Friday, January 29, 2016

Quán tưởng vô thường.
Chúng ta hằng ngày bận rộn công việc, suy nghĩ chuyện này chuyện kia nên không bao giờ chú ý đến tâm của mình. Đến khi bệnh nằm một chỗ thì mình mới thấy chán, mới nhận thấy tâm mình. Mười pháp này để ta chiêm nghiệm lại dòng tâm thức của mình, cuộc đời này mong manh vô thường, không có cái gì của mình hết. Do đó, Ngài nói đến vô thường. Vô thường là không có cái gì yên một chỗ. Vô thường là hoàn cảnh vô thường, vô thường là con người vô thường, là sự vật vô thường v.v… Chẳng hạn như, cứ lâu lâu đến chùa Bửu Quang một lần thì quý vị sẽ thấy mỗi lần đến là mỗi lần thay đổi. Quý vị thấy ngay trong ngôi chánh điện này trước đây nhỏ nhưng bây giờ rộng lớn hơn. Trước đây khoảng sân của trước chùa chưa được lót gạch bây giờ đã được lót gạch sạch sẽ, khang trang. Cho nên hoàn cảnh luôn luôn thay đổi và ngay cả luôn chính bản thân ta cũng thay đổi. Ngày xưa, mình trẻ thì da hồng hào tươi tốt, giờ mình già thì mắt mờ, tai điếc, tóc bạc, răng rụng, quỳ gối lạy Phật cũng khó khăn. Ngay bản thân tôi, tôi ngồi làm việc trước vi tính đã 15 năm nay và tôi cũng tự hào là mình ngồi vi tính làm việc nhiều mà mắt cũng không mờ. Nhưng tự nhiên đến 42 tuổi thì mắt đọc sách không được. Dựt mình thấy mình già, rúng động cả người. Con người ta một là cận, hai là lão, lúc trẻ không đeo kính cận thì đến già cũng đeo kính lão. Điều này sẽ xảy ra. Cho nên bản thân của tôi đúng 42 tuổi phải đeo kính lão. Vì vậy, ta thấy thân của mình là vô thường. Phật dạy mình có thân này thì sẽ bị vô thường, có thân này là có danh sắc, có ngũ uẩn. Có ngũ uẩn thì phải bị chi phối bởi sự chết. Ai ai cũng có sanh ra thì cũng có cái chết. Mình biết là mình chết trong tương lai nhưng ở hiện tại này mình cũng không giám nghĩ là mình sẽ chết. Phật dạy phải quán sự vô thường, phải thấy hoàn cảnh vô thường, thân vô thường, sự vật vô thường, phải có sự chết.
 
2.      Quán vô ngã
Vô ngã là không có cái gì của mình. Vô là không, ngã là bản thân mình. Theo tiếng anh từ vô ngã là “non-self”. Vô ngã là giống như mình thấy cảnh sắc này là vô ngã, cảnh thinh này là vô ngã, cảnh khí này là vô ngã, cảnh vị này là vô ngã, cảnh xúc này là vô ngã, cảnh pháp này là vô ngã. Không có thân này là vô ngã. Cho nên bài học đầu tiên Đức Phật dạy là trao người xuất gia một cái bình bát, một bộ y không có nút áo chỉ là một mảnh vải che thân để nói lên bài học vô ngã. Người tu sĩ dùng bình bát này để đi khất thực mà sống, mà muốn vậy phải sống dễ thương, bình dị. Đi xin ăn phải nhìn xuống, phải dễ thương. Cho nên, điều này dạy mình phá đi cái bản ngã này, xem mình không là gì cả. Nếu tu trong đạo mà khi nổi tiếng, có quyền có chức mà làm mất đi nét đẹp của thuở ban đầu thì không được. Một vị thầy của tôi từng nói vô ngã giống như chiếc máy bay, bay càng cao thì ta thấy máy bay đó càng nhỏ. Còn ta càng tu cao thì phải càng bình dị. Mình là Phật tử lâu năm đi chùa mà vẫn cung kính, lễ độ là đang bớt đi bản ngã của mình. Tại sao mình có tên là Nga, là Loan, là Đức, là Hồng v.v… thì sao lại nói là vô ngã. Mình có tên đẹp thì ai kêu cũng thích, tên xấu thì lại buồn. Ai đọc sai tên thì mình buồn, bản vàng công đức bị sót tên mình thì cũng buồn, trong buổi trai tăng đọc thiếu tên mình thì cũng buồn. Cái buồn đó là đi ngược với thuyết vô ngã. Cho nên trong những trưởng hợp đó thì mình cũng không được buồn. Vô ngã vì mình không làm chủ được đó, không có ai muốn tóc mình bạc nhưng cuối cùng cũng bạc. Đó là vô ngã. Không ai muốn da mình nhăn nhưng cuối cùng cũng nhăn. Đó là vô ngã. Không ai muốn răng rụng nhưng cuối cùng cũng rụng. Đó là vô ngã. Vô ngã là mình không làm chủ được mình.
 
3.      Quán tưởng bất tịnh.
Người bệnh cũng nên tưởng về sự bất tịnh. Tưởng về sự bất tịnh là tưởng về 32 thể trược, tưởng về vật thực này bất tịnh để làm tâm mình bớt ham muốn bớt dính mắc, nhàm chán. Trong đề mục thiền, những người nào tham nhiều, ái dục nhiều thì vị thiền sư cho niệm thể trược. Vị thiền sư nào thấy mình sân si nhiều, nóng nảy nhiều thì cho niệm tứ vô lượng tâm. Sân như lửa, tứ vô lượng tâm như nước nên phải dùng từ, bi, hỷ, xả để dập tắt sân. Cho nên, Phật dạy 32 thể trược để lúc bệnh quán tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, mật, đàm, mủ, máu v.v… để bớt sự dính mắc, cố chấp.
 
4.      Quán tưởng về sự khổ
Trong lúc bệnh tưởng về sự khổ thì ta thấy cuộc đời mình khổ nhiều hơn vui. Sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, gần người mình ghét là khổ, xa người mình thương là khổ, cầu không được là khổ v.v… có vợ có chồng mà chồng có vợ bé thì khổ, có con mà con phá nhiều cũng khổ, nói chung lại cuộc đời này vui ít khổ nhiều. Quý vị thấy còn thân này là còn khổ. Còn thân mà không tu thì tội lỗi. Còn thân, còn bệnh, còn già là còn khổ nếu đời này mình không quán chiếu khổ để khắc phục. Người tu là phải khắc phục vượt qua đau khổ. Mình không diệt khổ được thì khổ diệt mình. Mà mình càng khổ nhiều, càng sợ nhiều, mỗi no lớn quá sẽ sanh bệnh, u nhọt nổi lên, tiểu đường, tăng-xông xuất hiện. Bệnh do thời tiết, vật thực thì dùng thuốc để trị. Bệnh tâm sanh lên phải dùng tâm mà trị. Bệnh do nghiệp là loại bệnh thứ tư. Ngày nay những làm việc ngoài xã hội phải lo toan nhiều công việc, luôn bận rộn và căng thẳng. Trong thời gian mà căng thẳng nặng nề vật chất thì chính thiền giúp cho người kinh doanh, quan chức điều chỉnh lại. Thiền có công năng làm nhẹ, làm vơi đi những phiền não âu lo.
 
5.      Quán tưởng sự dứt bỏ
Con người ta dính mắc và cố chấp. Bản chất của phàm phu là dính mắc như “có” là phải “giữ” – “hữu” phải “thủ”- có vợ đẹp lo giữ, có quyền chức lo giữ, có tài sản lo giữ v.v… Nên lúc bệnh phải tưởng sự dứt bỏ. Có lần, chúng tôi đi tụng kinh cho người đang hấp hối, tai nghe kinh nhưng tay thì nắm chặt xâu chìa khóa cứng ngắc. Mà cầm như vậy là tiêu rồi, không sanh làm con tắc kè cũng làm con chó để giữ của. Phật dạy phải chánh niệm và buông bỏ. Trong tiếng anh từ buông bỏ là “letting go”. Cách đây 12 năm tôi nghe bài pháp thoại của ngài Ajhan Chah, tôi nghe từ “letting go” nhưng tôi không hiểu nhiều. Ông nói bản chất ta là nắm, người tu thiền muốn cao thì phải bỏ - letting go. Hình ảnh ấy tôi nhớ hoài. Tưởng dứt bỏ là dứt bỏ tình dục, dứt bỏ việc nghĩ về sân hận. Khi tâm vắng lặng thì mình luôn nghĩ đến người mình thương thì sẽ sanh ái dục, nghĩ tới người mình ghét sẽ sanh sân hận, dẫn đến muốn hại người ta. Phật dạy phải dứt bỏ dục tư duy, sân tư duy và não hại tư duy. Do đó phải quán tưởng 3 dục tư duy này vì nó làm ta đây khổ, làm sanh tử luân hồi, làm ta đắm chìm trong biển ái dục và si mê.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/1/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment