Phần I: Một Tâm Hồn
Có hai vị Sa-môn đi ngang qua cánh rừng và đang tiếp tục trên lộ trình bằng phẳng. Vị đi trước sắc diện hồng hào, nghi dung trang nhã, phong điệu uy nghiêm, đáng cho mọi người chiêm ngưỡng. Lá y màu vàng bằng vải thô nhưng cũng đủ thanh lịch.
Vị đi sau tuy không phương phi, uy dũng như vị đi trước nhưng tương đối cũng trang nghiêm phong nhã. Khoảng cách giữa hai vị vừa vặn, không quá xa, không quá gần.
Khi đến khúc đường rẻ đôi, vị đi trước vừa định quẹo phải thì vị đi sau liền lên tiếng:
- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử hữu sự rẻ trái.
- Này Na-gá-sá-ma-lá, không nên. Như Lai có duyên sự quan trọng cần phải độ sinh ở phía tay phải.
- Ðệ tử hữu sự muốn rẻ trái.
Ðức Phật năn nỉ:
- Này Nagasamala, đừng làm như vậy, hãy theo Như Lai đi về tay phải.
Mặc dù Ðức Phật đã ba lần ngăn cản nhưng Nagasamala không tuân lời. Cuối cùng, thầy bỏ bát Ðức Phật giữa đường và liền đi về tay trái theo sở thích. Ðức Phật lượm bát, một mình thui thủi hướng về phía tay mặt.
Một lần khác, thầy Mêkhida làm thị giả, theo Ðức Phật đi qua làng Chanh-tu, tỉnh Ba-chi-ná-oăn-sá. Buổi sáng, thầy đi khất thực. Lúc trở về, thấy một vườn xoài xum xuê, mát mẻ, thầy nảy sanh ý định đến đây tham thiền, bèn bạch xin phép Ðức Phật.
Ðức Phật khuyên ngăn ba lần.
Nhưng thầy Mê-khí-dá một mực cải lời, bỏ Ðức Phật một mình và ra đi về hướng vườn xoài để hành đạo. Song thầy hoàn toàn thất bại. Tâm thầy xáo trộn, vọng động không ngừng. Các tà tư duy, như tư duy về ái dục, về nhiễu hại, về oán thù, nổi lên đột phá dữ dội, dù trạng thái yên lặng tạm thời, thầy cũng không tìm được.
Cuối cùng đành phải trở về lễ Phật. Ðức Phật chẳng những không để tâm về những hành động nông nổi gần như phạm thượng của thầy mà trái lại còn dùng lời từ mẫu khuyên lơn:
-Mê-khí-dá ơi, tâm vốn loạn động, khó giữ, khó dạy. Bậc trí tuệ tích cực uốn nắn, khiến nó phải thuần thục như tay thiện xạ uốn nắn mũi tên. Mê-khí-dá này, tâm hằng chạy theo nhập cuộc ngoại cảnh nhất là ngũ dục như cá thích nước. Do đó, nếu bị bắt lên bờ thì nó dãy dụa không yên. Tâm tuy khó dạy, nhưng nếu dạy được thì sẽ hàng phục được Ma Vương.
Sự thật Ðức Thế Tôn nào muốn ngăn cản công trình tu chứng của môn đồ, nhưng vì thấy rỏ căn cơ chưa đến thời kỳ liễu ngộ, nên Ngài mới khuyên ngăn đó thôi.
Suốt 20 năm đầu kể từ ngày thành đạo, khoảng thời gian 35 đến 54 tuổi Ðức Phật không có vị Thinh văn nào làm thị giả cố định: khi thầy U-bá-va-nạ, khi thầy Na-ghí-tá, khi thầy Su-năc-khăt-tá, khi thầy Sa-gá-tá, khi thầy Rathá, khi thầy Na-gá-sá-ma-lá hoặc thầy Mê-khí-dá đã hành động nông nổi như vừa lược kể và, còn có Sadi Chuôn-tá, bào đệ của Ngài Ðại đức Xá Lợi Phất nữa.
Vì không có thị giả phục dịch thường xuyên, nên Ðức Phật phải chịu cực khổ vô cùng. Các vị thị giả bất đắc dĩ cứ thay nhau phục dịch Ngài một cách gượng gạo, tắt trách.
Vấn đề thị giả là một sự cần thiết, hợp lý, vì Ðức Phật có rất nhiều Phật sự phải làm, một mình không thể hoàn tất mọi việc nên Ngài rất cần thị giả. Chẳng hạn như ngoài 5 điều thường hành Phật sự có tánh cách cập nhật hóa Ngài còn phải họp tăng, tiếp khách tứ phương, từ hàng vua chúa thượng lưu đến hàng thường dân lao động, từ bậc xuất gia đến hàng cư sĩ nhất là nữ Phật tử. Tư cách một vị Phật tổ không cho Ngài tiếp khách nữ một mình. Ðó là chưa nói đến thỉnh thoảng Ðức Phật nhập thất, không tiếp bất cứ ai. Trường hợp ấy, lẽ dĩ nhiên, mọi Phật sự đều do thầy thị giả xử lý.
Vấn đề thị giả quan trọng và cần thiết là như vậy. Chúng ta không nên vô tình hiểu sai hoặc cố tình xuyên tạc cho rằng Ðức Phật muốn quan trọng quá cá nhân mà mang tội.
Vì những lý do vừa kể, có một lần, tại Kỳ Viên Tịnh xá, kinh đô Sa-quách-thi, xứ Cô-sa-la trước số đông chư vị Tỳ kheo nhất là các vị Tôn túc trưởng lão, có cả nhị vị Ðại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, Ðức Phật đề cập đến vấn đề thị giả:
- Này các Tỳ kheo, Như Lai đã già rồi, một số các thầy vì sở thích riêng tư nên đã bỏ Như Lai một mình hoặc bỏ y bát của Như Lai dưới đất rồi ra đi một cách thản nhiên. Do đó, Như Lai yêu cầu chư tăng tuyển chọn cho Như Lai một thị giả cố định.
Chư tỳ kheo vô cùng xúc động, Ðại đức Xá Lợi Phất lên tiếng trước nhất xin tình nguyện làm thị giả.
Ðức Phật bày tỏ sự hoan hỉ và dạy:
- Này Xá Lợi Phất, không nên đâu. Vì thầy ở nơi nào thì đem lợi lạc đến nơi đó. Lời giảng dạy của thầy không khác lời dạy của Như Lai. Thầy có khả năng chuyển Pháp luân như Như Lai. Những người được thân cận đàm đạo với thầy cũng như được thân cận đàm đạo với Như Lai.
Chư Ðại đức Trưởng lão khác cũng tình nguyện xin làm thị giả, nhưng Ðức Phật đều khước từ. Chỉ còn một mình Ðại đức Ananđa ngồi yên lặng. Ðại đức Xá Lợi Phất khuyến khích:
- Thầy Ananđa, tại sao thầy ngồi yên lặng?
- Bạch Ðại đức, chức vụ mà mình van xin hoặc tình nguyện, tôi tưởng không được cao quí mấy. Vả chăng, Ðức Thế Tôn đã biết rõ tâm trạng của tôi. Nếu thấy được, Ðức Thế Tôn sẽ chỉ định tôi trong chức vụ ấy. Thiện chí cũng như tình cảm của tôi thế nào, Ðức Thế Tôn đều quán thấu.
Hội trường im lặng. Không một cử động. Không một lời nói. Một sự im lặng tuyệt đối gần như hội trường không có người.
Giữa không khí ấy, Ðức Phật long trọng xác nhận vai trò Ðại đức Ananđa:
- Này các Tỳ kheo, Ananđa đã có ý nguyện làm thị giả Như Lai từ lâu. Sự xác nhận hôm nay chỉ nhằm mục đích công khai hóa vai trò thị giả của Ananđa mà thôi. Bắt đầu từ giờ phút này, Ananđa là thị giả chính thức và cố định của Như Lai.
Cử chỉ này quả thật vô cùng đẹp đẽ. Thật ra, Ðức Phật không cần công khai tuyên bố vai trò thị giả của Ðại đức Ananđa mà chỉ cần chọn riêng cũng được. Nhưng Ðức Phật có ý tuyên dương thiện tâm, thành ý của Ðại đức, đồng thời chính thức hóa một vai trò quan thiết, có tánh cách cố định. Còn trên thực tế, thì Ðại đức Ananđa đã lập công bồi đức, trì hành Ba-la-mật trong nhiều trăm kiếp cũng chỉ để đạt thành hạnh nguyện được làm thị giả, một chức vụ tuy không lớn lao nhưng vô cùng danh dự. Ðại đức Ananđa là mẫu người tự trọng, nhìn xa thấy rộng, khế lý, khế cơ. Cho nên, sau khi được Ðức Phật và chúng Tăng giao phó trọng trách, bèn bạch Ðức Phật xin được đặc miễn những trường hợp sau:
1- Xin Ðức Phật đừng ban y mới, đẹp và đắt giá cho Ananđa.
2- Ðừng ban thực phẩm cao lương mỹ vị.
3- Ðừng cho Ananđa ngụ chung tịnh thất.
4- Ðừng cho Ananđa tháp tùng đến những địa điểm mà Ðức Phật đã hứa khả.
- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà xin đặc miễn 4 điểm này?
- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử xin đặc miễn như vậy là để ngừa những lời bình phẩm cho rằng đệ tử phục dịch Ðức Thế Tôn chỉ vì lợi lộc và danh vị.
Ðại đức Ananđa bạch tiếp:
- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử xin Ðức Thế Tôn ban cho những đặc ân sau đây:
1- Xin Ðức Thế Tôn tùy thuận quang lâm đến những nơi mà đệ tử đã hứa.
2- Xin cho đệ tử được phép tiến dẫn Phật tử vào bái kiến Ðức Thế Tôn.
3- Cho phép đệ tử bạch hỏi những điều hoài nghi trong mọi trường hợp.
- Này Ananđa, ngươi thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?
- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử yêu cầu như vậy là để ngăn ngừa những lời chỉ trích, cho rằng những vấn đề có tánh cách giao tế mà đệ tử cũng không làm được, thì giữ chức vụ thị giả làm gì?
Ðại đức bạch tiếp:
- Bạch Ðức Thế Tôn, còn một đặc ân cuối cùng, xin Ðức Thế Tôn từ bi chấp thuận cho luôn, đó là:
4- Xin Ðức Thế Tôn hoan hỉ nói lại những bài pháp mà đệ tử vắng mặt không được nghe.
- Này Ananđa, ngươi nhận thấy lợi ích thế nào mà yêu cầu như vậy?
- Bạch Ðức Thế Tôn, cũng đều ngăn ngừa những lời bàng quang chê trách rằng: đệ tử theo hầu Ðức Thế Tôn như hình với bóng, nhưng khi được hỏi đến kinh, luật, kệ ngôn hay tích truyện thì không biết chi cả, giống như ếch trong ao sen không biết thưởng thức hương vị của sen.
Ðức Thế Tôn chấp thuận tám điều khoản yêu cầu của Ðại đức Ananđa và, Ðại đức Ananđa cũng bắt đầu nhận lãnh vai trò thị giả chính thức ngày hôm ấy.
Lúc bấy giờ, Ðức Phật hưởng được 55 tuổi đời, 20 tuổi đạo trong khi Ðại đức Ananđa được 55 tuổi đời, 19 tuổi đạo.
Nơi hoàng cung Ca-bì-la-vệ
Ngược dòng thời gian, kể từ ngày Ðại đức Ananđa nhận làm thị giả về trước là 55 năm.
Tại hoàng cung nguy nga tráng lệ của hoàng gia họ Thích, đèn đuốc sáng choang, hoa thơm ngào ngạt, cờ xí rợp thành. Hoàng thân Súc-cô-đa-na, bào đệ của Ðức vua Tịnh Phạn Sút-thô-đa-na, nét mặt vui tươi, chuyện trò cởi mở với mọi người từ trong dòng hoàng tộc đến ngoài công thần tướng sĩ, tất cả đều rộn lên một niềm vui trước tin mừng Công nương Súc-cô-đa-na hạ sinh một hoàng nam.
Căn cứ điềm vui mừng sung sướng của mọi người, công tử được đặt tên là Ananđa. Công tử Ananđa chào đời cùng một ngày với Thái tử Sĩ Ðạt Ta (Siddhatta) (1) và được song thân cưng như trứng mỏng. Mọi phương tiện dưỡng nhi và dục nhi được áp dụng đúng mức. Ananđa truởng thành trong nhung lụa, ngọc ngà nhất là trong sự vui mừng sung sướng tuyệt vời của song thân và hoàng gia Thích tộc.
Công tử tỏ ra rất mực ngoan hiền tài hoa và trí thức. Gương mặt thật sáng. Da dẻ hồng hào. Nói năng lễ độ. Thật đáng mặt con nhà.
Thân phụ cho tuyển chọn những bậc danh sư kỳ tài dạy dỗ công tử. Chẳng bao lâu, sự thông minh đĩnh ngộ và tài năng lỗi lạc của công tử nức tiếng xa gần, khiến cho thân phụ đã sung sướng càng thêm mãn nguyện.
Thế rồi, một hôm, tin Thái tử Sĩ Ðạt Ta rời bỏ ngai vàng, cha già, vợ đẹp và con thơ ra đi xuất gia tầm đạo, làm kiếp người hùng của nhân loại, khiến tâm trạng Ananđa vừa ngạc nhiên vừa thán phục. Càng thán phục lại càng hoan hỉ (2). Sự hoan hỉ thúc đẩy một biểu đồng tình. Ananđa suy nghiệm chắc hẳn phải có một lý tưởng phi thường, một đại sự nhân duyên thế nào đó, nên Sĩ Ðạt Ta, con cưng của Ca-bì-la-vệ mới rủ áo đế hoàng, sống kiếp phong sương, vui thú tiêu dao thoát tục.
Rồi 6 năm sau. Tin Thái tử Sĩ Ðạt Ta thành Phật được loan truyền vô cùng nhanh chóng. Từ Vương Xá thành đến các đô thị lớn và, cuối cùng đến kinh đô Ca bì la vệ. Mọi người tràn ngập niềm vui rộng lớn. Người vui nhất có lẽ là Công tử Ananđa. Công tử vốn có chủ định: khi nào Ðức Phật về thuyết pháp thì sẽ theo Ngài đi tu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/5/2020.
No comments:
Post a Comment