháp của A Dục Vương, vài mươi ngôi đền thờ Trời, rất nhiều ngoại đạo, đất đai thích nghi với loại cây cỏ Uất Kim Hương, sản sinh các thứ cỏ Hưng Cù, La Ma. Cảnh vực phía Nam sông Ấn Độ là núi Miêu Na Tứ La, về phía Đông Nam Vương Thành cách hơn hai nghìn dặm đến nước Phật Thích Noa thuộc phía Tây Ấn Độ mới hợp hướng Bắc theo đường phía Nam đến cõi nước Phật. Từ đường ấy vào Ấn Độ, tức từ Kinh Đô theo hướng Tây Bắc đi hơn ba nghìn ba trăm dặm đến Qua Châu. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn ba trăm đến cửa ải Mạc Hạ Diên Thích, lại theo hướng Tây Bắc đi hơn tám trăm dặm ra khỏi Diên Thích đến huyện Nhu Viễn. Lại theo hướng Tây Nam đi một trăm sáu mươi dặm đến Huyện Y, lại theo hướng Tây đi hơn bảy trăm dặm đến huyện Bồ Xương, lại theo hướng Tây đi hơn trăm dặm đến Tây Châu. Tức chốn đất xưa cũ của Cao Xương, là nơi trị vì của Nghi Hòa Đô Úy ở thời nhà Hán. Về sau trở về Kinh Vương lánh nạn đến ở đó, nay là thuộc trong bờ cõi canh phòng. Lại theo hướng Tây đi hơn bảy trăm dặm nước A Kỳ Ni, tức là nước Ô Kỳ, hai phía Đông Tây rộng hơn sáu trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng khoảng sáu bảy dặm. Chùa Chiền có hơn mười ngôi, Chư Tăng hơn vài ngàn vị đều học theo pháp Tiểu Thừa Thuyết nhất thiết hữu bộ. Giới hạnh tinh cần, dùng ăn tam tịnh nhục. Từ Hắc Lãnh ấy, người Hồ Đông nhiều quý trọng của cải, khinh tiện lễ nghi, không có lễ kính, vợ chồng tôn ti tốt xấu đều đồng nhất. Tốt xấu trắng đen đều là phục chế. Lại theo hướng Tây Nam đi hơn hai trăm dặm, vượt qua một núi nhỏ hai sông lớn, men theo đường sông đi hơn bảy trăm dặm đến nước Khuất Chi, tức nước Khâu Tư là Quy Tư, hai phía Đông Tây rộng hơn ngàn dặm, hai phía Nam Bắc rộng sáu trăm dặm, chu vi Vương Thành rộng mười bảy đến mười tám dặm. Có hơn một trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm nghìn vị, đều học theo pháp Tiểu Thừa thuyết nhất thiết hữu bộ, cũng ăn dùng tam tịnh nhục, phong tục dân chúng rất kính tin Phật Pháp. Dân chúng ở Vương Thành dựng tạo Tháp Tượng nhiều không thể kể hết. Cảnh vật phía Đông trong thành lớn có đền thờ Trời, lúc rồng trong ao xuất hiện giao cấu với ngựa cái sinh ra Long câu, lúc mới sinh rất ngang bướng, dần dần điều phục mới đúng giá. Nên người nước đó phần nhiều khéo giỏi điều phục ngựa. Có vị Vua gần đây tên là Kim Hoa cảm được thấy rồng cưỡi xe Vua, muốn đến lúc cuối đưa roi xúc chạm đến lỗ tai, nhân đó rồng bèn ẩn mất, và Vua cùng vợ sinh một con trai mạnh khỏe nhanh nhẹn. Vua kéo dắt người nước Đột Quyết đánh dẹp dân chúng Thành Đô nên khiến hoang tàn. Từ Thành Đô theo hướng Bắc đi hơn bốn trăm dặm về phía Đông đến Chùa Chiền Hổ Ly, trong Phật đường có tảng ngọc thạch vuông rộng hai thước, trên mặt có dấu chân Đức Phật dài một thước tám tấc, rộng sáu tấc, vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Ngoài cửa phía Tây Vương Thành, hai bên đường đi có những Tôn Tượng Phật đứng mỗi mỗi cao hơn chín mươi thước. Ở đó cứ năm năm một lần lập Đàn Thiết Hội. Về phía Tây có Chùa A Xa Lý Nhị. Theo tiếng Trung Hoa gọi đó là Chùa Kỳ Đặc. Xưa kia Vua ra ngoài lễ bái tham quan Thánh tích. Mẹ và em ở lại giữ, nhân tự cất thế vì đề phòng dèm pha mờ tối. Vua rất lấy làm lạ về người em, sau gặp người khỏe mạnh, năm trăm năm bèn xót thương mà chuộc lại đó, căn lực từ thiện, hình tướng nam tử chợt sinh, bèn không vào Vương Cung, Vua rất lấy làm kỳ đặc, nhân lấy đó mà đặt Chùa. Lại theo hướng Tây, trải qua bãi sa mạc nhỏ đi hơn sáu trăm dặm đến nước Bạt Lục Ca, xưa trước gọi đó là Cô Mặc, còn gọi là Hàm Mặc, hai phía Đông Tây rộng hơn sáu trăm dặm, hai phía Nam Bắc hơn ba trăm dặm, chu vi Vương Thành năm mươi dặm. Chùa Chiền có khoảng vài mươi ngôi, Chư Tăng hơn ngàn vị đều học theo pháp Tiểu Thừa. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn ba trăm dặm, vượt qua sỏi đá đến Lăng Sơn tức đầu nguồn phía Bắc Thông Lãnh, nước các sông ở đó phần nhiều xuôi chảy về hướng Đông. Theo đường đó đi không được mặc áo đỏ, mang bầu nước và tiếng kêu réo. Nếu có trái phạm thì rồng hay khiến gió bay mưa cát, nếu gặp hẳn đều bị vùi lấp. Theo đường núi đi về hướng Tây cách hơn bốn trăm dặm đến ao hồ nước trong sạch lớn, còn gọi là Nhiệt Hải, cũng gọi là biển muối, chu vi rộng hơn ngàn dặm, hai phía Đông Tây dài, ở bốn phía có núi, người đi đường cầu phước. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn năm trăm dặm đến thành Tố Diệp Thủy, chu vi rộng khoảng sáu bảy dặm, thương nhân người Hồ sống lẫn lộn, từ đó trở về hướng Tây có khoảng vài mươi thành đơn độc cũng vậy. Lại theo hướng Tây đi hơn bốn trăm dặm là đến Thiên Tuyền, nước suối tuôn đổ rất nhiều lan rộng ra vuông hơn hai trăm dặm, mặt phía Nam là núi Tuyết duỗi xuống ba thềm cấp bằng phẳng. Lại theo hướng Tây đi khoảng một trăm năm mươi dặm đến thành Đát La Tư, lại theo hướng Tây Nam đi hơn hai trăm dặm đến thành Cung Kính. Lại theo hướng Nam đi năm mươi dặm đến nước Nô Xích Kiến, chu vi rộng hơn ngàn dặm. Lại theo hướng Tây đi hơn hai trăm dặm đến nước Giả Thời, Trung Hoa gọi là nước Thạch chu vi rộng hơn ngàn dặm phía Tây gần sông Tố Diệp. Lại theo hướng Đông Nam đi hơn ngàn dặm đến nước Tưng Hãn, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, núi bao bọc khắp bốn phía. Lại theo hướng Tây đi hơn ngàn dặm đến nước Tất Đồ Lợi Sắt Na, chu vi rộng một nghìn bốn trăm dặm về phía Đông gần sông Tố Diệp. Sông Tố Diệp đổ dòng nước ra phía Bắc Thông Lãnh. Dòng phía Tây Bắc lại chảy về phía Tây Bắc vào bãi sa mạc lớn, đi khoảng hơn năm trăm dặm là đến nước Táp Mạc Kiến, Trung Hoa gọi là nước Khương, chu vi rộng hơn một nghìn sáu trăm dặm, hai phía Nam Bắc nhỏ hẹp. Chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm là nơi rất mực hiểm trở kiên cố. Từ đó theo hướng Đông Nam đi đến nước Nhị Mạc Hạ, tức là nước Mễ. Chu vi vây quanh khoảng bốn năm trăm dặm, hai phía Đông Tây nhỏ hẹp. Lại theo hướng Tây Bắc đến nước Kiếp Bố Thư Na, tức là nước Tào chu vi rộng một ngàn bốn năm trăm dặm, hai phía Đông Tây rất dài, lại theo hướng Tây đi hơn ba trăm dặm đến nước Khuất Sương Nị La, tức là nước Hà, chu vi đồng như nước Tào mà hai phía Đông Tây nhỏ hẹp. Lại theo hướng Tây đi hơn hai trăm dặm đến nước Hát Hãn, tức là nước Đông An, chu vi rộng hơn ngàn dặm. Lại theo hướng Tây đi hơn bốn trăm dặm đến nước Bộ Hãn, tức là nước Trung An, chu vi hơn một nghìn bảy trăm dặm, hai phía Đông Tây kéo dài. Lại theo hướng Tây đi hơn bốn trăm dặm đến nước Phạt Địa, tức là nước Tây An, chu vi rộng hơn bốn trăm dặm. Lại theo hướng Tây Nam đi hơn năm trăm dặm đến nước Hóa Lợi Tập Dị Khư, dọc theo hai bên bờ sông Phược Sô hai phía Đông Tây dài khoảng ba mươi dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn năm trăm dặm. Lại từ nước Táp Mạc Kiến theo hướng Tây Nam đi hơn ba trăm dặm đến nước Yết Sương Na, tức là nước Sử, chu vi rộng khoảng một nghìn năm trăm dặm. Lại theo hướng Tây Nam đi hơn hai trăm dặm vào núi lớn, đường núi hiểm tuyệt lại thiếu người vật. Lại theo hướng Đông Nam đi bằng đường núi hơn ba trăm dặm đến ải Thiết Môn hai phía tả hữu toàn vách đá sắc màu như sắt, cửa sắt kiên cố, nơi cánh cửa treo linh khánh hiện còn, tức cửa phía Tây đồn ải của nước Hán vậy. Ra cửa ải Thiết Môn tức đến chỗ đất xưa cũ của nước Đổ Hóa La, xưa trước gọi là nước Thổ Hỏa La, hai phía Nam Bắc rộng hơn ngàn dặm, hai phía Đông Tây dài hơn ba nghìn dặm. Phía Đông dân cư đến Thông Lãnh, phía Tây tiếp liền với Ba Tư, phía Nam là núi tuyết lớn, phía Bắc y cứ đến Thiết Môn, cảnh vức trong sông lớn Phược Sô theo dòng chảy về hướng Tây, trong đó tự phân thành hai mươi bảy nước. Hàng năm bắt đầu từ ngày mười bảy tháng mười hai, Chư Tăng an cư, do vì xứ đó ấm nóng nhiều mưa nên vậy. Dọc theo dòng sông về hướng Bắc đến nước Đát Mật, hai phía Đông Tây dài hơn sáu trăm dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn bốn trăm dặm. Chu vi Vương Thành rộng hơn hai mươi dặm. Có mười ngôi Chùa, Chư Tăng ngoài ngàn vị. Có Tất Đổ Ba, tức là tên khác xưa trước của Tháp như gọi là Thâu Bà v.v... Tôn Tượng Phật rất linh dị. Lại theo hướng Đông đến nước Xích Ngạc Diễn Na, hai phía Đông Tây rộng hơn bốn trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn năm trăm dặm. Chu vi Vương Thành rộng hơn mười dặm, có năm ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít. Lại theo hướng Đông đến nước Nhẫn Lộ Ma, hai phía Đông Tây rộng hơn trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn ba trăm dặm. Chu vi Vương Thành rộng hơn mười sáu mười bảy dặm. Có hai ngôi Chùa, Chư Tăng Đông hơn trăm vị. Theo hướng Đông đến nước Thâu Mạn, hai phía Đông Tây dài hơn bốn trăm dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn trăm dặm, chu vi Vương Thành rộng hơn mười dặm. Có hai ngôi Chùa Chư Tăng cũng không Đông nhiều. Về phía Tây Nam gần sông Phược Sô, thuận tiện đến nước Cúc Hòa Diễn Na, hai phía Đông Tây rộng hơn hai trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn ba trăm dặm. Vương Thành rộng hơn mười dặm. Có ba ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn trăm vị. Lại theo hướng Đông đến nước Hoàng Sa, hai phía Đông Tây rộng hơn ba trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn năm trăm dặm, chu vi Vương Thành rộng khoảng mười sáu - mười bảy dặm. Lại theo hướng Đông đến nước Kha Đốt La, nước ấy dài rộng có hơn ngàn dặm, chu vi Vương Thành hơn hai mươi dặm. Theo hướng Đông tiếp liền với Thông Lãnh đến nước Câu Mê Đà, hai phía Đông Tây dài hơn hai nghìn dặm, hai phía Nam Bắc rộng cũng hơn hai nghìn dặm, y cứ trong Đại Thông Lãnh, chu vi Vương Thành rộng hơn hai mươi dặm. Về phía Tây Nam gần sông Phược Sô, phía Nam nước ấy tiếp liền với nước Thi Khí Ni, phía Nam vượt qua sông ấy đến các nước Đạt Ma Tất Đế v.v... giữa đường như trước nêu dẫn. Lại từ Thiết Môn theo hướng Nam hơi lệch về phía Đông đi hơn năm trăm dặm đến nước Phượt Hát, còn một đường từ phía Tây Nam nước Câu Mê đến nước Phược Già Lãng, hai phía Đông Tây rộng hơn năm mươi dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn hai trăm dặm, Đô Thành rộng hơn mười dặm. Lại theo hướng Nam đến nước Hột Lộ Tất Mẫn Kiện, chu vi nước ấy rộng hơn ngàn dặm, chu vi Đô Thành rộng mười năm dặm. Lại theo hướng Tây Bắc đến nước Nhẫn Lẫm, chu vi rộng hơn tám trăm dặm. Chu vi Đô Thành rộng hơn mười năm dặm, có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng năm trăm vị. Lại theo hướng Tây đến nước Phược Hát, hai phía Đông Tây dài hơn tám trăm dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn bốn trăm dặm, về phía Bắc gần sông Phược Sô. Chu vi Vương Thành hơn hai mươi dặm, thuần phong mỹ tục nước ấy được xưng gọi là Tiểu Vương Xá Thành, Chùa Chiền có hơn trăm ngôi, Chư Tăng có hơn hai nghìn vị đều học pháp Tiểu Thừa. Về phía Tây Nam ngoài Vương Thành có Chùa Nạp Phược, Trung Hoa gọi là Chùa Tân, nằm ở phía Bắc núi Tuyết. Các pháp Sư làm luận tán tụng Chùa ấy, cơ nghiệp không sụp đổ, Tôn Tượng được đắp bằng các trân báu ánh ngời, có Tượng Tỳ Sa Môn bảo vệ chung quanh. Có khí hộ người Đột Quyết muốn đánh phá Chùa ấy cướp lấy các vật báu. Kéo quân lính đến ở bên cạnh Chùa, ban đêm mộng thấy Thiên Vương nắm mác dài đâm xuyên hàng ngực, run sợ toát mồ hôi, quả tim đau nhói, nhân đó bèn chết. Trong nhà Chùa có bồn Phật tắm rửa có thể chứa đựng hơn một thăng nước, màu sắc xen tạp ánh ngời khó thể gọi là vàng hay đá. Lại có chiếc răng của Đức Phật dài hơn một tấc, rộng tám chín phân, sắc màu vàng trắng mà sáng sạch, lại có cải chổi Đức Phật quét dùng làm bằng cỏ ca xa dài hơn hai thước, lớn khoảng bảy tấc, dùng các vật báu tạp để làm cán. Đến những ngày trai, ba vật ấy do cảm pháp tục nên tỏa phóng ánh sáng lớn, có phù đồ lớn cao hơn hai trăm thước, dùng chất Kim Cang đề đắp thếp và các vật báu để trang nghiêm đó. Lại có Xá Lợi của Đức Phật có lúc tỏa phóng ánh sáng thần, lại có các vị A La Hán nhập Niết Bàn thị hiện sức thần mà dựng lập Tháp. Tuy có những vị đã chứng quả mà không thị hiện thần thông nên không dựng lập Tháp. Về phía Tây Bắc của Vương Thành cách khoảng hơn năm mươi dặm có thành Đề Vị, về phía chánh Bắc của Vương Thành cách hơn bốn mươi dặm có thành Ba Lợi, mỗi nơi đều có phù đồ cao hơn ba trượng tức Đức Phật Thích Ca mở đầu hiến dâng ban miếu, trưởng giả dựng lập để phụng thờ tóc và móng tay. Lại có y Tăng Già Chi, Tăng Tức Kỳ, lại che phủ bình bát, chống dựng tích trượng, theo thứ tự mà bày số, nghi thức dựng lập Tháp, khiến y cứ theo đó mà tạo dựng. Về phía Tây của Vương Thành cách khoảng bảy mươi dặm có ngôi Phù Đồ dựng lập từ thời Đức Phật Ca Diếp Ba cao hơn hai trượng. Lại từ Đại Thành theo hướng Tây Nam vào núi Tuyết đi bằng đường sông hơn ba mươi dặm đến nước Du Mạc Đà, hai phía Đông Tây dài hơn năm sáu trăm dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn trăm dặm. Chu vi Vương Thành rộng hơn mười dặm. Lại theo hướng Tây Nam đi ba trăm dặm đến nước Hồ Thật Kiến, hai phía Đông Tây rộng hơn năm trăm dặm, hai phía Nam Bắc dài hơn ngàn dặm, chu vi Vương Thành rộng hơn hai mươi dặm có nhiều núi sông. Lại theo hướng Tây Bắc đến nước Đát Thích Kiện, hai phía Đông Nam rộng hơn năm trăm dặm, chu vi Vương Thành rộng hơn mười dặm, phía Tây tiếp liền ranh giới của nước Ba Thích Tư. Lại từ nước Phược Hát theo hướng Đông đến nước Nhẫn Lẫm, từ đó theo hướng Đông Nam đến nước Hột Lộ Tất Mãn Kiện cách xa hơn ngàn dặm. Từ đó về phía Bắc gần nước Phược già lãng, hai phía Đông Tây rộng hơn năm mươi dặm, về phía Đông Bắc nước đó tiếp liền với nước Hoạt. Lại từ nước Phược hát theo hướng Nam đi hơn trăm dặm đến nước Yết Chức, hai phía Đông Tây dài hơn năm trăm dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn ba trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng khoảng năm dặm, có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba trăm vị đều tu học theo pháp Tiểu Thừa, nước đó gò đồi liền tiếp nhau theo hướng Đông Nam vào núi tuyết lớn, cách hơn sáu trăm dặm ra khỏi chốn đất xưa cũ của nước Đổ Hóa La. Lại đến nước Phạm Diễn Na, hai phía Đông Tây dài hơn hai nghìn dặm, hai phía Nam Bắc rộng hơn ba trăm dặm, Đô Thành tại trong núi tuyết y cứ nơi hàng núi hiểm trở, có khoảng vài mươi ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vài ngàn vị, đều học theo pháp Tiểu Thừa xuất thế bộ. Về phía Đông Bắc Vương Thành là núi sông có Tôn Tượng Phật bằng đá lớn cao một trăm năm mươi thước, dùng các chất vàng vật báu để trang nghiêm. Lại về phía Đông bên tả của Chùa có Tôn Đức Phật Thích Ca đứng bằng đá thau cao hơn trăm thước phân thân riêng chú đức hợp thành, dựng lập ở phía Đông của thành cách khoảng ba dặm. Tại Chùa có Tôn Tượng đắp họa Đức Phật nằm nhập Niết Bàn dài hơn ngàn thước cũng dùng bằng các chất vàng báu để trang nghiêm. Về phía Đông Nam cách hơn hai trăm dặm vượt qua phía Đông núi tuyết lớn có ngôi Chùa có chiếc răng của Đức Phật và răng của vị Độc Giác ở thời sơ kiếp dài hơn năm tấc rộng gần tấc, lại chiếc răng của Kim Luân Vương dài ba tấc rộng hai tấc, lại có bình bát bằng sắt của Đại A La Hán Thương Nặc Ca Phược Bà. Tức Tôn Giả Thương Na Hòa Tu vị Tổ Sư được phú Pháp Tạng thứ ba, có thể chứa đựng chín tháng, và Pháp Y Tăng Già Chi chín điều sắc màu ráng đỏ, dùng bằng da cỏ thiết nặc tích tập thành. Các đời trước đến giải hạ Tự Tứ mang có ấy ra bố thí, do phước lực của Chúng Tăng khắp cùng, năm trăm thân trung ấn sống thường mặc đó, từ trong bào thai cùng ra bèn theo thân mà lớn. Tôn Giả A Nan lui được độ, biến làm pháp phục, từ lúc thọ giới Cụ Túc trở về sau lại biến thành y chín điều, còn chiếc răng, bình bát v.v... đều cùng chất vàng phong bịt, vị La Hán chứng diệt nhập biên tề định. Do sức trí nguyện nên lưu giữ Pháp Y Ca Sa đợi đến lúc di Pháp diệt hết mới biến hoại, nay đã có sự hư tổn phần nào, tin thật có chứng nghiệm vậy. Từ núi Tuyết lớn theo hướng Đông vào sông đầm nhỏ vào núi Tuyết, vượt qua Hắc Lãnh đến nước Ca Tất Thí chu vi rộng lớn hơn bốn nghìn dặm, phía Bắc gối lưng núi tuyết duỗi ba đường Hắc Lãnh. Chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, Chùa Chiền có hơn trăm ngôi Chư Tăng hơn sáu nghìn vị, phần nhiều học theo Giáo Pháp Đại Thừa. Vua nước ấy kính tin Tam Bảo, mỗi năm tạo Tôn Tượng Phật cao trượng tám bằng bạc tự tu tạo cúng dường. Đền thờ Trời có vài mươi ngôi, các hàng vị Đạo có hơn ngàn người. Từ Vương Thành về phía Đông đi cách ba dặm đến hướng Bắc xuống núi, có Chùa lớn Phật Viện, phía Nam Đông môn có Tượng Đại Thần Vương, dưới chân phải có kho tàng báu lớn. Gần đây có vị Vua xứ khác muốn xua đuổi Chư Tăng để đào bới đó, từ trong mũ thần tượng chim oanh vũ phấn phát tung bay kêu hót, quả đất chấn động, Vua quân đều ngã té, đứng dậy sám tạ mà trở về. Trên đảnh núi phía Bắc Chùa có vài thạch thất cũng có nhiều kho tàng quý báu, như người muốn gian tà, thần Dược Xoa liền biến thành sư tử, rắn trùng hiện đến quấy động sân tức đó. Về phía Tây thạch thất cách khoảng ba dặm trên đảnh núi lớn có Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại. Nếu người chí thành cầu nguyện thì Tôn Tượng hẳn hiện Diệu Thân dạy răn úy an hành giả. Về phía Đông Nam của Thành cách hơn ba mươi dặm có Chùa Hạt La Hổ La do vị Đại Thần tạo dựng nên đặt gọi tên như vậy. Có Phù đồ cao hơn trăm thước. Xin trước ban đêm Đại Thần mộng thấy khiến tạo Phù đồ nên đến nơi Vua cũng thỉnh Xá Lợi. Đến sáng sớm Vua vào cung, có người mang bình Xá Lợi. Đại Thần lưu giữ Xá Lợi lại, bảo người ấy vào trước và liền mang bình vào trong Tháp, nắm bát tự mở, đặt trí Xá Lợi xong, Vua sai kẻ sứ đuổi theo tìm đến thì đá đã hợp lại. Đến những ngày trai thì tỏa phóng ánh sáng soi chiếu ngoài hắc du, ban đêm nghe có tiếng âm nhạc. Về phía Tây Bắc của thành cách hơn hai trăm dặm trên đảnh núi Tuyết lớn có ao rồng, nên ngay dưới núi vì rồng mà dựng lập Chùa, trong Tháp có Xá Lợi cốt thịt của Đức Phật nhiều hơn cả thăng. Có lúc khói nổi tỏa, hoặc có lúc như lửa dữ cháy bừng, đến lúc dần tắt mới thấy Xá Lợi tướng trạng như châu ngọc sắc trắng nhiễu quanh trụ rồi trở lại xuống hang trong Tháp. Về phía Tây Bắc của thành trên bờ phía Nam sông lớn trong Chùa Cổ Vương có chiếc răng sữa của Đức Phật dài hơn một tấc. Lại từ đó theo hướng Đông Nam sang Chùa Cổ Vương có một mảnh Di cốt đảnh đầu của Đức Phật lớn hơn một tấc màu vàng trắng các lỗ chân tóc rõ ràng, tóc của Đức Phật sắc màu xanh cuộn tròn xoay theo phía hữu, kéo ra dài hơn một thước, cuộn lại còn khoảng một tấc. Lại nữa, về phía Tây Nam Chùa Cổ Vương Phi có phù đồ bằng vàng đồng cao hơn trăm thước, Xá Lợi của Đức Phật nhiều hơn một thăng. Mỗi tháng vào đêm mười lăm tỏa phóng ánh sáng xoay chuyển cuộn tròn, đến sáng ngày mới thâu gọn vào lại trong Tháp. Về phía Tây Nam của thành, nên đỉnh núi Tỳ La Bà Lạc, tức núi Tượng Kiên, xây dựng một ngôi Tháp cao hơn trăm thước trên tảng đá lớn, Xá Lợi có hơn một thăng. Nơi hang suối phía Bắc núi là nơi đạo phẩm nhận cơm cúng dường của Sơn Thần thọ dụng rồi, súc miệng, tước dương chi xỉa răng, nhân đó sinh mọc đến nay thành rừng tươi tốt, Chùa ấy hiệu là Dương Chi. Lại từ ao rồng theo hướng Đông đi hơn sáu trăm dặm, vượt qua núi Tuyết và Hắc Lãnh đến ranh giới của Bắc Ấn Độ. Các ấp trước kia đều gọi là nước Hồ, đến đây mới hợp với đường trung gian. Xứ đó tên là nước Lạm Ba, nhiếp thuộc của Bắc Ấn Độ, vào địa vực của Bà La Môn ở Thiên Trúc vậy. Cảnh vức của năm xứ Ấn Độ chu vi hơn chí vạn dặm, ba mặt vùng ven biển lớn, về phía Bắc gối lưng núi Tuyết, phía Bắc rộng phía Nam hẹp hình như bán nguyệt. Có hơn bảy mươi nước đồng một Vương mạng. Nước Lạm Ba ở phía Tây ao Vô nhiệt não, tựa các nước Hồ, Hoạt ở phía Bắc. Ở phía Đông Nam ba mặt là Hắc Lãnh, phía Bắc ước chừng là núi Tuyết, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít, phần nhiều đều học theo Giáo Pháp Đại Thừa. Có hơn mười ngôi đền thờ Trời, các hàng Dị Đạo đặc biệt lắm nhiều. Từ đó, theo hướng Đông Nam vượt qua đảnh núi lớn sông lớn đến nước Na Già La Hạt, tức là thành Hoa Thị xưa cũ thuộc Bắc Ấn Độ, rộng hơn sáu trăm dặm dài hơn hai trăm dặm, núi bao bọc bốn phía. Chu vi Đô Thành hơn hai trăm dặm, Chùa Chiền mà Chư Tăng hiếm ít, có năm ngôi đền thờ Trời, dị Đạo có khoảng trăm người. Ở phía Đông Đô Thành cách khoảng hai dặm có Tháp đá cao ba trăm thước, xếp đá làm hang chạm trổ điêu khắc khác thường. Đó tức là nơi xưa kia Đức Phật Thích Ca gặp Phật Nhiên Đăng mà trải y da nai và tóc trên bùn để Đức Phật Nhiên Đăng giẫm bước qua, tuy đã trải qua nhiều kiếp mà vẫn hiện còn. Vua vô ưu kính trọng trùng hưng Giáo Pháp, xây dựng Tháp đó ghi nêu lời Minh Chí. Mỗi tháng đến các ngày trai, Trời mưa hoa báu, Đại chúng nhóm tập nông xem. Về phía Tây có Chùa Phật, tiếp đến phía Nam có Tháp nhỏ đó là nơi che phủ bùn sình. Vua tránh đường lớn bèn dựng lập nhỏ hẹp. Phía trong Thành, nền móng xưa cũ của Tháp lớn hiện còn. Riêng có ngôi Tháp phụng thờ răng Đức Phật cao hơn ba trượng, tương truyền là giữ không trung bay lại, chẳng phải do công sức con người tạo dựng nên, thật nhiều linh dị. Về phía Tây Nam của thành cách hơn mười dặm có ngôi Tháp là nói xưa kia Đức Phật Thích Ca từ Trung Ấn Độ bay vượt giữa không trung đến in lại dấu vết. Tiếp theo về hướng Đông có ngôi Tháp, tức nói xưa kia Đức Phật Thích Ca gặp Phật Nhiên Đăng mà mua hoa cúng dường. Về phía Đông Nam của Thành cách hơn hai mươi dặm trên đỉnh núi đá nhỏ có ngôi Tháp cao hơn hai trăm thước. Về phía Tây Nam có khe suối sâu dòng nước tuông đổ vắt treo trên sườn núi như tấm thảm. Nơi vách đá ở bờ phía Đông có hang động lớn là nơi Long Vương cư ngụ, cửa đi hẹp tối, là nơi xưa kia Đức Phật đến giáo hóa rồng lưu lại ảnh bóng, rực rỡ như hình thật. Những người chí thành cầu thỉnh mới dần hiện rõ. Phía ngoài hang có tảng đá vuông có dấu chân Phật, tướng Thiên bức luân tỏa phóng ánh sáng. Về phía Tây Bắc của hang có ngôi Tháp là nơi xưa kia Đức Phật Kinh hành, bên cạnh lại có Tháp thờ tóc móng tay, lại có Tháp thuyết uẩn giới. Về phía Tây của hang trên tảng đá lớn có đường văn giặt rửa Pháp Y Ca Sa. Về phía Đông Nam của thành cách hơn ba mươi dặm có thành Hê La, bốn phía bao quanh hiểm trở, bên trong có trùng các, phía trên Tôn Thờ cốt xương đảnh đầu Đức Phật, chu vi rộng một thước hai tấc sắc màu vàng trắng, lỗ chân tóc rõ ràng. Như người muốn biết được thiện ác dùng bột hương in vào đó tức liền tùy tâm mà hiện. Có đầu lâu Đức Phật tướng trạng như lá sen, sắc màu đồng như cốt xương đảnh đầu, có tròng mắt Phật lớn như trái táo. Sắc màu trắng sạch ánh ngời, và ngôi Tháp nhỏ bảy báu đầy ba vết tích trước, lại dùng hộp báu để tôn trí mà phụng phít lại, lại có đại y của Đức Phật bằng giạ nhỏ mịn sắc màu vàng đặt trong hộp báu có chút ít tướng trạng hư hoại. Có chiếc tích trượng của Đức Phật dùng bằng sắt trắng làm vòng, gỗ Chiên Đàn làm cán, dùng ống đồng vật báu để tôn trí đó. Gần đây có vị Vua cậy thế sức lực đem vào trong cung, sau đó bỗng nhiên trở lại như cũ. Nơi năm thành tích ấy, Vua ban sắc năm người tịnh hạnh ở đó gìn giữ bảo hộ. Nếu ai cầu muốn được trông xem thì phải đóng thuế một tiền vàng, xin in ấn thuế năm khoa báu mới trở lại trông xem lễ bái càng nhiều lần. Về phía Tây Bắc của Trùng các có ngôi Tháp nhỏ mà lắm linh dị, nếu người đưa tay xúc chạm vào liền có tiếng linh khánh báo động. Từ đó theo hướng Đông Nam vào trong hang núi đi hơn năm trăm dặm đến trước Kiền Đà La, thuộc Bắc Ấn Độ, hai phía Đông Tây rộng hơn ngàn dặm, dài tám trăm dặm, ở phía Đông gần sông Tín Độ. Chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm, ít chỗ hoang trống, Chùa Chiền có hơn ngàn ngôi, đền thờ có trăm ngôi, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Bên trong thành về phía Đông Bắc có nền cũ và đài tôn thờ bình bát vật báu của Đức Phật đã trải qua vài trăm năm, nay vẫn còn tôn trí cúng dường tại trong Vương Cung nước Ba Tư. Về phía Đông Nam của thành cách khoảng tám chín dặm có cây Tất Bát La cao hơn trăm thước, cành lá tươi tốt phủ che kín khắp, bốn Đức Phật xưa trước ngồi dưới gốc cây ấy, nay hiện có Tôn Tượng ngồi. Tương truyền rằng: Chư Phật trong thời hiền kiếp đều ngồi dưới gốc cây ấy. Xưa kia Đức Phật Thích Ca đến ngồi dưới gốc cây ấy rồi bảo Tôn Giả A Nan rằng: Sau này Vua Ca Nị Sắc Ca sẽ nhóm tập cốt thịt của Ta tại đây. Quả thật về sau Vua đến tại phía Nam xây dựng nền móng Tháp, chu vi một dặm rưỡi, dùng vàng đồng làm tướng vòng tròn hai mươi năm lớp, hoặc có thuyết nói làm bốn mươi tầng cao năm trăm năm mươi thước, có một hộc Xá Lợi của Đức Phật. Mới đầu có biến hóa người chăn trâu đến nơi rừng tạo Tháp nhỏ cao ba thước, Vua vất bỏ đó, mới đến dưới thềm cấp thứ hai của Tháp lớn bên cạnh một nửa nền tảng đá hiện Tháp nhỏ, những người tật bệnh quy hướng bèn liền lánh khỏi. Trên mặt đá xinh đẹp ở phía Đông Tháp lớn, xưa kia có loài kiến sắc màu vàng ròng lớn tựa ngón tay hạt thóc cùng nhau gặm nhấm vách đá nổi hiện đường văn tựa như điêu khắc rồi dùng cát vàng đắp làm hai Tôn Tượng Đức Phật ngồi kiết già cao bốn thước sáu tấc. Lại ở trên mặt đá xinh đẹp phía Nam họa hình Tượng Đức Phật cao trượng sáu. Xưa kia có hai người nghèo khổ mỗi người cúng thí một tiền vàng cùng đắp họa một hình tượng Đức Phật, thỉnh cầu ứng hiện thần biến, Tôn Tượng liền hiện từ ngực trở lên phân làm hai thân, từ ngực trở xuống hợp làm một hình. Từ đó đi về phía Nam hơn trăm bộ có một Tôn Tượng Đức Phật bằng đá trắng cao một trượng sáu thước, mặt xoay về phía Bắc tỏa phóng ánh sáng ban đêm xuất hiện đi nhiễu quanh Tháp. Có bọn giặc cướp muốn đến trộm vật, Tôn Tượng ấy liền ra nghinh đón, bọn giặc cướp rút lui, Tôn Tượng trở lại như cũ. Hai bên Tháp lớn có hàng trăm ngôi Tháp nhỏ do các thầy thợ tài giỏi trang sức rất mực khéo léo, hương hoa âm nhạc thảy đếu khác lạ, có các vị Tiên Thánh đi nhiễu chung quanh, Đức Phật có dự ghi về Tháp lớn ấy rằng: Phải trải qua bảy lần bị thiêu rụi bảy lần xây dựng lại, Phật Pháp mới hủy diệt. Đến nay đã bị thiêu đốt đến lần thứ ba và hiện đang tạo dựng lại. Về phía Tây có ngôi Chùa cũ đều do các Vua đời trước tạo dựng nên, là nơi các đại Luận Sư như Bồ Tát Thế Thân, Luận Sư Như Ý, Hiếp Tôn Giả v. v... tạo luận Tỳ Bà Sa. Về phía Đông Bắc Chùa ấy cách hơn năm mươi dặm, vượt qua dòng sông lớn đến thành Bố Yết La Phạt Để, chu vi rộng khoảng mười bốn - mười năm dặm. Về phía Đông có ngôi Tháp nơi bốn Đức Phật giảng nói pháp do Vua Vô Ưu tạo dựng cao vài trăm thước, chạm trổ điêu khắc đường nét hiếm có ở đời. Lại về phía Bắc của Thành cách khoảng năm dặm có ngôi Chùa cũ, về phía Đông có ngôi Tháp cao vài trăm thước, tức là nơi Bồ Tát xả thí ngàn con mắt. Lại về phía Đông có một ngôi Tháp đá cao hơn trăm thước, mới đầu các vị Phạm Thiên Đế Thích dùng các châu ngọc quý báu để trang sức Tháp đó, đến lúc Đức Phật diệt độ, các vật báu biến thành vàng thành đá. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn năm mươi dặm có một ngôi Tháp là nơi Đức Phật Giáo hóa mẹ con loài quỷ. Lại theo hướng Bắc đi hơn năm mươi dặm có một Ngôi Tháp, tức là nơi Bồ Tát Thương Mục Ca, Trung Hoa gọi là Thiểm bị Vua bắn. Lại về hướng Đông Nam khoảng hai trăm dặm là thành Bạt Lổ Sa. Lại về phía Đông Bắc cách hơn hai mươi dặm là núi Đàn Đa Ạc Ca, tức là Đàn Đặc, trên đảnh núi có ngôi Tháp, là chỗ lầu ẩn của Tu Đạt Noa tức Thiện Nha nơi Bà La Môn đánh hai đứa con trai gái của Thái Tử máu đổ thấm nơi đất, nay các cây cỏ ở đó đều đồng sắc màu ráng đỏ. Trên đỉnh núi có thạch thất là nơi công phu tập hành Thiền định. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn trăm dặm vượt qua núi nhỏ đến núi lớn, về phía Nam có một ngôi Chùa Tháp. Chư Tăng đều học theo Giáo Pháp Đại Thừa là nơi xưa kia có vô tướng Độc Giác Đại Tiên bị người nữ nhiễu loạn. Về phía Đông của Thành Cát cách khoảng năm trăm dặm có một núi lớn, ở đó có một đền thờ Trời lớn. Về phía Đông Nam đền ấy cách khoảng một trăm năm mươi dặm đến thành Ô Đạt Ca Hàn Trà, chu vi rộng hơn hai mươi dặm, phía Nam gần sông Tín Độ. Từ phía Bắc thành ấy vượt qua núi đi khoảng sáu trăm dặm đến nước Ô Trượng Na, là nước chánh của Bắc Ấn Độ, xưa trước gọi là Ô Trường, núi hang liền tiếp nhau, chu vi khoảng năm nghìn dặm, xưa trước là vườn của Luân Vương, đất đai thích hợp với loài uất kim hương, cặp theo sông Tô Bà Tốt Đổ, chu vi Vương Thành rộng khoảng mười bốn, mười năm dặm. Có một nghìn bốn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có mười tám nghìn vị đều học theo Giáo Pháp Đại Thừa, nay lắm hoang tàn hiếm thiếu người học giáo nghĩa Đại Thừa, bao quát văn sơ lược nghĩa, Kinh Luật truyền dày gồm có năm Bộ: Một là pháp Mật Bộ, hai là Hóa Địa Bộ, ba là Ẩm Quang Bộ, bốn là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và năm là Đại Chúng Bộ. Có hơn mười ngôi đền thờ Trời, các hàng Dị Đạo chung sống lẫn lộn. Vua đóng đô tại thành Măng Yết Lý. Từ đó về phía Đông cách khoảng năm dặm có một ngôi Tháp lớn lắm điềm tốt lành, là xưa trước Đức Phật làm vị Tiên nhẫn nhục bị Vua Yết Lợi, Trung Hoa gọi là đấu tránh lóc thịt. Về phía Đông Bắc của thành cách hai trăm sáu mươi dặm vào núi lớn đến suối rồng A Ba Ca, tức là Hà Nguyên xưa trước vậy, mạch nước xuôi dòng về phía Tây Nam, suốt mùa xuân hạ đều đóng băng, sớm tối hơi tuyết lan tỏa, xưa kia Đức Phật Giáo hóa rồng dữ. Dùng chày Kim Cang đánh vào sườn núi, rồng khiếp sợ mà Quy Y cầu xin Phật sẽ tuôn đổ mưa, Đức Phật mới hứa thuận đó, khiến cho mọi người thu hoạch lương thực. Cứ mười hai năm có một lần mưa thủy tai. Lại nữa, về phía Tây Nam cách suối ba mươi dặm, trên tảng đá lớn ở bờ sông phía Bắc là nơi Đức Phật nhiếp phục rồng rồi để lại dấu vết nêu bày đó, tùy tâm mọi người mà thấy có dài ngắn. Lại xuôi theo dòng cách hơn ba mươi dặm có tảng đá nơi Đức Phật tẩy giặt Y Ca Sa đường văn như khắc chạm. Về phía Nam của Thành cách hơn bốn trăm dặm là hàng núi Hê La, dòng nước chảy ngược lại, trên phía Đông hoa quả xanh tốt cả sườn núi. Hoặc nghe có tiếng âm nhạc văng vẳng, có những tảng đá vuông liên tiếp nhau, đó là nơi xưa kia đạo phẩm nghe nửa bài kệ mà xả thí thân mạng. Về phía Nam của thành cách hơn hai trăm dặm, bên cạnh núi lớn có Chùa Ma Ha Phạt Na Trung Hoa gọi là Đại Lâm, là nói xưa kia Đức Phật làm Vua Tát Phược Đạt La tức Nhất Thiết Thí bị mất nước trốn lánh đất làm người nghèo khổ bị trói buộc đưa đi. Về phía Tây Bắc của Chùa xuống núi cách hơn bốn mươi dặm có ngôi Chùa, Tháp cao hơn trăm thước, bên cạnh trên tảng đá vuông có dấu chân Phật luôn tỏa phóng ánh sáng soi chiếu vào Chùa, là nơi Đức Phật vì Chư Thiên mà giảng thuyết về Bản Sinh. Phía dưới Tháp có tảng đá sắc màu vàng trắng trơn nhờn, là nơi xưa kia Đức Phật vì nghe pháp mà chẻ cốt xương ghi tả Kinh. Lại về hướng Tây cách bảy mươi dặm có ngôi Tháp, là nơi Đức Phật xưa trước làm Vua Thi Tỳ Ca lóc thịt thân mình thay thế cho chim Bồ Tát. Lại về hướng Tây cách hơn hai trăm dặm là sông sang Ni La Án có Chùa Tát Bầu Sát Địa, tức là Xà Dược, có ngôi Tháp cao tám mươi thước, là nơi xưa kia Đức Phật làm thân Đế Thích làm thân hình rắn lớn ngã té chết để thí cấp cho người khổ đói dịch bệnh. Bên cạnh có Tháp Tô Ma, đó là nơi Đức Phật biến thân hóa làm rắn Tô Ma, những người ăn thịt rắn bệnh liền lành hẳn. Ở trên bờ phía Bắc dòng sông có ngôi Tháp, người bệnh đến nguyện cầu nhiều kẻ được lành mạnh. Lại nữa, bên cạnh có dòng suối nước tuôn trào, là nơi xưa kia Đức Phật làm chim khổng tước chúa bửa mổ ra dùng để cứu người bệnh. Về phía Tây Nam của thành cách bảy mươi dặm ở phía Đông của dòng sông lớn có ngôi Tháp cao sáu mươi thước do Vua Ốt Đất La Tê Na Trung Hoa gọi là Thượng Quân tạo dựng, Đức Phật bảo đem Xá Lợi cho Vua phân chia tại bờ sông mà dựng lập Tháp, Vua dùng Bách Tượng mang chở về. Bách Tượng bàn hóa thành đá. Từ Thành về phía Tây cách hơn năm mươi dặm, vượt qua sông lớn có Tháp Lô Hê Đát Ca cao hơn năm mươi thước, là nơi xưa kia Đức Phật làm Vua Từ Lực chích máu cho năm dược xoa uống. Về phía Đông Bắc của thành cách ba mươi dặm có Tháp đá Át Bộ Đa, Trung Hoa gọi là Kỳ Đặc, cao bốn mươi thước là nơi xưa kia Đức Phật vì người Trời mà giảng pháp, Tháp ấy từ đất xuất hiện ra đến nay bốn mươi dặm có Chùa Tinh Xá, có Tôn Tượng Bồ Tát A Phược Chỉ Chỉ Y Thấp Phạt La, tức là Quán Thế Âm, linh cảm soi chiếu đến tận phương xa. Từ đó về phía Tây cách một trăm năm mươi dặm trên đỉnh núi có ao rồng chu vi rộng hơn ba mươi dặm. Từ Vương Thành về phía Đông Bắc vượt qua núi hang ngược lên sông Tín Độ, đi đường bộ rất hiểm trở phải nương cầu dây cọc móc từng bước men lên, qua hơn ngàn dặm mới đến sông Đạt Lệ La. Tức Đô Thành xưa cũ của Ô Trượng Na, trong ngôi Chùa lớn có khắc chạm Tôn Tượng Bồ Tát Mộc Mai Đát Lệ Da, xưa trước gọi là Di Lặc, Trung Hoa gọi là Từ Thị, sắc màu vàng ròng ngời sáng cao hơn trăm thước, do A La Hán Mạc Điền Chỉ La. Tức là Mạc Điền Địa tu tạo nên, vận dụng sức thần thông dẫn đưa các người thợ tài giỏi lên trên Cung Trời Đổ Sử La, tức là Đâu Suất, ba lần lên xuống trông xem hình tướng của Bồ Tát mới tạo thành tựu tướng hải ấy. Từ khi có Tôn Tượng ấy, Phật Pháp mới lưu truyền đến phương Đông. Lại theo hướng Đông vượt qua định núi đi ngược dòng sông Tín Độ, giẫm trải mọi hiểm trở, qua cầu bay, đi hơn năm trăm dặm, vượt qua dòng sông, lại theo hướng Đông vượt qua sông Phước Sô lên trên hiểm nguy mới đến nước Bát Lộ La, chu vi rộng bốn nghìn dặm nằm trong núi tuyết lớn, hai phía Đông Tây rất dài. Chùa Chiền có vài trăm ngôi, Chư Tăng có vài ngàn vị, các Sư học, giới hạnh phần nhiều xen lạm, nước đó chẳng thuộc sự thống ngự của Ấn Độ, có nhiều băng tuyết, đất đai sản sinh ra vòng sắc màu như lửa, phía Bắc đối diện với đỉnh núi lớn Bà La Tê La. Trở lại phía Nam thành Ô Đạt Ca nước Kiền Đà là sông Tín Độ, hai phía Đông Tây dài bốn dặm, dòng nước xuôi chảy về phía Tây Nam, trong lắng như gương soi. Có rồng độc thú dữ ở trong hang động, như có người mang theo Xá Lợi hoặc hoa báu qua sông, phần nhiều ghe thuyền đều bị đắm chìm. Từ sông Tín Độ đến nước Đát Xoa Thỉ La, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, Chùa Chiền lắm nhiều mà Chư Tăng thiếu ít, đều thọ học theo giáo nghĩa Đại Thừa. Về phía Tây Bắc của Thành có ao rồng Y Bát La, chu vi rộng hơn trăm bộ, về phía Đông Nam của ao cách ba mươi dặm, giữa khoảng hai bên sườn núi có ngôi Tháp cao hơn một trăm thước, xưa trước Đức Phật dự ghi cho Đức Từ Thị xuất hiện ra đời, trong bến Đại Tạng, nơi đó lưu xuất một tạng, nên có chấn động, chu vi xứ đó rộng khoảng năm bộ, chưa từng có một chút lay động. Như có muốn phát, đất liền chấn động, con người ngã té. Từ Thành về phía Bắc cách mười hai dặm có một ngôi Tháp, đến những ngày trai trường luôn tỏa phóng ánh sáng thần, có cả hoa Tiên, nhạc Trời. Gần đây có người mắc bệnh phong hủi đi đến nơi Tháp lễ bái sám hối, khi trừ cấu uế, bôi thoa hương thơm, không bao lâu bệnh được lành hẳn, thân thế trở lại sạch sẽ thơm tho. Đó là nơi xưa kia Đức Phật làm Vua Chiến Đạt La Bát Thích Bà, Trung Ha gọi là Nguyệt Quang, đem đầu mà xả thí, phàm đã trải qua ngàn lần xả thí nơi Tháp đó, nên xưng gọi Tháp đó tên là Nguyệt Quang vậy. Về phía Đông Nam của thành, trên núi có ngôi Tháp cao mười trượng, lúc Vua Quyết Mục trị vì tại đó, Vua A Dục tạo dựng nên vậy. Lại theo hướng Đông Nam vượt qua núi hàng cách hơn bảy trăm dặm đến nước Tăng Già Bổ La, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng ba, năm trăm dặm, phía Tây gần sông Tín Độ, chu vi thành lớn rộng khoảng mười bốn, mười năm dặm, về phía Đông của thành cách năm mươi dặm có ngôi Tháp đá cao hơn hai mươi trượng, là nơi Đức Phật đã từng đến, có hơn mười cái ao cong, hoa sen bốn màu tràn đầy trong đó. Từ đó về hướng Nam trở ngược đến biên giới phía Bắc nước Đát Xoa Thỉ La, men theo sông Tín Độ về hướng Đông đi hơn hai trăm dặm vượt qua cửa đá lớn là nơi Vương Tử Ma Ha Tát Đỏa xả thân để cứu hổ đói. Ở phía Đông có ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng hơn trăm vị. Lại theo hướng Nam đi khoảng một trăm năm mươi dặm có ngôi Tháp đá là nơi Vương Tử Tát Đỏa dùng tre đâm chính máu cho thú vật ăn, đất và cây cỏ ở đó đến nay hiện còn sắc màu ráng đỏ. Tiếp đến phía Bắc có ngôi Tháp đá cao hơn hai mươi trượng, thường luôn tỏa phóng ánh sáng khai mở đức tin, những người tật bệnh quy hướng, phần nhiều được lành mạnh. Lại theo hướng Đông đi hơn năm mươi dặm đến Cô Sơn có ngôi Chùa, Tháp cao hơn hai trăm thước. Tăng Chúng có hai trăm vị đều thọ học Giáo Pháp Đại Thừa, là nói xưa kia Đức Phật Giáo hóa dược xoa không ăn thịt. Lại theo hướng Đông Nam đi đường núi hơn năm trăm dặm đến nước Ô Thích Thi, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, núi đồi liền tiếp nhau, chu vi Đô Thành rộng mười tám dặm. Xứ ấy không tin Phật Pháp, thuộc Ca Thấp Di La, có ngôi Tháp Phật cao hơn hai mươi trượng, do Vua A Dục tạo dựng, có Chùa, Chư Tăng thiếu ít, thọ học Giáo Pháp Đại Thừa. Lại theo hướng Đông Nam leo lên núi vượt qua cầu sắt đi hơn ngàn dặm đến nước Ca Thấp Di La, thuộc Bắc Ấn Độ, xưa trước gọi là nước Kế Tân, chu vi rộng bảy nghìn dặm, bốn mặt đều tựa vào núi, tuy có cửa đi nhỏ hẹp mà kim thông. Phía Tây của thành gần sông lớn, dài mười ba dặm rộng bốn dặm. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm nghìn vị. Đất đai sản sinh ra rồng giống ngựa, uất kim hỏa châu. Có bốn ngôi Tháp, mỗi ngôi có hơn một thăng Xá Lợi. Sau Phật nhập Niết Bàn trong trăm năm thứ tư, bấy giờ Hiếp Tôn Giả đã tám mươi tuổi mới Xuất Gia, chứng đắc vô học dẫn năm trăm vị A La Hán đến đó tạo mười vạn kệ tụng, Ổ Ba Đệ Thước Thích Đát Lãm Tạng, tức là dị danh cửa Ưu Ba Đề Xá Luận, Tu Đa La Tạng, tiếp theo tạo mười vạn kệ tụng A Tỳ Kiến Ma Luận có sáu trăm sáu mươi vạn lời, giải thích đầy đủ về Tam Tạng. Về phía Đông Nam của Tân Thành cách hơn mười dặm là phía Bắc cố thành, phía Nam núi lớn có Chùa Tháp, Chư Tăng có ba trăm vị, có chiếc răng thật dài một tấc rưỡi sắc màu vàng trắng, vào những ngày trai trường tỏa phóng ánh sáng. Lại theo hướng Nam đi khoảng mười năm dặm có Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại đứng, nếu người nguyện muốn trông thấy, đoạn thực liền thấy. Về phía Tây Bắc của Vương Thành cách hơn hai trăm dặm đến Chùa Thương Lâm. Về phía Tây của thành cách năm trăm dặm là dòng sông lớn, phía Bắc tiếp liền với núi, có ngôi Chùa, Chư Tăng hơn trăm vị. Từ đó theo hướng Tây Nam vượt đi đường núi hơn bảy trăm dặm nước Bán Nê Tha, tức là Kế Tân thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, có năm ngôi Chùa, lắm nhiều núi sông. Từ đó, về phía Đông Nam đi hơn bốn trăm dặm đến nước Át La Xà Bổ, là nước hoang phục, chẳng phải chánh Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành hơn mười dặm, có mười ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít có một ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo Đông nhiều. Từ nước Lạm Ba đến đây hình thể bỉ bạc chẳng phải chánh cảnh của Ấn Độ. Từ đó xuống núi theo hướng Đông Nam mà đi đều là sông lớn dài xa không bờ mé, chỉ lấy dòng sông phân làm ranh giới biên bộ của các nước, tuy có núi nhỏ nhưng đều đứng đơn lẻ. Từ đó về hướng Bắc tiếp liền với núi tuyết, phía Đông đến tận Thần Châu, chương bộ trở về hướng Nam đến núi tuyết. Căn cứ núi này cũng là trấn địa lớn của Thiệm Bộ Châu, từ thành ấy về phía Đông Nam xuống dần bằng phẳng, vượt đi đường sông hơn bảy trăm dặm đến nước Trách Ca, thuộc Bắc Ấn Độ. Chu vi rộng hơn vạn dặm, phía Đông y cứ sông Tỳ Bà Xa, phía Tây gần sông Tín Độ, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, tập tục ít tin Phật Pháp, phần nhiều phụng thờ Trời thần, có hơn mười ngôi Chùa, đền thờ Trời có đến hàng trăm ngôi. Về phía Tây Nam của thành cách mười năm dặm là thành Xa Yết La xưa cũ, Chùa Tháp cao hơn hai mươi trượng, nơi xưa kia bốn Đức Phật giảng nói pháp, kinh hành. Lại về hướng Tây Bắc cách khoảng sáu dặm có ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng cũng là nơi bốn Đức Phật giảng nói pháp. Về phía Đông Bắc của Tân Thành Đô cách hơn mười dặm có ngôi Tháp đá cao hơn hai mươi trượng có nhiều Xá Lợi, vào những ngày trai trường tỏa phóng ánh sáng. Từ đó đi về hướng Đông hơn năm trăm dặm đến nước Na Bộc để, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng khoảng một nghìn bốn trăm mười năm dặm, có mười ngôi Chùa, tám ngôi Đền thờ Trời, Tháp thờ Xá Lợi Phật có trăm ngàn ngôi và Thạch Thất v. v... Chư Tăng có ba trăm vị đều học theo Tiểu Thừa Thuyết Hữu Bộ, Đức Hạnh thanh cao, rộng thông Tiểu Học, ngàn Đức Phật trong thời hiền kiếp đều giảng nói pháp ấy. Sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn trong trăm năm thứ ba, Tôn Giả Ca Đa Diễn Na, Ca Chiên Diên đến đó tạo phát trí Luận, Chùa Tháp cao hơn hai mươi trượng, có chỗ vế tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Từ đó về hướng Đông đi một trăm năm mươi dặm đến nước Xà Lạn Đạt Na, thuộc Bắc Ấn Độ, hai phía Đông Tây dài hơn ngàn dặm, hai phía Nam Bắc rộng sáu trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm. Có năm mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm nghìn vị, tùy học Đại Thừa, Tiểu Thừa chuyên môn, có ba ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo có năm trăm vị. Từ đó về phía Đông Bắc vượt núi hơn bảy trăm dặm đến nước Khuất Lộ Đa La, thuộc Bắc Ấn Độ, núi bao bọc khắp bốn phía, chu vi Đô Thành khoảng mười bốn, mười năm dặm. Có hơn hai mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ngàn vị phần nhiều thọ học theo Giáo Pháp Đại Thừa, có mười năm ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo chung sống lẫn lộn. Lưu xuất hỏa châu mưa đá, tục anh thả... trong thành có ngôi Tháp ghi là Đức Phật từng đến đó giảng pháp. Từ đó theo hướng Bắc đi gần hai nghìn dặm bằng đường núi nguy hiểm đến nước Lạc Hộ La, thuộc Bắc Ấn Độ. Lại theo hướng Bắc đi đường núi hơn hai nghìn dặm, tuyết lạnh rất lắm, đến nước Mạc La Bà, còn gọi là Tam Ba Ha, chẳng nhiếp thuộc Bắc Ấn Độ. Lại từ Quậc Lộ La theo hướng Nam đi hơn bảy trăm dặm trèo qua núi lội qua sông đến nước Thiết Đa Đồ Lô, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, phía Tây gần sông lớn, chu vi Đô Thành rộng mười bảy - mười tám dặm, xứ đó Phật Pháp rất hưng thịnh, trong và ngoài thành có mười ngôi Chùa, Chư Tăng cũng thiếu ít. Từ thành về hướng Đông cách dặm có ngôi Tháp cao hai mươi trượng do Vua A Dục tạo dựng nên, bên cạnh có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Từ đó theo hướng Đông Nam đi hơn tám trăm dặm đến nước Ba Ly Dạ Đát La, vào Trung Ấn Độ, chu vi rộng ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng mười năm dặm, có tám ngôi Chùa, Chư Tăng cũng hiếm thiếu, phong tục tin theo ngoại đạo. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng Dị Đạo có lưu ngàn vị, xứ đó có giống thóc gieo trồng sáu mươi ngày là thu hoạch. Từ đó, theo hướng Đông đi hơn năm trăm dặm đến nước Mạc Thô La, thuộc Trung Ấn Độ, xưa trước gọi là nước Ma Thâu La, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, Chùa Chiền có hơn hai mươi ngôi, Chư Tăng có hơn hai nghìn vị, tập học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có năm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn, đất đai gieo trồng giống Quả Am một la, loại nhỏ lúc mới ra sắc xanh lúc chín sắc vàng, loại lớn trước sau đều thuần sắc xanh. Trong thành có ba ngôi Tháp. Di tích của bốn Đức Phật có lắm nhiều, và pháp của các Tôn Giả Xá Lợi Tử, Một Đặc Ca La Tử Mục Kiền Liên, Mãn Từ Tử Phú Lâu Na,Ưu Bà Ly Ưu Ba Ly, A Nan Đà, La Hổ La, Mạn Thù Thất Lợi v. v... Thường ba tháng trường, sáu thời, Chư Tăng Ni nhóm tập chúng A Tỳ Đạt Ma cúng dường Tháp Tôn Giả Xá Lợi Phất, chúng tập định cúng dường Tháp Tôn Giả Mục Kiền Liên. Chúng tụng Kinh cúng dường Tháp Tôn Giả Mãn Từ Tử. Chúng Tỳ Nại Da cúng dường Tháp Tôn Giả Ưu Bà Ly. Chúng Chư Ni cúng dường Tháp Tôn Giả A Nan. Chúng chưa thọ giới Cụ Túc Sa Di cúng dường Tháp Tôn Giả La Hổ La. Chúng Đại Thừa cúng dường Tháp Chư vị Bồ Tát. Tìm xét các pháp ấy chẳng hẳn có di thân, chỉ lập Tôn Tượng thiết cùng, dùng để tỏ bày tâm nguyện, như chư vị La Hổ La, Văn Thù Sư Lợi chưa lấy sự diệt độ thì có thể biết đó. Từ thành về hướng Đông cách khoảng sáu dặm có Chùa Sơn Nhai là do Tôn Giả Ô Ba Cúc Đa, Trung Hoa dịch nghĩa là Cận Hộ, tạo dựng nên có Tháp thờ móng tay của đạo phẩm. Về phía Bắc của Chùa có Thất Sơn nham cao hai trượng rộng ba trượng, có thể nhỏ bốn tấc đặt để ở đó. Gần đây có vợ chồng Hộ Đạo cùng chứng quả A La Hán, đưa một thẻ trái ngược đó chẳng ghi tại nơi thất. Lại nữa, về phía Đông Nam của thất cách hơn hai mươi dặm, bên cạnh ao cạn lớn có ngôi Tháp, đạo phẩm từng đến đó có con khỉ bưng mật dâng cúng Phật. Đức Phật bảo đem hòa với nước cúng dường cả Đại chúng đồng uống. Con khỉ vui mừng nhảy nhót rơi xuống hố mà chết bèn được thác sinh trong loài người. Trong rừng ở phía Bắc của ao, nơi bốn Đức Phật Kinh hành có các di tích lớn. Lại theo hướng Đông Bắc đi hơn năm trăm dặm đến nước Tát Đà Nê Thấp Phạt La, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bảy nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Có ba ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng bảy trăm vị đều tập họp giáo nghĩa Tiểu Thừa, có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo rất đông nhiều. Về phía Tây Bắc cửa thành cách khoảng bốn dặm có ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng, tôn thờ một thăng Xá Lợi. Về phía Nam của thành cách hơn một trăm dặm đến nơi Chùa Phật. Lại theo hướng Đông Bắc đi hơn trăm dặm đến nước Tất Lục Lặc Na, thuộc Trung Ấn, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, có phần hoang sơ, cảnh thức phía Đông gần sông Khắc Già. Tức Sông Hằng xưa trước, phía Bắc tiếp giáp với núi lớn, phía Đông Nam của thành là sông Diêm Mâu Na, sông ấy từ trong núi ở phía Tây Bắc nước đó đổ ra cảnh vức giữa nước mà xuôi dòng. Chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, phía Đông gần sông Diêm Mâu, có năm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn ngàn vị tập học Giáo Pháp cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo đông nhiều. Phía Tây dòng sông có ngôi Chùa lớn, có ngôi Tháp ngoài cửa phía Đông, xưa kia Đức Phật từng đến đó Thuyết Pháp độ người, bên cạnh đó có Tháp thờ tóc móng tay Đức Phật. Từ sông Diêm Mâu về phía Đông hơn tám trăm dặm là đến nguồn sông Khắc Già rộng khoảng ba đến bốn dặm xuôi dòng về phía Đông Nam đổ vào biển rộng hơn mười dặm, nước sắc mà xanh thẩm, mùi vị ngọt ngon, cát nhỏ mịn theo dòng mà chảy, thế tục tương truyền đó là dòng sông nước phước. Người nào tắm gội thì tiêu trừ được tội chướng, hoặc có người xem thường mạng sống mà tự đắm mình cho là được sinh lên Trời hưởng thọ phước lạc. Có nơi mà Bồ Tát Đề Bà người nước Tăng Già La giáo hóa ngoại đạo khiến quy hướng thọ học Chánh Pháp. Từ đó vượt qua sông theo hướng Đông đến nước Mạc Để Bổ La, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành hơn hai mươi dặm, xứ ấy không tin Phật Pháp mà kính thờ Trời. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng tám trăm vị, phần nhiều tập học Giáo Pháp Tiểu Thừa. Có hơn năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống xen tạp, cảnh thức phía Tây Bắc nước đó là sông Khắc Già, ở bờ phía đông là thành Ma Dụ La chu vi rộng hơn hai mươi dặm, là xứ sản sinh đá, thau, thủy tinh. Bên cạnh thành gần sông lớn, có đền thờ Trời rất lớn, lắm nhiều oai linh, có ao hồ sắp xếp đá làm bờ, dẫn sông làm bãi. Cả năm xứ Ấn Độ đều cho là cửa sông Khắc Già là nơi sinh phước diệt tội, thường có trăm ngàn người đến tắm gội. Từ phía Bắc thành Ma Dụ La đi hơn ba trăm dặm đến nước Bà La Cấp Ma Bổ La, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, núi bao bọc quanh bốn phía, chu vi Đô Thành hơn hai mươi dặm, có năm ngôi Chùa. Chư Tăng thiếu ít, có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống xen tạp, về phía Bắc nước ấy là núi Tuyết lớn có nước Tô Phạt Thích Noa Cù Đát La, tức là nước Kim Thị, sản sinh loại vàng ròng trên. Hai phía Đông Tây đất dài rộng tức nước Đông Nữ, chẳng nhiếp thuộc Ấn Độ, lại liền gọi là nước Đại Dương Hồng, phía Đông tiếp liền Thổ Phiên, phía Tây tiếp liền Tam Ba Ha, phía Bắc tiếp liền nước Vu Điền. Nước đó ở đời lấy người nữ làm Vua, người Nam cũng làm Vua nhưng không biết, nên người Nam chỉ đi chinh chiến gieo trồng ruộng đồng mà thôi. Lại từ nước Mạc Để Bổ La theo hướng Đông Nam đi hơn bốn trăm dặm đến nước Cù Tỳ Sương Na, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, Đô Thành rộng khoảng mười bốn đến mười năm dặm. Có hai ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng hơn trăm vị mà tập tục Giáo Pháp Tiểu Thừa, có hơn ba mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lộn xộn, thành quách bền chắc cao vợi. Bên cạnh thành có ngôi Chùa cổ, có Tháp cao hơn hai mươi trượng, xưa kia Đức Phật từng đến nơi đó dừng ở một tháng giảng nói pháp, có hai ngôi Tháp thờ móng tay và tóc của Đức Phật cao hơn một trượng, bên cạnh có vết tích của bốn Đức Phật ngồi. Lại theo hướng Đông Nam đi hơn bốn trăm dặm đến nước Ác Hê Chế Đát La, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng khoảng mười bảy - mười tám dặm. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ngàn vị tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có chín người đền thờ Trời, phía ngoài bên cạnh ao là nơi Đức Phật vì rồng mà giảng pháp suốt bảy ngày, dựng lập Tháp bên cạnh có dấu vết của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, dựng lập Tháp để tán dương đó. Lại theo hướng Nam đi hai trăm bảy mươi dặm vượt qua sông Khắc Già. Lại theo hướng Tây Nam đến nước Tỳ La Sang Noa, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm. Xứ đó rất tin ngoại đạo, ít kính Phật Pháp. Có hai ngôi Chùa, Chư Tăng có ba trăm vị đều tập học Giáo Pháp Đại Thừa, có năm ngôi đền thờ Trời. Trong Thánh có Chùa, Tháp cao hơn mười trượng, xưa kia Đức Phật từng đến nơi đó suốt bảy ngày giảng nói phát uẩn giới. Vết tích của Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền đến nay vẫn hiện còn. Từ đó, theo hướng Đông Nam đi hơn hai trăm dặm đến nước kiếp Tỷ Tha, thuộc Trung Ấn Độ, xưa trước gọi là nước Tăng Già Xá, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Có bốn ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn ngàn vị, có mười ngôi đền thờ Trời đồng tôn thờ Đại Tự Tại Thiên, đều tạo Tôn Tượng Trời, tướng trạng như người mà căn hình dài lớn. Người đời không lấy làm việc xấu ác vì đều cho rằng các hàng chúng sinh từ căn Trời sinh ra. Từ thành vì hướng Đông cách hơn hai mươi dặm, trong ngôi Chùa lớn Chư Tăng khoảng trăm vị, Tịnh Nhân có vài vạn người đều làm nhà ở bên cạnh Chùa. Trong tường lớn có Thiên Đế tạo ba thềm cấp bằng vật báu, thềm cấp ở giữa làm bằng vàng ròng thềm cấp bên tả bằng thủy tinh, thềm cấp bên hữu làm bằng bạc trắng, theo hướng Nam Bắc mà bày, mặt phía Đông cắm sâu xuống đất. Đó là nói xưa kia Đức Phật từ rừng Thệ Đa, tức là rừng Kỳ Đà lên cung Trời đến thiện pháp đường vì Thánh Mẫu Ma Gia suốt ba tháng giảng nói pháp rồi trở xuống. Trăm năm về trước, thềm cấp ấy vẫn còn, đến nay đều ẩn mất dưới đất, về sau có vị Vua bắt chước làm theo đó còn cao hơn bảy mươi thước, phía trên dựng lập Tinh Xá, bên cạnh có trụ đá láng bóng sáng ngời ảnh hiện, tùy theo tội phước của mỗi người mà trông thấy ảnh hiện trong trụ. Vua A Dục dựng lập phù đồ bên cạnh thềm cấp, nơi vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, nơi Đức Phật tắm rửa đều có dựng lập Tháp. Ở đó có Tinh Xá nói Đức Phật nhập thất. Lại bên cạnh nơi Đức Phật Kinh hành có nền tảng đá dài năm mươi bộ cao bảy thước, nơi vết chân giẫm phủ đầu có đường văn hoa sen, hai bên nền tảng có các ngôi Tháp nhỏ do các vị Phạm Vương tạo dựng. Tiếp theo phía trước là nơi Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc hóa làm Luân Vương đến trông thấy đón Đức Phật trước. Đức Phật bảo Liên Hoa Sắc rằng: Chẳng phải ngươi là người thấy đón trước, có Tô Bộ Để Tu Bồ Đề an tọa trong thạch thất chứng biết các pháp tánh vốn không nên đã thấy pháp Thân Ta trước. Tiếp theo về phía Đông Nam có ao hồ, nói rồng ở luôn bảo hộ Thánh tích, không thể khinh thường xem phạm. Từ đó theo hướng Tây Bắc đi gồm hai trăm dặm đến nước Yết Nhã Cúc Xà, tức thành khúc nữ, thuộc trung Ấn Độ, chu vi hơn bốn trăm dặm, phía Tây Đô Thành gồm sông Khắc Già, dài hơn hai mươi dặm rộng khoảng bốn mươi năm dặm, tà chánh xen lẫn cùng một nửa. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vạn vị, thọ học Giáo Pháp và Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có hơn hai trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo khoảng vài ngàn vị. Đó tức là Thành Đô của cả năm xứ Ấn Độ, Vua hiệu là Hy La Dật Đa, tức là giới Nhật, dòng họ Phệ Xa. Mới đầu muốn lên ngôi, nhân ở bên bờ sông khắc già có tên tượng Bồ Tát Quán Tự Tại, Vua mới cầu thỉnh đó. Được Bồ Tát dạy bảo rằng: Ông vốn là vị Tỳ Kheo Lan Nhã ở rừng này, Vua Kim Nhĩ Nguyệt đã phá diệt Phật Pháp. Ông lên làm Vua phải nên trùng hưng lại, lấy sự thương xót muôn vật làm lòng, mới làm Vua cả năm xứ nên phải cẩn trọng chớ lên tòa sư tử và xưng hiệu Đại Vương. Vua mới cùng các Đồng Tử đánh diệt hết các ngoại đạo và đồ chúng của Kim Nhĩ Nguyệt, lại đính ước nghiêm lệnh. Nếu có người ăn thịt thì Cắt Lưỡi, người giết hại sinh mạng thì chặt tay. Vua và người em gái góa cùng trông coi chăm lo việc nước nhà. Đến bên cạnh sông Khắc Già dựng tạo ngàn ngôi Phù Đồ, mỗi một ngôi cao hơn trăm thước, khắp cả thành ấp thôn xóm tụ lạc đến những ngõ hẻm đường thông, đều dựng lập Tinh Xá tích trữ lương thực, mở mang thuốc men để ban cấp bệnh tật nghèo cùng. Những nơi Thánh tích đều dựng lập Chùa. Suốt hai mươi năm trở lại, cứ năm năm mở hội một lần, dốc hết kho tàng ban cấp mọi người, chỉ lưu giữ binh khí, dùng đủ chẳng lo phòng. Ngày đầu tiên mở hội, nhóm tập thỉnh mời Chư Tăng ở các nước, suốt trong hai mươi mốt ngày cúng dường tứ sự, khiến cùng nhau luận bàn. Với những vị giới hạnh trinh thuần kiên cố, Đạo Đức ưu việt đượm nhuần. Vua bèn thỉnh mời lên tòa sư tử và cầu xin thọ giới. Với những vị thanh tịnh vô học, Vua tỏ bày sùng kính ngưỡng, với các vị uế hạnh hiện bày thì Vua liền xua đuổi ra khỏi nước nhà. Đối với các vị Vương Thần biết gieo tạo mọi việc phước lành không biếng nhác, thì Vua kéo tay cùng ngồi, còn ngược lại thì Vua chẳng đoái hoài trông nhìn. Vua đi tuần xét phong tục khắc các địa phương, chẳng thường dừng ở một nơi. Những lúc hẳn có bốn bộ binh lính dẫn đường rất nghiêm mật, chèo thuyền cỡi voi, đánh trống thổi loa. Quân voi có cả tám vạn, oai phong tỏa khắp bốn phương. Vua chỉ hai ba tháng không ra ngoài vân du. Ở trong cung mỗi ngày cúng dường các vị Sa Môn, Chư Tăng có cả ngàn vị, có năm trăm Bà La Môn. Mỗi ngày thời gian phân thành ba phần. Một phần chuyên xử lý mọi việc, hai phần chuyên tu mọi phước thiện. Lại dứt tuyệt ăn dùng máu thịt, mỗi ngày theo lệ chỉ ăn một bữa. Ở bên cạnh phía Tây dòng sông, phía Đông của Chùa tạo dựng một đài báu cao hơn trăm thước, bên trong có Tôn Tượng bằng vàng thân ngang như hình người, tiếp đến ở phía Nam xây dựng một đài báu nơi tắm rửa Tôn Tượng Phật. Từ đó về hướng Đông Bắc cách mười năm dặm riêng xây dựng hành cung, từ Chùa đến cung các đoạn đường hẹp làm các, chạm trổ điêu khắc đến cùng, các thứ kỹ nhạc chẳng đổi dời luôn xúm quanh hòa tấu mà thôi. Lại tạo Tôn Tượng bằng vàng cao ba thước lúc che ẩn lúc để hiện bày, dùng voi lớn màn báu che phủ phía trên, Vua tạo tượng Đế Thích cầm nắm lọng báu đứng hầu bên tả. Có Vua Câu Ma La, tức là Đồng Tử, ở nước Ca Ma Lũ Ba tạo tượng Phạm Vương cầm nắm phất trần đứng hầu phía hữu. Mỗi mỗi có năm trăm quân lính voi mang mạc áo giáp đồng hộ vệ. Trước sau mỗi mỗi có trăm voi lớn. Các nhạc nhân ngồi trên đánh tổng sáu mươi mốt người hòa tấm âm nhạc. Vua giới nhật lại đem các thứ vàng bạc châu hương hoa theo ra tung rải cúng dường Tam Bảo. Tại năm xứ Ấn Độ, Chùa Ni rất hiếm ít. Giả sử như có các vị ni cũng đồng tu tập một Chùa với Chư Tăng, đồng ăn một chỗ, không khuyết phạm giới điều cấm ước. Nhưng Vua Đồng Tử thuộc dòng tộc Sát Đế Lợi nói cùng kẻ sứ là Lý Nghĩa Biểu rằng: Trên đời tương tục tiếp thừa đã bốn nghìn năm. Người xưa trước từ đất Hán bay lại làm Vua xứ đất này. Về phía Tây Bắc của thành có ngôi Tháp do Vua A Dục tạo dựng xưa kia, Đức Phật từng ở đó suốt bảy ngày giảng nói pháp. Bên cạnh có Tháp thờ tóc và móng tay, vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Lại về hướng Nam, gần sông Khắc Già có ba ngôi Chùa cùng đồng chung vách tường mà khai cửa, Tôn Tượng Đức Phật trang nghiêm xinh đẹp. Có chiếc răng của Đức Phật dài một tấc rưỡi, sắc màu tỏa sáng luôn biến đổi, Phật tôn trí trong hộp báu. Mọi người ở xa gần đến chiêm ngưỡng mỗi ngày có đến cả ngàn trăm, khiến người gìn giữ phiền nhiễu, thâu thuế nặng bằng vàng hoặc vật báu nhưng mọi người vui thích đến kính lễ chẳng chối từ tốn nhiều của cải. Vào những ngày trai thì nghinh thỉnh ra tôn trí nơi tòa cao rải hoa cúng dường tuy tích chứa nhưng hợp chiếc răng ấy chẳng bị khỏa lấp, chúng Tăng ở trong Chùa rất thanh tịnh nghiêm túc, các hàng tịnh nhân có cả vài vạn nhà. Phía trước và hai bên Chùa có những ngôi Tinh Xá cao hơn trăm thước, xây dựng nền móng bằng đá lợp ngói gạch, Tôn Tượng trong thất trang nghiêm bằng các vật báu hoặc thuần toàn vàng bạc. Tiếp theo về phía Đông Nam có một ngôi Tinh Xá lớn được xây dựng nền móng bằng đá, gạch, thất cao hơn hai mươi trượng. Đó là nơi xưa kia Đức Phật từng ở suốt sáu tháng nói các pháp Thân vô thường, khổ không bất tịnh. Lại có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền tại phía Đông Nam của Thành cách khoảng sáu, bảy dặm nằm trên bờ phía Nam sông Khắc Già. Từ thành ấy về phía Đông Nam hơn trăm dặm có thành Nạp Phược Đề Bạ tựa bên bờ sông phía Đông Khắc Già có ba ngôi Chùa đồng chung từng vách mà khác cửa, chu vi rộng hơn hai mươi dặm. Tiếp theo trước cách hơn hai mươi bộ, có một ngôi Tháp cao hơn hai mươi trược là nơi Đức Phật từng ở đó suốt bảy ngày giảng nói pháp, bên trong có Xá Lợi, có lúc tỏa phóng ánh sáng. Bên cạnh đó có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Về phía Bắc của Chùa cách bốn dặm gần bờ sông Khắc Già, có ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng, xưa kia Đức Phật từng đến đó giảng nói pháp, có bốn trăm quỷ đói được tỏ ngộ mà sinh lên cõi Trời. Bên cạnh đó lại có Tháp thờ tóc và móng tay của Đức Phật, tiếp theo bên cạnh lại có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Lại theo hướng Đông Nam hơn sáu trăm dặm, vượt qua phía Nam sông Khắc Già đến nước A Thâu Đà, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba trăm vị, đề thọ học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo hiếm ít. Trong thành có ngôi Chùa cổ tức là nơi Bồ Tát Phạt Tô Bạn Độ, tức là Thế Thân ở trong vài mươi năm tạo các Luận Đại Thừa Tiểu Thừa. Từ thành về phía Bắc cách năm dặm bên bờ sông Khắc Già, trong ngôi Chùa lớn có ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng là nơi xưa trước Đức Phật đã từng vì các người Trời mà ở đó mất ba tháng giảng nói pháp. Bên cạnh đó có ngôi Tháp Phật, có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Từ Chùa về phía Tây cách năm dặm có ngôi Tháp thờ tóc và móng tay của Đức Phật. Từ thành về phía Tây Nam cách năm dặm có ngôi Chùa cổ trong rừng Đại Am Một La, là nơi Bồ Tát A Tăng Già xưa kia ban đêm lên Cung Trời đến chỗ Bồ Tát Từ Thị để thọ học trở lại vì đại chúng mà giảng nói. Từ rừng ấy về phía Tây Bắc cách hơn trăm bộ có Tháp thờ tóc và móng tay của Đức Phật. Từ đó, theo hướng Đông đi hơn ba trăm dặm, vượt qua phía Bắc sông Khắc Già đến nước A Da Mục Khư, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hai nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hai mươi dặm, có năm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn một nghìn vi đều thọ học Giáo Pháp Tiểu Thừa. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng ngạo đạo chung sống lẫn lộn. Từ thành về phía Đông Nam gần sông Khắc Già cố ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng là nơi xưa Đức Phật từng ở suốt ba tháng giảng nói pháp, có Tháp phụng thờ tóc và móng tay sắc xanh, có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Lại theo hướng Đông Nam đi hơn bảy trăm dặm vưột qua phía Nam sông Khắc Già, thuộc phía Bắc sông Diêm Mâu Na đến nước Bát La Già Da, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, Đô Thành y cứ giữa điểm giao tiếp của hai bờ sông chu vi rộng hơn hai mươi dặm, có hai ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo đặc biệt lắm nhiều, từ thành về phía Tây Nam giữa khúc cung sông Diêm Mâu Na cách khoảng hai ba ngàn dặm theo dòng sông hợp lại ở phía Đông Bắc có ngôi Tháp cao hơn mười trượng trong rừng hoa Chiêm Bác Ca. Là nơi xưa kia Đức Phật từng đến đó nhiếp phục ngoại đạo, có Tháp thờ tóc và móng tay, vết tích nơi Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, lại có nơi Bồ Tát Đề Bà Tạo Luận Quảng Bách. Trong thành, trước nhà đền thờ Trời có cây Đại Thọ cành lá tươi tốt che kín, có loài quỷ ăn thịt người nương ở nơi đó. Hai bên di cốt chất chống như cỏ, những người đến trong đền thờ thảy đều xem thường mạng sống, từ trên cây ném xuống bởi bị quỷ dẫn dụ. Từ thành về hướng Đông nói hai dòng sông hợp lại rộng hơn mười dặm, đất đai bằng phẳng, đồi cao cát mịn dãn bày. Xưa nay các hàng Vương Thần giàu sang có cúng thí không ai chẳng đến đó, nên gọi đó là đại thí trường. Vua giới nhật cũng tu hạnh nghiệp đó. Từ Đạo Trường đó về phía Đông nơi hợp lại của dòng sông mỗi ngày có đến trăm người tự đắm mình mà chết. Tập tục ở đó gọi là nơi thác sinh lên các Cõi Trời vậy. Nếu người nào muốn hành pháp ấy thì trước tiên đến đó bỏ ăn bảy ngày. Viêc tự đắm mình vào trong dòng sông, mọi người từ các nơi xa gần đều đến, cho đến cả khí núi nai đồng kéo nhau cả đàn đến bên bờ sông bỏ ăn mà tự đắm mình xuống dòng sông. Ngay lúc Vua giới Nhật Thực hành bố thí có hai con khỉ cái bị chó cắn chết, con khỉ đực mang xác ném xuống dòng sông, và chính con khỉ đực ấy cũng bởi đã đói khát nhiều ngày nên chết luôn. Từ đó theo hướng Đông Nam đi qua rừng lớn và đồng trống hoang dã hơn năm trăm dặm đến nước Kiều Thưởng Di thuộc Trung Ấn Độ chu vi rộng sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành hơn ba mươi dặm. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn ba trăm vị, có năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo Đông nhiều. Trong thành nói cung điện cũ có ngôi Tinh Xá lớn cao hơn sáu mươi thước, khắc chạm Tôn Tượng Đức Phật bằng gỗ Chiên Đàn, phía trên treo đá, do Vua Ổ Đà Diễn Na. Xưa trước gọi là Ưu Đà Diên, thời Tiền Đường dịch nghĩa là xuất ái tạo dựng, có ánh sáng linh thiên tỏa phóng, các vị Vua muốn đem sức lực để nâng dời mà trọn chẳng lay chuyển. Xưa kia, khi Đức Phật Thích Ca vì Thánh mẫu Ma Gia nêu lên Cung Trời giảng pháp, Vua thỉnh cầu Tôn Giả Mục Kiền Liên dùng sức thần dẫn các người thợ lên Cung Trời phỏng hình tướng của Đức Phật để làm. Đến lúc từ Cung Trời, Đức Phật trở xuống, Tôn Tượng ấy bèn đứng dậy nghinh đón, Đức Phật bèn an ủi ủy dụ vì làm mọi Phật Sự trong tương lai. Từ Tinh Xá đó đi về hướng Đông cách hơn trăm bộ, có vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành, cái giếng nơi thất của Đức Phật tắm rửa đến nay nước vẫn còn tuôn chảy. Trong thành về góc Đông Nam nơi vườn nhà Tôn Giả Cụ Sử La, có Tinh Xá của Đức Phật, Tháp tôn thờ tóc và móng tay. Bên cạnh Tháp lớn lại có vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành. Từ thành về hướng Tây cách chín dặm có hang đá là nơi xưa kia Đức Phật từng du hóa đến đó nhiếp phục rồng độc. Bên cạnh có ngôi Tháp lớn cao hơn hai mươi trượng. Bên cạnh lại có vết tích của Đức Phật Tọa Thiền kinh hành, Tháp phụng thờ tóc và móng tay. Những người tật bệnh đến nguyện cầu phần nhiều đều được lành mạnh. Đến lúc Di pháp của Đức Phật Thích Ca hủy diệt tại nước đó, các hàng sang hèn vào trong cảnh vật tự nhiên cảm thương. Từ hang đá ấy vào trong rừng lớn đi hơn bảy trăm dặm, vượt qua bờ phía Bắc sông Khắc Già đến thành Ca Xa Bố La chu vi rộng mười dặm, đó là nơi Bồ Tát Hộ pháp nhiếp hóa ngoại đạo, có ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng, xưa kia giảng pháp, hiện có dấu vết Đức Phật Kinh hành, Tháp Tôn thờ tóc và móng tay. Từ đó theo hướng Bắc đi một trăm tám mươi dặm đến nước Ty Sách Ca, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng mười bảy dặm, có hai mươi ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng ba nghìn vị, có năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo rất Đông nhiều. Ở hai bên đường phía Nam có Chùa Tháp cao hơn hai mươi trượng, xưa kia Đức Phật từng ở nơi đó sáu năm giảng nói pháp, bên cạnh có cây kỳ lạ cao bảy mươi thước, quanh năm không đổi thay, đó là cây Đức Phật xỉa răng vất bỏ mà sinh mọc tươi tốt như vậy, các hàng ngoại đạo đua nhau đến chặt phá, song, sau đó vẫn sinh mọc như cũ. Bên cạnh có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền và Tháp Tôn thờ tóc và móng tay. Góc nền móng tiếp liền nhau, ao rừng giao bóng. Từ đó theo hướng Đông Bắc đi hơn năm trăm dặm đến nước Thất La Phạt Tất Để, tức nước Xá Vệ, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, Đô Thành hoang phế hư hoại, nền móng cũ bền bỉ dài hơn hai mươi dặm, có vài trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo rất Đông nhiều. Trên nền móng điện cũ phía Đông trong thành hoang phế có ngôi Tháp nhỏ, do là nơi do Vua Bát La Tê Na Thị Đa, xưa trước gọi là Vua Ba Tư Nặc, tiếng Trung Hoa thời tiếng Đường dịch nghĩa là Thắng Quân, vì Đức Phật mà tạo dựng đường thất. Tiếp theo trên Tháp nền móng cũ, Vua vì Di Mẫu của Đức Phật là Tỳ Kheo Ni Bát La Xà Bát Để, xưa trước gọi là Bà Xà Ba Đề, Trung Hoa dịch nghĩa là sinh chủ, mà tạo dựng Tinh Xá. Tiếp theo về phía Đông Tháp là vườn nhà cũ của Tô Đạt Đa, tức là Thiện Thí, bên cạnh có ngôi Tháp lớn, là nơi Ương Cù Lợi Ma La, tức là Chỉ Man, xả bỏ tà pháp. Từ thành đó về hướng Nam cách khoảng sáu dặm là rừng Thệ Đa là vườn Chùa do Trưởng Giả Tu Đạt và Thái Tử Kỳ Đà tạo lập, nay đã hoang phế chỉ còn có trụ đá cao hơn bảy mươi thước do Vua A Dục tạo dựng và còn một ngôi thất bằng gạch ngoài ra đều bị khỏa lấp. Trung thất ấy có Tôn Tượng Đức Phật vì Thánh Mẫu mà giảng pháp bằng vàng. Về phía Đông Bắc có ngôi Tháp là nơi Đức Phật tắm rửa theo vị Tỳ Kheo bị bệnh, về phía Tây Bắc lại có ngôi Tháp nơi Tôn Giả Mục Kiền Liên nâng Pháp Y của Tôn Giả Xá Lợi Phất, cách đó không xa cùng các Ngôi Tháp của Đức Phật múc nước sử dụng. Lại nữa, nơi Tôn Giả Xá Lợi phất cùng Đức Phật hành đạo Thuyết Pháp đều có dựng Tháp tiêu biểu, luôn có dán hiệu các thứ nhạc linh mà hương khác lạ. Nơi các ngoại đạo giết hại người nữ để phỉ báng Đức Phật cũng có dán hiệu các thứ nhạc linh mà hương khác lạ. Nơi các ngoại đạo giết hại người nữ để phỉ báng Đức Phật cũng có dựng lập Tháp để tiêu biểu. Từ Chùa về phía Đông cách trăm bộ có hầm hố sâu lớn, đó là nơi điều đạt muốn độc hại Phật mà bị lấp vùi vào lòng đất. Ở phía Nam lại có hầm hố lớn là nơi Tỳ Khưu Cù Già Ly hủy báng Đức Phật mà bị lấp vùi. Lại về phía Nam cách năm trăm bộ, có hầm rất lớn là nơi Bà La Môn nữ Chiến Già hủy báng Đức Phật mà bị lấp vùì, ba hầm hố đó đều sâu thẳm không đáy, mưa lớn trút đổ trọn không ngưng nghẹt. Từ Chùa về phía Đông cách bảy mươi bộ có một Tinh Xá trên là Ảnh Phú cao sáu mươi thước, bên trong có Tôn Tượng Đức Phật ngồi xoay mặt hướng Đông, nơi cùng các ngoại đạo luận nghị. Tiếp đó về phía Đông có đền thờ Trời cũng cao đồng như Tinh Xá thờ Phật, lúc về chiều bóng Tinh Xá đổ về hướng Đông che phủ đền thờ Trời. Từ đó về hướng Đông cách bốn dặm có ao động lớn là nơi Tỳ Lô Thích Ca Vương, xưa trước phiên dịch nghĩa là lưu ly, bị vùi lấp vào đất người đời sau dựng lập Tháp ghi chép lại sự việc ấy. Lại nữa, nơi lúc mới đầu tạo dựng Chùa, Kỳ Viên, Tôn Giả Xá Lợi phất cùng với ngoại đạo so tài sinh sức, cũng có dựng lập Tháp ghi chép sự kiện. Từ Chùa về phía Tây Bắc cách bốn dặm, có khu rừng đắc nhãn, trong đó có ngôi Tháp vết tích nơi Đức Phật Kinh hành, đó là duyên cớ Vua Thắng Quân xử quyết móc mắt năm trăm quân giặc, nhân được nghe sức từ của Đức Phật mà một lúc được bình phục, vất bỏ trượng bèn sinh hiện nhãn căn. Từ thành ấy về phía Tây Bắc cách sáu mươi dặm có ngôi thành cũ từ lúc con người sống thọ hai vạn tuổi, đó là nơi bản sinh của Đức Phật Ca Diếp Ba. Về phía Bắc có ngôi Tháp tức nơi phụng thờ toàn thân Xá Lợi của Đức Phật, do Vua A Dục tạo dựng để tiêu biểu. Từ đó, lại theo hướng Đông Nam đi hơn năm trăm dặm đến nước Kiếp Tỷ La Phạt Tất Đổ, tức xưa trước gọi là Ca Tỳ La, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, thành quách có cả mười khu đều hoang trống không có người ở, chu là cung thành rộng mười năm dặm được xây dựng bằng gạch. Có hơn ngàn ngôi Chùa cổ trong một cung thành, có hơn ba mươi ngôi Chùa Tăng, hai ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo chung sống lẫn lộn. Trong thành trên nền chánh biện trong Tinh Xá tạo nên tượng Vua, bên cạnh là trên nền móng tẩm điện của Phu nhân Ma Ha Ma Già, tức là Đại Thuật, trong Tinh Xá tạo hình tượng phu nhân. Bên cạnh đó có Tinh Xá bên trong tạo hình tượng Bồ Tát. Về tướng gián thần ở xứ đó có các quan điểm chẳng đồng, theo Thượng Tọa bộ cho là tương đương với ngày mười lăm tháng năm điểm Trung Hoa, còn các Bộ phái khác lại cho là tương đương với ngày mồng tám tháng năm. Đó bởi sự thấy nghe có sai khác vậy. Bên cạnh đó có Tháp tiên tướng. Về phía Nam có ngôi Tháp là nơi Thái Tử dốc sức lực mình đánh ném voi vượt qua thành nơi Thái Tử dốc sức lực mình đánh ném voi rơi nơi đất làm thành hầm hố lớn. Bên cạnh đó có Tịnh Xá làm hình tượng Thái Tử và Tượng thọ nghiệp. Bên cạnh Tịnh Xá ấy là nơi phòng ngủ của cung phi, làm hình tượng Da Du Đà La và La Hổ La. Có một bản riêng biệt ghi rằng: Đó là nơi đầu đêm Thái Tử mở cửa thành phía Bắc thành mà ra đi. Ở gốc Đông Nam của thành là nơi Thái Tử cưỡi ngựa bay giữa không trung vượt thành Xuất Gia, có tạo dựng Tịnh Xá và hình tượng. Tại bốn cửa mỗi mỗi đều có hình tượng các cảnh lão, bệnh, tử, Sa Môn. Về phía Nam của thành cách bốn dặm có Tháp rừng Ni Lâu Lô là nơi khi Đức Phật đắc Đạo cùng giảng nơi pháp. Từ thành ấy về phía Nam cách mười năm dặm có ngôi Tháp trong thành cũ, là nơi bản sinh của Đức Phật Ca La Ca Thôn Đà lúc con người tuổi thọ đến sáu vạn năm. Lại về phía Đông Nam của Thành có ngôi Tháp tức là nơi Di Thân của Đức Phật ấy, phía trước Tháp, Vua Vô Ưu có tạo dựng tượng đá cao hơn ba trượng. Lại về phía Đông Bắc hơn ba mươi dặm có ngôi Tháp trong thành cũ, là nơi bản sinh của Đức Phật Ca Nặc Ca Mâu Ni. Lúc con người có tuổi thọ bốn vạn năm. Về phía Đông Bắc Thành Đô có ngôi Tháp, là nơi di thân của Đức Phật ấy. Vua Vô Ưu có dựng lập trụ đá và ghi chép minh ký, cao hơn hai trượng. Lại về phía Đông Bắc thành ấy cách hơn bốn mươi dặm có ngôi Tháp nơi Thái Tử ngồi dưới gốc cây. Về phía Tây Bắc của thành lớn có vài trăm ngàn ngôi Tháp, là Tháp các Thích Tử bị giết hại có bốn vị Thích Tử chống cự lại quân lính, người ở trong thành không chấp thuận, bèn bị ruồng đuổi ra khỏi cảnh vức, đó là Vua Ô Tượng, Vua Phạm Diễn v. v... đến nay vẫn chẳng dứt. Về phía Nam của Thành có Tháp Cây Ni Câu Luật, là nơi mới đầu Đức Phật đến thấy Phụ Vương. Có ngôi Tháp ngoài cửa phía Nam của Thành là nơi bắn cung tên. Về phía Đông Nam cách hơn ba mươi dặm là nơi Thái Tử bắn mũi tên gắm sâu xuống đất nhân đó có dòng suối tuôn vọt, tục truyền suối, mũi tên ấy, những người bệnh uống nước phần nhiều đều lành. Hoặc có người vớt bùn bôi thoa lên trán thì tùy nỗi khổ đều lành, lại theo hướng Đông Bắc cách khoảng chín mươi dặm là rừng Lạp Phật Ni, nơi ao dòng họ thích tắm gội hoa nước soi bóng ánh ngời. Từ đó về phía Bắc cách khoảng hai mươi năm bộ là cây Vô Ưu là nơi Đức Phật Đản Sinh đến nay đã khô rụi. Có thuyết cho rằng: Lúc ấy là ngày mồng tám tháng ba, còn theo Thượng Tọa Bộ cho là: Ngày mười lăm tháng ba. Tiếp theo về hướng Đông có ngôi Tháp là nơi hai con rồng tắm gội cho Thái Tử, mới đầu khi Đức Phật đã Đản Sinh chẳng cần phải nâng đỡ mà tự đi khắp bốn hướng, mỗi hướng bảy bước, nơi Đức Phật giẫm đặt bàn chân liền có hoa sen lớn xuất hiện. Khi Đức Phật đã từ phía hông hữu của Thánh Mẫu sinh ra, Thiên Đế nâng y tiếp lấy, bốn Vua bưng ẵm đặt trên ghế vàng, đều có xây dựng bốn ngôi Tháp và dựng trụ đá để tiêu biểu đó. Bên cạnh có dòng sông nhỏ theo hướng Đông Nam mà xuôi dòng, người đời gọi đó là sông Dầu, là nơi Thái Tử đã Đản Sinh, Trời biến hóa đất ở đó sáng nhuần khiến để tắm, lại dứt trừ gió lửa hư không khiến biến thành sông nước trơn nhẵn như dầu. Từ đó theo hướng Đông đi hơn hai trăm trong rừng hoàng nước Ma Ma, thuộc Trung Ấn Độ, có nhiều thành quách trống không. Lại theo hướng Đông Nam có ngôi Tháp Phật cao gần năm thước, xưa trước mới đầu đó là một trong tám phần Xá Lợi Phật, có lúc ánh sáng linh thiêng tỏa phóng, bên cạnh có ao trong mát, có rồng biểu làm rắn lớn ra nhiễu quanh Tháp đó, có voi đồng hoang hái trái để tung rải, Vua Vô Ưu muốn mở Tháp mà rồng gìn giữ không chấp thuận. Lại theo hướng Đông qua rừng lớn cách hơn trăm dặm có ngôi Tháp lớn, là nơi Thái Tử đến đó cởi mở chuỗi châu mạc ni trong áo báu giao cho Xiển Đạt ca đem về lại dâng cùng Phụ Vương, lại về hướng Đông có cây chiêm bộ đã khô chết nhưng gốc hiện còn, có ngôi Tháp nhỏ, đó là nới Thái Tử đem y vật còn lại để đổi lấy áo da nai. Bên cạnh ngôi Tháp là nơi Thái Tử cắt tóc. Về tuổi tác của Thái Tử lúc ấy không được chuẩn định, có thuyết cho là Thái Tử vừa mười chín tuổi, có thuyết lại cho là đã hai mươi chín tuổi. Lại theo hướng Đông Nam đi bằng hoang trống một trăm chín mươi dặm có Tháp rừng Ni Câu Luật cao hơn ba trượng. Người xưa lấy đất nơi chỗ trà tỳ Đức Phật, thâu nhặt tro bụi đem đến đó xây dựng Tháp phụng thờ, người bệnh cầu nguyện đều lành, lại có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, Tháp ấy cao hơn trăm thước. Hai bên có vài trăm ngôi Tháp nhỏ. Lại theo hướng Đông Bắc bằng vượt rừng lớn đường đi hiểm trở suốt năm trăm dặm đến nước Câu Thi Na Yết La, thuộc Trung Ấn Độ, ở đó thành quách đổ nát hoang tàn, người vật hiếm ít. Ở gió Đông Bắc trong thành có ngôi Tháp là nơi vườn nhà xưa cũ của Thuần Đà, có cái giếng được đào dục để cúng dường hiện vẫn còn đẹp từ thành ấy về phía Tây Bắc cách khoảng bốn dặm, vượt qua sông A Thị Đa Phạt Để, đó gọi là Hữu Kim, gần bờ phía Tây là rừng Bà La. Khoảng cách giữa hai rừng gần vài mươi bộ, bên trong có bốn cây đặc biệt rất cao, trong ngôi Tinh Xá lớn xây dựng bằng gạch, tạo Tôn Tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, đầu xoay hướng Bắc mà nằm. Bên cạnh có ngôi Tháp cao hơn hai trăm thước, phía trước có dựng trụ đá ghi chép về tướng Đức Phật diệt độ, có thuyết nói là Phật nhập Niết Bàn ngày mười lăm tháng ba, theo Thuyết Hữu Bộ cho là ngày mồng tám tháng chín. Các bộ phái có lắm sự luận bàn khác nhau, có thuyết nói: Đến nay, năm Trinh Quán thứ hai 2464 thời tiền Đường, thì đã trải qua một nghìn hai trăm mười hai năm vậy. Đó là y cứ theo sự ghi chép ở trụ đá tại Chùa Bồ Đề. Hoặc còn có thuyết nói là một nghìn ba trăm năm, hay hơn một nghìn năm trăm năm hoặc có thuyết nơi mới hơn ba trăm năm chưa đến một nghìn năm. Bên cạnh Tinh Xá có nơi kia Đức Phật làm chim trỉ chúa cứu lửa và làm nai cứu sống, mỗi mỗi đều có dựng một ngôi Tháp. Tiếp về hướng Tây có một ngôi Tháp là nơi Tôn Giả Tu Bạt Đà La diệt chứng, tiếp theo lại có một ngôi Tháp là nơi chấp Kim Cang thần khoe đất, tiếp theo bên cạnh có một ngôi Tháp là nơi tôn trí Kim Quan lại bảy ngày. Tiếp bên cạnh có ngôi Tháp là nơi Tôn Giả A Nê Lâu Đà lên Cung Trời báo cùng Thánh Mẫu biết Phật đã nhập Niết Bàn nên xuống buồn khóc, từ thành về phía Bắc vượt qua sông Ni liên thuyền na cách ba trăm bộ có một ngôi Tháp là nơi Niết Điệp Ban Na tức là trà tỳ bằng thiêu đốt nhục thể Đức Phật. Hiện nay đất ở đó sắc màu vàng đen lẫn cùng tro bụi, có người mong cầu được cảm có Xá Lợi. Tiếp theo bên cạnh có một ngôi Tháp, là nới Đức Phật duỗi hai bàn chân ra khỏi Kim Quan cho Tôn Giả Ca Diếp Ba trông thấy. Tiếp nữa lại có một ngôi Tháp, phía trước có dựng trụ đá khắc ghi về việc tám nước phân chia Xá Lợi. Từ đó theo hướng Tây Nam đi hơn hai trăm dặm đến một ấp lớn, lại đi qua rừng lớn cách hơn năm trăm dặm đến nước Ba La Nại Tư, xưa trước gọi là Ba La Nại, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, phía Tây đô thành gần sông Khắc Già dài gần hai mươi dặm rộng sáu dặm, dân chúng sinh sống Đông nhiều, phần nhiều tin theo ngoại đạo. Có hơn ba mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba nghìn vị đều tu học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo đông cả vạn bộ, phần nhiều là phụng thờ Thiên căn của Đại Tự Tại. Trong thành lớn có hai mươi ngôi đền thờ Trời, Thiên căn cao hơn trăm thước. Về phía Đông Bắc của thành là sông Ba La Nại, ở phía Tây có ngôi Tháp do Vua A Dục tạo dựng cao hơn mười trượng, phía trước có dựng trụ đá bằng ngọc bích xinh đẹp ứng hiện hình Phật. Từ sông đi về phía Đông Bắc cách hơn mười dặm là Chùa Lộc Dã, tám phần ranh giới khu vực vách tường nối liền bao bọc chung quanh, có tầng hiên trùng các, Chư Tăng có một nghìn năm trăm vị đều học theo pháp Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Lại có ngôi Tháp thờ Phật cao hơn hai mươi trượng, khảm gạch cả bốn mặt điều tiết thích hợp có cả trăm thềm cấp, đều có những tượng Đức Phật bằng vàng, đồng than, đá v.v... ẩn hiện. Tiếp theo về phía Tây Nam có một ngôi Tháp cao hơn trăm thước, phía trước có trụ đá cao hơn bảy mươi thước sáng sạch suốt cùng, những người thành kính cầu nguyện thì Tôn Tượng hiện tùy thuộc hạnh nghiệp thiện ác. Tức nơi sau khi đã thành đạo, Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên. Bên cạnh đó có ba ngôi Tháp tức là nơi Tọa Thiền kinh hành của ba Đức Phật xưa trước. Bên cạnh lại còn có các ngôi Tháp khác là nơi năm trăm vị Độc giác nhập Niết Bàn. Bên cạnh đó có ngôi Tháp là nơi Đức Di Lặc nhận sự dự ghi sẽ thành Phật. Lại theo hướng Tây có một ngôi Tháp là nơi đời trước Đức Phật làm Bồ Tát Hộ Minh được Đức Phật Ca Diếp Ba thọ ký đời nay thành Phật. Tiếp theo về phía Nam có nơi của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, dài năm mươi bộ cao bảy thước, chồng chất đá xanh, phía trên làm Tôn Tượng Đức Phật Thích Ca kinh hành. Hình tượng ấy rất đặc dị, nhục kế nổi cao, tóc trên đầu duỗi ra sức thần mà có chứng nghiệm, vết tích Chùa xưa, lắm nhiều Tịnh Xá, Bảo Tháp, có đến vài trăm sự kiện chẳng thể ghi chép đầy đủ rõ ràng. Về phía Tây của Chùa có cái ao trong sạch chu vi rộng hai trăm bộ là nơi xưa kia Đức Phật thường tắm rửa, tiếp về hướng Tây có một ao nhỏ là nơi Đức Phật tẩy rửa vật dụng, tiếp về hướng Bắc có một ao nhỏ là nơi Đức Phật thường y. Ba ao ấy đều có rồng ở, mùi vị của nước mát ngọt mà trong sạch. Như có người khinh mạn xúc phạm thì loài thú Kim Tỳ La liền vì làm hại. Bên cạnh đó có tảng đá vuông, phía trên có dấu vết đường văn của pháp y Ca Sa của Đức Phật. Các hàng ngoại đạo và những kẻ hung bạo khinh thường giẫm đạp lên thì rồng trong ao liền nổi gió mưa. Bên cạnh đó lại có ngôi Tháp là nơi Đức Phật từng làm voi chúa sáu ngã thấy người thợ săn đắp mặc pháp y nên nhổ ngà kính dâng. Bên cạnh đó lại có một ngôi Tháp, là nơi xưa trước, Đức Phật làm chim cùng khổ và voi hỏi ai là kẻ lớn. Lại trong rừng lớn có một ngôi Tháp là nơi xưa kia, Đức Phật cũng điều đạt đồng làm nai chúa, Đức Phật thay mạng thế nai đang mang thai, nên Danh Hiệu Lộc Dã Vườn Nai từ đó mà có. Lại từ Chùa về hướng Tây Nam cách ba dặm có một ngôi Tháp lớn cao hơn ba mươi trượng, nên tảng cao vợi tráng lệ, bên cạnh lại có một ngôi Tháp là nơi năm người năm anh em Kiều Trần Như nghinh đón Đức Phật. Về phía Đông của rừng lớn cách ba dặm có một ngôi Tháp, là nơi xưa trước Đức Phật làm thân con thỏ cùng chung sống với các loài thú, tự biết thâu hình mình bé nhỏ nên tự thiêu thân nhân tặng, nhân đó Trời Đế Thích xuống tán thán, vì thế khiến giữa vầng Trăng có hiện hình con thỏ. Từ Chùa ấy về hướng Đông thuận theo sông Khắc Già đi hơn ba trăm dặm đến nước Chiến Chủ, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm. Đô Thành gần sông Khắc Đà Già chu vi rộng hơn mười dặm, dân chúng sinh sống Đông nhiều. Có mười ngôi Chùa, Chư Tăng có gần vạn vị đều tu học theo pháp Tiểu Thừa. ba mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo chung sống lẫn lộn. Tại Chùa ở phía Tây Bắc của Thành có một ngôi Tháp Tôn thờ một thăng Xá Lợi của Đức Phật. Xưa trước Phật từng đến ở đó bảy ngày giảng nói pháp. Và có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền, lại có Tôn Tượng Bồ Tát Từ Thị hình dáng nhỏ bé mà oai đức rất lớn. Từ thành về hướng Đông Bắc cách hơn hai trăm dặm đến Chùa A Tỳ Yết Lại Noa, tức Chùa Bất Xuyên Nhĩ, nhân duyên do từ vị Tăng ở phương Bắc vậy. Từ Chùa đó theo hướng Đông Nam vượt qua sông Khắc Già đi hơn trăm dặm đến một ấp lớn. Ở bờ phía Bắc sông có đền thờ Trời Na La Diên, trùng các nghiêm lệ. Lại theo hướng Đông Nam đi hơn ba mươi dặm có Tháp Giáng Quý đã bị lấp vùi dưới đất một nửa, phía trước tạo dựng trụ đá cao hơn hai trượng, tức nói Đức Phật vì loài quỷ ăn thịt người mà giảng pháp. Quỷ thiết đặt cả ngàn tòa đá, cây rừng xanh tốt, ao nước trong mát, cách đó không xa có vài ngôi Chùa đều có Chư Tăng ở tu học theo pháp Đại Thừa. Lại theo hướng Đông Nam vượt qua dòng sông đi hơn trăm dặm có ngôi Tháp, tức là nơi tôn thờ bình phân chia Xá Lợi và những Xá Lợi còn lại, vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Lại theo hướng Đông Bắc vượt qua sông Khắc Già đi một trăm năm mươi dặm đến nước Phệ Xá Ly, tức xưa trước gọi là Tỳ Xá Ly, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, tà chánh lẫn lộn đến một nửa, có vài trăm ngôi Chùa, hiện tại chỉ còn ba - năm ngôi, Chư Tăng rất hiếm ít, có vài mươi ngôi đền thờ Trời, để lộ bày hình lắm nhiều vậy. Thành quách đã đổ nát hư hoại, nền móng cũ còn bền bỉ, chu vi rộng bảy mươi dặm, chu vi cung thành rộng năm mươi dặm, hiếm ít người sinh sống. Từ cung thành về hướng Tây Bắc cách khoảng sáu dặm có ngôi Chùa Tháp là nơi Đức Phật giảng nói Kinh Tịnh Danh. Lại về hướng Đông có ngôi Tháp là nơi Tôn Giả Xá Lợi tử chứng quả. Lại về hướng Đông có ngôi Tháp lớn là nói Vua được chia một phần Xá Lợi một hộc, Vua Ưu Điền lấy chín thăng, phân chia đều tạo dựng các Tháp khác. Sau đó có Vua lại muốn khai mở Tháp ấy, bỗng nhiên đất chấn động bèn thôi. Về phía Tây Bắc có ngôi Tháp, có trụ đá cao sáu trượng, tiếp về phía Nam là nơi có con khỉ vì Đức Phật mà moi đào ao nước. Ở phía Tây của ao, có bầy khỉ mang bình bát của Đức Phật leo lên cây hứng lấy mật. Về phía Nam ấy là nơi khi bưng bát mật dâng cúng Đức Phật, mỗi mỗi nơi đều có đựng Tháp ghi chứng. Từ Chùa ấy về hướng Đông Bắc cách bốn dặm có một ngôi Tháp là nơi vườn nhà xưa cũ Cư Sĩ Tịnh Danh, còn lắm nhiều linh thần. Vườn nhà ấy xây chồng chất gạch, tương truyền là chất chồng đá, tức là nơi Cư Sĩ Tịnh Danh hiện tướng bệnh để giảng nói pháp. Gần đây, Sứ giả Vương Huyền Sách dùng hốt để đo lường đó chỉ có một trượng, nên tên gọi Phương Trượng từ đó mà sinh ra, và nơi vườn nhà của Trưởng Giả Bảo Tích, nơi vườn nhà của Yêm La Nữ, nơi Tôn Giả Kiều Đàm Di nhập Niết Bàn đều có dựng lập Tháp ghi chép chứng cứ. Từ Chùa về phía Bắc cách bốn dặm có một ngôi Tháp, là nơi xưa kia Đức Phật sắp sang Thành Câu Thi Na, người Trời buồn khóc đưa tiễn. Tiếp đến lại có một ngôi Tháp là nơi Đức Phật đứng trông nhìn lại thành ấp lần cuối cùng. Tiếp theo về hướng Nam là nơi Yêm La Nữ đem vườn cúng dâng Đức Phật. Bên cạnh đó có một ngôi Tháp là nơi trước Đức Phật ba lần bảo cùng Tôn Giả A Nan về ngày tháng còn lại cho đến lúc nhập Niết Bàn. Lại nữa, bên cạnh đó có ngôi Tháp là nơi ngàn người con được thấy gặp song thân. Tức ngàn Đức Phật trong thời hiền kiếp vậy. Về hướng Đông có nền Tháp, giảng đường, trùng các xưa cũ, có lúc tỏa phóng ánh sáng. Đó là nơi Đức Phật giảng nói Kinh Phổ Môn. Về phía Tây Bắc của thành cách sáu mươi dặm có ngôi Tháp lớn là nơi Đức Phật Biệt Lật Chiếp Bà Tử. Về phía Tây Bắc của thành lớn gồm hai trăm dặm có một ngôi Tháp nơi thành xưa cũ, là nơi Đức Phật giảng nói về Bản sinh từng ở nơi đó là Đại Thiên Luân Vương phụng sự đất nước. Từ thành ấy về hướng Đông Nam cách mười năm dặm có ngôi Tháp lớn, là nơi bảy trăm vị Hiền Thánh kết tập lại Kinh Điển. Lại về hướng Nam gần một trăm dặm có ngôi Chùa lớn, tầng đài lớp lớp, Chư Tăng tập học theo Giáo Pháp Đại Thừa, có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Bên cạnh lại có một ngôi Tháp, là nơi xưa kia Đức Phật từ phương Nam vượt đến phía Bắc nước Ma Kiệt Đà mà dừng nghỉ trong thành Tỳ Xá Ly. Từ Chùa ấy về phía Đông cách ba mươi dặm, ở hai phía Nam Bắc sông Khắc Già mỗi bên có một ngôi Tháp, là nơi Tôn Giả A Nan Đà phân thân cho hai nước. Từ phía Bắc theo hướng Đông Bắc của bờ sông đi hơn năm trăm dặm đến nước Phất Lật Thị, có người gọi là Tam Phạt Thị, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, hai phía Đông Tây kéo dài. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng gần ngàn vị tập học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo rất đông nhiều. Trong cung thành xưa cũ có ba nghìn nhà. Ở bờ phía Đông Bắc của sông Khắc Già có một ngôi Tháp cao hơn hai mươi trượng, từ phía Nam trông nhìn dòng sông dài, là nơi Đức Phật hóa độ năm trăm ngư nhân, do đánh bắt được cá lớn có mười tám đầu, trên mỗi mỗi cái đầu đều có hai mắt. Lại theo hướng Đông Bắc đi hơn trăm dặm về phía Tây của thành cũ có ngôi Tháp cao hơn trăm thước, xưa kia Đức Phật đã từng ở đó sáu tháng giảng pháp độ người. Lại về hướng Bắc cách một nghìn năm trăm dặm có ngôi Tháp Tôn thờ tóc và móng tay của Đức Phật. Lại theo hướng Tây Bắc đi một trăm năm mươi dặm vào trong hang núi đến nước Ni Ba La, thuộc Bắc Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm tại trong núi tuyết. Chu vi Đô Thành hơn hai mươi dặm. Dân chúng xứ đó kính tin xen tạp giữa Chùa và Trời. Chùa Chiền rất nhiều, Chư Tăng có hơn hai nghìn vị, tập học Kinh Điển cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Vua thuần kính tin Phật Pháp. Trong thành có các tháp cao hơn hai trăm thước, chu vi rộng tám mươi bộ, phía trên có thể dung chứa cả vạn người. Một mặt có ba lớp, mỗi lớp có bảy tầng, dùng dằng khắp bốn phía, khắc chạm vô cùng kỳ lạ, dùng các vật báu để nghiêm sức. Từ thành ấy về phía Đông Nam cách không xa có thôn Thủy Hỏa, về phía Đông cách một dặm có sông A Kỳ Ba Lệ, chu vi rộng hai mươi bộ, sớm ngâm đọng không chảy thông thường phun trào. Có người đem lửa bén vào, khắp cả ao hồ lửa bốc cháy phừng phực cao vài thước, lại dùng nước rưới vào lửa, lửa càng thêm mạnh dữ, lại dùng đất vụn ném vào cũng liền thiêu cháy hết. Chẳng kể là ném vật gì vào, thảy đều biến thành tro bụi. Phía trên làm giá móc vạc nước nấu thức ăn liền chín. Trong nước ấy trước kia có hòm vàng. Ngày trước có vị Quốc Vương đem người đến lấy hòm ấy đã ra khỏi bùn nhưng sức người và lôi kéo chẳng lay động. Ban đêm có Thần Minh bảo đó là mũ của Đức Phật Từ Thị, lúc hạ sinh sẽ mang đội đó, nên không thể lấy đi đâu được, có rồng lửa giữ gìn bảo hộ. Lại từ thành ấy về hướng Nam cách hơn mười dặm có núi đơn lẻ rất đẹp xinh, Chùa ở lắm nhiều, tướng trạng như ráng mây, tùng trúc cá rồng đều tùy theo người mà thuần nương tựa đến nơi người lấy dùng thức ăn, như có người phạm bắt thì dứt diệt cả nhà. Đó là do Quốc mạng đều từ nước đó mà qua lại. Nay thuộc về Thổ Phiên. Lại từ nước Tỳ Xá Ly về hướng Nam một trăm năm mươi dặm, vượt qua sông Khắc Già đến nước Ma Kiệt Đà, tức chỗ thường gọi là thành Vương Xá nước Ma Kiệt Đề vậy. Nước Ma Kiệt Đà, người xưa trước xưng gọi sai lầm, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm. Tại Đô Thành hiếm ít người ở, thôn ấp tụ lạc lắm nhiều. Có hơn năm mươi ngôi Chùa, Chư Tăng có ngoài vạn vị, phần nhiều tập học Giáo Pháp Đại Thừa. Có vài mươi ngôi đền Thờ Trời, các hàng dị đạo đông nhiều. Thành Đô xưa cũ tại phía Bắc núi của thành Vương Xá tựa về phía Đông. Cách hai trăm bốn mươi dặm về phía Bắc gần sông Khắc Già, chu vi rộng hơn bảy mươi dặm. Khi con người tuổi thọ đến vạn năm, lúc đó gọi là Thành Câu Tô Ma Bổ La. Có nghĩa là Hương Du Hoa Cung. Đến lúc tuổi thọ con người còn vài ngàn năm, lại nhân có cây Ba Tra Ly, nên gọi là thành Ba Tra Ly Tử. Xưa trước gọi Ba Liên Phất là sai lầm vậy. Tại phía Bắc cung xưa cũ có ngôi Tháp cao vài trượng, là nơi Vua Vô Ưu làm địa ngục. Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn khoảng trăm năm, có Vua A Thâu Ca, tức là Vua Vô Ưu, là Tằng Tôn của Vua Tần Tỳ Bà La. Từ thành Vương Xá dời đô đến đó, phía ngoài thành quách xuất hiện giống lúa hạt lớn mà đẹp xinh, sắc màu ngời sáng kỳ đặc, gọi đó là gạo cúng Đại Nhân, phía Bắc cung ấy gần sông Khắc Già, trong thành nhỏ có hơn ngàn ngôi nhà, đến nay hiện còn trụ đá địa ngục ấy. Về phía Nam có ngôi Tháp lớn dùng bằng vật báu nghiêm sức, úp bát đá làm lan cang, đó là một trong tám mươi bốn nghìn ngôi Tháp vậy, tôn trí một thăng Xá Lợi Phất, có lúc tỏa phóng ánh sáng tốt lành, tức Vua Vô Ưu gặp được A La Hán Cận Hộ sai sử Quỷ Thần tạo dựng nên. Bên cạnh đó, trong Tịnh Xá có tảng đá lớn, là nơi lúc Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, từ phía Bắc vượt qua phía Nam thành Câu Thi Na trông nhìn lại nước Ma Kiệt Đà nên đạp hai chân trên đá, dấu vết dài một thước tám tấc, rộng sáu tấc, hoa văn luân tướng của mười ngón chân mỗi mỗi khác nhau. Gần đây bị Vua Thiết Thường Ca, nghĩa là Nguyệt, ở nước Yết La Noa Tô Phạt Thích Na, nghĩa là kim nhĩ, phá hoại dấu vết chân Phật, đục phá rồi, trở lại bình phục đường văn vẫn như cũ, cho đến đem vất bỏ trong sông Khắc Già, sau đó cũng trở lại chỗ cũ. Tiếp theo bên cạnh có ngôi Tháp vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Về phía Bắc của cung vũ có ngôi Thạch Thất lớn tức do Vua A Dục vì người em mà tạo dựng, tiếp theo có đồ đựng nước lớn, là do Vua A Dục cúng dường cơm cho Chư Tăng. Về phía Tây Nam của cung có núi đá nhỏ, chung quanh là khe hàng, có vài mươi thạch thất, đó là do Vua A Dục được A La Hán Cận Hộ sai khiến Quỷ Thần tạo nên. Bên cạnh lại có ao đá, tục gọi là nước Thánh, người bệnh uống liền lành. Về phía Tây Nam của núi có năm ngôi Tháp, mỗi mặt cách nhau vài trăm bộ. Sau khi Vua A Dục xây dựng tám mươi bốn nghìn ngôi Tháp rồi, còn thừa năm thăng Xá Lợi nên lại tạo dựng Tháp đó. Có lúc hiện khởi những điều linh dị. Có vị Vua nhân đó làm năm tạng Vua Nan Đà dấy quân đến đào bới, đất bèn chấn động, núi lở đổ, trong Tháp có tiếng kêu lớn, quân lính vấp té ngả nghiêng. Về phía Đông Nam thành cũ có Chùa Quật Quật Tra A Lạm Ma, tức là Kê Viên, xưa kia có luận nghị bị khuất phục ngoại đạo, nên trong mười hai năm trở lại không đánh kiền chùy. Sau đó có Bồ Tát Na Già Át Thích Thọ Na, Trung Hoa dịch nghĩa là Long Mãnh, còn gọi là Long Thọ, người xứ Nam Ấn Độ đến đó nhiếp phục các ngoại đạo, mới đánh kiền chùy, nên Tháp đó có tên gọi là Kích đánh kiền chùy vậy. Tiếp theo về phía Bắc có Tháp quỷ biến, phụng thờ Tôn Giả Mã Minh Từ thành về phía Tây Nam cách hơn hai trăm dặm, trong Tháp Chùa xưa cũ có vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành. Lại từ Chùa ấy về phía Tây Nam cách hơn trăm dặm, có ngôi Chùa lớn, Chư Tăng có ngàn vị đều học Giáo Pháp Đại Thừa. Cả thảy có bốn viện, Quán các ba tầng, nền cao nhiều lớp cửa, trong cửa có ba Tịnh Xá, đồng vàng ẩn hiện, bên trong có Tôn Tượng đứng cao ba trượng, bên tả là Bồ Tát Đa La, bên hữu là Bồ Tát Quán Tự Tại đều được chủ đúc bằng thau đá. Cả ba Tịnh Xá mỗi mỗi đều có một thăng Xá Lợi, tướng sáng có lúc hiện bày, từ Chùa ấy về phía Tây Nam cách trăm dặm, trên núi lớn có Tháp đá cao hơn một trượng. Xưa trước, Đức Phật từng nhập định trên tảng đá lớn ấy, qua đêm, Trời mưa hoa báu. Vì cảm mộ như thế nên xây dựng Tháp báu cao một trượng, nay biến thành đá, từ xa trông nhìn chỉ thấy như ráng mây, là nơi dừng ở của linh Thánh, hang huyệt của rồng rắn, chim săn, thú dữ, xưa nay không một ai bước đến đó. Ở phía Đông núi đó có ngôi Tháp men sườn, là nơi Đức Phật đứng đó trông nhìn về nước Ma Kiệt Đà. Từ núi về phía Tây Bắc cách hơn ba mươi dặm, có quả núi có ngôi Chùa tựa bám trên đảnh, đục sườn núi để tạo dựng các. Đó là nơi Bồ Tát Cù Ma Mạc Để, Trung Hoa dịch nghĩa là Đức Tuệ, học pháp Đại Thừa, nhiếp phục ngoại đạo. Hiện nay có trơn năm mươi vị Tăng ở đó. Lại theo hướng Tây Nam cách hơn hai mươi dặm đến Chùa Cô Sơn, có luận sư Thi La Bạt Đà La, Trung Hoa dịch nghĩa là Giới Hiền, đến nay hiện có nói đầu tiên nhiếp phục ngoại đạo, được ấp xả thí mà tạo dựng đó. Tại đó khoét đục một ngọn núi hiểm nguy, hình tướng như phù đồ mà tôn thờ Xá Lợi Phật. Lại về hướng Tây Nam cách năm mươi dặm, vượt qua sông Ni Liên Thuyền, có thành Già Da. Ở đó, hiếm ít người vật, có hơn ngàn nhà Bà La Môn sinh sống tức là con cháu nối dõi của Tiên Nhân vậy. Vua không bề tôi, mọi người đều rất kính trọng. Từ thành về phía Bắc cách hơn ba mươi dặm, có dòng nước trong mát, ở đời tương truyền đó là nước Thánh, những người uống tắm, tội chướng đều tiêu trừ. Từ thành về phía Tây Nam cách sáu dặm là núi Già Da, có lắm khe hang mịt mờ, ở đời gọi đó là núi linh từ xưa, các bậc Quân Vương đăng phong kính cáo đều thành. Trên đảnh núi có Tháp đá cao hơn trăm thước, có lúc tỏa phóng ánh sáng khác lạ. Xưa trước, Đức Phật từng ở đó giảng nói các Kinh Bảo Vân v.v... từ núi về hướng Đông Nam là sông Ni Liên, cách gần hai trăm dặm, đến núi Bát La Cấp Bồ Đề, nghĩa là núi Tiền Chánh Giác. Xưa kia, Đức Phật lúc sắp chứng đạo, trước tiên đến đó, nhân vậy mà gọi tên như thế. Đức Phật từ phía Đông Bắc sườn núi đi lên đảnh, muốn nhập định Kim Cang, tự nhiên quả đất lay động, núi sụp đổ, thần núi khiếp sợ mách báo. Đức Phật lại đến trong nửa sườn núi phía Tây Nam, ngồi trên tảng đá xoay mặt nhìn khe suối, đất núi lại lay động. Trời Tịnh Cư đến báo rằng: Từ đây theo hướng Tây Nam đi mười năm dặm đến gần nơi tu khổ hạnh, dưới cây Tất Bát La có tòa Kim Cang, đó là tòa Bồ Đề, Chư Phật ba đời đều thành Đạo tại đó. Đức Phật bèn đi đến đó, và nhân vì rồng nói thạch thất mà lưu lại ảnh hình. Đến nay hoặc có người trông thấy. Kịp đến lúc Vua Vô Ưu ra đời, nơi các linh tích, Vua đều tạo dựng Tháp để biểu trưng đó, Trời mưa các thứ hoa báu. Mỗi năm an cư kết thúc, các hàng Đạo Tục đồng lên núi cúng dường cây Bồ Đề. Chung quanh cây Bồ Đề ấy được xây vách tường bằng gạch nhiều lớp bao bọc kiên cố, hai phía Đông Tây thoáng rộng có thể đến năm trăm bốn mươi bộ. Các thứ cây kỳ lạ, hoa danh tiếng theo hàng lớp trồng phía dưới, cửa Thành Đông mở thoát đối diện sông Ni Liên Thuyền, cửa phía Nam tiếp liền với ao hoa lớn, của phía Bắc nơi hiểm nguy bền chặt, cửa phía Bắc thông với Chùa lớn. Vùng ven nội viện Thánh tích, các Tháp Tịnh Xá thứ lớp bày bố, cây chánh giữa trong tường thành có Tòa Kim Cang có từ khi hiền kiếp mới thành chung cùng Đại Địa. Trong Đại Thiên Giới, dưới cùng cực là địa vị kim luân, trên đến ngằn mé trái đất. Hành thành tòa Kim Cang chu vi rộng hơn ngàn bộ. Ngàn Đức Phật đồng ngồi ở đó nhập định Kim Cang, nên nhân đó mà gọi là tòa Kim Cang, tức nơi Đức Phật chứng đạo vậy. Có thuyết nói là lúc Đại Địa chấn động, riêng nơi Đạo Tràng không lay chuyển, từ sau khi Đức Phật chứng đắc Chánh Giác, dần đến thời Mạt Pháp, đất cát càng che phủ không còn thấy được bản chất. Với truyền thuyết như thế, chư vị tiền đức bèn tu tạo hai Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại tôn trí ở hai phía Nam Bắc nêu lập mốc giới xoay mặt vì hướng Nam mà ngồi. Có chép ghi rằng: Tôn Tượng ấy vùi lấp thì Phật Pháp sẽ hoại diệt vậy. Đến nay Tôn Tượng ở góc phía Nam đã bị vùi lấp đến ngực. Xưa kia, khi Đức Phật còn tại thế, cây Bồ Đề cao vài trăm thước, cành vàng lá xanh, quanh năm không thay đổi, đến khi Đức Phật nhập Niết Bàn, cây điêu tàn, sau đó trở lại tươi tốt. Lại bị Vua Vô Ưu chặt phá đưa về hướng Tây cách vài mươi bộ chất đống mà đốt dùng để cúng tế Trời, khói lửa chưa dứt tắt, bỗng nhiên sinh mọc lên hai cây, trong lửa dữ mà lá tươi tốt đồng như đang phát triển. Nhân đó mà gọi là than tro cây Bồ Đề. Vua trông thấy như thế bèn phát tâm tin kính, dùng sữa thơm rưới vào các cành rễ còn lại, đến sáng sớm hôm sau, cây sống như nguyên gốc. Vương phi tức giận, đêm đến lại sai người chặt phá, Vua lại nguyện cầu và đem sữa rưới vào, không mấy ngày sau, cây sống lại bình thường, bèn chất đá làm tường chắn bao quanh cao hơn một trượng. Gần đó lại bị Nguyệt Vương ở nước Kim Nhĩ lại chặt phá cây Bồ Đề ấy, đào bới tới suối nước mà không tới đáy rễ, mới châm lửa thiêu đốt, dùng cam giá tưới đồ vào khiến cháy hết gốc rễ, vài tháng sau Vua Bổ Thích Noa Phạt Ma, Trung Hoa dịch nghĩa là Mãn Trụ, tức là Huyền Tôn của Vua Vô Ưu nghe cây Bồ Đề ấy bị phá hủy nên vật vã thân mình nơi đất. Cầu thỉnh Chư Tăng suốt bảy ngày đêm kinh hành nhiễu quanh cây đào hầm hố lớn, dùng vài ngàn hộc sữa bò tưới vào, qua khỏi đêm ngày thứ sáu, cây sinh mọc cao hơn một trượng. Sợ người sau chặt phá, bèn xây tường đá bao bọc quanh cao hai trượng bốn thước. Cây ấy đến nay đâm mọc ra trên vách tường đá cao hơn hai trượng, chu vi rộng khoảng ba thước. Từ cây Bồ Đề ấy về hướng Đông có Tịnh Xá xây dựng bằng gạch ngói sắc xanh cao hơn một trăm sáu mươi thước, nền móng rộng hơn hai mươi bộ. Phía trên lan can móc liền bao quanh cao một trượng, tầng khám đều có Tôn Tượng bằng vàng, bốn phía vách tường khắc chạm hình Chư Thiên Chư Tiên, trên đảnh có quả A Ma Lặc Ca bằng vàng và đồng, tức như ở Trung Hoa gọi đó là bình báu và đài báu vậy. Về phía Đông Nam, tiếp làm trùng các ba tầng, mái nhà đặc biệt khác lạ, đều dùng các thứ vàng bạc khắc chạm trang sức, có ba lớp cửa phía ngoài, khám phía trong, bên tả có Tôn Tượng Quán Tự Tại, bên hữu tượng Từ Thị đều đúc bằng bạc cao một trượng, do Vua Vô Ưu tu tạo. Mới đầu, Tịnh Xá nhỏ hẹp, sau dần mở rộng. Bên trong tôn trí Tượng Đức Phật thành Đạo, có vị Bà La Môn đáp lại sự thỉnh mời mà tạo nên, chỉ cầu hương nê và một ngọn đèn đặt trong Tịnh Xá, suốt sáu tháng đóng cửa tu tạo mới thành, còn thừa bốn ngày. Chư Tăng đều lấy làm quái lạ, nhân đó mở cửa tìm xem, thấy Tôn Tượng nghiễm nhiên xoay mặt về hướng Đông, ngồi kiết già chân phải đặt trên, tay trái co lại, tay phải buông duỗi, không thấy người làm. Tôn Tượng ngồi tòa cao bốn thước hai tấc, rộng một trượng hai thước năm tấc. Tôn Tượng cao một trượng một thước năm tấc, hai đầu gối cách nhau tám thước tám tấc, hai vai rộng sáu thước hai tấc, đầy đủ vẻ đẹp, chỉ có phía trên núm vú phía phải đồ tiết chưa chu toàn, lại khỏa lấp bằng các vật báu, từ xa trông thấy tướng ấy, trọn tựa như chưa hoàn mãn. Có vị Tăng mộng thấy người thợ bảo rằng: Ta là Từ Thị, vì sợ thợ vụng nghĩ nên tự tả tạo Tôn Tượng. Tôn Tượng duỗi tay tức Tượng Phật Bao Ma chỉ xuống đất mà chứng Đạo. Gần đây Nguyệt Vương chặt phá cây Bồ Đề, sai bảo tôi tớ hủy hoại Tôn Tượng Phật, còn Nguyệt Vương trở về lại hướng Đông, kẻ tôi tớ ấy vốn có tín tâm, mới xây tường gạch chắn bít trước Tôn Tượng, trong tâm hổ thẹn mờ tối, nên đặt ngọn đèn ở trong, phía ngoài đắp họa Tôn Tượng Tự Tại Thiên. Khi công việc hoàn thành cảm báo mạng, Nguyệt Vương nghe vậy khiếp sợ, khắp thân mình đều mọc mụn nước, da thịt lở loét, sau đó bèn chết mất. Vị Quan Đại Thần bèn vội trở lại đập phá vách tường chắn bít ấy, qua lại trải nhiều ngày mà ngọn đèn vẫn còn chẳng tắt mất. Nay tại trong thất sâu, lúc sáng sớm phải mang theo kiếng soi chiếu mới thấy hình tướng đó. Những người trông thấy, buồn cảm kính ngưỡng quên cả trở về. Đức Phật thành đạo so với lịch của Trung Hoa tức là ngày mồng tám tháng ba. Thao Thượng Tọa Bộ thì nói là Đức Phật thành đạo ngày mười lăm tháng ba. Khi ấy vừa ba mươi tuổi, có thuyết nói là ba mươi năm tuổi. Những sự sai khác ấy bởi từ ở đó bất đồng, do dùng lịch trước sau nên có khác như vậy. Còn lịch ở tại Thần Châu mỗi mỗi chẳng đồng, cứ ba đời đính chính đổi thay kéo dài chẳng ngang bằng, việc ấy đâu có gì quái lạ. Vả lại, chỉ y cứ lấy sự chứng ngộ bèn thôi. Sau khi chứng quả Chánh Giác rồi, suốt bảy ngày đêm Đức Phật an trú trong chánh định vắng lặng, tiếp đến bảy ngày kế tiếp kinh hành ở phía Bắc cây Bồ Đề. Hai phía Nam Bắc qua lại cách nhau hơn mười bộ. Có hoa kỳ lạ mọc nở theo dấu chân có mười tám đường văn. Người đời sau chất gạch làm nền cao hơn ba thước. Người đời xưng gọi đó là nền Thánh tích. Nếu người muốn tỏ rõ mạng sống ngắn dài, trước nên phát nguyện chí thành, dùng dây để đo, tùy thọ mạng ngắn dài mà có chứng nghiệm thêm bớt. Ở bên tả tại đường phía Bắc trên tảng đá có một Tịnh Xá lớn, có tạo Tôn Tượng Đức Phật ngước nhìn tướng cây vì muốn báo ân, lúc ấy suốt bảy ngày mặt Đức Phật chăm nhìn không tạm bỏ lìa. Trong ngôi Tịnh Xá lớn ở phía Tây cây Bồ Đề, có Tôn Tượng bằng đá thau đứng xoay mặt về hướng Đông được trang sức bằng các vật quý báu, phía trước có tảng đá xanh đường văn kỳ đặc hình thái lạ lùng. Ngày Đức Phật mới thành đạo, Phạm Vương tạo ngôi nhà bằng bảy báu, Trời Đế Thích làm tòa bảy báu. Đức Phật ngồi trên đó bảy ngày tư duy, tỏa phóng ánh sáng soi chiếu vào cây, nay bảy báu biến thành đá. Tại phía Nam cây Bồ Đề có ngôi Tháp cao hơn bảy trăm thước, là nơi lúc mới đầu Đức Phật tắm dưới sông xong sắp muốn ngồi, bèn nghĩ muốn tìm cỏ lót, Trời Đế Thích liền biến hóa làm người đem cô thi, tức cỏ cát tường, đến dâng cúng Phật, nên Vua A Dục tạo dựng Tháp để biểu trưng đó. Tiếp theo về hướng Đông Bắc có ngôi Tháp, là nơi lúc Đức Phật chứng quả, có đàn chim tước sắc xanh đến nhiễu quanh, nai đến tỏ bày tốt lành. Về phía Đông cây Bồ Đề có con đường lớn, hai bên đường đều có một Ngôi Tháp, là nơi Ma Vương quấy nhiễu Đức Phật nhưng bị suy yếu mà rút lui. Trong Tịnh Xá ở phía Tây Bắc cây Bồ Đề có Tôn Tượng Đức Phật Ca Diếp Ba có lúc tỏa ánh sáng ở đời tương truyền: Nếu chí thành đi nhiễu quanh bảy vòng thì ngay đời nay liền chứng đắc trí biết túc mạng. Lại về phía Tây Bắc của tường có ngôi Tháp, có các giống uất kim hương nê cao hơn bốn trượng. Về góc Đông Nam của tường cây có cây Ni Câu Lô, bên cạnh có ngôi Tháp, trong Tịnh Xá có tòa cao là nơi Đức Phật mới chứng quả, Đại Phạm Vương đến thỉnh cầu chuyển pháp luân. Ở bốn góc phía trong tường đều có các Ngôi Tháp. Mới đầu, Đức Phật nhận cỏ đi đến cây Bồ Đề là trước đến phía Tây Nam, đất chấn động, Đức Phật lại đến hướng Đông Bắc rồi đến hướng Đông Nam. Và các nơi đất đều chấn động, nên Đức Phật bèn theo hướng Tây Bắc đến dưới gốc cây, xoay mặt về hướng Đông ngồi trên tòa Kim Cang đất mới an tĩnh, nhân đó nên dựng lập Tháp để ghi chứng vậy. Về phía Tây Nam ở ngoài tường, là nơi nơi vườn nhà của hai người nữ chăn trâu, bên cạnh đó là nơi nấu cháo, lại kề bên cạnh đó là nơi Đức Phật nhận cháo, đìa có tạo dựng Tháp biểu trưng. Ở ngoài cửa phía Nam của cây Bồ Đề có ao lớn chu vi hơn bảy trăm bộ, nước tung lắng là nơi nhà ở của cá rồng. Tiếp theo về phía Nam ao là nơi Trời Đế Thích tạo ra để Đức Phật giặt tẩy y. Ở phía Tây ao ấy có tảng đá lớn, là nơi Trời Đế Thích từ núi tuyết lại vì Đức Phật mà hong phơi y. Bên cạnh đó có Ngôi Tháp là nơi Đức Phật nhân y cũ. Tiếp theo về hướng Nam có Ngôi Tháp trong rừng là nơi Đức Phật nhận y cũ do một bà già nghèo khó dâng cúng. Về phía Đông của áo hóa ra có ao rồng trong rừng nước trong đen, mùi vị ngọt ngon. Ở bờ phía Tây, trong ngôi Tịnh Xá nhỏ có Tôn Tượng, là nơi xưa kia Đức Phật mới thành Đạo đến đó nhập định suốt bảy ngày. Long Vương đi nhiễu quanh Đức Phật bảy vòng, hóa làm nhiều đầu để che Đức Phật. Từ ao rồng về hướng Đông có ngôi Tịnh Xá trong rừng, làm Tôn Tượng Đức Phật gầy ốm, bên cạnh có dấu vết kinh hành dài hơn bảy mươi bộ, hai phía Nam Bắc đều có cây Tất Bát La qua lại vịn nhau mà lên cao. Tức là nơi Đức Phật tu khổ hạnh nốt sáu năm mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo hạt mê. Nay những kẻ tật bệnh dùng dầu thơm bôi thoa vào tên tượng, phần nhiều được lành mạnh. Lại có Ngôi Tháp nơi ở của năm người. Năm anh em Kiều Trần Như. Lại về hướng Đông Nam có một Ngôi Tháp là nơi Đức Phật vào tắm trong sông Ni Liên Thiền, tiếp đó gần nơi bờ sông là nơi Đức Phật ăn dùng bát cháo sữa, đến dưới cây đạo Bồ Đề nhận giải thoát. Bên cạnh đó có hai ngôi Tháp là nơi trưởng giả dâng cúng báu vật, về phía Đông Nam của cây có một ngôi Tháp là nơi bốn vị Thiên Vương từ bốn phương đến, mỗi mỗi đều mang theo bình bát bằng vàng và bình bát bằng các vật báu đến dâng cúng nhưng Đức Phật đều không nhận nên mỗi vị mới mang bát đá đến sắc màu xanh biếc sáng ngời rốt cùng Đức Phật đều nhận tất cả. Lần lượt bên ngoài một bác hiện cả bốn phía. Bên cạnh đó có ngôi Tháp, là nơi sau khi đã Thánh Đạo Đức Phật vì Thánh Mẫu mà giảng pháp, nơi hiện sức thần biến, nói Đức Phật hóa độ Ưu Lâu Tần La Ca Diếp và ngàn vị học trò. Lại về phía Tây Bắc là nơi Đức Phật nhiếp hóa rồng lửa, nơi năm trăm vị Độc Giác nhập diệt. Về phía Nam của ao rồng mục chân là nơi Ca Diếp cho là Đức Phật bị đắm chìm trong nước, nơi ma quân khủng bố Đức Phật, đều có dựng Tháp tiêu biểu và ghi lại chứng cứ vậy. Ra ngoài cửa phía Bắc tường cây Bồ Đề tức có Chùa Ma Ha Bồ Đề, sáu nhà sáu viện, quán các ba lớp, chu vi tường cao năm tượng, có bốn Tượng Phật được chủ đúc bằng vàng bạc, trang nghiêm rất khéo léo, xinh đẹp hiếm có ở đời. Tháp lại cao rộng, có Xá Lợi của Đức Phật lớn như lóng tiết ngón tay sáng sạch đẹp xinh suốt thấu trong ngoài. Còn Xá Lợi thật lớn như châu ngọc sắc xanh, hình đeo sắc hồng. Mỗi năm đến tháng Phật đại thần biến, tức ngày ba mươi tháng mười hai ở Ấn Độ, tương đương ngày mười lăm tháng giêng ở Trung Hoa, nghinh thỉnh ra cho mọi người trong xem. Lúc ấy tỏa phóng ánh sáng, mưa hoa, khiến mọi người sinh khởi tín tâm sâu sắc. Chư Tăng thường trú tại Chùa đó gồm một nghìn vị, tập học theo Đại Thừa và Thượng Tọa Bộ, nghi dung phép tắc thanh tịnh chỉnh túc. Chùa ấy vốn do Vua nước Tăng Già La cầu xin Vua Đại Cát Tường ở Ấn Độ tạo dựng nên, đến nay đã bốn trăm năm, Chùa xưa cũ có nhiều vị Sa Môn người nước ngoài. Đối diện với cây Bồ Đề cách khoảng hơn mười dặm. Những Thánh tích gần kề nhau có lắm nhiều, khó thể nêu bày đủ hết. Mỗi năm sau khi chúng Tỳ Kheo an cư đã mãn, các hàng Phật Tử tại gia ở khắp bốn phương cả trăm ngàn vạn người đua nhau suốt bảy ngày đêm dùng các thứ hương hoa kỹ nhạc đi khắp rừng cúng dường lễ bái chúc tụng mừng vui. Tại Ấn Độ, Chư Tăng bắt đầu vào an cư Vũ Kỳ từ ngày mười sáu tháng năm so với lịch số của Trung Hoa, đến ngày mười lăm tháng tám thì giải hạ Tự Tứ. Đó cũng là tùy duyên biến đổi không thể ước định nhất khoát. Như về phía Bắc núi Tuyết có các nước Chư Tăng an cư kiết xuân, an cư kiết thu v.v... với ý nghĩa trong một năm vào khoảng thời gian nhiều ẩm thấp, Chư Tăng cấm chế suốt ba tháng ở trong một trú xứ, chênh lệch trước sau một tháng thực hành không cần phải nhất định. Nếu y cứ tu đạo thì thời gian nào chẳng an. Nên suốt ba thời du hành thông chế có tội, hẳn có duyên sự công việc cũng tùy khai mở và giúp đỡ, không chấp chặt vậy. Từ viện nói cây Bồ Đề hướng Đông, vượt qua sông Ni Liên Thuyền, trong rừng lớn có Ngôi Tháp, về phía Bắc có cái ao là nơi xưa trước Đức Phật làm thân voi Hương Tượng con hầu hạ voi mẹ bị mù mắt. Phía trước có dựng trụ đá là nơi xưa trước, Đức Phật Ca Diếp Ba an tọa tại đó, bên cạnh có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Trong rừng có trụ đá nhỏ là nơi Uất Đầu Lam Phất phát khởi nguyện ác. Lại theo hướng Đông vượt qua sông Mạc Ha đi bằng đường núi lớn hoang trống hơn một trăm dặm là đến núi Lũ Lô Bá Đà, tức núi Tôn Túc, thẳng lên trên ba đảnh núi tướng trạng như chân gà kê túc, hình thể thẳng đứng cao vợi phô bày giữa khoảng không, một nửa lưng chừng núi trở xuống là cây rừng tươi tốt, một nửa trên là cây cỏ hoang dại. Tôn Giả Ca Diếp Ba nhập định vắng lặng trong đó nên nhân đó mà xưng gọi vậy. Ban đầu, Đức Phật Thích Ca đem pháp Y Ca Sa bằng sợi vàng do di Mẫu Kiều Đàm di dệt thành muốn giao phó cho Đức Phật Từ Thị, khiến độ bến chúng đệ tử sống trong di pháp. Tôn Giả Ca Diếp Ba vâng thừa ý chỉ, nên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn đến năm thứ hai mươi, mang pháp y ấy vào núi để chờ đợi Đức Từ Thị ra đời. Phía trên có một Ngôi Tháp. Nửa đêm tĩnh lặng đó tựa như bó đuốc sáng tự soi chiếu. Từ núi Kê Túc theo hướng Đông Bắc đi hơn một trăm dặm là đến núi Phật Đà Phạt Na. Ở phía Bắc sườn núi có một thất đá lớn, xưa kia Đức Phật từng dừng ở tại đó vài năm, bên cạnh có tảng đá là nơi Trời Đế Thích đem Đàn Hương bôi thoa nơi Đức Phật, đến nay vẫn con thơm ngát. Từ hang cốc trống theo hướng Đông đi ra cách hơn ba trăm dặm là rừng thân sắc tri, tức là Thượng Lâm, khắp hang núi. Xưa kia có người dùng chiếc gậy trúc cao trượng sáu để đo lường thân Đức Phật, mà thường đưa gậy ra làm tiêu biểu, nhân đó ném bỏ gậy mà đi, chiếc gậy ấy bèn đâm rễ mà sinh mọc khắp cả núi. Bên trong có một Ngôi Tháp, là nơi xưa kia Đức Phật từng đến ở đó bảy ngày giảng nói pháp. Trong rừng có Cư Sĩ Thắng Quân dùng các mạc hương làm bùn tạo hình Tháp cao năm đến sáu tấc, phía trên ghi họa Kinh Văn đề là pháp Xá Lợi, suốt thời gian ba mươi năm trọn ngày liền đêm không biếng trễ, tạo được bảy ức hình Tháp nhỏ, cứ mỗi một ức Tháp nhỏ thành một Tháp lớn để tôn trí vào trong. Thiết lập Pháp Hội thỉnh mời Chư Tăng tán thán mừng vui việc ấy, và đều tỏa phóng ánh sáng. Từ Trượng Lâm về hướng Tây Nam cách hơn mười dặm, ở phía Nam núi lớn có hai dòng suối ấm nóng do Đức Phật biến hóa để tắm rửa. Mọi người xa gần đến tắm rửa dẫu mắc các chứng bệnh trầm kha cũng được lành mạnh, bên cạnh có Tháp Tượng Đức Phật Kinh hành. Lại về hướng Đông Nam của rừng cách khoảng bảy dặm, trên đỉnh núi lớn có một Tháp đá, là nơi xưa kia Đức Phật đã từng ở đó suốt ba tháng mùa mưa vì các người Trời giảng nói pháp. Vua Tỳ Ba La chất đá làm đường, rộng hơn hai mươi bộ dài bốn trượng. Từ núi lớn về hướng Đông Bắc cách bốn dặm là đến thất của Tiên Nhân ở Cô Sơn. Lại theo hướng Đông Bắc cách khoảng năm dặm đến một núi đơn lẻ nhỏ, có ngôi thất vách đá có thể dung chứa ngàn người ngồi. Xưa kia Đức Phật từng ở tại đó ba tháng giảng pháp. Phía trên thất ấy có một tảng đá là nơi Trời Thích Phạm dùng hương chiên đàn bôi thoa Đức Phật đến nay vẫn còn thơm ngát. Từ thất ấy về góc Tây Nam có đỉnh núi cao vợi tức là A Biểu Lạc Cung. Bên cạnh thất đá là nơi Vua Tần Tỳ sang chỗ Đức Phật bằng cầu dây, chặt đá mở đường thông dài năm dặm làm thêm cấp. Lại về hướng Đông đi khoảng hơn sáu mươi dặm là đến thành Củ Xa Yết La Bổ La, tức là Mâu Thành, lên cung thành mâu tức là chính giữa của nước Ma Kiệt Đà. Tại đó sản sinh nhiều loại hương mâu rất ưu tối trong nước. Từ xưa lại Đô Thành các Vua đều đóng tại núi đó. Các cửa thành đến nay vẫn hiện còn. Nhân mùi hương thơm nên gọi tên như vậy. Núi ấy cao, chung quanh bốn phía bên ngoài đều xây thành bao bọc. Phía Tây thông với đường hẹp, phía Bắc mở thoáng cửa núi. Hai phía Đông Tây kéo dại qua lại cả một trăm năm mươi dặm, cây hoa đều tươi tốt, đều là sắc màu vàng ròng. Phía trong thành chu vi hơn ba mươi dặm nhưng hoang trống, thoáng mát, không có người vật. Ngoài cửa phía Bắc có Ngôi Tháp, là nơi Đức Phật duỗi tay biến hóa năm con sư tử để nhiếp phục con voi say của Đề Bà. Lại về hướng Đông Bắc có một Ngôi Tháp là nơi Tôn Giả Xá Lợi Phất nghe Tỳ Kheo Mã Thắng giảng nói pháp mà chứng đạo. Ở phía Bắc của Tháp ấy có một hầm hố sâu rộng, bên cạnh lại có ngôi Tháp là nơi Thất Lợi Cúc Đa cài đặt hầm lửa để hại Đức Phật. Về phía Đông Bắc của hầm ấy có ngôi Tháp nơi khúc cong của thành núi là vườn nhà của Phược Ca Y Vương, vì Đức Phật mà thiết lập giảng đường nói pháp. Chung quanh tường thành, hoa quả gốc cây Hoàng Bá đến nay vẫn hiện còn. Xưa kia, Đức Phật phần nhiều dừng ở trong đó. Từ cung thành về hướng Đông Bắc cách mười năm dặm đến núi Cô Lật Đà La Cự Na, tức là Thứu Phong, còn gọi là Thứu Đài, hoặc Kỳ Xà Quật, tiếp liền phía Bắc, ở phía Nam núi riêng nổi cao, trên đỉnh hai phía Đông Tây dài gần đến sườn núi. Ở phía Tây có thất gạch rộng cao được xây dựng rất kỳ đặc. Cửa mở về hướng Đông. Trong năm mươi năm trụ thế, Đức Phật phần nhiều ở tại thất đó giảng pháp, nay có tạo Tôn Tượng bằng thân Đức Phật. Xưa kia, Vua Cảnh Kiên vì nghe pháp nên từ núi đến đỉnh phải giẫm trải hang hóc leo trèo hiểm nguy, do đó chất chồng đá làm tầng cấp dài sáu dặm rộng hơn mười bộ. Từ thạch thất ở Trượng Lâm đến đó làm ba đường thềm cấp đến nay vẫn hiện còn. Bên cạnh thềm cấp có hai ngôi Tháp nhỏ, một là khiến để Vua đi xuống và một là cho người phàm. Bên trên về phía Đông Tịnh Xá có một tảng đá dài, xưa kia Đức Phật thường kinh hành qua lại nơi đó. Bên cạnh có tảng đá lớn cao trượng bốn - trượng năm, rộng hơn ba mươi bộ, là nơi Đề Bà lăn ném hại Đức Phật. Dưới sườn núi phía Nam đó có Ngôi Tháp, xưa kia Đức Phật ở đó giảng nói Kinh Pháp Hoa. Ở sườn núi phía Nam Tịnh Xá có một thất đá lớn, là nơi xưa kia Đức Phật nhập định tại đó. Tôn Giả A Nan ở thất riêng bị ma quân khủng bố, Đức Phật đưa tay xuyên qua đá xoa vào đỉnh đầu A Nan, nay hiện còn hang lỗ thông ấy. Từ Tịnh Xá về hướng Đông Bắc, có khe suối đá lớn và có tảng đá lớn là nơi Đức Phật hong phơi pháp y, đường vân đến nay vẫn còn rõ ràng. Bên cạnh có dấu chân Đức Phật, đường vân Luân tướng in sâu vào đá. Trên đỉnh núi phía Bắc có Ngôi Tháp, là nơi Đức Phật trông nhìn về thành Ma Kiệt Đà suốt bảy ngày giảng pháp. Từ cửa Bắc của Thành núi về hướng Tây có núi Tỳ Bố La. Dưới sườn núi ở phía Tây Nam xưa kia có năm trăm dòng suối ấm nóng, nay chỉ còn vài mươi dòng nước vừa lạnh vừa nóng, nguồn nước xuất phát từ ao Vô nhiệt não ở núi Tuyết dòng mạch ngầm mà chảy ra đó hiện còn trong sạch mùi vị mát đồng như ở ao gốc. Đều có khắc chạm đá làm đầu sư tử đá, chung quanh dưới dòng nước chất chồng đá làm thành ao, những người đến tắm rửa, tật bệnh đều lành, Chư Tăng ở các Chùa phần nhiều đều đến lấy nước ở đó để uống. Dùng nước ấy để tắm gội đầu tóc thì khắp thân mình thường luôn sạch sẽ. Sứ giả Vương Huyền Sách từng dùng nước ấy gội đầu đến nay đã qua năm năm mà tóc vẫn tươi nhuần sạch sẽ, thật không thể nghĩ bàn. Hai bên dòng suối đều có Tháp và Tịnh Xá nền móng cũ hiện còn lắm nhiều và dấu vết của bốn Đức Phật Kinh hành tướng núi rừng trong đây đều ẩn hiếm thấy ở phía Tây dòng suối có Thạch Thất Ty Bát La là nơi xưa kia Đức Phật thường ở, vách tường phía sau là hang thông suốt sâu đó là cung A Tố Lạc. Tại đó Vua Tỳ Bố La dựng lập Tháp, nơi Đức Phật giảng nói pháp, nay hiện bày hình ngoại đạo ở đó. Từ cửa phía Bắc thành núi về bên tả sườn núi phía Nam hiểm nguy, theo hướng Đông đi ba dặm có một thất đá lớn là nơi điều đạt nhập định. Ở phía Đông thấy ấy có một tảng đá loang lổ vết máu là nơi xưa kia có vị Tỳ Kheo tập tu thiền định mà không chứng quả, tự đâm vào cổ mình bèn chứng đắc quả A La Hán liền bay lên giữa không trung biến hóa lửa tự thiêu thân mình. Trên sườn núi lại có một Tháp đá là nơi xưa trước có vị tu tập Thiền định ném mình xuống sườn núi mà chứng quả. Từ ngoài cửa phía Bắc cách hơn một dặm là đến Tịnh Xá Ca Lan Trúc Viên, nền móng đá tường thất gạch mở cửa về hướng Đông, xưa kia tức Phật phần nhiều thường ở trong đó. Thất ấy đến nay vẫn hiện còn. Nay có tạo Tôn Tượng ngang bằng thân hình của Đức Phật. Từ Trúc Viên về hướng Đông có ngôi Tháp lớn là do A Xà Đa Thiết Đốt Lộ, nghĩa là vị sinh oán tức là vương được chia phần Xá Lợi của Đức Phật nên dựng lập phụng thờ. Về sau, Vua Vô Ưu mở phá mà riêng tạo dựng các Tháp khác để phụng thờ. Những Xá Lợi còn lại tại đó có lúc tỏa phóng ánh sáng. Bên cạnh đó có nơi Đức Phật Kinh hành: Về hướng Đông có Tháp thờ Tôn Tượng A Nan bán thân. Từ Trúc Viên về hướng Tây Nam cách sáu dặm, về phía Bắc Nam Sơn có ngôi thạch thất lớn trong rừng lớn là nơi Tôn Giả Đại Ca Diếp Ba cùng ngàn vị A La Hán kết tập Tam Tạng Kinh Điển. Vì là bậc Thượng Tọa trong chúng Tăng nên xưng gọi là Thượng Tọa Bộ về phía Tây Bắc thạch thất ấy có Ngôi Tháp, là nơi Tôn Giả A Nan bị trách cứ mà chứng đắc quả vị La Hán nên gọi là Tháp Chứng quả. Lại theo hướng Tây đi hơn hai mươi dặm có một Ngôi Tháp là nơi Đại chúng các bậc hữu học và vô học kết tập năm Tạng Thánh Giáo, nhân đó mà xưng gọi là Đại Chúng Bộ. Từ Trúc Viên về hướng Bắc cách hơn hai trăm bộ là ao Ca Lan là nơi xưa kia Đức Phật ở đó giảng nói nhiều pháp, nay ao ấy đã khô cạn. Từ ao ấy về phía Tây Bắc cách ba dặm có một Ngôi Tháp do Vua A Dục tạo dựng sáu mươi thước, có trụ đá cao hơn năm mươi thước, phía trên khắc ghi sự kiện dựng lập Tháp. Từ trụ đá ấy hướng Đông Bắc không bao xa là đến thành, tức Tân Vương Xá Thành, thuộc về địa vức Hàn Lâm, do Xà Vương dời đô đến xây dựng ở đó, cách mâu thành về hướng Đông Bắc khoảng bốn dặm. Quách bao bên ngoài nay đã hư hoại. Nội thành chu vi rộng hơn hai mươi dặm. Mặt chính chỉ có một cửa, khi Vua Vô Ưu lại dời đô đến thành Hương Hoa, đem xứ đó thí cấp cho Bà La Môn, nay hiện có ở gần ngàn gia đình. Ở phía Tây Nam cung thành có hai ngôi Chùa nhỏ, là nơi xưa kia Đức Phật thường giảng pháp, khách Tăng ở các nước đến phần nhiều dừng ở tại đó. Tiếp theo về hướng Tây Bắc có một Ngôi Tháp là nơi thôn xóm xưa cũ của Trưởng Giả Thù Để Ca, tức Thọ Đề Ca, Trung Hoa dịch nghĩa là Tinh Lịch. Ra ngoài cửa phía Nam Vương Thành, bên tả đường đi có Ngôi Tháp là nơi Đức Phật giảng nói pháp hóa độ La Hầu La. Lại theo hướng Bắc đi hơn ba mươi dặm, đến Chùa Na Lan Đà, nghĩa là Thí Vô Yểm. Đó vốn là phía Nam vườn của Yêm Một La, xưa kia có năm trăm vị thương nhân mua để cúng dường. Đức Phật ở trong đó ba tháng giảng nói pháp. Trước sau có năm vị Vua hợp sức tạo dựng. Đó là: Một là Vua Thước Ca La A Đật Đa, Trung Hoa dịch nghĩa là Đế Nhật tạo dựng ngôi Chùa ấy. Hai là Vua Phật Đà Cúc Đa, Trung Hoa dịch nghĩa là Giác Hộ tiếp đến tạo dựng ở phía Nam. Ba là Vua Thư Đà Yết La, Trung Hoa dịch nghĩa là Như Lai tiếp đến tạo dựng Chùa ở phía Đông. Bốn là Vua Bà La A Dật Đa, Trung Hoa dịch nghĩa là Huyễn Nhật tiếp đến xây dựng Chùa ở phía Đông. Năm là Vua Phạt Xà La, Trung Hoa dịch nghĩa là kim cương tiếp đến tạo dựng Chùa ở phía Bắc. Tường thành bao quanh sững sờ cao năm trượng. Tất cả có đến bảy viện, mỗi viện riêng có ba tầng đồng làm một cửa trải qua nhiều đời tạo dựng nên vô cùng tráng lệ. Chùa ấy lập định pháp chế nghiêm mật, từ khi tạo dựng Chùa đến nay, không cho người nữ đến đó. Có mười vị Tri Sự hằng đêm canh tuần kiểm xét. Người chưa thọ giới Cụ Túc theo thứ tự tuổi đời mà xếp Tăng Chúng có vài ngàn vị. Những bậc danh Tăng du học có gần vạn vị, phần nhiều đều là tài tuấn thông học, tiếng tăm vang vọng khắp đến các xứ khác, số ấy có vài trăm vị, nên Chư Tăng ở Ấn Độ đều rất kính ngưỡng phép tắc ấy. Như có ai chẳng bàn đàm tạng chỉ thì hình hại tự tỏ vẻ hổ thẹn, nên những vị tự phương khác đến luận nghị cố giữ tông phong của mình mà cật vấn, phần nhiều đều ngã gãy mà rút lui. Hoặc có du khách đến sau, luận rõ về nghệ năng, nhưng rút bỏ lui thì trong mười vị chẳng phải một đến bảy, tám. Do đó những bậc tài cao bác đạt biết rộng hiểu nhiều, những bậc thông minh tài đức lợi người nối liền phát huy tiếp vật, đến như các Sa Môn Hộ Pháp, Hộ Nguyệt. Chỉ trách Phương Trần, Trí Huệ, Đức Kiên vang danh ngoài vật, Quang Hữu thanh luận, Thắng Hữu Cao Đàm, Trí Nguyệt Phong Giám, Giới Hiền Chỉ Nghiệp đều thuần túy ở đương thời đồng soi sáng từ xa xưa, đã học trùm cả nghi quỹ xưa cũ, tạo thuật luận thích, mỗi mỗi có vài mươi bộ, thạnh hành lưu bố nơi đời. Nên Thánh Tích ở Chùa ấy có thể sơ lược mà tường tự vậy. Ở phía Tây Chùa ấy có một ngôi Tịnh Xá, là nơi xưa kia Đức Phật từng ở ba tháng giảng nói pháp. Tiếp đến về hướng Nam trăm bộ có một ngôi Tháp nhỏ là nơi có vị Tăng từ phương xa trông thấy Đức Phật. Lại về phía Nam có Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại đứng, hoặc có người thấy Tôn Tượng cầm nắm lò hương đi nhiễu quanh Tịnh Xá theo phía hữu, tiếp về hướng Nam có một Ngôi Tháp, là nơi Đức Phật từng ở ba tháng mà cạo đầu, những người tật bệnh đi nhiễu quanh phần nhiều được lành mạnh. Lại bên cạnh ao ở ngoài tường phía Tây có một Ngôi Tháp là nơi ngoại đạo chấp trước đến hỏi Đức Phật. Về phía Đông Nam trong tường thành cách hơn năm mươi bộ có một cây gỗ kỳ lạ cao tám đến chín thước đâm mọc dàn bày ra hai cành, là do xưa kia Đức Phật xỉa răng vất bỏ mà sinh mọc như vậy. Lại về phía Đông có một ngôi Tịnh Xá lớn cao hơn hai mươi trượng, là nơi xưa kia Đức Phật từng ở giảng nói pháp. Tiếp về hướng Bắc cách hơn trăm bộ, có Tịnh Xá phụng thờ Tôn Tượng Quán Tự Tại, mọi người thấy ứng cảm chẳng đồng, hoặc thấy đứng bên cạnh cử, hoặc thấy ra trước mái hiên nhà, nêu theo phép nước có tập tục đều riêng cúng dường. Tiếp về hướng Bắc có một Tịnh Xá lớn cao hơn ba mươi trượng do Vua Giới Nhật tạo dựng trang nghiêm độ lượng, Tôn Tượng Phật đồng như ở Tịnh Xá dưới cây Bồ Đề. Tiếp về hướng Đông Bắc có ngôi Tháp, là nơi Đức Phật từng ở bảy ngày giảng nói pháp. Lại về phía Tây Bắc tức là nơi bốn Đức Phật ngồi. Tiếp về hướng Nam có ngôi Tịnh Xá bằng than thạch cao tám thước cũng do Vua Giới Nhật tạo dựng đến nay còn chưa hoàn thành. Lại về hướng Đông cách hơn hai trăm bộ, ở ngoài tường thành có Tôn Tượng đứng bằng đồng cao hơn tám mươi thước, có sáu tầng các Đông đầy, do Trụ Vương tạo dựng. Từ đó về hướng Bắc cách ba dặm, trong một ngôi Tịnh Xá bằng gạch có nhiều Tôn Tượng Bồ Tát hình lượng cao đồng, linh thiêng khác lạ. Mỗi năm đến ngày mồng một tháng giêng lớn thiết bày cúng dường. Vua tôi các nước đồng tấu nhạc báu suốt bảy ngày mới thôi. Ở ngoài cửa tường Chùa có một cái giếng lớn là nơi Đức Phật vì các thương nhân nóng khát, chỉ xuống đất và bảo Nơi đây có thể kiếm được nước. Nhân đó đem trục xe thọc xuống, nước suối tuôn vọt, mọi người uống nước ấy tỏ ngộ được Thánh Đạo. Lại về phía Tây Nam của Chùa cách khoảng chín dặm là thôn xóm xưa cũ của Mật Đặc Già La. Vua A Dục tạo dựng Tháp để ghi chứng về Tôn Giả Mục Kiền Liên. Lại về hướng Đông cách bốn dặm, là đến nơi Vua Tần Tỳ. Trung Hoa dịch nghĩa là cảnh kiên nghênh đón Đức Phật. Lại về hướng Đông Nam cách hơn hai mươi dặm là đến quê cũ của Tôn Giả Xá Lợi Phất, Vua A Dục tạo dựng ngôi Tháp, bên cạnh có Tháp phụng thờ di thân của Tôn Giả và cái giếng hiện còn. Lại về hướng Đông Nam cách khoảng năm dặm có một ngôi Tháp, là nơi ở thời Đức Phật Ca Diếp Ba có ba vị Đại A La Hán đồng nhập diệt tại đó. Lại về hướng Đông cách hơn ba mươi dặm có hang Đế Thích, hang hốc hiểm nguy, rừng hoa tươi tốt sững sờ. Hai đỉnh núi đặc biệt nổi bày, ở hang phía Tây xoay mặt về hướng Nam có một thất đá, xưa kia Đức Phật từng dừng ở tại đó. Đế Thích đem bốn mươi hai điều nghi ngờ họa vào đá mà thỉnh hỏi, dấu vết ấy nay vẫn hiện còn. Tôn Tượng hiện nay phỏng ước theo xưa, vào lễ bái rất chỉnh túc nghiễm nhiên. Trên đỉnh núi có vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành. Ở đỉnh núi phía Đông có ngôi Chùa, Chư Tăng ban đêm trông nhìn về hướng Tây thấy trước thất đá có đuốc lửa chiếu rọi sáng rực. Trước Chùa ở núi Đế Thích có Ngôi Tháp Nhạn, duyên tích như trong Kinh diễn tả. Từ núi Đế Thích về hướng Đông Bắc cách một trăm sáu mươi dặm, đến Chùa Ca Bố Đức, Trung Hoa gọi là Chùa Cáp Bồ Câu, Chư Tăng có hai trăm vị. Ở phía Đông của Chùa có Ngôi Tháp, là nơi Đức Phật suốt một đêm giảng nói pháp. Về đời xưa trước, Đức Phật làm thân Chim cáp Bồ Câu ném mình vào lửa và việc La Giả ăn đó. Về phía Đông có Tháp Vua A Dục. Từ Tháp ấy về hướng Nam đến núi Đơn Lẻ rất cao vợi, có nhiều Tháp Miếu. Ở trên có một Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại thân tướng bé nhỏ mà lắm nhiều oai đức. Tay nắm hoa sen, đỉnh đầu đội Tôn Tượng Đức Phật. Có người bỏ ăn từ bảy ngày cho đến một tháng thì bèn thấy nghi dung chân thật là trong Tôn Tượng xuất hiện ra. Đó là nơi Tịnh Xá do Vua Tăng Già La tạo dựng nên vậy. Lại về hướng Đông Nam đi khoảng bốn mươi dặm có một ngôi Chùa, Chư Tăng có năm mươi vị tập học theo Giáo Pháp Tiểu Thừa, có Ngôi Tháp lớn rất nhiều linh dị, là nơi xưa kia Đức Phật vì các Phạm Vương v.v... suốt bảy ngày giảng nói pháp. Bên cạnh có dấu vết của bốn Đức Phật Kinh Hành. Từ Chùa về phía Đông Bắc cách hơn bảy mươi dặm, về phía Nam sông Khắc Già có ngôi đền thờ Trời, về phía Đông có Ngôi Tháp lớn, xưa kia Đức Phật từng ở nơi đó một đêm giảng nói pháp. Lại về hướng Đông vào núi rừng cách hơn trăm dặm có ngôi Chùa lớn và Ngôi Tháp A Dục, là nơi xưa kia Đức Phật từng ở ba tháng giảng nói pháp. Lại về hướng Bắc cách ba dặm có một ao lớn, chu vi rộng hơn ba mươi dặm, hoa sen bốn màu suốt bốn mùa khoe nở. Lại về hướng Đông vào đường núi rừng cách hai trăm dặm, đến nước Y Lan Noa Bát Phạt Đa, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn ngàn dặm, phía Bắc Đô Thành gần sông Khắc Già chu vi rộng hai mươi dặm. Chùa Chiền có mười ngôi, Chư Tăng hơn bốn nghìn vị, phần nhiều tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có hơn hai mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Trong thành có hai ngôi Chùa, mỗi ngôi có gần ngàn vị Tăng sinh hoạt tu tập, đều học theo Giáo Pháp Tiểu Thừa. Bên cạnh sông phía Bắc thành là núi Y Lan Noa, từ xưa lại những vị Tiên chứng đắc ngã thông thường ở đó. Nay hiện có đền thờ Trời là nơi xưa kia Đức Phật từng ở đó ba tháng giảng nói pháp. Từ thành về phía Nam có Ngôi Tháp, là nơi xưa kia Đức Phật từng ở ba tháng giảng nói pháp. Bên cạnh có dấu vết của ba Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Ở biên giới phía Tây nước đó tức thuộc bờ phía Nam sông Khắc Già có một quả núi đơn lẻ dài hơn một dặm, xưa kia Đức Phật từng an cư ba tháng tại đó. Và cũng là nơi Đức Phật nhiếp hóa quỷ Cú La và Dược Xoa. Dưới sườn phía Đông Nam núi ấy, trên một tảng đá lớn có dấu vết Đức Phật ngồi in sâu vào đá hơn một tấc, dài năm thước hai tấc rộng hai thước một tấc, phía trên có Tháp che phủ. Tiếp về phía Nam, trên tảng đá có Quấn Trĩ ca, tức là bồn tắm, của Đức Phật đáy sâu hơn một tấc tám, sinh mọc ra hoa. Lại từ dấu vết của Đức Phật ngồi về phía Đông Nam là dấu vết của Dược Xoa, dài một thước tám tấc rộng tám tấc, sâu hai tấc. Trên đỉnh núi có thất xưa cũ của Dược Xoa, về phía Bắc dựng tạo vết tích Đức Phật dài một thước tám tấc, rộng hơn sáu tấc sâu nửa tấc, phía trên có Tháp che phủ. Từ đó về hướng Tây có dòng suối nóng dài sáu bảy dặm, nước rất nóng. Tại phía Nam nước ấy có rừng lớn, lắm nhiều voi đồng hoang rất lớn. Từ đó thuận theo bờ phía Nam sông Khắc Già đi về hướng Đông cách ba trăm dặm, đến nước Chiêm Ba, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, phía Bắc Đô Thành gần sông Khắc Già, chu vi rộng hơn bốn mươi dặm. Có vài mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn hai trăm vị đều tập học theo Giáo Pháp Tiểu Thừa. Có hơn hai mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn, tường thành xây dựng bằng gạch cao vài trượng, cách địch thù cao vợi. Ở thời sơ kiếp, mới đầu người vật hoang dã sống nơi hang huyệt. Về sau có Thiên nữ xuống trong loài người đi rảo nơi sông Khắc Già tắm rửa, tự mến yêu, bèn cảm linh thiêng mang thai sinh bốn người con, phân ở Nam Thiệm Bộ Châu, phân chia biên cương dựng lập thôn ấp. Và đó là Đô Thành của một người con, tức vị chúa đầu tiên ở Nam Thiệm Bộ Châu. Đất ở đó ấm nóng rất thích nghi với loài voi. Từ thành ấy về hướng Đông Nam cách một trăm năm mươi dặm, nước sông Khắc Già chảy xoay lại cô châu. Trên sườn núi bên trong có đền thờ Trời rất lắm linh dị. Biên giới nước ấy hoang trống, voi sinh sống kéo nhau đi từng đàn. Lại theo hướng Đông đi hơn bốn trăm dặm đến nước Yết Chu Hút Kỳ La, thuộc trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm. Có bảy ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba trăm vị, có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Xứ đó lắm nhiều dòng suối nước nóng. Từ thành về phía Bắc, bên bờ sông Khắc Già có một đài cao lớn được xây dựng bằng gạch. Bốn mặt khắc chạm Tôn Tượng Đức Phật, chư Thiên v.v... về cảnh vật phía Nam có nhiều voi hoang đồng trống. Vua Giới Nhật đi tuần du đến phương Đông đến đó dựng tạo hành cung. Lại theo hướng Đông vượt qua sông Khắc Già hơn sáu trăm dặm đến nước Bôn Na Phạt Đàn Na, thuộc trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm. Chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm, dân chúng sinh sống Đông đầy. Có hơn hai mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba nghìn vị tập học giảng pháp cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa có trăm ngôi đền thờ Trời. Các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn, lộ bày thân hình riêng lắm nhiều. Từ thành ấy đi về hướng Tây cách hơn hai mươi dặm, có ngôi Chùa lớn, Chư Tăng có hơn bảy trăm vị đều tập học Giáo Pháp Đại Thừa. Các bậc Danh Tăng ở Đông Ấn Độ phần nhiều xuất phát từ đó. Có Tháp Vua A Dục tạo dựng. Xưa kia Đức Phật từng đến ở đó ba tháng giáo hóa nói pháp, vào những ngày trai tỏa phóng ánh sáng. Bên cạnh có dấu vết của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Tiếp theo trong Tịnh Xá có tạo Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại, thần biển giáng hiện chẳng chỉ một lần. Có người bỏ ăn nhiều ngày cầu nguyện hẳn có cảm ứng. Đất đai xứ đó ẩm thấp, là nơi sản sinh ra quả Bát Da Bà, đã nhiều mà lại quý, lớn như trứng hạc, hoặc tại trên cành cây hoặc ở trong rễ cây tựa như loại phục linh vậy. Lại về hướng Đông hơn chín trăm dặm đến nước Già Ma Lũ Ba, thuộc Đông Ấn Độ, chu vi rộng hơn vạn dặm. Chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Xứ đó đến nay vẫn chưa có Phật Pháp, dân chúng tự phụng thờ Trời thần. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo đông cả vạn người. Có Vua Câu Ma La, tức là Đông Tử, sinh sống tại đó, tương thừa tiếp nối cả hơn ngàn đời, đất suối ấm nóng, người vật rất xương thạch, lãnh vực phía Đông nước đó tiếp liền với phía Tây Nam của nước Trung Hoa, có các giống dân man lão ở đó triều cống v.v... Lại đi thêm khoảng hai tháng là vào biên giới phía Tây của đất Thục. Về phía Đông Nam nước đó có lắm nhiều loài voi hoang dã. Vua xứ đó nghe tên Sa Môn Huyền Trang từ xa đến Trung Thiên Ấn Độ, bèn nghinh thỉnh đến Đông Ấn Độ. Khi đã thấy gặp dốc lòng kính ngưỡng như đã quen thuộc từ lâu trước, nên sinh tâm kính tin Phật Pháp, mở mang hoằng hóa. Sa môn Huyền Trang lại luận nghị nhiếp phục ngoại đạo, trao truyền pháp Quy Giới, càng mở rộng xiển dương giáo hóa. Nên Phật Giáo có được ở Đông Ấn Độ là do Sa Môn Huyền Trang Hoằng Dương vậy. Tiếng tăm vang vọng khắp xa gần, Vua Giới Nhật nghe biết, lại nghinh thỉnh Sa Môn Huyền Trang trở về lại Trời Tây và càng thêm sự lễ kính việc thấy rõ biệt truyện. Từ đó, theo hướng Nam đi một nghìn ba trăm dặm đến nước Tam Ma Đát Tra, thuộc Đông Ấn Độ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, gần biển thấp ẩm, chu vi Đô Thành hơn hai mươi dặm. Có hơn ba mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn hai nghìn vị, tu tập thao Thượng Tọa Bộ. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo lõa hình lắm nhiều. Bên cạnh thành có Tháp của Vua A Dục, là nơi xưa kia Đức Phật đã từng đến giảng pháp bảy ngày. Bên cạnh lại có vết tích của bốn Đức Phật kinh hành tọa Thiền. Trong ngôi Chùa bên cạnh có Tôn Tượng bằng ngọc sắc xanh cao tám thước, tướng hảo oai nghiêm. Từ đó theo hướng Đông Bắc men đường biển lớn đi trong hang núi, có nước Thất Lợi Sai Đát La, tiếp về góc biển Đông Nam có nước Ca Ma Lãnh Ca, tiếp về hướng Đông có nước Đọa La Bát Để, tiếp về hướng Đông có nước Thường Na Bổ La, tiếp về hướng Đông có nước Ma Ha Chiêm Ba. Tức là Lâm Ấp, tiếp về hướng Tây Nam có nước Diêm Ma Na Châu, cả sáu đất nước ấy đường sá hiểm trở nên chẳng đi đến. Lại từ nước Tam Ma Đát Tra theo hướng Tây đi chín trăm dặm đến nước Đam Ma Lật Để, thuộc Đông Ấn Độ, chu vi rộng một nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, gần bờ biển thấp ẩm. Có mười ngôi Chùa, có hơn ngàn vị Tăng. Có năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn, có Tháp do Vua A Dục dựng lập và có dấu vết của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Lại theo hướng Tây Bắc đi hơn bảy trăm dặm đến nước Yết La Noa Tô Phạt Thích Na, thuộc Đông Ấn Độ, chu vi rộng bốn nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, người vật sinh sống Đông nhiều, tà chánh lẫn lộn gồm một nửa. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn hai nghìn vị, tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có hơn năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo rất đông nhiều. Riêng có ba ngôi Chùa Chư Tăng không ăn dùng sữa tô. Theo phái Điều Đạt bộ. Phía ngoài Thành có ngôi Chùa Tháp do Vua A Dục tạo dựng, xưa kia Đức Phật từng ở đó giảng pháp bảy ngày. Bên cạnh có ngôi Tịnh Xá có vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Lại về hướng Tây Nam đi hơn bảy trăm dặm đến nước Ô Trà, thuộc Đông Ấn Độ, chu vi rộng hơn bảy nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, dân chúng kính tin Phật Pháp. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn vạn vị học giảng pháp Đại Thừa. Có năm mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo chung sống lẫn lộn. Có hơn mười Ngôi Tháp, đều là những nơi xưa kia Đức Phật từng đến giảng nói pháp. Về cảnh vật ở phía Tây Nam trong núi lớn có ngôi Chùa lớn Tháp đá có lắm điềm linh dị, trong những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng, tiếp dưới mâm bày trên che thế bát. Dùng lọng hoa đội đặt đó bèn đứng như đá Nam châm vậy, từ đó về hướng Tây Bắc có núi, Chùa Tháp khác lạ đồng như trước, hai Ngôi Tháp ấy đều do Quỷ Thần tạo nên. Về cảnh vật phía Đông gần biển lớn có thành Chiếc Lợi Đát La, nghĩa là phát hành, chu vi rộng hơn hai mươi dặm, là nơi thương nhân vào biển dừng nghỉ giữa đường. Tiếp theo ngoài thành ấy có năm ngôi Chùa đài các cao lớn, tôn nghi đẹp xinh khéo lạ. Về hướng Nam đến nước Tăng Già La cách hơn hai vạn dặm, ban đêm tĩnh lặng trông nhìn lại Tịnh Xá Phật phô bày lên trên vài trăm thước có vật báu Bát Đàm Ma Ha Già, vật báu lớn như thăng tức là hổ phách vậy, tỏa sáng soi chiếu như treo đuốc trên thành ấy. Lại theo hướng Tây Nam đến rừng lớn cách hơn một nghìn hai trăm dặm đến nước Cung Ngự Đà, chu vi rộng hơn ngàn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, gần kề bờ biển đất đá vừa nóng vừa ẩm. Có lắm vật báu như loa bối trân châu, voi sắc xanh lớn v.v... Dân chúng xứ đó có tập tục tin theo ngoại đạo. Có trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo có hơn vạn người. Trong cảnh vật có vài mươi thành nhỏ tựa đứng vào núi biển. Lại theo hướng Tây Nam đi qua rừng hoang lớn cách một nghìn năm trăm dặm đến nước Yết Lục Ca, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, hiếm ít kính tin Phật Pháp. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm trăm vị đều tập học theo Đại Thừa Thượng Tọa Bộ. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo đông nhiều. Phía Nam thành ấy có Tháp Vua A Dục cao hơn trăm thước là nói bốn Đức Phật Tọa Thiền. Cảnh vật phía Bắc duỗi ra núi lớn, trên đỉnh có Ngôi Tháp cao hơn trăm thước, là nơi vào thời thọ mạng con người không thời hạn có vị Độc Giác nhập diệt tại đó. Trong nước đó vào rừng sâu cách vài trăm dặm là nơi sinh sản ra loài hương tượng, các nước lân cận vô cùng quý trọng. Xưa kia có vị Tiên nhân chứng đắc ngũ thông nương náu nơi hang núi, có người xúc chạm nên tất cả đều rút lui, bèn dùng chú thuật xấu ác giết hại người nước ấy. Nay chỉ còn lại hiếm ít. Từ đó lại theo hướng Tây Bắc vào trong núi rừng đi hơn một nghìn tám trăm dặm đến nước Kiều Tát La, thuộc Trung Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, trên đỉnh núi toàn là rừng chầm bao bọc chung quanh liên tiếp, chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm, thôn xóm cùng trông liền nhau. Dân chúng rất kính tin Phật Pháp. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có gần vạn vị đều tập học Giáo Pháp Đại Thừa, có bảy mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Ở phía Nam của thành có Chùa Tháp xưa cũ, là nơi xưa kia Đức Phật từng hiện thần thông nhiếp phục ngoại đạo. Về sau, Bồ Tát Long Mãnh ở trong Chùa đó. Lại về phía Tây Nam cách hơn ba trăm dặm có núi Bạt La Mạt La Kỳ Lý, nghĩa là Hắc Phong, cao vợi riêng đỉnh núi hiểm nguy, đã không sườn men hang hốc như toàn là đá. Trong nước đó xưa trước có Vua Dẫn Chánh vì vô lậu Long Mãnh mà đục núi làm Chùa. Cách núi vài mươi dặm đục mở đường thông, đứng dưới chân núi ngửa mặt nhìn xuyên đá đứng sững hiêng vũ kéo dài, mái bộ đài cao trùng các, mỗi mỗi có năm tầng, mỗi tầng có bốn viện đều có Tịnh Xá đẹp xinh khéo léo. Từ trên đỉnh núi trông đổ các dòng suối chất chồng giao thông lẫn nhau, khơi thông dẫn rõ bên trong suốt sáng đến lúc sức người đã hết, phủ tạng mới tận. Công việc ấy chưa đến một nửa, Vua rất lo âu, Bồ Tát Long Mãnh mới kín dùng thần dược rót vào các đá lớn đều biến thành vàng. Vua trông thấy vàng vui mừng dũng mãnh tạo tác thành tựu đến tầng thứ năm. Trong mỗi mỗi tần đều có chủ đúc bốn Tôn Tượng bằng vàng lớn đồng như thân tượng Đức Phật, ngoài ra còn thừa cất chứa trong kho. Nhân đó mà trong Chư Tăng có trành giành, người thợ dùng xài hao phí mất tan đã lâu, nay chỉ có các Tịnh Nhân giữ gìn bảo hộ số ấy lắm nhiều. Lại giấu giữ kín hang lỗ ấy không thể liền trông thấy. Lại nữa, sau khi kết tập pháp tạng hết thảy các Kinh đều tàng trữ trong núi ấy không mang ra ngoài. Gần đây có vị thầy thuốc vào trong đó chữa trị bệnh, sau được trông thấy mà ra, nên hiếm có người vào được trong đó. Lại từ hướng Nam theo đường rừng đi hơn chín trăm dặm đến nước Án Đạt La, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, có hai mươi ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn ba nghìn dặm. Có hơn ba nghìn ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo rất đông nhiều. Bên cạnh thành có ngôi Chùa lớn, trùng các đẹp xinh khéo léo, Tôn Tượng Phật cũng khác so với trước, có Ngôi Tháp đá cao vài trăm thước, đều do Đại A La Hán A Chiếc La, tức là Sở Hành, tạo dựng gần Chùa, về phía Tây Nam cách hơn hai mươi dặm có núi đơn lẻ, trên đỉnh có Ngôi Tháp đá. Tức là nơi Bồ Tát Trần Na tạo Luận Nhân Minh. Lại về phía Tây Nam có một Ngôi Tháp, xưa kia Đức Phật từng đến đó giảng nói pháp. Từ đó theo rừng hoang đi về phía Nam cách hơn ngàn dặm đến nước Bạt Na Yết Trách Ca, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm. Chùa Chiền bị hư hoại lắm nhiều, hiện tại chỉ còn hơn hai mươi ngôi, Chư Tăng có hơn ngàn vị đều tập học theo đại chúng bộ. Có hơn năm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo rất đông nhiều. Hai phía Đông Tây của thành men tựa giữa khoảng núi, mỗi mỗi đều có các ngôi Chùa lớn. Xưa kia, Vua vì Đức Phật đến đặt để núi khắc đục đá chế tạo rất hoa vẽ rộng thoáng, là nơi đến dừng nghỉ của các Bậc Hiền Thánh. Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn không bao lâu có ngàn vị Phàm Tăng đến an cư, tới ngày mãn hạ đều chứng đắc quả vị vô học vọt bay giữa Hư Không mà đi, nay vắng bặt không một người. Có Luận Sư Bà Tỳ Phệ Già, nghĩa là Minh Biện, tức là luận Chủ Bát Nhã Đăng, đối trước Tôn Tượng Bồ Tát Quán tự tại bỏ ăn mà uống nước suốt ba năm đợi chờ mong thấy Đức Từ Thị. Bồ Tát Quán tự tại mới hiện sắc thân khiến đến nơi hang núi lớn phía Nam thành ấy. Chỗ thần chấp Kim Cang tụng chú Kim Cang. Qua ba năm, thần trao cho phương thức rằng: Trong hang đá đây có Cung A Tô Lạc, nếu người đúng như pháp thực hành cần thỉnh, vách đá sẽ mở toang, có thể vào bên trong. Đợi Đức Từ Thị ra đời, ta sẽ vì báo cho. Lại trải qua ba năm đốt chú hạt cải đánh vào vách đá, bỗng nhiên liền mở suốt. Khi ấy có trăm ngàn người trông thấy đều kinh lạ tán thán. Luận Sư giẫm bước vào cửa, vài ba phen ngoái trông nhìn lại, chỉ có sáu người theo vào. Ngoài ra mọi người đều cho đó là hang rắn độc. Khi ấy vách tường đá liền khép kín lại như cũ. Từ đó theo hướng Tây Nam đi hơn ngàn dặm, đến nước Châu Lợi Na, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hai nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười dặm, người vật hiếm ít. Chư Tăng Chùa Chiền chỉ sơ sài. Có vài mươi ngôi đền thờ Trời, lắm nhiều ngoại đạo lõa hình, phía Đông thành ấy có Tháp Vua A Dục, đó là nói xưa kia Đức Phật độ người nhiếp phục ngoại đạo. Phía Tây thành ấy có Chùa xưa cũ, là nơi Bồ Tát Đề Bà cật vấn A La Hán Ôn Đát La. Qua bảy ngày hỏi rồi, A La Hán Ôn Đát La ngậm miệng không đáp, riêng vận dụng sức thần thông sang chỗ Đức Từ Thị, Đức Từ Thị bảo rằng: Bồ Tát Đề Bà là một Đức Phật trong hiền kiếp, chẳng phải đối tượng của ông có thể đối đáp. Chỉ trong khoảng khảy móng tay, A La Hán Ôn Đát La trở về lại cùng đối đáp. Bồ Tát Đề Bà nhận biết đó mà bảo rằng: Đây chính là sự giải thích của Đại Sĩ Từ Thị vậy. Lại theo hướng Nam đi đường rừng hoang dã cách sáu trăm dặm đến nước Đạt La Tỳ Trà, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn vạn vị đều tập học theo Thượng Tọa Bộ. Có hơn tám mươi ngôi đền thờ Trời, và lắm nhiều lõa hình ngoại đạo. Có Tháp của Vua A Dục tạo dựng là nơi xưa kia Đức Phật đã từng vài lần đến đó giảng nói pháp độ người. Ở phía Nam của thành có ngôi Chùa lớn, có Tháp cao hơn trăm thước, là nơi xưa kia Đức Phật từng đến giảng pháp nhiếp phục ngoại đạo. Lại có dấu vết của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Từ đó theo hướng Nam đi hơn ba nghìn dặm đến nước Mạt La Củ Tra, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng bốn mươi dặm. Chư Tăng hiếm ít. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo phần nhiều là lõa hình, đất đai nhiễm chất muối mặn, nên cây cối không tươi tốt. Ở phía Đông của thành có ngôi Chùa của em Vua A Dục lại có Ngôi Tháp do Vua A Dục dựng tạo, xưa kia Đức Phật từng đến đó giảng pháp. Như ai cầu mong gì đều được toại nguyện. Phía Nam nước đó gần biển có núi Mạc Thích Da, có cây Bạch Đàn hương, lại có loại cây Yết Bố La hương, thân như cây Tùng, lá khác lạ, hương thơm như băng tuyết, tức hương thơm long não vậy. Phía Đông núi ấy có núi Bố Thư Lạc Ca, trên đỉnh có ao, dòng nước tuôn đổ xuống ra sông lớn, vòng quanh núi ba mươi vòng rồi đổ vào Nam Hải. Bên cạnh có ao và Thiên Cung, tức nơi đến dừng nghỉ của Bồ Tát Quán Tự Tại. Những người mong cầu, thấy là Tượng Tự Tại Thiên. Phía Đông Bắc núi ấy bờ biển từ thành cổ nước Tăng Già La nay đi vào trong biển cách hơn ba nghìn dặm là đến nước Tăng Già La. Chẳng nhiếp thuộc Ấn Độ, tức Chấp Sư Tử, chu vi rộng hơn bảy nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm. Nhà cửa dân chúng Đông nhiều. Có vài trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn hai vạn vị, đều tu học theo Thượng Tọa Bộ. Bên cạnh cung điện có Tịnh Xá tôn thờ răng Đức Phật cao rộng đồng như trước. Tại trong cung thường ngày thiết bày thức ăn cúng dường mười tám nghìn vị Tăng. Trong khoảng mười năm trở lại đây vì nước loạn nên mới phê bỏ. Bên cạnh Tịnh Xá thờ răng Đức Phật, trong một ngôi Tịnh Xá nhỏ có Tôn Tượng Đức Phật ngồi bằng vàng đồng, trên đỉnh nhục kế thiết đặt vật báu kỳ lạ. Ban đêm có kẻ đến trộm nhưng không thể với tới đấu Tôn Tượng, bèn nói rằng: Xưa kia Đức Phật xem thường tánh mạng vì cứu độ quần sinh, cớ sao nay lại mến tiếc vật báu như vậy? Tôn Tượng mới cúi đầu cho đó. Về sau, nhà Vua biết được mà không buộc tội kẻ ấy, lại chuộc vật báu ấy lại để thiết trí trên đỉnh đầu Tôn Tượng như cũ. Đến nay cúi đầu về góc Đông Nam nước đó, cách vài ngàn dặm đến châu Na La Kê La. Người xứ đó thân cao ba thước, chim chóc chỉ ăn hạt da. Ở góc Đông Nam châu nước ấy có núi Tuấn Ca là nơi lui tới của Quỷ Thần. Đức Phật xưa kia từng đến đó giảng nói Kinh Pháp. Từ châu đó về hướng Tây đi bằng đường biển cách vài ngàn dặm có hòn đảo đơn lẻ, ở mé phía Đông có Tôn Tượng Phật bằng đá cao hơn trăm thước, xoay mặt về hướng Đông dùng Nguyệt Ái Châu, ánh Trăng mến ngọc, làm nhục kế, lúc ánh Trăng sắp soi chiếu. Nước liền từ cao đổ xuống, mọi người lấy đó để dùng từ núi đó về hướng Tây, nói theo đường biển lại trải qua vài ngàn dặm, có châu vật báu lớn, không người nương ở, vì tìm sang nhưng không ai đến đó được. Lại từ nước Đạt La Tỳ theo hướng Bắc đi bằng đường rừng cách hơn hai nghìn dặm đến nước Cung Đạt Na Bổ La thuộc Nam Ấn Độ chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn vạn vị, tập học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Bên cạnh cung thành có Chùa lớn, Tịnh Xá cao hơn mười trượng, Chư Tăng hơn ba trăm vị. Bên trong có mũ báu của Thái Tử Nhất thiết nghĩa thành lớn rộng vài thước. Vào những ngày trai trường tỏa phóng ánh sáng. Tức lúc đang là Bồ Tát, ở bên cạnh thành lớn, trong ngôi Chùa lớn có Tịnh Xá cao hơn năm trượng, La Hán Bách Nhi Ức tạo Tôn Tượng Từ Thị bằng gỗ Chiên Đàn, cao hơn một trượng vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Từ thành ấy về phía ắc gần rừng Đa La, chu vi rộng hơn ba mươi dặm, cây Đa La lá lớn dài, sắc màu sáng sạch, các nước đều đến hái để dùng viết sách. Trong rừng đó có Tháp, vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành, có hai trăm ức Tháp thờ Xá Lợi của Đức Phật. Cũng trong rừng đó, ở phía Đông của thành có Ngôi Tháp cao ba trượng tôn thờ Xá Lợi, vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Xưa kia, Đức Phật từng đến đó giảng nói pháp. Lại về phía Tây Bắc tại trong rừng là nơi thú dữ nương ở. Lại cách hai nghìn năm trăm dặm là đến nước Ma Ha Thích Đà, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm. Đô Thành ở gần sông lớn chu vi rộng hơn ba mươi dặm, nước đó có phong tục, có ân hẳn đáp trả, có oán tắc báo đền, Cường Lương Bạt Hổ chẳng tiếp khách Vua Giới Nhật. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm nghìn vị, tu tập cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có hàng trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo rất Đông nhiều. Trong và ngoài thành lớn có năm Ngôi Tháp, vết tích của bốn Đức Phật Tọa Thiền kinh hành, do Vua A Dục tạo dựng nêu chứng đó. Ở phía Nam của thành, trong ngôi Chùa xưa cũ có Tôn Tượng Bồ Tát Quán Tự Tại bằng đá, mọi người đến mong cầu phần nhiều đều đạt quả nguyện. Ở cảnh vật phía Đông có Chùa Đại Sơn do vị A La Hán tạo dựng, lại có Tịnh Xá lớn cao hơn trăm thước, có Tôn Tượng bằng đá cao hơn bảy mươi thước, phía trên có lọng đá bảy tầng rỗng trống giữa không trung, mỗi tầng cách nhau ba thước. Tương truyền rằng là do nguyện lực của vị A La Hán ấy hộ trì, hoặc do sức oai thần, hoặc do sức của dược thuật, các thuyết chẳng đồng nhất. Bốn mặt của Tịnh Xá đều điêu khắc chạm trổ Tôn Tượng các tướng của Đức Phật từ nhân địa tu hành cho đến lúc chứng quả và nhập Niết Bàn. Hai phía Nam Bắc ở ngoài Chùa mỗi bên đều có một Tôn Tượng bằng đá, tương truyền mỗi lúc tượng rống thì đất lay động. Từ đó theo hướng Tây đi hơn ngàn dặm vượt qua sông Nại Mạc Đà đến nước Bạt Lục Yết Chiếp, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hai nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Dân chúng kính tin cả tà lẫn chánh. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba trăm vị đều tập học theo Đại Thừa Thượng Tọa Bộ. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Đất đai xứ đó nhiễm muối rất mặn nên cây cỏ hiếm ít. Từ đó theo hướng Tây Bắc đi hơn hai nghìn dặm đến nước Ma Lạp Bà, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm, men theo sông Mạc Ha. Về phía Đông Nam là chốn trong học của năm xứ Ấn Độ. Tính tình con người xứ đó thuần thiện hòa thuận, ở các nước khác không có, đồng như ở Nam Châu xứ Ma Kiệt Đà, rất kính Đạo Giáo của cả hai nước mà thôi. Tà chánh đều tin. Có vài trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn hai vạn vị, đều tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo bôi tro vào mình tập tục ấy lắm nhiều. Từ thành về phía Tây Bắc cách hai mươi dặm có ấp Đại Bà La Môn, bên cạnh đó có hầm hố lớn, nước chảy không đầy, tức là nơi xưa kia có vị Bà La Môn rất khinh mạn phỉ báng Phật Giáo Đại Thừa nên bị vùi lấp vào chốn địa ngục. Từ đó hướng Tây Nam vào đường biển, lại theo hướng Tây Bắc đi hơn hai nghìn năm trăm dặm đến nước A Tra Ly, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, dân chúng Đông nhiều, mọi nhà đều phụng thờ Trời thần, có hơn mười ngôi đền, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Đất cát nhiễm muối mặn, sản sinh giống cây hồ tiêu như cây tiêu ở đất Thục vậy, lại sản sinh loại cây huân lục hương, là tựa như lá cây Đường. Lại từ nước Ma Lạp Bà theo hướng Tây Bắc đi ba ngày, mỗi ngày đi được khoảng năm dặm, đến nước Khế Tra, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi nước đó rộng hơn ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, dân chúng sinh sống Đông đầy. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ngàn vị tập học cả pháp Đại Thừa Tiểu Thừa. Có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo đặc biệt Đông nhiều. Lại theo hướng Bắc đi hơn ngàn dặm đến nước Phạt Lạp Tỳ tức riêng khác của Bắc La La thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm, dân chúng ở Đông nhiều. Người giàu có của cải trăm ức có đến vài trăm nhà. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn sáu nghìn vị, phần nhiều là tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo cũng đông nhiều. Xưa kia Đức Phật đã từng vài lần đến đó, Vua A Dục dựng lập nhiều Ngôi Tháp, có vết tích của ba Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Từ đó lại theo hướng Tây Bắc đi hơn bảy trăm dặm đến nước A Nan Đà Bổ La, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn hai nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Dân chúng nhà cửa Đông nhiều. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng gần ngàn vị tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn. Từ nước Phạt Lạp Tỳ theo hướng Tây đi hơn năm trăm dặm đến nước Tô Thích Tra, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm, phía Tây men tựa theo sông Mạc Lê, người ở Đông đầy nhưng thuộc nước Phạt Lạp tỳ kính tin cả chánh lẫn tà. Có hơn năm mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba nghìn vị tập học theo Thượng Tọa Bộ. Có hơn trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng đị đạo chung sống lẫn lộn. Đất đai nhiễm chất muối mặn hoa quả hiếm ít. Từ nước đó đi theo hướng Tây bằng đường biển cách không xa về phía Tây cùa thành trên đỉnh núi có ngôi Chùa rất thoáng rộng đẹp xinh là nơi các bậc Tiên Hiền đến dừng nghỉ. Lại từ nước Phạt Lạp Tỳ theo hướng Bắc đi hơn một nghìn tám trăm dặm, đến nước Cù Chiếc La, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Dân chúng đều thiếu sự kính tin Phật Pháp. Chỉ có một ngôi Chùa, Chư Tăng hơn trăm vị tập học theo pháp Tiểu Thừa. Có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo đông nhiều. Lại theo hướng Đông Nam đi hơn hai nghìn tám trăm dặm đến nước Ổ Xà Diễn Na, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn sáu nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Dân chúng đông nhiều. Hiện tại có năm ngôi Chùa, Chư Tăng có ba trăm vị tập học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng dị đạo chung sống lẫn lộn, đất đai nhiễm mặn, hiếm ít hoa quả. Bên cạnh thành có Ngôi Tháp là nơi Vua Vô Ưu tạo dựng chốn địa ngục. Lại theo hướng Đông đi hơn ngàn dặm đến nước Trịch Chỉ Đà, thuộc Nam Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn mười năm dặm, có vài mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hiếm ít. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại hơn ngàn vị. Lại theo hướng Bắc đi hơn chín trăm dặm, đến nước Ma Hê Thấp Phạt La Bổ La, thuộc trung Ấn Độ, chu vi rộng ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Dân chúng không kính tin Phật Pháp, có vài mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo bôi tro vào thân mình. Lại từ nước Cù Chiếc La theo hướng Bắc, trải qua bãi sa mạc hoang vu đi hai nghìn dặm vượt qua sông Tín Độ đến nước Tín Độ, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn bảy nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Đất đai sản sinh các loại vàng bạc than đá. Trên đỉnh núi sinh sản loài lạc đà thân hình rất thấp nhỏ, phát sinh các màu đỏ trắng đen lam. Dân chúng kính tin Phật Pháp. Có vài trăm ngôi Chùa, Chư Tăng có hơn vạn vị đều tập học theo Tiểu Thừa Chánh Lượng bộ, mà phần nhiều biếng nhác hành trì. Có ba mươi ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo chung sống lẫn lộn. Xưa kia Đức Phật từng đến xứ đó, Vua A Dục tạo dựng khoảng vài mươi ngôi Tháp. Bên cạnh sông Hữu Ô cách hơn ngàn dặm men theo bờ đầm có vài trăm ngàn nhà chuyên sống nghề chăn nuôi trâu, chỉ giết hại lấy làm việc chính, không có sự khác biệt của sang, hèn, nam nữ, đạo tục mà cạo bỏ đầu tóc đắp mặc Ca Sa, hình tướng đồng như Tỳ Kheo mà hành vi thô tục. Lại ôm hoài tiểu kiến, bài xích Đại Thừa. Xưa kia có vị A La Hán bay giữa không trung sang đó giáo hóa, trao truyền cho pháp Tam Quy rồi cạo đầu đắp mặc pháp phục nhiễm sắc. Sau đó trở lại ăn mặc theo phong tục vốn xưa cũ vậy. Từ đó theo hướng Đông đi hơn chín trăm dặm, vượt qua bờ phía Đông sông Tín Độ đến nước Mậu La Tam Bộ Lô, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Dân chúng đều thuộc nước Trách Ca, có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng rất hiếm ít, đặc biệt kính tin theo Trời thần, có tám ngôi đền thờ. Các hàng ngoại đạo rất Đông nhiều. Bên cạnh thành có đền thờ mặt Trời, trang nghiêm rất tráng lệ, chủ đúc hình tượng Trời bằng vàng, dùng các ngọc quý báu để trang sức, nữ nhạc thường luôn hòa tấu, khắp bốn phía là ao hoa rừng cây tươi tốt xinh đẹp. Các Vua ở năm xứ Ấn Độ đều đến đó tạo dựng nhà phước đức, xả thí của cải cung cấp cho người nghèo khó tật bệnh. Lại theo hướng Đông Bắc đi hơn bảy trăm dặm đến nước Bát Phạt Đa, thuộc Bắc Ấn Độ, nước ấy phụ thuộc nước Trách Ca, chu vi rộng hơn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Dân chúng đều kính tin lẫn lộn. Có hơn mười ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ngàn vị, tập học các pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có Tháp do Vua A Dục tạo dựng, có hai mươi ngôi đền thờ Trời. Bên cạnh thành có ngôi Chùa lớn, Chư Tăng hơn trăm vị đều tập học theo Đại Thừa, gần đây, đền thờ Trời bị hỏa hoạn thiêu cháy. Đất đai nhiều lúa thóc khô. Từ sông Tín Độ theo hướng Tây Nam đi một nghìn sáu trăm dặm đến nước A Điểm Bà Súy La, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn năm nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm. Ở cảnh vật phía Tây nhỏ hẹp, đất dần thấp xuống, gần sông Tín Độ là bờ biển lớn. Dân chúng rất kính trọng Phật Pháp. Có hơn tám mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn năm nghìn vị, phần nhiều tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ. Có mười ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo bôi tro thân hình. Xưa kia Đức Phật dừng đến xứ đó. Vua A Dục có tạo dựng sáu ngôi Tháp. Lại từ thành ấy theo hướng Tây cách gần hai nghìn dặm đến nước Lang Yết La, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi ngang dọc mỗi phía vài ngàn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn ba mươi dặm, dân chúng sinh sống đông đầy. Gần Tây Hải vào nước Tây An, đường đi phụ thuộc nước Ba Tư. Có hơn trăm ngôi Chùa, Chư Tăng hơn sáu nghìn vị, tập học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có vài trăm ngôi đền thờ Trời, các hàng ngoại đạo bôi tro thân mình rất đông nhiều. Đất đai đượm nhuần, trăm thứ cỏ cây tươi tốt. Từ đó theo hướng Tây Bắc tức đến nước Ba Tư, chẳng nhiếp thuộc Ấn Độ, chu vi rộng vài vạn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn bốn mươi dặm. Người vật xứ đó rất đông nhiều. Có ba ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng vài trăm vị. Đền thờ Trời rất nhiều. Đất đai sản sinh các thứ vàng, bạc, thau, đá, pha chi, thủy tinh. Con người chết phần nhiều vứt bỏ thi thể. Bình bát của Đức Phật hiện tại trong cung Vua. Cảnh vật phía Đông có thành quách Hạc Mạc, chu vi rộng hơn sáu mươi dặm, dân chúng đông nhiều. Về phía Tây Bắc tiếp giáp với nước Phất Lẫm, chẳng nhiếp thuộc Ấn Độ, là xứ sản sinh con bách cẩu, vốn vịt đầu đỏ sinh sống ở trong hang. Căn cứ theo Cống Chức đồ thời nhà Lương nói rằng: Từ nước Ba Tư theo hướng Tây đi một vạn dặm đến cùng cực, về hướng Tây Nam có hải đảo có nước Tây An, chẳng nhiếp thuộc Ấn Độ. Thường năm, nước Phất Lẫm riêng đưa Nam phu đến phối hợp đó vậy. Và cũng theo Công Chức Đồ ấy lại nói: Từ nước Ba Tư theo hướng Tây đi cách một vạn dặm cùng cực, và từ nước Bà La Môn về hướng Nam cách một vạn dặm. Lại là Bà La Môn, đến nay sang đo lường nghi rất xa xăm vậy. Lại từ nước A Điểm Bà Suý La về hướng Bắc cách hơn bảy trăm dặm đến nước Tý Đa Thế La, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn ba nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, dân chúng đông nhiều đều thuộc nước Tín Độ. Có hơn năm mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn ba nghìn vị tập học theo Tiểu Thừa Chánh Lượng bộ, có hơn hai mươi ngôi đền thờ Trời. Các hàng ngoại đạo bôi tro thân mình. Từ thành về phía Bắc cách mười sáu dặm có một khu rừng lớn là hơn bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Vua A Dục dựng lập Tháp cao vài trăm thước, bên trong có tôn thờ Xá Lợi tỏa phóng ánh sáng, là nơi xưa kia Đức Phật từng làm Tiên Nhân nhẫn nhục bị Vua xứ ấy giết hại. Về phía Đông có ngôi Chùa cổ. Lại về hướng Đông Bắc cách hơn ba trăm dặm đến nước Phạn Trà, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hai nghìn năm trăm dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm. Nước ấy không có quân trưởng, tất cả đều tùy thuộc nước Tín Độ. Có hai mươi ngôi Chùa, Chư Tăng hơn hai nghìn vị, tập học theo Tiểu Thừa chánh lượng bộ, có năm ngôi đền thờ Trời, các ngoại đạo bôi tro thân mình. Đất đai xứ đó sản sinh nhiều hoa quả. Phía Đông thành đó có rừng trúc lớn và ngôi Chùa cổ, là nơi xưa kia Đức Phật khai mở cho chúng Tỳ Kheo mang giày hổ phược. Bên cạnh có ngôi Tháp cao hơn trăm thước. Bên cạnh đó lại có ngôi Tịnh Xá có Tôn Tượng Đức Phật đứng bằng đá xanh, vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Từ đó theo hướng Nam đi tám trăm bộ vào trong rừng có Ngôi Tháp do Vua A Dục tạo dựng. Xưa kia khi Đức Phật đến dừng ở nơi đó vì rét lạnh nên dùng cả ba pháp y đắp chồng lên. Nên lại khai mở đắp mặc áo nạp. Trong rừng có chỗ xưa kia Đức Phật Kinh hành. Lại có nơi của bốn Đức Phật Tọa Thiền, riêng đều dựng lập Tháp để nêu chứng tích vậy. Lại có Tháp Tôn thờ tóc và móng tay, vào những ngày trai thường tỏa phóng ánh sáng. Từ đó lại theo hướng Đông Bắc đi hơn chín trăm dặm đến nước Phạt Thích Noa, thuộc Tây Ấn Độ, chu vi rộng hơn bốn nghìn dặm, chu vi Đô Thành rộng hơn hai mươi dặm, dân chúng sinh sống Đông nhiều đều thuộc nước Ca Tất Thí. Có vài mươi ngôi Chùa, Chư Tăng khoảng ba trăm vị tập học cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có năm ngôi đền thờ Trời, các ngoại đạo bôi tro thân mình. Đất đai xứ đó lắm nhiều núi rừng. Ở phía Nam của thành có ngôi Chùa cổ là nơi xưa kia Đức Phật từng đến đó. Bên cạnh ngôi Tháp là vết tích của bốn Đức Phật Kinh hành Tọa Thiền. Tập tục tương truyền rằng: Nước đó về phía Tây tiếp giáp với nước Kê Lượng Na ở trong núi lớn. Lại từ đó theo hướng Tây Bắc giẫm trải qua núi lớn cách hơn hai nghìn dặm ra cảnh vật Tây Ấn Độ, vào cảnh vật Hồ Tục là nước Tào Củ Tra. Lại về phía Đông Bắc cách một nghìn sáu trăm dặm vào ranh giới của nước Ca Tất Thí, mới hợp với đường phía Bắc và đường giữa. Lược nêu từ xứ Đột Quyết trở về phía Nam trong ba biển có cả thảy một trăm năm mươi nước, và không nhiếp thuộc Ấn Độ, có bảy mươi mốt nước, tức từ nước Đột Quyết trở về phía Bắc đến tận Bắc Hải mà giẫm trải qua không cùng nên không thể ghi chép lại đó vậy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.19/3/2021.

No comments:

Post a Comment