Thursday, June 23, 2022
The Five Palaces of Hell (or the Ten Palaces of Hell) Introduced by the King of Hell (or Diem La Thien Tu) is the god who governs the Five Palaces in the Ten Palaces of Hell. King Diem La Vuong originally ruled in the first palace, but because he loved the unjustly dead or returned the soul to life and complained, he was demoted to the Five Palaces to manage the Khieu Hoan prison. The criminals here mistakenly get bored and miserable. The legend of the Sutra of Hell and the Sutra of Pure Land Sammu states: King Yama in the previous life was the King of Pisa country who fought with King Duy Da when he was born, but because he lost the battle, he took an oath: I vow to master Hell. And there were eighteen great ministers, rulers of a thousand horned men, all of whom had hatred in their hearts and made a vow: Later on, we will help the King deal with those crimes. King Pisha at that time is now King Yama, the eighteen great gods are now small kings, a thousand people are good prisons. The greatest in Hell is King Yama. King Yama governs the whole Hell, including the Ten Palaces, each has one King, each Palace King is in charge of managing sixteen small Hells. The Law of Lovelessness. Diem La Thien Tu owns the Great Hell, the Hell that screams, because the scene of Hell never stops the cry of sinners because of painful torture. This sin of falling into Hell is because while alive, people are locked up in a closed room and then burned to death by fire, or burned by mosquitoes, or by stealing, fornication, drinking, etc.. after death, they will fall into Hell. this. After the sin of reporting the end of life, one can regain a human body, often suffer from leprosy, or be born in poverty, or be born in an evil country. The escorted sinners come here because they have been through the Hells before to suffer their sins for a long time, but if the sins have not been completely eliminated. If the sins have been exhausted, they will be sent to rebirth or suffer the karma of reincarnation. Serious criminals, after being sent to Vong Huong Dai, are exiled to other prisons, and all have to suffer the crime of destruction.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.24/6/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Ngũ Điện Diêm La Vương (Thập Điện Diêm Vương)
Giới thiệu
Diêm La Vương (hay Diêm La Thiên Tử) là vị thần cai quản Ngũ Điện trong Thập Điện Diêm Vương. Diêm La Vương vốn cai quản ở điện thứ nhất nhưng vì thương người chết oan hay trả hồn sống lại kêu oan, nên bị giáng xuống Ngũ Điện để quản ngục Khiếu Hoán. Tội phạm ở đây lầm vào cảnh buồn chán, đau khổ không gì bằng.
Sự tích
Kinh Vấn Địa Ngục và Kinh Tịnh Độ Tam Muội ghi:
Vua Diêm La đời trước là Vua nước Tì Sa từng chiến đấu với Vua Duy Đà thỉ sinh, nhưng vì thua trận, nên lập thệ:
Ta nguyện làm chủ Địa Ngục.
Và có mười tám đại thần, thống lãnh một nghìn người đầu có sừng, đều có tâm oán hận và cùng lập nguyện:
Sau này chúng tôi sẽ giúp Vua trị tội bọn kia. Vua Tì Sa thuở ấy nay là Vua Diêm La, mười tám đại thần nay là các Vua nhỏ, một nghìn người là những ngục tốt.
Lớn nhất trong Địa Ngục là Diêm La Vương. Diêm La Vương cai quản cả Địa Ngục, bao gồm Thập Điện, mỗi Điện có một Vương, mỗi vị Điện Vương phụ trách quản lý mười sáu cái Địa Ngục nhỏ.
Âm Luật Vô Tình.
Diêm La Thiên Tử làm chủ Khiếu Oán Đại Địa Ngục, là Địa Ngục kêu gào, do cảnh Địa Ngục không lúc nào ngưng tiếng tội nhân kêu la vì bị hành hạ đau đớn.
Cái tội đọa vào Địa Ngục này là do lúc còn sống bắt nhốt người trong phòng kín rồi dùng lửa thiêu chết, hoặc hun đốt muỗi mòng, hoặc trộm cắp, gian dâm, uống rượu, v.v… sau khi chết sẽ rơi vào Địa Ngục này.
Sau khi tội báo thọ hết lại được thân người, thường bị chứng bịnh phong huyết, hoặc sanh bần cùng, hoặc sanh ác quốc.
Tội nhân áp giải đến đây đại để đã trải qua các Địa Ngục trước chịu tội đã lâu, mà nếu tội chưa tiêu hết. Nếu tội đã tiêu hết thì đưa đi vãng sanh hoặc lại chịu nghiệp luân hồi. Kẻ tội nặng sau khi đưa lên Vọng Hương Đài lại đày qua các ngục khác, đều phải chịu tội tiêu nghiệp.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ). GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.24/6/2022.
Wednesday, June 22, 2022
Summary of the content of the sutra: The sutra tells about a prince named Dung Quan (transliterated name as Vrasena 'Vīrasena') of the aristocratic class of Lesa (Licchavi), who lived in the city of Visha. -ly (Vaiśāli). Just as in heaven, gods and goddesses have fun, so is this prince's life, day and night enjoying pleasure, playing with passion for sex with beautiful women. On the occasion of one day when it was time to live, the Buddha entered the city for alms. He used All Wisdom to hear the playful sounds of Prince Dung Quan and the beautiful women playing upstairs. The Buddha knew that Prince Dung Quan after seven days would die in hell. He just taught Ananda to go to Dung Quan's house to advise him to become enlightened as soon as possible, so that at the end of his life he can avoid falling. Obeying the Buddha's instructions, Ananda went to Prince Dung Quan and advised: "Hey friend! After seven days you will die. If you are in the five senses without enlightenment,If you don't leave home, then at the end of your life you will fall to hell. Buddha is the One who is omniscient, right speech and right doctrine has said about you like that. Like a fire that consumes everything, everything is not wrong. You should think twice.” Prince Dung Quan heard that he was too afraid, sad, melancholy, and unhappy, then said: "According to the teachings of the Venerable, I have to leave home, but I want to enjoy the pleasures for another 6 days, until the 7th day. I will say goodbye to my loved ones and decide to become a monk.” On the 7th day, Prince Dung Quan asked Buddha to leave home. After a day and a night, Dung Quan practiced pure precepts and died. After cremating incense and smoke, Ananda and Dung Quan's relatives came to ask Buddha, where did Prince Dung Quan's consciousness go? Buddha taught: Prince Dung Quan practiced pure precepts for one day and one night, leaving this world to be born in heaven, the Four Heavenly Kings, having fun, lived to be 500 years old.then the life span is about to return to heaven Thirty-three… life span lasts 1000 years; the number of people who died in Diem Thien... life of 2 thousand years old... born in Tu-sat heaven ... life span of 4 thousand years. Born in Heaven… life expectancy 8,000 years old. At the end of 8,000 years of life, one will be reborn in heaven. Tha Hoa is at peace… life is ten thousand six thousand years old. Such bliss goes back and forth seven times in the six realms of desire. Due to one day and one night of renunciation should complete 20 kalpas, not fall to hell, hungry ghosts, animals; are often born in the natural world, be human, enjoy natural blessings. In the last life of the human race, he was born into a rich and happy family, rich in wealth, full of treasures... but Dung Quan was bored in life, left home, shaved off his hair and beard, put on the dharma robe, diligently cultivated diligently, kept it. 4 posture, regular practice of mindfulness, contemplation of the five warms, suffering, emptiness, no-self, understanding the law of cause and effect, becoming Bich-chi Buddha, the name is Bhikkhu-storehouse; At that time he gave off a great light that filled many people,Devas have good roots and help all sentient beings in the three vehicles to be liberated. Ananda again asked the Buddha, if someone rescues a monastic, how much merit will that person receive? And if someone interferes with other people's monastic life, what is the punishment for receiving the report? The Buddha taught that the merits of monastics cannot be overstated. If they are born in heaven, or among humans, they often become kings and enjoy human and heavenly happiness. If anyone helps a monk to enter the monastic life, even in birth and death he will still enjoy peace and happiness... But if he causes obstacles to harm others' renunciation, that person will be robbed of endless treasures. good fortune, blessings... life of immeasurable guilt. The Buddha again said to Ananda: If there were arahants in the four realms as numerous as rice, grass, dense forests,then there is someone in there who is enough to be 100 years old and dedicated to making offerings to these Arahants such as clothing, food, water, medicine, etc., until after they have passed into nirvana. building temple towers, using all kinds of true treasures, flowers, incense, pearls, etc., making offerings, and using verse chanting and praising, this merit is not equal to that of a monastic who receives the precepts even for a day and a night to practice. The merit of ordination is 16 parts, the previous merit is only a part. At that time, the whole audience listened to the Buddha's sermon without being bored with the world; some have ordained and maintained the precepts, some have attained Tuda-completed status, some have even attained Arahantship, some have sown the seeds of Pratyekabuddhas, and some have developed the mind of Unsurpassed Bodhi. Everyone was very happy to pay respects. Conclusion: Regarding the merits of leaving home, the Buddha praised and praised silver throughout the Sutras, such as the sage of the sage:“The merit of renunciation is higher than Tu-di, deeper than the ocean, wider than space. Why? Because he decided to become a Buddha because he left home. Sutra Australia-old bourgeois: “At home, it is polluted, when leaving home, it is pure; Anchor at home, emancipation from home…” The Manjushri Sutra advises: “Staying at home increases afflictions, leaving home leads to liberation. To stay at home is to enter the forest of thorns and swords, to leave home is to come out of the forest of thorns and swords…” These words from the Blessed One's lips, we have nothing to discuss. But we should understand, here the Buddha is not denying that life in the house is not liberated, it is only that the householder cultivates celibacy and selflessness is a difficult thing, and the fruition is attained to the fruit of Non-return. only, it is not possible to attain Nirvana. At the same time, standing on the concept of "philosophy of ordination", the Buddha wanted to prove to us that love,money, power, fame ... eternal difficulty before the law of impermanence; so he taught Ananda to advise Prince Dung Quan to leave home. Prince Dung Quan left home to practice for a day and a night, then with his life he was reborn in the heavens, his life span was extended, he did not fall into hell or hungry ghosts after 20 kalpas... Why was Prince Dung Quan so blessed? Because Prince Dung Quan kept the precepts completely in one day and one night. The Heart Contemplation Sutra says: “The most difficult thing to do is to keep the precepts. Keeping precepts is called renunciation.” The Law of Good View also says: “The precepts are the life span of the Buddhadharma. As long as the precepts remain, the Buddhadharma remains." Precepts are the gateway to liberation, the energy that maintains and protects the Sangha community. A monastic monk with high moral conduct is an image, a signal for the survival of the Congregation, wherever it is, or in any country. Song,the wish of the exiting person does not stop there, but “The wicked world is full of the five defilements, I swear to enter first; If there is one living being who has not yet become a Buddha, I swear never to enjoy nirvana." Therefore, in the last life of Prince Dung Quan expressed the great compassion of the monastic "to seek the Buddha's way, to bring down sentient beings", so Dung Quan practiced to become Bichchi Buddha, known as Bhikkhu-deer. radiant light to save sentient beings in the three vehicles. Discussing the merits of a true monastic is discussing the merits of a future Buddha, that merit is inconceivable, and mortal wisdom cannot penetrate. We would like to borrow the words of the Blessed One to rephrase: "The monastic is the most noble, the unsurpassed, the incomparable, the peerless: he is the mighty one in the world, unique set of travel.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Toát yếu nội dung kinh:
Kinh kể về một vương tử tên là Dũng Quân (tên phiên âm Tỳ-la-tiễn-na ‘Vīrasena’) thuộc giai cấp qúy tộc Lê-xa (Licchavi), cư ngụ tại thành Tỳ-xá-ly (Vaiśāli). Ví như ở cõi trời, chư thiên và thiên nữ vui chơi thì đời sống chàng vương tử này cũng vậy, ngày đêm sống hưởng lạc, vui chơi đam mê sắc dục cùng các mỹ nữ.
Nhân một hôm đến giờ thọ trai, đức Phật vào thành khất thực, Ngài dùng Nhất thiết trí mà nghe được âm thanh vui đùa của vương tử Dũng Quân và các mỹ nữ đang vui chơi trên lầu. Đức Phật biết vương tử Dũng Quân sau bảy ngày nữa thì mạng chung sẽ đọa địa ngục. Ngài mới dạy A-nan đến nhà Dũng Quân khuyên bảo nên sớm giác ngộ xuất gia để lúc mạng chung tránh sự đọa lạc. Vâng lời chỉ dạy của Phật, A-nan đến gặp vương tử Dũng Quân khuyên: “Này bạn! Sau bảy ngày nữa bạn sẽ chết. Nếu bạn ở trong ngũ dục không giác ngộ, không xuất gia, thì lúc mạng chung bạn sẽ đọa địa ngục. Phật là bậc Nhất thiết trí, chánh ngữ chánh thuyết đã nói về bạn như thế. Ví như ngọn lửa thiêu đốt mọi vật, thảy đều không sai. Bạn nên suy nghĩ cho kỹ.” Vương tử Dũng Quân nghe nói vậy quá lo sợ, buồn rầu, sầu muộn không vui rồi nói: “Theo lời chỉ dạy của Tôn giả, tôi phải xuất gia nhưng tôi muốn thọ hưởng khoái lạc thêm 6 ngày nữa, đến ngày thứ 7 tôi sẽ giã từ người thân, quyết định xuất gia.”
Đến ngày thứ 7, vương tử Dũng Quân xin Phật xuất gia. Qua một ngày một đêm Dũng Quân tu trì tịnh giới rồi mạng chung. Sau khi hỏa thiêu hương khói xong, A-nan cùng thân quyến của Dũng Quân đến hỏi Phật, thần thức của vương tử Dũng Quân đi về đâu? Phật dạy: vương tử Dũng Quân trong một ngày một đêm tu trì tịnh giới xả bỏ cõi đời này sinh về trời Tứ thiên vương… vui chơi thọ 500 tuổi, rồi mạng chung sinh về cõi trời Ba mươi ba… tuổi thọ kéo dài 1000 tuổi; số tận sinh về Diệm thiên… thọ 2 ngàn tuổi… sinh về cung trời Đâu-suất… thọ 4 ngàn tuổi. Sinh lên Tự tại thiên… thọ 8 ngàn tuổi. Hết 8 ngàn tuổi mạng chung sinh về trời Tha hóa tự tại… thọ một vạn sáu ngàn tuổi. Thọ lạc như vậy qua lại 7 lần trong 6 cõi trời dục. Do một ngày một đêm xuất gia nên mãn 20 kiếp, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; thường sinh thiên, nhơn, thọ phước tự nhiên. Trong loài người kiếp cuối cùng sinh vào nhà giàu có sung sướng, tài sản phong phú, chân bảo đầy đủ… song Dũng Quân nhàm chán ở đời, xuất gia cạo bỏ râu tóc, thân khoác pháp phục, siêng tu tinh tấn, giữ 4 oai nghi, thường hành chánh niệm, quán ngũ ấm, khổ, không, vô ngã, hiểu pháp nhân duyên, thành Bích- chi Phật, hiệu là Tỳ-lưu-đế; lúc ấy Ngài phóng hào quang lớn có nhiều người, chư thiên được thiện căn và giúp các loài chúng sanh trong ba thừa được giải thoát.
A-nan lại thưa hỏi đức Phật, nếu có người độ người xuất gia, người ấy xuất gia gánh vác mọi việc thì được bao nhiêu phước đức? Và nếu có người gây trở ngại người khác xuất gia thì thọ tội báo gì?
Phật dạy, công đức của người xuất gia không thể nói hết, nếu họ sinh thiên, hay trong loài người thường làm quốc vương, thọ hưởng hạnh phúc nhơn, thiên. Nếu ai giúp người xuất gia vào trong pháp Sa-môn thì dù ở trong sinh tử người ấy vẫn hưởng an lạc, hạnh phúc… Còn nếu gây trở ngại phương hại chuyện người khác xuất gia thì người đó bị cướp mất kho tàng vô tận thiện tài phước báu… thọ vô lượng tội.
Phật lại bảo A-nan:
Nếu có các bậc A-la-hán trong 4 cõi nhiều như lúa cỏ, rừng rậm, rồi có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này những thứ như: y phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang… cho đến sau khi các vị ấy niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, dùng đủ loại chân bảo, hoa hương, châu ngọc… cúng dường, và dùng kệ tụng tán thán, thì công đức này không bằng người xuất gia thọ giới dù chỉ một ngày một đêm tu trì. Công đức xuất gia được 16 phần, công đức trước chỉ một phần.
Khi ấy, cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp không ai mà không nhàm chán cảnh đời; họ xuất gia trì giới, có người đắc Tu-đà-hoàn, thậm chí có người đắc quả vị A-la-hán, có người gieo hạt giống Bích-chi Phật, có người phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Mọi người rất vui mừng đảnh lễ phụng hành.
Lời kết:
Về công hạnh xuất gia, đức Phật khen ngợi, tán thán bàng bạc khắp trong Kinh tạng, như kinh Hiền ngu: “Công đức của sự xuất gia cao hơn Tu-di, sâu hơn biển cả, rộng hơn hư không. Tại sao như vậy? Vì xuất gia quyết định thành Phật”. Kinh Úc-già trưởng giả: “Tại gia thì ô nhiễm, xuất gia thì thanh tịnh; tại gia neo buộc, xuất gia giải thoát…” Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn: “Tại gia thì tăng thêm phiền não, xuất gia thì giải thoát. Tại gia là vào trong rừng chông gai gươm giáo, xuất gia là ra khỏi rừng chông gai gươm giáo…”
Những lời ấy từ kim khẩu Thế Tôn nói ra thì chúng ta không còn gì để luận bàn. Nhưng chúng ta nên hiểu, ở đây đức Phật không phủ nhận đời sống tại gia tu không giải thoát, chỉ có điều người tại gia tu dưỡng vô dục, vô ngã là một việc khó khăn, và quả vị chứng đắc đến quả Bất hoàn mà thôi, không thể đạt được Hiện pháp niết-bàn. Đồng thời đứng trên quan niệm “triết học xuất gia”, đức Phật muốn chứng minh cho chúng ta thấy rằng, ái ân, tiền của, quyền lực, danh vọng… khó vĩnh hằng trước định luật vô thường; cho nên Ngài đã dạy A-nan khuyên vương tử Dũng Quân xuất gia.
Vương tử Dũng Quân xuất gia tu hành một ngày một đêm, rồi mạng chung sanh về các cõi trời, tuổi thọ kéo dài, mãn 20 kiếp không đọa địa ngục, ngạ quỷ… Vì sao vương tử Dũng Quân được phước báo như vậy? Vì vương tử Dũng Quân giữ giới trọn vẹn trong một ngày một đêm. Kinh Tâm địa quán nói: “Sự xuất gia khó nhất là giữ giới. Giữ giới được mới gọi là xuất gia.” Luật Thiện kiến cũng nói: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp. Giới luật còn thì Phật pháp còn.” Giới là cửa ngõ đi đến giải thoát, là năng lượng duy trì, bảo vệ cộng đồng Tăng-già. Một vị xuất gia giới hạnh thanh cao là hình ảnh, là tín hiệu cho sự sống còn của Giáo đoàn dù bất cứ nơi đâu, hay ở xứ sở nào.
Song, tâm nguyện của người xuất không phải dừng ở đó mà “Thế giới độc ác đầy cả ngũ trược con thề bước vào trước hết; nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, thì con thề không bao giờ hưởng lấy niết-bàn.” Vì thế, kiếp cuối cùng của vương tử Dũng Quân nói lên tâm đại bi của người xuất gia “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, nên Dũng Quân tu hành thành Phật Bích-chi, hiệu Tỳ-lưu-đế, phóng hào quang cứu độ chúng sanh trong ba thừa.
Luận bàn công đức một vị xuất gia chân chính tức luận bàn công đức một vị Phật tương lai, công đức ấy không thể nghĩ bàn, trí phàm nhân không thể thẩm thấu. Chúng tôi xin mượn lời Thế Tôn diễn đạt lại:
“Người xuất gia là người tôn quý cao nhất, là người vô thượng, người không ai sánh bằng, người không ai ngang vai: người ấy là bậc đại hùng lực giữa thế gian, độc bộ vô lữ.”HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2022.
The Buddha preached the Mahakayapa Sutra to save a poor old woman, and her mother was nearly eighty years old. , but looking at his appearance, he felt very light and relaxed, when asked, he knew that he was still trading. The goods are not very valuable, a few dozen fresh areca, a few curls of green betel nut, lime, douche cake, charm paper... It seems that the rhythm of life seems monotonous, yet he finds himself happy, happy not because of the income. Because he is high, he engraved in his heart a "sacred" sentence for himself: "If you sell 10 dong, keep 5 dong, and 5 dong give it to the needy." I would like to introduce to you Buddhists this period, the Sutra of the poor old woman giving alms was born in heaven, or said,Sutra on Mr. Mahākāyapa's saving a poor mother (Buddha's theory of Mahākāyapa's saving a poor mother's sutra 佛說摩訶迦葉度貧母經 'Sūtra on Mahākāśyapa's saving a poor mother') 1 volume, Mr. nabatdala . Summary of the content of the sutra: Once, the Buddha was in the country of Savat, giving a sermon to the king, mandarins, people, monks, great Bodhisattvas, gods, dragons, ghosts, etc. to listen. At that time, Mr. Maha Kassapa alone went to the city of Vuong Xa to teach. He often brings blessings to sentient beings. He did not beg the rich, only the poor. Before going for alms, he often meditated to see which poor people should sow blessings? He knew that there was an old woman in the city of Vuong Xa, because the previous life did not create blessings, so she had to suffer poverty and loneliness in this life, living day by day in a pile of dirty garbage. he is forever lost." That morning,There was a bourgeois maidservant who brought foul rice water to pour, the old woman immediately came to beg. Mr. Kassapa went to the old woman and said, "Give me some food and I will be blessed." The old woman was surprised: “In this country I am the poorest, eating and drinking with hunger; Clothes are not enough to cover the body, why give alms to the venerable?" Mr. Kashyapa said: “Madam! I came here to help the poor. If she has the heart to give, then she will no longer be a poor person... People in this world are greedy for money and do not want to give, in the next life they will suffer poverty. Must believe in sins, right and not wrong!" The old woman hesitated to ask: - Would you please accept some of this foul rice water? – Good luck! Rather good! Mr. Kassapa accepted the offering and then prayed for the old woman to be blessed with good fortune. He immediately drank the bowl of rice water in front of the old woman, so that she would not suspect that he had brought it elsewhere. The old woman's heart rejoiced. Mr. Kashyapa asked again:- Do you want to make a wish? Being a rich person in the world, or becoming a Holy King, or the Four Heavenly Kings, I-likes[1]… all will be as desired. - I vow to bring this little blessing to be born in heaven. Mr. Kassapa suddenly disappeared. On that day, the old woman also passed away, was reborn in the second Dao-loi heaven[2], resplendent in majesty, and shook heaven and earth. The God-like God was startled and appalled, using his celestial eye to contemplate, knowing that the goddess had merit, it was due to the predestined predestined life to make offerings to Mr. Kassapa. God God-like to think, how do we have to go down to Jambudvipa[3] to meet Mr. Kassapa to create blessings!? De-Thich immediately and Thien Empress put delicious food in small jars, descended to Vuong Xa city, built a shabby little house on the roadside, transformed into a poor old couple, poor and poor, doing mat weaving. Maha Kassapa on his way back from his alms round,see the poor stand begging for alms. The old man said: - I am too poor to have anything, how can I give it? Mr. Kassapa prayed for a long time not to go. Seeing that, the old man said: - My wife and I have just asked for some food, heard that the sage is a benevolent and virtuous person, only begging for food from the poor, wanting to sow blessings to the poor. We would like to give alms to the Sage to be blessed. Mr. Kassapa gave the bowl to receive and then prayed for the benefactor. The scent of heavenly food is not worldly food, the fragrance wafts through the city of Vajrayana. Mr. Kassapa doubted and immediately entered the samadhi to know the Truth-like transformation. While he was meditating in meditation, he and his wife aged back to the body of Sakka, flew straight up into the air, extremely happy. The Buddha said to Ananda: That poor old woman, all the world has no equal, although giving little, but receiving much blessings.Because of suffering, starting a sincere heart will receive immeasurable blessings. Like Emperor Thich in the heavenly world, enjoying such happy retribution, he also renounced his precious throne, planted blessings, and received unpredictable blessings. Therefore, the Tathagata says that giving is first. People like that are rare. You must widely proclaim this true statement of the Tathagata. The Buddha preached the Mahakayapa Sutra to save the poor old woman. Conclusion: The Buddha contemplated that the poor man in Alavi village was about to attain enlightenment, but he was hungry, the Buddha asked the villagers to feed him. After eating, the Buddha preached the Dharma, and when he heard it, he immediately attained the fruit of Stream-entry. The Buddha taught that “There is no disease as unpleasant as hunger.” Hunger and poverty easily separate people from the spiritual life, whether the Buddha was still alive or in modern society today; That is also the biggest concern during the Buddha's life.With boundless love, Buddhism always comes to them, does not wait for them to come to him, so Kassapa's wish only begs the poor, not the rich. Although it looks callous, forcing them to give them their food, in fact, that vow is to save them, help them break their greed and greed, and liberate them from the poverty of the next life. After making offerings to Mr. Kassapa, the old woman did not wish for anything, just wanted to be born in heaven. Because being born in the heavens (born in heaven) is a fairly common belief among ancient Indians, that anyone who does good will be born in heaven, enjoy ultimate pleasure, and escape samsara. Later this thought was introduced into Buddhism, there are a number of scriptures that talk about the theory of birth and heaven. The poor old woman gave some foul rice water, and God-like to offer some heavenly food, she received unpredictable blessings... Here,The sutras do not measure, compare the quality of the alms-giving, but mean a sincere heart of giving and the mind of giving away is free from contamination. At the same time, the Buddha also clearly taught in the Phuoc Dien Sutra (Middle A-Ham q.30), the Student (below A-la-Han), the Uneducated (A-la-Han) in life, worthy of respect; They cultivate the right body, mouth, and mind. They are also good fields for the home. They will receive great blessings. The mind is also righteous, it is a good field for the home, offering is great blessing.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Phật thuyết kinh Ma-ha Ca-diếp độ bà lão nghèo
truong lao dai ca diep do ba lao ngheo
Ngài Ca-diếp độ bà lão nghèo
Dẫn nhập:
Tôi có người bạn thân tại gia, thân mẫu bạn ấy tuổi đời gần tám mươi, nhưng nhìn dáng vẻ của bác thấy rất nhẹ nhàng và thảnh thơi, hỏi ra lại biết bác còn đi buôn bán. Mặt hàng không gì giá trị lắm, vài chục cau tươi, ít lọn trầu xanh, vôi, bánh thuốc rê, giấy quyến… Trông nhịp sống có vẻ đơn điệu ấy, vậy mà bác thấy mình hạnh phúc, hạnh phúc không vì thu nhập cao mà vì, bác tự khắc sâu trong lòng một câu “thánh triết” cho riêng mình: “Nếu bán được 10 đồng thì giữ 5 đồng, còn 5 đồng bố thí cho người cùng khổ.”
Xin giới thiệu đến quí Phật tử kỳ này, kinh Bà lão nghèo bố thí được sanh thiên, hay nói, kinh Ngài Ma-ha Ca-diếp độ bà lão nghèo (Phật thuyết Ma-ha Ca-diếp độ bần mẫu kinh 佛說摩訶迦葉度貧母經 ‘Sūtra on Mahākāśyapa’s saving a poor mother’) 1 quyển, ngài Cầu-na-bạt-đà-la .
Toát yếu nội dung kinh:
Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Xá-vệ thuyết pháp cho vua, quan, nhân dân, chúng Tỳ-kheo, Bồ-tát đại sĩ, trời, rồng, quỉ thần… nghe.
Bấy giờ, ngài Ma-ha Ca-diếp một mình đến thành Vương Xá giáo hóa. Ngài thường đem phước điền đến cho chúng sinh. Ngài không khất thực nhà giàu chỉ khất thực nhà nghèo. Trước khi đi khất thực, Ngài hay nhập định xem gieo phước cho người nghèo nào? Ngài biết trong thành Vương Xá có một bà lão, vì kiếp trước không tạo phước lành nên kiếp này phải chịu nghèo khổ, đơn côi, sống qua ngày tại đống rác dơ bẩn, Ngài nghĩ: “Nếu ta không độ bà lão thì bà lão mãi mãi mất phước”.
Sáng hôm ấy, có người tớ gái một vị trưởng giả mang nước cơm hôi đi đổ, bà lão liền đến xin. Ngài Ca-diếp đến chỗ bà lão nói: “Hãy cho tôi một ít thức ăn sẽ được phước lớn”. Bà lão ngạc nhiên: “Ở nước này tôi là người nghèo nhất, ăn uống bữa đói bữa no; áo quần không đủ che thân, lấy gì bố thí cho tôn giả?” Ngài Ca-diếp bảo: “Thưa bà! Tôi đến đây là muốn giúp đỡ người nghèo. Nếu bà có tâm bố thí tức không còn là người nghèo khổ… Người đời tham tiếc tiền của không muốn thí, đời sau chịu nghèo khổ. Phải tin tội phước, đúng chớ không sai!”
Bà lão ngần ngại hỏi:
– Tôn giả có vui lòng nhận ít nước cơm hôi này không?
– Lành thay! Lành thay!
Ngài Ca-diếp nhận sự cúng dường rồi chú nguyện cho bà lão được phước báo an lành. Ngài liền uống bát nước cơm trước mặt bà lão, để bà khỏi ngờ vực Ngài mang nơi khác đổ. Lòng bà lão hân hoan vui mừng.
Ngài Ca-diếp lại hỏi:
– Lão bà muốn ước nguyện gì không? Làm người giàu có ở thế gian, hay làm Chuyển luân thánh vương, hay Tứ thiên vương, Đế-thích[1]… tất sẽ được như điều mong muốn.
– Con nguyện đem một chút phước nhỏ này mà được sanh thiên.
Ngài Ca-diếp bỗng nhiên biến mất. Trong ngày ấy, bà lão cũng lâm chung, được sanh về cõi trời Đao-lợi thứ hai[2], oai đức rực rỡ, chấn động trời đất. Trời Đế-thích giật mình kinh sợ, dùng thiên nhãn quán chiếu, biết Thiên nữ có phước báo ấy là do duyên tiền kiếp cúng dường ngài Ca-diếp.
Trời Đế-thích nghĩ, ta phải có cách gì xuống cõi Diêm-phù-đề[3] gặp ngài Ca-diếp để tạo phước!? Đế-thích liền cùng Thiên hậu đem thức ăn ngon bỏ vào bình nhỏ, giáng hạ xuống thành Vương Xá, làm căn nhà nhỏ tồi tàn bên lề đường, hóa thành hai vợ chồng già nghèo nàn bần cùng, làm nghề dệt chiếu. Ngài Ma-ha Ca-diếp trên đường khất thực trở về, thấy người nghèo khổ đứng lại khất thực.
Ông lão nói:
– Tôi quá nghèo không có thứ gì cả, cho như thế nào đây?
Ngài Ca-diếp chú nguyện hồi lâu không đi.
Thấy thế ông lão lại nói:
– Vợ chồng tôi vừa mới xin được một ít thức ăn, nghe nói, Hiền giả là bậc nhân từ đức độ, chỉ khất thực nhà bần cùng, muốn gieo phước lành cho người nghèo. Chúng tôi xin bố thí cho Hiền giả để được phước.
Ngài Ca-diếp đưa bát nhận rồi chú nguyện cho thí chủ. Mùi hương thức ăn ở thiên giới chẳng phải thức ăn thế gian, hương thơm bay khắp thành Vương Xá. Ngài Ca-diếp nghi ngờ liền nhập định biết Đế-thích biến hóa. Trong lúc Ngài tọa thiền nhập định, vợ chồng ông lão hóa lại thân Đế-thích, bay thẳng lên hư không vô cùng vui mừng.
Phật bảo A-nan:
Bà lão bần cùng kia, tất cả thế gian không ai sánh bằng, bố thí tuy ít nhưng phước báo được nhiều. Vì khổ nạn cho nên khởi tâm chí thành được phước vô lượng. Như Đế-thích trên thiên giới, hưởng quả báo sung sướng đến thế mà còn từ bỏ ngôi vị tôn quí, giáng hạ gieo trồng phước lành, được phước báo khó lường.
Vì vậy Như Lai nói bố thí là đệ nhất. Người được như vậy hiếm lắm. Ông phải tuyên thuyết rộng rãi lời nói chơn thật này của Như Lai.
Phật thuyết kinh Ma-ha Ca-diếp độ bà lão nghèo.
Lời kết:
Đức Phật quán thấy người nghèo ở làng Alavi đến lúc chứng ngộ, nhưng anh ta đói bụng, đức Phật bảo dân làng cho anh ta ăn. Ăn rồi, đức Phật thuyết pháp, anh nghe liền chứng quả Dự lưu tại chỗ. Phật dạy “Không có bệnh gì khó chịu bằng bệnh đói”
Đói khổ và nghèo nàn dễ khiến con người xa cách đời sống tâm linh, dù thời đức Phật còn tại thế hay xã hội hiện đại bây giờ; đó cũng chính là nỗi bận tâm lớn nhất trong suốt cuộc đời Phật. Với tình thương vô hạn, đạo Phật luôn đến với họ, không đợi họ đến với mình, cho nên tâm nguyện ngài Ca-diếp chỉ khất thực nhà nghèo, không khất thực nhà giàu. Tuy nhìn có vẻ nhẫn tâm, ép họ cho mình vật thực độ nhật của họ, nhưng kỳ thật hạnh nguyện ấy là cứu họ, giúp họ phá trừ tâm tham lam keo kiết, giải phóng khỏi sự nghèo khổ của kiếp sau.
Sau khi cúng dường cho ngài Ca-diếp, bà lão không ước muốn điều gì, chỉ mong được sanh thiên. Vì sanh thiên (sanh lên trời) là tín ngưỡng khá phổ biến của người Ấn Độ thời xưa, cho rằng người nào làm thiện đều được sanh thiên, hưởng được thú vui tột cùng, thoát khỏi luân hồi. Về sau tư tưởng này du nhập vào Phật giáo, có một số kinh điển đều nói đến thuyết sanh thiên.
Bà lão nghèo thí chút nước cơm hôi, trời Đế-thích cúng ít thức ăn thiên giới, lại được phước báo thật khó lường… Ở đây, ý kinh không cân đong, so tính phẩm vật bố thí mà muốn nói đến một tấm lòng chân thật cúng dường và tâm bố thí ly nhiễm. Đồng thời Phật cũng dạy rõ trong kinh Phước điền (Trung A-hàm q.30), bậc Hữu học (dưới A-la-hán), Vô học (chứng A-la-hán) trong đời, đáng được tôn kính; các Ngài tu chánh thân, miệng, ý cũng chánh hạnh, là ruộng tốt cho tại gia, cúng dường được phước lớn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2022.
Māratajjanīya Sutta Thus I heard. Once the Venerable Mahā Moggallāna was dwelling among the Bhaggas, in Sumsumaragira, in the Bhessakalavana forest, in the Deer Park. At that time the venerable Mahā Moggallāna was walking in the open air. Then the demon entered Venerable Mahā Moggallāna's stomach, and was in his stomach. Then the venerable Mahā Moggallāna thought thus: "Now, why is my belly so heavy as if something were piled up too much?" Then the venerable Mahā Moggallāna alighted from his meditation practice, entered the monastery, and sat on the prepared seat. After sitting, the venerable Mahā Moggallāna was mindful of himself. The venerable Mahā Moggallāna saw that the Devil, having entered his stomach, was in his stomach. Seeing this, the Venerable said to the Devil —Come out, Evil! Come out, Evil! Do not disturb the Tathagata and the disciples of the Tathagata. Do not make You unhappy, long suffering!Then the demon thought, "This recluse does not know me, does not see me, and says thus: 'Get out, Evil! Come out Evil! Do not disturb the Tathagata, and disciples of the Tathagata. Do not cause you to be unhappy or suffer for a long time." Even the Guru himself did not know me so quickly, how could this disciple know me?" Then the Venerable Mahā Moggallāna said to the Evil One again——Demon, I know thee. Don't think: "He doesn't know me". You are the Devil. This is what you think, Evil: "This recluse, who does not know me, does not see me, says thus: 'Get out, Devil! Come out Evil! Do not disturb the Tathagata and the disciples of the Tathagata. Do not make you unhappy, suffer for a long time!" Even the Guru himself didn't know me so quickly, how could this disciple know me?" Then the demon thought thus: "This recluse, who knows me, sees me, and says thus: 'Go out,Evil! Come out, Evil! Do not disturb the Tathagata and the disciples of the Tathagata. Do not cause you to be unhappy or suffer for a long time." Then the Devil came out of the mouth of the Venerable Mahā Moggallāna, and leaned against the mouth of the mouth. Venerable Mahā Moggallāna saw the Evil One leaning against the mouth, and said Evil—Demon, here, I also see you. You must not think: "He does not see me". O Devil, you are now standing at the mouth of your mouth. O Demon, once upon a time, I was the Demon named Dusi, and her name was Kālī. You are her son. So you are my nephew. At that time, Evil One, the Blessed One Kakusandha, the Arahant, the Fully Enlightened One was born. The Blessed One Kakusandha, the Arahant, the Fully Enlightened One, had two disciples named Vidhura and Sanjiva, the two supreme beings, the two sages. O Demon, to the disciples of the Blessed One Kakusandha, the Arahant,Right Enlightenment no one here can equal Venerable Vidhura in teaching the Dharma. For this reason, Evil One, Venerable Vidhura is called Vidhura (Unparalleled). And Venerable Sanjiva is a person who goes to the forest, walks to the root of a tree, goes to places where there are no people, and attains the cessation of perception and life without any difficulty. Demon, once upon a time, the venerable Sanjiva was sitting under a tree in the cessation of perception and life. O demon, the cowherds, herdsmen, farmers, and travelers saw the venerable Sanjiva sitting under a tree, and when they saw this, they said to each other, "This is wonderful, hey. Venerables! How rare, venerable ones! This recluse died but still sat. Let's cremate him!" Then, Demon, the cowherds, herdsmen, farmers, and travelers gathered grass, firewood, and cow dung, piled it on the venerable Sanjiva's body, set it on fire, and left. O Demon, Venerable Sanjiva,After that night was over, he immediately emerged from meditation, brushed off his clothes, put on his robes in the morning, took his bowl and robe, and entered the village for alms. Demons, the herdsmen, the herdsmen, the farmers, the travelers, seeing the Venerable Sanjiva going for alms, saw this and thought, "How wonderful, venerable ones! How rare, venerable ones! This recluse died but was still sitting, now he is resurrected." For this reason, Evil One, the venerable Sanjiva is called Sanjiva, Sanjiva. Demon, then Demon Dusi thought thus: 'I do not know the coming and going of these bhikkhus of virtue and dhamma. So now let us enter the household of brahmins and say thus: 'Come, slander, slander, reproach, and harass the bhikkhus who are virtuous and good-natured. Due to being slandered, insulted, blamed, and harassed by You, they can change their minds and thus, the Demon Dusi has the opportunity to dominate them.Then, Evil One, Demon Dusi entered the household of brahmins and slandered, insulted, reprimanded, and harassed the bhikshus who were virtuous and good-natured, as follows: "Those bald-headed ones , fake sa-mon, unscrupulous slave, black slave, born from this heel. They say, "We practice meditation, we practice meditation," and with their shoulders down, with their faces down, foolishly enamored, meditating, meditative, ignorant, and foolish. Like an owl perched on a tree branch while stalking a mouse; meditation practice, passionate meditation, ignorant meditation, wild meditation; so are the bald ones, the false ascetics, the unscrupulous slaves, the black slaves, born from this heel. They say, "We practice meditation, we practice meditation." And with his shoulders drooping, with his face down, foolishly enamored, meditating, meditating, ignorant meditating, foolish meditating. For example, a child pretends to be on the riverbank while watching fish; meditation practice, passionate meditation, ignorant meditation, wild meditation; so are the bald ones, the false ascetics,Unfaithful slave, black slave, born from this heel. They say, "We practice meditation, we practice meditation" and with drooping shoulders, face down, foolishly enamored, meditating, meditating, ignorant meditating, foolishly meditating. For example, a cat sitting by a pile of garbage, while waiting for a mouse; meditation practice, passionate meditation, ignorant meditation, wild meditation; likewise, the bald ones, the false ascetics, the unscrupulous slaves, the black slaves, are born from this heel. They say, "We practice meditation, we practice meditation" and with drooping shoulders, face down, foolishly enamored, meditating, meditating, ignorant meditating, foolishly meditating. For example, a donkey, the burden is put down, is practicing meditation, infatuated with meditation, delusional in meditation, foolish in meditation; likewise, the bald ones, the false ascetics, the unscrupulous slaves, the black slaves, are born from this heel. They say, "We practice meditation, we practice meditation," and with their shoulders drooped, with their faces down, foolishly enamored, meditating, meditating, ignorantly meditating, foolishly meditating.At that time, Evil One, most of these people, after the breakup of their bodies, after death, were to be reborn in the bad realms, in the bad destinations, in the lower realms, in the hells. Then, Evil One, the Blessed One Kakusandha, the Arahant, the Fully Enlightened One, addressed the monks: "—Monks, the brahmin householders were possessed by the Demon Dusi and said: “Come slander, slander, reproach, and harass bhikkhus who are virtuous and good-natured. By being slandered, slandered, reprimanded and harassed by You, they can change their minds, and thus the Demon Dusi has a chance to dominate them.” Come, bhikkhus, to perfect one direction with a mind connected with loving-kindness, and then abide, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus throughout the world, above, below, across, all regions, and all over the boundless, abiding and pervading with a mind that is united with loving-kindness, generous, boundless, free from hatred, and without anger.With a mind that is joined with compassion… with a mind that is associated with joy…, turn one direction with a mind that is connected with equanimity, and then settle down; so is the second, so is the third, so is the fourth. Thus throughout the whole world, above, below, across, all regions, and all over the boundless, abiding and pervading with a mind that is united with equanimity, generous, boundless, without hatred, without anger." Then, Evil One, those bhikkhus, thus exhorted and exhorted by the Blessed One Kakusandha, the Arahant, the Fully Enlightened One, went to the grove, to the foot of the tree, to the places that were not deserted. , turn one-sided fullness with the mind to match with the word and then stay; so is the second, so is the third; so is the fourth. Thus throughout the world, above, below, across, all regions, and all over the boundless, abiding and pervading with a mind that is united with loving-kindness, generous, boundless, free from hatred, and without anger.With a mind that is connected with compassion… with a mind that is associated with joy… turn in one direction with a mind that is associated with equanimity and then settle down; so is the second, so is the third, so is the fourth. Thus, throughout the world, above, below, across, all regions, and all over the boundless, abiding and pervading with a mind that is united with equanimity, generous, boundless, without hatred, without anger. Mara Dusi, then Māra Dusi thought thus: "By doing this, I cannot know where the coming or going of bhikkhus who are virtuous and good-natured. Let us then enter the householder Brahmins and say thus: "Come, praise, respect, pay homage, and make offerings to these bhikkhus of virtue and good character. By being praised, respected, bowed down, made offerings, they can change their minds and thus, the Demon Dusi has the opportunity to dominate them." Then, Evil One, the Demon Dusi entered the brahmins of the householder and said: "Come and praise,respect, pay homage to, and make offerings to bhikkhus who are virtuous and good-natured. Those who are praised, respected, worshiped, and offered to you by you can change their minds, and thus the Evil One Dusi will have a chance to dominate them.” Then, Evil, householder Brahmins , being invaded by the Demon Dusi, praised, respected, paid homage to, and made offerings to the bhikkhus who were virtuous and good-natured. Demons, after a while these people die, and most of the time after the breakup of the body, after death, they are reborn in a good destination, in the heavenly world, and in this life. Then, Evil One, the Blessed One Kakusamdha, the Arahant, the Fully Enlightened One, addressed the monks: "—Bhikkhus, the brahmin householders were invaded by the Demon Dusi and said as follows: Then: "Come and praise, respect, pay homage, and make offerings to the bhikkhus who are virtuous and good-natured. These people are admired, respected, and worshiped by you.Offerings can change their minds and thus the Demon Dusi will have a chance to dominate them.” You, bhikkhus, dwell contemplating the impurity of the body, contemplating displeasure with food, contemplating inability to please all the world, contemplating impermanence with regard to all formations." And thus, Evil One, those bhikkhus, thus exhorted by the Blessed One Kakusandha, thus exhorted, went to the grove, went to the foot of a tree, went to empty places, contemplating the impurity of the body. , (contemplation) perception of boredom for food, (contemplation) perception of inability to be happy for all worlds, contemplation of impermanence for all formations. Then, Evil One, the Blessed One, Kakusandha, an Arahant, Fully Enlightened One, put on his robes and bowls in the morning, with the venerable Vidhura as his attendant, entered the village for alms. Then Demon, Demon Dusi possessed a child, holding a stone,hit Venerable Vidhura on the head and broke his head. Then, Evil One, the venerable Vidhura, with his head broken and bleeding, was still walking behind the Blessed One Kakusandha, the Arahant, the Fully Enlightened One. Then, Evil One, the Blessed One, the Arahant Kakusandha, the Perfectly Enlightened One, looked around with his gaze upon the king's elephant, and thought thus: "Indeed, the Demon Dusi does not know moderation." Demon, when the Blessed One looked around, the Demon Dusi died from that place and was reborn in the hell realm. This hell, demon, has three names: the six contact hells, the iron passing through hell, and the long-suffering hell. Then the hell-keepers came to me and said, "O venerable one, when the iron stake will meet the iron stake in your heart, you will understand thus: 'I will be scalded with boiling water for a thousand years in hell. ” And I, Evil, I was doused with boiling water, spent many years, many hundreds, many thousands of years in hell.Having spent ten thousand years in that great hell, I was boiled and experienced a sensation called Vutthanima. Therefore, Demon, my body is like that, body like a human, and my head like that, head like a fish. 1. How hell is that Dusi boiled Because of beating Vidhura, Disciple Kakusandha. There are hundreds of types of iron stakes. Feelings are separate. Hell is like that, Dusi is boiled. Because of fighting Vidhura, Disciple Kakusandha Male-stilts Buddha's disciples, Understanding thus. Because you beat the Male-stilts, Kaṇha suffered a long life, 2. Built in the middle of the sea, the Palace spanned many lifetimes, With dazzling lapis lazuli, Splendor and magic. Fairies dance here, Jewelry with different colors. The bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you beat the Male-stilts, Kaṇha suffers life, 3. Who is the World Honored One encouraged, Witnessed by the monks, With shaking toes, Vejayanta Castle! The bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus.Because You beat Male-stilts, Kaṇha suffered long life, 4. With toes shaking Vejayanta Castle? Full of divine power, the gods also panic. The bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you hit a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life! 5. Who asked the Sakka, At Vejayanta floor, Sage, Do you know, Enduring love for liberation? Sakka was sincere, Answering the question asked. The bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you beat Male-stilts, Kaṇha suffered life, 6. Who ever asked Brahma, At the assembly of Good Dharma, the sage still accepts, The old wrong views, Have you seen the glorious scene, the heavenly scene? Brahma was sincere, Continue to answer the question: Venerable, I do not accept, The old wrong views! I see the splendor, Brahma the heavenly realm! How can I now say, I am permanent now? The bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you hit a bhikkhu,Kaṇha suffers long life! 7. Who with the liberation, Emotions High mountain peak, East Forest Videha, And the person lying on the ground, Male-stilts disciple Buddha, Understanding so. Because you hit a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life. 8. Fire really doesn't think: "I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there.Who, with liberation, Emotions High in the mountains, East Forest of Videha, And who lies on the ground, Bhikkhu-stilts disciple of Buddha, Understanding thus. Because you beat a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life. 8. Fire really doesn't think: "I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there..Who with liberation, Emotions High in the mountains, Forest in East Videha, And who lies on the ground, Bhikkhu-stilts disciple of Buddha, Understanding thus. Because you hit a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life. 8. Fire really doesn't think: "I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there..And the one lying on the ground, the Bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you hit a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life. 8. Fire really doesn't think: "I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there..And the one lying on the ground, the Bhikkhu-stilts disciple of the Buddha, Understanding thus. Because you hit a bhikkhu, Kaṇha suffered a long life. 8. Fire really doesn't think: "I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there.."I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there."I burn the fool", The fool attacks the fire, Burns himself. In the same way, Evil One, you raid the Tathagata. Burning Yourself Like a fool touches fire, Evil creates evil karma, By harassing the Tathagata, Do you think, Evil, "Evil fruit does not come to me". Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there..Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there.Evil deeds done by the Evil One, Retained for a long time, Evil, avoid the Buddha, Don't expect the Bhikkhu-stilts! Male-stilts against Evil, In the forest of Bhesakāla, the Yaksha, disappointed, Disappeared there.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
KINH TRUNG BỘ
KINH HÀNG MA – Māratajjanīya Sutta
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahā Moggallāna trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nghĩ như sau: “Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Mahā Moggallāna tự chánh niệm. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma
—Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna lại nói với Ác ma như sau
—Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài” ”. Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahā Moggallānabước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma
—Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kālī. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.
Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.
Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. ”
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
“—Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.
Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Này Ác ma, rồi Māra Dusi suy nghĩ như sau: “Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”, Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
“—Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.
Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải”. Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: “Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: “Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.”
Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.
1. Ðịa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Ðịa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
2. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ Thọ,
3. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Ðược chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vejayanta!
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
4. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vejayanta?
Ðầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,!
5. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vejayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
6. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
Brahmà đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ!
7. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Ðông Videha,
Và người nằm trên đất,
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ.
8. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.
Tự mình đốt cháy mình
Như kẻ ngu chạm lửa,
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakāla,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2022.
Monday, June 20, 2022
Live alone. People who live alone are often hard to bear because they are so sad and lonely, but why is that, few people understand why. Let's listen to the Buddha's teaching: "Having the seven fetters and the five hindrances is not being able to live alone." Yes, people living alone often do not suffer from loneliness and sadness due to the five hindrances and seven fetters. The precepts include: 1- Greed fetish 2- Female grudge 3- Obsessed fetish 4- Female hindrance 5- Female sceptic hindrance SEVEN FITNESS includes: 1- Craving fetter 2- Hatred fetter 3 Festive fetter 4- Doubt fetish 5- Manic fetter 6- Belonging fetters 7- Ignorance fetters It is human beings who always suffer a lot because of the five hindrances and the seven fetters. If you want to be liberated like the Buddha and the Arahants, you must completely eliminate the five hindrances and the seven fetters. When we get rid of the five hindrances and the seven fetters, we will witness the Way. But want to eliminate it by what method? By dharma wisdom and according to wisdom, dharma wisdom is a thorough understanding of the true Buddha dharma with wisdom, while TRU TRI is the practice of leading the mind to the path (please study the book "Words of the Heart" again, it will If you clearly understand the Dharma of leading the mind, thanks to such a practice of leading the mind, the TERRITORY WORD and the FAILURE will be completely eradicated). On the path of practice, it is necessary to have perseverance, if you lack perseverance, there will never be liberation in practice, you should remember! and CRITICALITY is the practice of leading the mind to the path (please study the book "Words of the Heart" again, you will understand the method of leading the mind, thanks to such a practice of leading the mind, NGUYEN CAI and THAI KIET will be completely eliminated). On the path of practice, it is necessary to have perseverance, if you lack perseverance, there will never be liberation in practice, you should remember! and CRITICALITY is the practice of leading the mind to the path (please study the book "Words of the Heart" again, you will understand the method of leading the mind, thanks to such a practice of leading the mind, NGUYEN CAI and THAI KIET will be completely eliminated). On the path of practice, it is necessary to have perseverance, if you lack perseverance, there will never be liberation in practice, you should remember!END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/6/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Sống một mình.
Người ta sống một mình thường ít ai chịu nổi vì quá buồn bã cô đơn, nhưng tại sao như vậy thì ít ai hiểu nguyên nhân nào. Chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Bị thất kiết sử và ngũ triền cái là không sống một mình được”.
Đúng vậy, con người sống một mình thường không chịu nỗi cô đơn buồn bã là do ngũ triền cái và bảy kiết sử.
NGŨ TRIỀN CÁI gồm có:
1- Tham triền cái
2- Sân triền cái
3- Si triền cái
4- Mạn triền cái
5- Nghi triền cái
BẢY KIẾT SỬ gồm có:
1- Ái kiết sử
2- Sân kiết sử
3- Kiến kiết sử
4- Nghi kiết sử
5- Mạn kiết sử
6- Hữu tham kiết sử
7- Vô minh kiết sử
Chính con người luôn luôn chịu nhiều khổ đau là do ngũ triền cái và thất kiết sử. Muốn giải thoát như Phật và những bậc A La Hán thì đoạn trừ tận gốc ngũ triền cái và thất kiết sử. Khi đoạn trừ gốc ngũ triền cái và thất kiết sử thì chúng ta chứng đạo. Nhưng muốn đoạn trừ nó phải bằng phương pháp gì?
Bằng pháp trí và tùy trí, PHÁP TRÍ là sự hiểu biết thông suốt chánh Phật pháp bằng trí tuệ, còn TÙY TRÍ là pháp tu tập DẪN TÂM VÀO ĐẠO (xin quý vị nghiên cứu lại tập sách “Những Lời Tâm Huyết” thì sẽ rõ pháp dẫn tâm, nhờ có tu tập dẫn tâm như vậy thì NGŨ TRIỀN CÁI và THẤT KIẾT SỬ sẽ bị đoạn trừ tận gốc).
Trên bước đường tu tập cần phải có sự kiên gan bền chí, nếu thiếu sự kiên gan bền chí thì tu hành chẳng bao giờ có sự giải thoát, quý vị nên nhớ!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/6/2022.
Rahula's life in the Nikayas. INTRODUCTION During 49 years of teaching the Dharma to save birth, the Buddha converted all predestined people both at home and from home. Regardless of rich or poor, regardless of class, he said that there is no class in the same blood, tears and salt. The Buddha not only had ten famous disciples, he also had many. Among his disciples, there is a youngest person that we all know, which is the venerable Rahula. Even though he was born in a royal palace, full of love and care, he still gave up everything to follow the path of a senior sergeant. Not stopping there, the venerable was given the title of the first secret by the Buddha. In the Dhammapada there is a sentence: "the scent of fragrant flowers does not go against the wind, but the scent of a virtuous person goes against the wind" it is true that the scent of a virtuous person has passed through many years, centuries, time changes, space change, but that virtue remains forever. It is because of gratitude for the virtue of the author that the writer wants to present Rahula's life in the Nikaya canon to readers. Through this, helping Buddhist students see the noble virtue, diligent study, and famous patience of Rahula's first secret. From then on, we take that as a life motto to remind ourselves to advance in religious practice. Tag: Rahula, Buddha, Nikaya Canon, virtue, first secret life…. CONTENTS “Rahula is the son of Buddha and Princess Yasodhara”1. Rahula was born on the day his father decided to leave the palace, go forth to seek the truth. When I heard the news, Yasodhara is clean in February, which means that the crown prince is about to have a baby. On the day of receiving news of the prince's birth, Siddhattha exclaimed: "This bond of attachment, I must break it as soon as it is not bound to me." After that, Siddhattha returned to the palace and heard his cousin sing: "Happy is his young mother, Happy are his biological fathers, Happy are his friends, Have a handsome husband like him."4 Listen Having finished, Siddhattha thought that these words inspired him to become ordained and gave his cousin a necklace of pearls. That night Siddhattha crossed the monastic life to seek liberation. According to the Apadana commentary, Rahula is derived from the word Rahu, a deity who obstructs the moon, as well as the child who hinders the renunciation of the Bodhisattva5. Due to this condition, the prince was named Rahula. Rahula never met her father until she was seven years old, after attaining enlightenment, for the first time, The Buddha returned to visit the royal family at the request of King Suddhodana. Rahula's mother told Rahula to come and ask for the Buddha's inheritance. Boundless compassion, great love of the Buddha, Rahula will certainly feel the warmth of fatherly love. Yasodhara said to Rahula: "Hey Rahula, that's your father, go and ask him for an inheritance"6. Although, when Rahula was young, he did not know what to inherit, but still did as his mother told him to. At that time, Rahula went to the Blessed One and said: "O monk, your shadow is very peaceful"7. Rahula had never met his father, but he felt very close, friendly, with a contagious kindness that made Rahula feel cool and happy when he was near him. At that time, the Blessed One got up from his seat and left, Rahula followed closely behind the Blessed One and said: "O monk, give me an inheritance. Hey monk, give me an inheritance” 8. At that time, the Blessed One told the Venerable Sariputta to let Rahula go forth. Mr. Sariputta told the Buddha how should Rahula be ordained. The Buddha allowed novices to leave home by taking refuge in the three refuges. The first to shave off his hair and beard, put on casa-colored cloths, and put his upper robe on one shoulder, from there, Rahula became the first novice monk in the Sangha, the youngest member. For a long time, Rahula lived in the love of his mother and grandfather, now Rahula lives a monastic life following in the footsteps of Father Tu. Palace of gold, palace of jade, money, fame and fortune, secular people consider it to be an inheritance, but for those of good roots who have practiced in the world since many lifetimes, see this as a bondage, the cycle of birth and death. Therefore, the wishful mind of the Buddha or Yasodhara wants his children to inherit or continue on the path of liberation and enlightenment. Sadness repeated when King Suddhodana heard that his nephew, the only hope, also left home to follow the Buddha. Before that pain, King Suddhodana described the ultimate pain to the Buddha with similes to show his love for his son such as cutting into the skin, cutting into the inner skin, cutting into the flesh, it cuts into the tendons, cut into the bone, go to the marrow and stay there. The pain was so great that it penetrated to the bone marrow. King Suddhodana came to ask the Buddha not to let his son leave the home without his parents' permission. The Buddha gave a Dharma talk and then told the monks: "You should not let a son leave home without permission from his parents, anyone who allows him to leave home is guilty of dukkata"9. Therefore, today, anyone who wants to leave home must have the consent of their parents. Immediately after Rahula ordained, the Buddha taught the most basic things to a young novice novice. A day, The Buddha of Veluvana went to Rahula's place at Ambalatthika and taught Rahula about true conduct through the Ambala Forest Precepts Sutta. First of all, the Buddha used the parable of a basin of water to talk about the recluse's conduct of those who know to lie, who are not precious, like a little water left in a basin, like a little bit of water being spilled, like a basin of water being spilled. upside down, like an empty basin of water. Next, the Buddha likened a person who knows a lie, who has no noble qualities, to an elephant of a king who fights in battle but does not know how to protect his trunk, gives up his life, and does not do any evil deeds. The Buddha taught Rahula not to lie under any circumstances, even if he said it for fun. “Therefore, Rahula, I am determined not to lie, even if I speak for fun, Rahula, you must study like this”10. We often joke for fun, but it is these jokes that will gradually become bad habits, From habit becomes karma. The Buddha with profound wisdom wanted to give this sermon when Rahula was newly ordained to prevent possible mistakes. Rahula, the smallest member of the sangha, the most dishonest precept can be broken. But the Buddha did not have to say this sutra because Rahula lied, the Buddha just wanted to prevent the gonorrhea that may occur later. Therefore, the Buddha took close examples to teach Rahula to prevent lying, to know its harm, to avoid making mistakes. After the examples of the water bowl and the king's elephant, the Buddha asked Rahula what he thought of the mirror's purpose, to which Rahula replied reflectively. The Buddha taught Rahula after reflecting many times to practice bodily karma, verbal karma, and mental karma. The Buddha taught Rahula that no matter what he wanted to do, he had to think carefully whether this action is harmful to himself or to others, or harmful to both. Unwholesome actions bring affliction and suffering. Such actions should be avoided, not done. The Buddha thoroughly taught Rahula about the regulation of body, speech, mind, whatever you do requires awareness. All actions must be considered before doing, benefiting themselves and others. Good deeds, will bring joy, happiness and should be done. "Such a verbal kamma, Rahula, you need to speak up, you need to get enlightened, you need to present it before the teacher, or before the wise companions of the holy life"11. Here, the Buddha taught Rahula how to confess when he made a mistake, to speak out about the mistakes he made in front of a guru or good knowledge. The Buddha not only advises what can be done, but also shows how to do when you do something wrong. Committing a crime without knowing how to repent, the more sin overlaps, the more wrong it becomes. Therefore, there is a need for a teacher, a spiritual companion to guide. The path to enlightenment is not only achieved in a day or two, we need to practice every gesture and action from body, speech, and mind. The teachings, though simple, brought great results for Rahula on the first step of the way. Not stopping there, the Buddha also wanted to teach Rahula many things so that he could progress on the path of enlightenment and liberation. Through the above suttas, we see that Rahula was not often with the Buddha, every time the Buddha wanted to meet, he went to find Rahula himself. Rahula was very eager to learn from the Buddha and his teachers. Rahula used to get up very early in the morning and take a handful of sand in his hand and make a wish: "May I receive more teachings from the Blessed One or from the Elder Sariputta today"12. Come here, We see that Rahula is very inquisitive, diligent, independent, and quietly practices. Rahula's eagerness to learn is also mentioned in Jataka No. 16 of the Forerunner Tipallatthamiga (The story of the deer with three gestures). The Buddha preached at the Badarika monastery in Kosambi. After the sermon, the male layman and the young monk lay in the lecture room while they slept, some of them snoring, and this inappropriate event reached the Buddha's ears. At that time, he taught that any bhikkhu who slept with someone who had not received the great precepts was guilty of a Pacittiya. Previously, Rahula's eagerness to learn the precepts was always shared with the bhikkhus. But since the day the Buddha restricted the precepts, the monks were afraid of breaking them, so no one allowed Rahula to live with them. At that time, Rahula quietly went to find a place to sleep, without complaining. "The sage Rahula did not go to the Blessed One as his father, Nor did he go to Sariputra as his Dharma general and teacher, nor did he go to the great Moggallana who was his chief teacher, but went into the Blessed One's bathroom, as if entering Brahma's palace and stayed there”13. Through this, we can clearly see Rahula's quiet, humble, gentle, cheerful nature. Originally a prince, grew up on silk, in deep love, now silently cultivate alone, without a place to sleep, but Rahula still has no complaints, not a single word of complaint. breathing, not demanding but very gentle, strictly observing the precepts, yielding in all circumstances. “Dear sages, see how Rahula studies. When asked about his whereabouts, Rahula did not say: "I am the son of the Blessed One, and he does not oppose a single bhikkhu"14. The youngest age in the Sangha, but Rahula has the will to seek the Dharma, the patience is too strong in a small person. The Buddha, the eldest in the congregation, and his father, but Rahula did not have an action or thought to rely on or rely on. Before dawn, the Buddha stood in front of the bathroom door and cleared his throat. Rahula immediately cleared his throat, the Blessed One was surprised to see Rahula in there. The Buddha then asked Rahula why I was lying here. Rahula calmly replied, "Because I have no place to live, World Honored One, previously the monks let me stay, but now, out of fear of committing a crime, they don't give me a place to live, thinking that this is a place where no one will touch anyone. , so I lie here!”15. An answer that exudes a profound practice, without anger. The World-Honored One was moved by the righteous Dharma, and felt sorry for the young monastics. Therefore, he thought: "With Rahula the bhikkhus still throw away like this, Then, for the new young monastic classes, is there anything they can't do”16. Early in the morning, the Blessed One called a meeting of the bhikkhus and asked Sariputta if he knew where Rahula was staying. Sariputta told the Blessed One I do not know. The Buddha taught that if there is no care and concern for young monastics, no one will stay in the Dharma. After it happened, the Buddha made the unordained people to stay for a day or two with the ordained, until the third day for them to stay outside, after they knew where to stay. Rahula chose the toilet of the Blessed One because there were few passersby, out of respect for advice, because he wanted to study, so he stayed there. From time to time, when the monks saw Rahula coming from afar, for the sake of testing, they would throw outside the broom handle or some trash, and when Rahula arrived, they immediately asked Rahula who threw this garbage. A person without practice will be very angry when someone blames him, but Rahula has no excuses, no excuses. Silently clean up that trash, humbly apologize, only go after being forgiven. The story has highlighted Rahula's virtue of humility, politeness, patience.... Another time there was no such place to sleep, Rahula slept in front of the Buddha's incense room. When Mara saw this, he transformed into a huge king elephant, wrapped Rahula's head with his trunk and roared loudly, but Rahula was not afraid. At that time, the Buddha knew and said to Mara: "O Mara! Even hundreds of thousands of people like you cannot make the Tathagata shake. Because the Tathagata has cut off craving, has ardent diligence, has much wisdom, so he no longer trembles.”17. Meanwhile, Dong Niem's Holy Disciple says that: “Rahula is young, so she is not mature, often lies and is mischievous”18. The details in this book are unsourced, unfounded, and detract from Rahula's noble character. After the Buddha instituted the precepts, the bhikkhus professed praise for Rahula's conduct. At that time, the World-Honored One said that not only now did Rahula earnestly study, before, when he was a living being, Rahula was also eager to learn. The Blessed One told the story of Tipallatthamiga's predecessor, when Rahula was still a baby deer. The bodhisattva was born as a deer, and the sister brought her son to ask the bodhisattva to teach her the wisdom of deer. Deer is very diligent in studying, not forgetting his words to always come on time to study. One day, when the baby deer was trapped, the mother deer was afraid to meet the deer and asked if her son had learned all wisdom. He replied that: “It has learned the wisdom of deer. Deer with three gestures With much wisdom, Knows how to use eight hooves, Knows how to drink water at midnight, With only one ear, Breathes to the rhythm of the earth, With six wisdoms, My grandson wins over enemies”19. In Jataka No. 319 The Partridge Story also tells us more about Rahula's diligence, prudence, and patience. The hunter uses this partridge to lure other birds. At that time, the dog thought to himself: "Because of me, my fellow human beings have to die. For me, this is an act of cruelty.”20. From then on, it just kept quiet and didn't cry anymore, the partridge thought it had no bad intentions, but it still regretted what it did. Seeing this, the bird asked the Bodhisatta about his questions. The bodhisattva replied, "If sin doesn't hide in your heart, it's not a sin in your actions, whoever is passive on his part, free from many sins become free”21. Thanks to the bodhisattva's advice, the partridge no longer felt guilt or remorse. The partridge in this story is Rahula, the Bodhisattva is the Buddha. Through this story, we learn that Rahula was diligent in studying and thinking of others, and had a predestined relationship with the Buddha for countless kalpas. In addition to the virtues of patience and diligence in learning, Rahula is very filial. In Jataka No. 281 The Story of the Main Mango 22, after Yasodhara left home, Rahula often visited his mother. Once, Rahula visited but could not see her mother, because her mother was bloated, so she lay inside. Rahula immediately went in to visit her mother to ask what she needed to get well. To cure her illness, she needed to use mango juice. At that time, Rahula came and told Sariputta about the matter. Venerable Sariputta led Rahula into the palace of King Kosala begging for mango juice to bring back to his mother. King Pasenadi made an offering not only once, but also daily until she recovered from her illness. Rahula always fulfills her duties as a son, visiting and taking care of her mother when she is sick. Not only in this life, but in previous lives when he was a living being, Rahula was filial. In Jataka No. 486 The Story of the Falcon, Rahula also made a baby turtle. When knowing that the father turtle was asked by the falcon lord to save the baby falcons in trouble, the baby turtle asked to go instead of the father to relieve his fatigue. The young turtle said: "Please take care of me, dear father, Your father's work will be received, I will serve you best, I will go and save the bird's nest"23. When Rahula was 18 years old, the Buddha gave Rahula a sermon to get rid of attachment and develop the inner mind, this is mentioned in the Great Sutta of Rahula. The Buddha taught Rahula that form, feeling, perception, mental formations, and consciousness must be observed as they really are with wisdom itself. this is not me, this is not mine, this is not my self. When he heard that the Buddha was going for alms and came back and sat down on a tree, cross-legged, with his back straight, Rahula dwelt in front of him. Venerable Sariputta saw Rahula sitting peacefully like that, he immediately told Rahula to practice the practice of entering and leaving immediately, practicing mindfulness of breathing in and out, making it full, achieving great results, and benefiting. great benefit. When he heard Sariputta's teaching, Rahula got up from his meditation, went to the place where the Blessed One was, bowed down, and then sat down to one side: "World-Honored One, how is mindfulness of breathing in and out of breath practiced? Make it full, how to get great results, get great benefits”24. The Buddha taught Rahula all the earth element, water element, fire element, wind element, space element to observe as it really is with wisdom itself, this is not me, mine or my self, must be dispassionate, give up on all of that. Rahula was disenchanted, gave up, found it to be true due to the convergence of predestined conditions. The Buddha taught Rahula to practice like earth, water, fire, wind, like space, practice compassion, joy, equanimity, impurity, impermanence, practice mindfulness of breathing in and out. A thorough and orderly practice, allowing Rahula to progress quickly. The Buddha advised Rahula to practice the conduct of the earth: "People throw away pure things, throw away unclean things, throw away unclean feces, throw away urine, spit out saliva, throw out pus, and throw away blood, yet the earth does not worry, does not waver. , or not boring”25. Similarly, the Buddha taught Rahula to practice the conduct of water, for example, when water is poured out, it is not pure, it washes away feces and urine, but the water does not worry, does not waver, does not become bored. Fire burns pure things, neither pure nor anxious, boring, unwavering. The wind blows the pure things, neither pure nor anxious, bored or wavering. If you practice loving-kindness, you will get rid of whatever belongs to anger, if you practice compassion, whatever is harmful to your mind will be eradicated, if you practice joy, whatever is unpleasant will be eradicated, and if you practice equanimity, The harmfulness of the mind will be eliminated, the practice of impurity that belongs to craving will be eradicated, the practice of impermanence and that of conceit will be eliminated. All the teachings that the Buddha taught Rahula to come here is a treasure trove of Dharma. A path of practice runs through from low to high, from simple to profound. The Buddha taught about true morality, honesty. Then, the Buddha taught Rahula to see that all things are caused by conditions, so one should not cling to things that are not real. He again taught Rahula the virtue of patience in practicing the conduct of earth, water, fire, wind, space to be able to accommodate everything to help Rahula see the impure body, the suffering of the world, the impermanent mind, and the non-self. The Buddha taught Rahula to practice mindfulness of the in-breath, the out-breath to make it full, when the final in-breaths and out-breaths cease, and the realization is realized, not unenlightened. When Rahula was twenty years old, the fourteenth year after the Buddha's enlightenment, Rahula was fully ordained and officially became a bhikkhu in the Sangha. “The fourteenth year is spent at Savatthi, and there Rahula receives the upasampada ordination”26. Rahula, with his eagerness to learn the precepts, like to be close to good and knowledgeable people along with his quiet patience, Rahula soon attained enlightenment. The Blessed One was at Savatthi, and Jetavana at Anathapindika's vihara thought, "Having matured, the dharmas leading to liberation are ripe for Rahula, so let us teach Rahula the final teachings leading to the cessation of defilements”27. Having aroused such thoughts, the Buddha taught Rahula about the impermanence of the body of the four elements, the fetters caused by attachment to that body. The Buddha wanted to teach Rahula that everything in this world is governed by impermanence, nothing lasts forever. After the Blessed One preached thus, Rahula happily accepted the Blessed One's words. "While this teaching was being said, Rahula's mind was liberated from defilements, free from attachment"28. Thanks to that diligence, Rahula attained Arahantship at a very young age. In the Presbyterian Sangha, Rahula reflects on his victory, the venerable said righteously: “294. Thanks to me being full of Two good qualities, Being called "Lucky Rahula" by wise friends, I am the Buddha's son, I have the Dharma eye again. 295. I am the Arhat, Worthy of offerings. The three intelligences we achieve, See the immortal world. 296. Blinded by desire, Covered by a net, Thirst as a veil, Covered and covered by distraction, Like a fish caught in a net. 297. We overcame that sex, Cut off the bondage of ghosts, Uprooted the root of thirst, I was cool and quiet”29. Rahula feels happy, fortunate to be a child of the Buddha and to gain the dharma eye. Rahula deserves that title. The gonorrhea or Rahula has ended, no longer rebirth and results Arhat. In the Anguttara Nikāya, the Buddha said: "Among my bhikkhu disciples, Rahula's supreme love of learning is Rahula"30. His love of learning the precepts, his love of having as many teachers as sand in his hand, and the patience to endure all adversities, caused the disciples of the Buddha to call Rahula the first secret practice. The Buddha taught Rahula according to the order of classes that helped Rahula soon attain enlightenment. Rahula's year of Nirvana is not recorded in the Sutras. However, according to the Dictionary of Pali Proper Names31, Rahula entered Nirvana before the Buddha, before Sariputta, where he entered nirvana in the 33rd heaven of Tavatimsa. In the Lotus Sutra, the Buddha said that Rahula's secret life was known only to the Buddha and he prophesied to Rahula: "You will be the Buddha in the next life: Dao Seven Treasures"32. CONCLUSION Through this article, we learn a lot from the virtue of the venerable Rahula. Tolerating what is difficult to endure, diligently seeking to learn from the elders, walking on your own two feet without depending or relying on anyone. As the Buddha said, light your own torch. Young monastics should be close to the elders to advance in their cultivation. First, become a good-doer of a good life, then attain liberation and enlightenment right in the present. To achieve that result, we need to make efforts to correct our body and mind, and to cultivate virtue. Not only learning in theory but also having to apply it in practice. If we just talk, the path to liberation and enlightenment is difficult to achieve.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/6/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Sunday, June 19, 2022
Cuộc đời Rahula trong kinh tạng Nikaya.
DẪN NHẬP
Trong suốt 49 năm thuyết pháp độ sinh, đức Phật đã hoá độ tất cả những người hữu duyên cả tại gia và xuất gia. Không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp, ngài đã nói không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Đức Phật không chỉ có mười người đệ tử nổi tiếng đệ nhất còn rất nhiều người. Trong số đệ tử của ngài, có một người nhỏ tuổi nhất mà ai trong chúng ta đều biết đến đó chính là tôn giả Rahula. Dù được sinh ra trong hoàng cung, đầy đủ tình yêu thương chăm sóc, vậy nhưng ngài vẫn từ bỏ tất cả để đi theo con đường xuất trần thượng sĩ.
Không dừng lại ở đó, tôn giả được đức Phật ban cho danh hiệu mật hạnh đệ nhất. Trong kinh Pháp Cú có câu: “hương các loài hoa thơm không ngược bay chiều gió nhưng hương người đức hạnh ngược gió khắp tung bay” đúng thật vậy hương của người đức hạnh dù có trải qua bao tháng năm, bao thể kỉ, thời gian có thay đổi, không gian có đổi thay nhưng đức hạnh đó vẫn lưu truyền mãi. Chính vì cảm kích trước đức hạnh của tôn giả nên người viết muốn trình bày cuộc đời Rahula trong kinh tạng Nikaya đến quý đọc giả. Qua đây, giúp người học Phật thấy được phạm hạnh cao quý, siêng năng học hỏi, đức tính kham nhẫn nổi danh mật hạnh đệ nhất của Rahula. Từ đó, chúng ta lấy đó làm phương châm sống nhắc nhở bản thân để tiến tu đạo nghiệp.
Tag: Rahula, đức Phật, kinh tạng Nikaya, đức hạnh, mật hạnh đệ nhất….
NỘI DUNG
“Rahula là con đức Phật và công chúa Yasodhara”1. Rahula được sinh ngay ngày cha ngài quyết định từ bỏ hoàng cung, xuất gia tìm cầu chân lý. Khi hay tin, Yasodhara sạch mình trong tháng2, điều này đồng nghĩa rằng thái tử sắp có con. Vào ngày nhận được tin hoàng tử ra đời, Siddhattha thốt lên rằng: “Sợi dây luyến ái này, Ta phải cắt đứt nó ngay khi nó chưa ràng buộc được Ta”3. Sau đó, Siddhattha trở về hoàng cung và nghe cô em họ hát:
“Hạnh phúc thay mẹ chàng tuổi trẻ,
Hạnh phúc thay cha đẻ chàng ta,
Hạnh phúc thay bạn quần thoa,
Có chồng anh tuấn hào hoa như chàng”4
Nghe xong, Siddhattha nghĩ rằng những lời này thôi thúc ngài xuất gia và gửi tặng cô em họ chuỗi ngọc. Đêm hôm đó Siddhattha đã vượt thành xuất gia tìm đạo giải thoát.
Theo chú giải Apadana, Rahula có nguồn gốc từ chữ Rahu, một vị thần cản trở mặt trăng, cũng như đứa trẻ cản trở sự từ bỏ của Bồ tát5. Do nhân duyên này mà hoàng tử được đặt tên là Rahula.
Rahula chưa từng gặp cha cho đến năm bảy tuổi, sau khi thành đạo, lần đầu tiên, đức Phật đã trở về thăm hoàng gia theo lời thỉnh cầu của vua Suddhodana. Mẹ của Rahula bảo Rahula đến xin đức Phật phần thừa kế. Lòng từ bi vô bờ, tình thương cao cả của đức Phật chắc chắn Rahula sẽ cảm nhận được sự ấm áp của tình phụ tử. Yasodhara đã nói với Rahula rằng: “Này Rahula, kia là cha của con hãy đi và cầu xin người ấy phần thừa kế”6. Mặc dù, Rahula còn nhỏ không biết thừa kế cái gì nhưng vẫn làm theo lời mẹ bảo. Khi ấy, Rahula đi đến gặp đức Thế Tôn và nói rằng: “Này vị Sa môn, bóng che của ngài thật an lạc”7. Rahula chưa một lần gặp cha nhưng lại cảm thấy rất gần gũi, thân thiện, với đức từ lan toả khiến Rahula cảm thấy được an vui mát mẻ khi ở gần ngài. Lúc ấy, Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, Rahula đã theo sát sau của đức Thế Tôn và nói rằng: “Này vị Sa môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa môn, hãy ban cho con phần thừa kế”8. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Sariputta cho Rahula xuất gia. Ngài Sariputta bạch đức Phật nên cho Rahula xuất gia như thế nào. Đức Phật cho phép sa di xuất gia bằng ba sự nương nhờ tam quy. Việc đầu tiên cạo bỏ râu tóc, cho choàng lên các tấm vải màu ca sa, cho đắp thượng y một bên vai, từ đây, Rahula trở thành sa di đầu tiên trong tăng đoàn thành viên nhỏ tuổi nhất. Bấy lâu, Rahula sống trong tình yêu thương của mẹ và ông nội, nay Rahula sống đời xuất gia theo dấu chân của đức Từ Phụ. Cung vàng điện ngọc, tiền tài danh vọng, người thế tục cho đó là gia tài, nhưng đối với những bậc thiện căn xuất trần tu hành từ nhiều kiếp xem đây sợi dây ràng buộc, trầm luân sinh tử. Do đó, tâm tư ước muốn của đức Phật hay Yasodhara muốn con mình thừa hưởng hay tiếp bước trên con đường giải thoát giác ngộ.
Nỗi buồn lặp lại khi vua Suddhodana hay tin người cháu, niềm hy vọng duy nhất cũng xuất gia theo Phật. Trước nỗi đau ấy, vua Suddhodana diễn tả nỗi đau tận cùng với đức Phật bằng những lối ví von để thể hiện lòng yêu thương người con trai như cắt vào da, cắt vào lớp da trong, cắt vào thịt, nó cắt vào gân, cắt vào xương, đến tuỷ rồi trú ở đó. Nỗi đau ấy quá lớn thấm vào đến tận xương tuỷ. Vua Suddhodana đến thỉnh cầu đức Phật không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia. Đức Phật nói pháp thoại rồi bảo các tỳ kheo: “Không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia, vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkata”9. Vì thế, ngày nay, ai muốn xuất gia đều phải có sự đồng thuận của cha mẹ.
Ngay sau khi Rahula xuất gia, đức Phật dạy những điều cơ bản nhất cho một vị sa di trẻ tuổi. Một ngày, đức Phật ở Veluvana đến chỗ Rahula ở tại Ambalatthika và dạy cho Rahula về hạnh chân thật qua Kinh Giáo Giới La Hầu La ở rừng Ambala. Trước hết, đức Phật dùng ví dụ thau nước để nói về sa môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý như một ít nước còn lại trong chậu, như chút nước ấy bị đổ đi, như chậu nước bị lật úp, như cái chậu nước trống không. Kế đó, đức Phật ví người biết mà nói láo, không có tàm quý như con voi của vua đánh trận mà không biết bảo vệ cái vòi, bỏ mạng sống của mình, không có việc ác gì mà không làm. Đức Phật dạy Rahula không được nói láo trong bất cứ hoàn cảnh nào dù nói để đùa chơi. “Do vậy, này Rahula Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi, này Rahula, ông phải học tập như vậy”10. Chúng ta thường hay nói đùa để cho vui, nhưng chính những cái nói đùa cho vui này dần dần sẽ thành thói quen xấu, từ thói quen sẽ thành nghiệp. Đức Phật với trí tuệ thâm sâu ngài muốn nói bài pháp này khi Rahula mới xuất gia để ngăn ngừa những lỗi lầm có thể xảy ra. Rahula một thành viên nhỏ nhất trong tăng đoàn, giới không trung thực có thể dễ phạm nhất. Nhưng đức Phật không phải nói kinh này vì Rahula nói dối, đức Phật chỉ muốn ngăn trừ những lậu hoặc có thể xảy ra sau này. Do vậy, đức Phật đã lấy những ví dụ gần gũi để dạy Rahula ngăn ngừa việc nói dối, biết tai hại của nó tránh sai phạm.
Sau những ví dụ về chậu nước và con voi của vua, đức Phật hỏi Rahula nghĩ như thế nào về mục đích của cái gương, Rahula trả lời để phản tỉnh. Đức Phật dạy Rahula sau khi phản tỉnh nhiều lần hãy hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Đức Phật dạy Rahula bất luận điều gì muốn làm cần phải suy ngẫm tận tường hành động này có hại cho ta hay có hại cho kẻ khác, hoặc có hại cho cả hai. Hành động bất thiện nghiệp đem lại phiền não và khổ đau. Hành động như vậy nên tránh, không nên làm. Đức Phật đã tường tận dạy cho Rahula về sự điều chỉnh thân, khẩu, ý, bất cứ làm điều gì đều cần sự tỉnh thức. Mọi hành động đều phải cân nhắc trước khi làm, lợi mình lợi người. Hành động thiện, sẽ đem lại an vui, hạnh phúc và nên làm. “Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ ngộ, cần phải trình bày trước vị Ðạo sư, hay trước các bậc đồng phạm hạnh có trí”11. Ở đây, đức Phật dạy cho Rahula cách phát lồ sám hối khi lỡ phạm lỗi, cần phải nói ra những lỗi lầm đã tạo đối trước một vị đạo sư hay thiện tri thức. Đức Phật không chỉ khuyên răn những điều có thể phạm còn chỉ ra cách khi lỡ phạm thì cần làm gì. Phạm tội mà không biết sám hối, tội càng chồng lên tội, sai lại càng sai, nên cần có một vị thầy, một bậc đồng phạm hạnh chỉ dẫn. Con đường dẫn đến giác ngộ không phải chỉ ngày một ngày hai mà đạt được, chúng ta cần rèn luyện từng cử chỉ hành động từ thân khẩu ý. Những lời dạy bảo tuy đơn giản nhưng lại đem lại kết quả lớn cho Rahula trên bước đầu vào đạo. Không dừng lại ở đó, đức Phật còn muốn dạy cho Rahula rất nhiều điều để có thể tiến tu trên con đường giác ngộ giải thoát.
Qua những bài kinh trên, chúng ta thấy Rahula không thường xuyên ở cùng đức Phật, mỗi lần đức Phật muốn gặp đều tự đi tìm Rahula. Rahula rất mong muốn được sự dạy dỗ từ đức Phật và các vị thầy của mình. Rahula thường dậy thật sớm vào buổi sáng rồi bốc một nắm cát trong tay và ước nguyện: “Nguyện rằng ngày hôm nay ta sẽ nhận được lời giáo huấn của Đức Thế Tôn hoặc từ trưởng lão Sariputta nhiều hơn số cát này”12. Qua đây, chúng ta thấy Rahula rất ham học hỏi, siêng năng, tự lập, thầm lặng tu tập.
Sự ham học hỏi của Rahula còn được nhắc đến trong Jataka số 16 chuyện Tiền thân Tipallatthamiga (Chuyện con nai có ba cử chỉ). Đức Phật giảng pháp tại tinh xá Badarika ở Kosambi. Sau buổi thuyết pháp, nam cư sĩ cùng tu sĩ trẻ nằm tại phòng giảng khi họ ngủ một số nằm ngáy, sự kiện không thích đáng ấy đến tai đức Thế Tôn. Lúc ấy, ngài đã dạy tỳ kheo nào nằm ngủ với người chưa thọ đại giới là phạm tội Pacittiya. Trước đây, tinh thần ham học các học giới của Rahula luôn được ở chung với các thầy tỳ kheo. Nhưng từ hôm đức Phật chế học giới các thầy tỳ kheo vì sợ vi phạm nên không ai cho Rahula ở chung. Lúc ấy, Rahula lặng lẽ đi tìm chỗ ngủ, không than phiền trách móc. “Hiền giả Rahula không đi đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến Xá Lợi Phất là vị tướng quân chính pháp và là giáo thọ sư của mình, cũng không đi đến đại Mục Kiền Liên là bậc sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở đấy”13. Qua đây, chúng ta có thể thấy rõ bản tính thầm lặng, khiêm nhường, hoà nhã, vui vẻ của Rahula. Bản thân vốn là một vương tử, lớn lên trên nhung lụa, trong tình thương yêu sâu sắc, bây giờ một mình thầm lặng tu hành, một chỗ ngủ cũng không có, nhưng Rahula vẫn không một lời oán trách, không một lời than thở, không đòi hỏi mà lại rất hiền hoà, nghiêm trì giới luật, nhường nhịn trong mọi hoàn cảnh. “Thưa các hiền giả, hãy xem La Hầu La học tập như thế nào. Khi được hỏi chỗ ở của mình, La Hầu La không nói: “Ta là con đức Thế Tôn, La Hầu La không chống đối một tỳ kheo nào”14. Tuổi nhỏ nhất trong Tăng đoàn, nhưng Rahula có ý chí cầu đạo pháp, tính kham nhẫn quá mạnh mẽ trong một con người nhỏ bé. Đức Phật, vị lớn nhất trong giáo đoàn và cha của mình nhưng Rahula không hề có một hành động, ý nghĩ ỷ lại hay nương nhờ. Trước lúc trời rạng đông, đức Phật đứng trước cửa phòng vệ sinh đằng hắng. Rahula liền đằng hắng lại, Thế Tôn rất ngạc nhiên khi thấy Rahula ở trong ấy. Đức Phật liền hỏi Rahula sao con lại nằm đây. Rahula từ tốn đáp rằng: “Vì không có chỗ ở, bạch Thế Tôn, trước đây các tỳ kheo cho con ở chung, nay vì sợ phạm tội, không cho con chỗ ở, vì nghĩ rằng đây là chỗ không va chạm một ai, nên con nằm ở đây!”15. Một câu trả lời toát ra một sự tu tập thâm sâu, không hề chứa niềm tức giận. Thế Tôn xúc động vì chính pháp, thương cho hàng xuất gia trẻ tuổi. Vì thế, ngài suy nghĩ rằng: “Với Rahula các tỳ kheo còn vất bỏ như vậy, thì đối với các lớp chúng trẻ mới xuất gia, có gì họ không làm được”16. Vào buổi sáng sớm, Thế Tôn cho họp các tỳ kheo và hỏi Sariputta có biết Rahula trú ở chỗ nào. Sariputta bạch với Thế Tôn con không biết. Đức Phật dạy nếu không có sự quan tâm, chăm sóc đối với người mới xuất gia trẻ tuổi thì trong giáo pháp sẽ không ai ở lại. Sau khi chuyện xảy ra, Đức Phật chế học giới cho người chưa thọ đại giới ở chung một hay hai ngày với người đã thọ đại giới đến ngày thứ ba cho họ ở ngoài, sau khi họ đã biết chỗ ở. Rahula chọn nhà vệ sinh của Đức Thế Tôn vì ở đây ít người qua lại, vì tôn trọng lời khuyên, vì muốn học tập nên trú chỗ ấy.
Thỉnh thoảng, các tỳ kheo thấy Rahula từ xa đi đến, vì mục đích thử thách, thường quăng bên ngoài cái cán chổi hay một ít rác, chờ khi Rahula đi đến, liền hỏi Rahula ai quăng đồ rác này. Một người nếu không có sự tu tập thì sẽ rất tức giận khi có ai đổ oan cho mình, nhưng Rahula không một lời giải oan, không một lời biện bạch. Âm thầm dọn rác ấy đi, khiêm tốn xin lỗi, sau khi được tha lỗi mới đi. Câu chuyện đã làm nổi bật phạm hạnh khiêm cung, lễ phép, nhẫn nhục… của Rahula.
Một lần khác cũng không có chỗ ngủ như vậy, Rahula ngủ trước hương thất của đức Thế Tôn. Ma vương thấy vậy liền hoá thân thành một con voi chúa to lớn, dùng vòi quấn đầu Rahula và rống lên tiếng kêu vang nhưng Rahula không sợ. Khi ấy, Đức Phật biết được và đã nói với ma vương: “Này Ma vương! Cho dù cả trăm ngàn người như ngươi cũng không làm cho con Như Lai rúng động được. Vì con Như Lai đã cắt lìa ái dục rồi, có nhiệt tâm tinh cần, có nhiều trí tuệ nên không còn run rợ nữa”17.
Trong khi đó, tác phẩm Thánh Đệ Tử của tác giả Đồng Niệm lại cho rằng: “Rahula còn nhỏ nên tính chưa được chững chạc, thường hay nói láo và tinh nghịch”18. Các chi tiết trong cuốn sách này không có nguồn gốc, không có căn cứ đã làm mất đi phẩm hạnh cao quý của Rahula. Sau khi đức Phật chế học giới, các tỳ kheo hết mực xưng tán hạnh của Rahula. Lúc ấy, đức Thế Tôn liền nói không phải chỉ nay Rahula mới tha thiết học tập, trước kia khi làm bàng sinh, Rahula cũng đã tha thiết học tập rồi. Thế Tôn kể Chuyện tiền thân Tipallatthamiga, khi đó Rahula còn làm nai con. Bồ tát sinh làm một con nai, nai chị đem con mình đến nhờ Bồ tát dạy cho nai cháu về sự khôn ngoan của loài nai. Nai cháu rất chăm chỉ học tập, không quên lời cậu luôn đến đúng giờ để học. Một hôm, nai cháu bị sập bẫy, nai mẹ lo sợ liền gặp nai cậu hỏi xem con của mình đã học hết sự khôn ngoan chưa. Nai cậu trả lời rằng: “Nó đã khéo học được sự khôn ngoan của loài nai.
Nai với ba cử chỉ
Với nhiều sự khôn ngoan,
Biết dùng chân tám móng,
Biết nửa đêm uống nước,
Chỉ với một lỗ tai,
Thở theo nhịp độ đất,
Với sáu sự khôn ngoan,
Cháu tôi thắng người thù”19.
Trong Jataka số 319 Chuyện chim đa đa cũng cho chúng ta biết thêm về đức tính tinh cần, cẩn trọng, nhẫn nhục của Rahula. Người thợ săn dùng con đa đa này để nhử các con chim khác. Lúc ấy, con đa đa tự nghĩ: “Do ta mà đồng loại phải lâm vào cái chết. Về phần ta đây là một hành vi ác độc”20. Từ đó, nó cứ lặng im không kêu nữa, chim đa đa nghĩ rằng nó không hề có ý định xấu, nhưng nó vẫn ân hận về những gì mình làm. Con chim thấy vậy liền hỏi vị Bồ-tát về những thắc mắc của mình. Bồ-tát trả lời rằng: “Nếu tội không ẩn trì lòng bạn, thì hành vi chẳng phải tội tình, kẻ nào thụ động phần mình, thoát bao tội lỗi trở thành thong dong”21. Nhờ lời khuyên của vị Bồ-tát, con chim đa đa không còn cảm thấy ray rứt hay ân hận nữa. Chim đa đa trong câu chuyện này chính là Rahula, Bồ tát là đức Phật. Qua câu chuyện này, chúng ta biết được rằng Rahula siêng năng học hỏi và luôn nghĩ đến người khác, có nhân duyên với Đức Phật trong vô lượng kiếp.
Ngoài đức tính kham nhẫn, siêng năng học hỏi, Rahula rất có hiếu. Trong Jataka số 281 Chuyện trái xoài chính trung22, sau khi Yasodhara xuất gia, Rahula thường xuyên đến thăm mẹ. Một lần, Rahula đến thăm nhưng không gặp được mẹ, do mẹ bị sình bụng nên nằm bên trong. Rahula liền vào trong thăm hỏi mẹ cần gì mới khỏi bệnh. Để khỏi bệnh bà cần dùng nước ép xoài. Lúc ấy, Rahula đến thưa với thầy Sariputta về sự tình đó. Tôn giả Sariputta dẫn Rahula vào cung vua Kosala khất thực nướp ép xoài đem về cho mẹ. Vua Pasenadi không chỉ cúng dường một lần mà còn cúng hàng ngày cho đến lúc bà hết bệnh. Rahula luôn làm tròn bổn phận của người con, thăm hỏi, chăm sóc mẹ lúc ốm đau.
Không chỉ kiếp này, trong những kiếp trước khi còn làm bàng sinh, Rahula đã có hiếu. Trong Jataka số 486 Chuyện chúa chim ưng, Rahula còn làm một con rùa con. Khi biết rùa cha được chúa chim ưng xin đi cứu những chim ưng con đang gặp nạn, rùa con đã xin để đi thay cho rùa cha đỡ mệt. Rùa con nói:
“Xin cha an dưỡng, hỡi cha thân,
Việc của cha con sẽ lãnh phần,
Con phụng sự cha là tốt nhất,
Con đi cứu cả tổ chim bằng”23.
Khi Rahula 18 tuổi, đức Phật đã dạy cho Rahula bài pháp để đoạn trừ tham đắm phát triển nội tâm, điều này được nhắc đến trong Đại kinh giáo giới La Hầu La. Đức Phật dạy Rahula về sắc, thọ, tưởng, hành, thức phải được quán sát như thật với chính trí tuệ, cái này không phải ta, cái này không phải của ta, cái này không phải tự ngã của ta. Khi nghe đức Phật đi khất thực mà trở lại ngồi xuống một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, Rahula an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sariputta thấy Rahula đang ngồi an trú như vậy, ngài liền nói với Rahula hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn. Khi nghe Sariputta dạy, Rahula từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên: “Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào? Làm cho sung mãn, như thế nào là được quả lớn, được lợi ích lớn”24. Đức Phật dạy Rahula tất cả địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong giới, hư không giới phải quán sát như thật với chính trí tuệ cái này không phải ta, của ta hay tự ngã của ta, phải yếm ly, từ bỏ với tất cả những thứ đó. Rahula đã yếm ly, từ bỏ, thấy như thật do nhân duyên hội tụ mà thành.
Đức Phật dạy Rahula hãy tu tập như đất, nước, lửa, gió, như hư không, tu tập về lòng từ bi, hỷ, xả, bất tịnh, vô thường, tu tập về niệm hơi thở vô hơi thở ra. Một quá trình tu tập xuyên suốt và có thứ tự, giúp cho Rahula có thể tiến bộ một cách nhanh chóng. Đức Phật khuyên Rahula tu tập hạnh của đất: “Người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu, tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán”25. Tương tự như thế, đức Phật dạy Rahula tu tập hạnh của nước, ví như nước người ta đổ đồ tịnh, không tịnh, rửa sạch phân uế, nước tiểu nhưng nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán. Lửa đốt các đồ tịnh, không tịnh cũng không lo âu, nhàm chán, không dao động. Gió thổi các đồ tịnh, không tịnh cũng không lo âu, nhàm chán hay dao động. Tu tập về lòng từ thì cái gì thuộc sân tâm sẽ được diệt trừ, tu tập lòng bi cái gì thuộc hại tâm sẽ được diệt trừ, tu tập về hỷ cái gì thuộc bất lạc sẽ được diệt trừ, tu tập về xả cái gì hại tâm sẽ được diệt trừ, tu tập về bất tịnh cái gì thuộc tham ái được diệt trừ, tu tập về vô thường cái gì thuộc ngã mạn được diệt trừ.
Tất cả những bài pháp mà đức Phật đã dạy cho Rahula đến đây là một kho tàng pháp bảo. Một lộ trình tu tập xuyên suốt từ thấp đến cao, từ đơn giản đến thâm sâu. Đức Phật đã dạy về đạo đức chân thật, lòng trung thực. Tiếp đó, đức Phật dạy cho Rahula thấy được vạn pháp do duyên hợp mà có, do vậy không nên chấp thủ, vướng mắc vào những thứ không thật. Ngài lại dạy Rahula đức tính kham nhẫn tu tập hạnh của đất, nước, lửa, gió, hư không để có thể dung chứa tất cả giúp cho Rahula thấy được thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Đức Phật dạy Rahula tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra làm cho sung mãn, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri. Năm Rahula hai mươi tuổi, năm thứ mười bốn sau khi đức Phật thành đạo, Rahula thọ giới cụ túc chính thức trở thành trở thành một vị tỳ kheo trong tăng đoàn. “The fourteenth year is spent at Savatthi, and there Rahula receives the upasampada ordination”26.
Rahula với tính ham học các học giới, thích thân cận các bậc thiện tri thức kèm theo sự thầm lặng kham nhẫn Rahula đã sớm chứng thành đạo quả. Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana tại tinh xá ông Anathapindika khởi niệm rằng: “Đã thuần thục là các pháp đưa đến giải thoát được chín muồi cho Rahula, vậy ta hãy giảng dạy cho Rahula những lời dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”27. Sau khi khởi niệm như vậy, đức Phật dạy cho Rahula về vô thường của thân tứ đại, những kiết sử do tâm chấp thủ đối với thân đó. Đức Phật muốn dạy cho Rahula biết được vạn vật trên thế gian này đều bị chi phối bởi vô thường, không có gì tồn tại mãi. Thế Tôn thuyết giảng như vậy xong Rahula hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. “Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của Rahula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”28. Nhờ sự tinh cần đó, Rahula chứng đắc A La Hán khi tuổi còn rất trẻ. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Rahula suy tư đến sự thắng trận của mình, tôn giả nói lên chính trí:
“294. Nhờ ta được đầy đủ
Hai đức tính tốt đẹp,
Được bạn có trí gọi
“Rahula may mắn,”
Ta là con Đức Phật,
Ta lại được pháp nhãn.
295. Ta là bậc La-hán,
Đáng được sự cúng dường.
Ba minh ta đạt được,
Thấy được giới bất tử.
296. Bị dục làm mù quáng,
Bị lưới tà bao trùm,
Khát ái làm màn che,
Bao trùm che phủ kín,
Do phóng dật trói buộc,
Như cá mắc mắt lưới.
297. Ta vượt qua dục ấy,
Cắt đứt ma trói buộc,
Nhổ lên gốc khát ái,
Ta mát lạnh tịch tịnh”29.
Rahula cảm thấy hạnh phúc, may mắn được làm con đức Phật và đạt được pháp nhãn. Rahula xứng đáng được nhận danh hiệu đó. Các lậu hoặc Rahula đã đoạn tận, không còn tái sinh và chứng quả A La Hán. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, đức Phật nói: “Trong các đệ tử tỳ kheo của ta, ưa thích học tập tối thắng là Rahula”30. Đức tính ưa thích học các học giới, luôn thích có nhiều bậc thầy dạy như cát trong tay, kham nhẫn chịu đựng tất cả các nghịch duyên, khiến cho hàng đệ tử Phật xưng danh Rahula là mật hạnh đệ nhất. Đức Phật đã dạy Rahula theo trình tự thứ lớp giúp cho Rahula sớm đạt được giải thoát giác ngộ.
Năm nhập Niết Bàn của Rahula không được ghi lại trong Kinh. Tuy nhiên, theo Dictionary of Pali Proper Names31 thì Rahula nhập Niết Bàn trước đức Phật, trước cả Sariputta, nơi nhập niết bàn ở tầng trời thứ 33 Tavatimsa. Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật đã nói mật hạnh của Rahula chỉ đức Phật mới biết và ngài đã thọ kí cho Rahula: “Ông ở đời sau sẽ đặng làm Phật hiệu: Đạo Thất Bửu Hoa”32.
KẾT LUẬN
Qua bài này, chúng ta học hỏi được rất nhiều từ đức hạnh của tôn giả Rahula. Nhẫn những gì khó nhẫn, siêng năng tham cầu học hỏi với các bậc trưởng thượng, tự mình bước trên đôi chân của mình không ỷ lại hay nương tựa một ai. Như lời đức Phật dạy hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Người xuất gia trẻ nên thân cận các bậc trưởng thượng để tiến tu đạo nghiệp. Trước tiên, trở thành một người làm tốt đời đẹp đạo, sau đạt được giải thoát giác ngộ ngay trong hiện tại. Để đạt được kết quả đó chúng ta cần nỗ lực sửa đổi thân tâm, trau dồi giới đức. Không chỉ học trên lý thuyết mà còn phải vận dụng vào thực hành. Nếu chúng ta chỉ nói suông, đạo lộ giải thoát giác ngộ khó mà đạt được.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/6/2022.
Subscribe to:
Comments (Atom)