Saturday, August 7, 2021

Ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy và xá tội vong nhân. Từ khi nào rằm tháng Bảy và lễ hội xá tội vong nhân đã đi vào tâm thức và văn hóa Việt nam? Chúng ta không biết chính xác niên đại và xuất xứ của lễ này cùng với câu chuyên của Mục Kiền Liên cứu mẹ trong ngàyTự Tứ – ngày chư Tăng mãn Hạ theo truyền thống Đạo Phật phát triển. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa của lễ hội và truyền thống này, chúng ta hãy đi sâu hơn vào Kinh điển Phật giáo và những tác phẩm văn chương nổi tiếng liên hệ đến niềm tin và văn hóa này. Phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho thân nhân đã quá vãng Đức Phật với tâm đại bi chiếu cái nhìn thanh tịnh vào nhân gian và thấy rằng các thân bằng quyến thuộc đã quá vãng thường đến nhà thân nhân. Vào thời Đức Phật còn tại thế, một hôm vua Bình sa vương (Bimbisara) nằm mộng thấy những chúng sinh đói khổ rách rưới đeo bám vào tường thành kêu khóc thảm thiết. Vốn là một người giàu lòng từ bi, vua rất xúc động và khi có cơ hội, đức vua đã hỏi Đức Phật về họ - những chúng sinh đau khổ xuất hiện trong giấc mơ của ông - là ai và phải làm gì để cho họ bớt khổ? Trong bối cảnh này, Đức Phật đã cho đức vua Bình Sa Vương biết các chúng sinh đó là những thân bằng, quyến thuộc của vua trong quá khứ xa xôi. Họ do vì kém duyên phước, khi sống chỉ biết tranh ghành hơn thua, ki bo tích trữ để sống qua ngày mà không biết làm phước, không được học đạo và không sống có đạo, không biết chia sẻ, không biết quan tâm đến tha nhân... nên sau khi thân hoại mạng chung ở cảnh giới con người, họ đã phải thọ sinh vào những khổ cảnh. Những chúng sinh xuất hiện trong giấc mơ của đức vua đã bị kẹt vào trong cảnh giới đó nhiều trăm năm, nhiều triệu năm, từ thời đức Phật Ca Diếp và cho đến nay, khi Đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế gian, họ mới có cơ hội được tạm thời xuất hiện. Cũng vì nhân duyên một thân bằng quyến thuộc trong quá khứ của họ nay là Đức vua Bình Sa Vương đã là người biết Đạo, đã vào dòng thánh và có khả năng làm phước hồi hướng công đức cho họ, nên họ xuất hiện cho ông biết để xin cứu giúp. Đức Phật với tâm đại bi chiếu cái nhìn thanh tịnh vào nhân gian và thấy rằng các thân bằng quyến thuộc đã quá vãng thường đến nhà thân nhân. Họ đứng tựa vách hay ngoài cửa, đứng ở ngã ba đường hay ở cổng thành với mong mỏi người thân của họ nhận ra và làm phước nhân danh họ để họ có chút phước làm động lực vượt thoát khổ cảnh. Nếu thân nhân của họ có lòng từ bi, làm phước và do công đức bố thí đó hồi hướng đến cho họ, với câu chú nguyện: “Idam no nhātinaṁ hontu – sukhita hontu nhātayo” – “Mong cho phước thiện này được thọ hưởng bởi thân nhân của chúng tôi, nguyện cho họ được cát tường như ý”. Nếu các vong nhân đó vân tập ở các đạo tràng, phát sinh tâm hoan hỷ, cảm kích trước việc phước thiện mà thân nhân của họ đang làm, do thiện tâm đó, họ được giải thoát khỏi khổ cảnh. Kinh văn (Tirokuḍḍesu sutta, KN) viết: Unnate udakaṁ vutthaṁ - “Như nước trên gò cao, Yathā ninnaṁ pavattati - Chảy xuống vùng đất thấp, Evameva ito dinnaṁ - Phước lành đã hồi hướng, Petānaṁ upakappati - Có diệu năng cứu khổ, Yathā vārivahā pura - Như trăm sông tuôn chảy, Paripūrenti sāgaraṁ - Đều hướng về đại dương, Evameva ito dinnaṁ - Nguyện công đức đã tạo, Petānaṁ upakappati - Thấu đến chư hương linh”, Ý nghĩa và cách trì tụng Kinh Vu Lan Như vậy phong tục cúng bái và hồi hướng phước cho hương linh quá vãng đã có từ thời Đức Phật (thế kỷ thứ sáu trước công nguyên) và được khuyến khích trong cộng đồng những người theo Phật giáo tin vào nhân quả nghiệp báo và phước tội do hành động tạo tác của mình, cũng như tin vào sinh tử luân hồi trong những cảnh giới khác nhau. Đạo Phật truyền đến Trung quốc và Việt nam vào đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Cùng với những niềm tin và tín ngưỡng của Phật giáo trong sự tương giao với văn hóa bản địa, việc cúng giỗ vốn có sẵn trong văn hóa thờ phượng tổ tiên của người Á đông. Khi việc cúng giỗ này được hướng dẫn bởi triết lý Phật giáo về mối liên hệ giữa các cảnh giới, việc cúng giỗ và thờ phượng tổ tiên mang một ý nghĩa mới, nhân văn và rộng rãi hơn là chỉ quan tâm đến một gia tộc. Ở những vùng đất và cộng đồng theo Phật giáo Nguyên thủy (hay Nam truyền – Theravada), việc cúng dường chư tăng và hồi hướng phước báu đến thân nhân quá vãng xẩy ra thường xuyên trong năm, khi có duyên sự, không phải chỉ chờ đến Tháng Bảy Vu-lan mới làm lễ này. Lễ Vu Lan (Ulumbana) và niềm tin tháng bảy (AL) là tháng xá Tội Vong Nhân có từ khi nào và ý nghĩa ra sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về dịp lễ đặc biệt này của các cộng đồng Phật giáo Bắc truyền hay Đạo Phật phát triển, trong đó có Việt nam. Ở một số nước Đông nam Á và một phần của Trung quốc, vào thời gian này là mùa mưa lũ, bão táp, nhất là ở vùng duyên hải Việt nam. Sau những ngày Hè rực rỡ chói chang, trời dịu dần vào Thu. Thời gian này thường có mưa phùn rả rích, mây mù che phủ bầu trời làm nên nét ảm đạm thê lương của những ngày mưa gió khiến cho việc đi lại thăm viếng nhau, giao tiếp, vv trở nên khó khăn hơn. Cảnh trí tác động lên tâm thức con người. Thời tiết này làm cho người ta như trầm lắng xuống, có vẻ hướng nội nhiều hơn. Và trong khung cảnh này, Nguyễn Du, đại thi hào của Việt nam đã viết bài văn chiêu hồn nổi tiếng. “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt Toát hơi may lạnh buốt xương khô Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng. Đường bạch dương bóng chiều man mác Ngọn đường lê lác đác sương sa Lòng nào lòng chẳng thiết tha Cõi dương còn thế nữa là cõi âm... Thương thay thập loại chúng sinh Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người Hương khói đã không nơi nương tựa Hồn mồ côi lần lữa đêm đen.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.8/8/2021.

No comments:

Post a Comment