Saturday, February 2, 2019

Mỗi mùa xuân đến, hầu như mọi người đều trao nhau những lời chúc tốt đẹp: Mùa xuân hạnh phúc, mùa xuân an khang, mùa xuân cát tường v.v.. Trong nhà Phật, ngoài lời chúc tốt đẹp ấy, người đệ tử Phật còn dâng tặng nhau một mùa xuân Di Lặc hoan hỷ, bởi đó là mùa xuân miên viễn trong lòng người giác ngộ, giải thoát. Trao nhau những lời chúc ấy cũng là nhắc nhau biết gạn đục khơi trong, biết chuyển hóa thân tâm để được sống với mùa xuân Di Lặc tràn đầy niềm hỷ lạc.
Đức Phật Di-lặc có liên hệ gì đến mùa xuân, tại sao mỗi người con Phật lại cầu chúc và ngưỡng vọng trong những ngày đầu năm mới như thế? Hình ảnh Đức Phật Di Lặc với nụ cười từ bi hỷ xả là biểu trưng cho hạnh phúc, may mắn và thành đạt, đó là những điều mà con người luôn luôn mong ước. Hình ảnh đó còn nhắc nhở chúng ta khi đến với cửa Phật, cần phải biết buông xả, quên đi những vướng bận, lo toan trong đời, qua đó nguyện hành trì tâm hỷ xả, tha thứ, để cuộc đời ngày một thăng hoa.
Đức Phật Di Lặc hay còn gọi là Bồ tát Di Lặc, là vị Phật thứ 5 (Bốn vị Phật đã ra đời là: Câu lưu tôn, Câu na hàm, Ca diếp và Thích Ca) thị hiện tại cõi Ta bà này để giáo hóa chúng sinh. 
Di Lặc, tiếng Phạn là Maitryea, dịch nghĩa là Từ thị, tức là người có tấm lòng từ bi. Tên chính của ngài là A dật đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng
Trong quá khứ, khi mới phát tâm tu hành, nguyện lực mang an lạc cho chúng sinh của Ngài vô cùng thâm sâu và lòng từ của ngài vô cùng rộng lớn, cho nên chư thiên ngợi ca, gọi Ngài là “Ðấng Từ Thị” (Maitreya). Từ là lòng từ, là chi đầu tiên trong Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả). Lòng từ này được phát khởi một cách tự nhiên, không phân biệt. Đức Phật Di Lặc hiện đang trú tại cung trời Đâu suất (Tusita). Kinh điển ghi lại rằng Đức Phật Thích Ca đã thụ ký cho Ngài làm vị Phật tương lai ở cõi Ta bà này vào hội Long Hoa: “Một hôm, khi đang trú tại Lộc Uyển, Đức Thế Tôn bảo hai Tỳ Kheo rằng khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn năm, sẽ có một vị Chuyển luân Thánh Vương tên là Sankha xuất hiện tại Ba La Nại. Khi nghe Phật dạy như vậy, Tôn giả Ajita đang ở trong hội chúng liền phát nguyện trở thành vị Chuyển Luân Thánh vương đó với mục đích làm lợi lạc cho mọi người. Đức Phật liền thọ ký cho Tỳ Kheo Ajita. Rồi Đức Phật lại dạy tiếp cũng tuổi thọ loài người lên đến tám vạn năm, sẽ có một Đức Phật thị hiện trên cõi đời này, danh hiệu của Ngài là Di Lặc. Khi ấy Tôn giả Maitreya liền phát nguyện tu trì tinh tấn để trở thành Đức Phật Di Lặc kia, và Đức Phật đã thọ ký cho Tôn giả. Sau đó Phật bảo Tôn giả A Nan đem bộ y vàng mà Di mẫu Kiều Đàm vừa cúng dường cho chư tăng đến và chính tay Ngài tặng bộ y ấy cho Tôn giả Maitreya. Ngài cũng không quên tán thán hạnh nguyện cao cả của Tôn giả (Kinh Trung Bộ III).
Trong các chùa cũng như trong dân gian, Đức Phật Di Lặc thường được tôn thờ với 3 hình tượng phổ biến: 
1. Tượng Ngài ngồi một mình với cười tươi, áo hở ngực, bụng phệ; 
2. Tượng Ngài ngồi cười tươi, áo hở ngực, bụng phệ, chung quanh có 6 em bé; 
3. Tượng Ngài đứng, cười tươi, áo hở ngực, bụng phệ, tay vác một cái túi lớn.
- Hình tượng ngài ngồi bụng to là biểu trưng cho lòng trống rỗng, tâm luôn hỷ xả. Đức Di Lặc có nụ cười tươi rất đặc biệt, dân gian thường gọi là Nụ cười Di Lặc. Đó là biểu hiện cho niềm vui lớn, niềm vui này do tâm hoan hỷ mà phát ra. Nhờ đó mà khi nhìn Ngài, ai cũng hoan hỷ theo, bởi đã cảm nhận được sự an lạc từ Ngài. 
Như vậy, nụ cười của Ngài là sự thể hiện hai đức tính cao quý trong đạo Phật, là hỷ, xả. Hỷ tức là vui theo việc làm tốt của người khác, gọi là tùy hỷ công đức. Xả tức là bỏ, bỏ tất cả những điều phiền não, những điều không tốt do người tạo ra cho ta. Hạnh hỷ xả chính là yếu tố cơ bản giúp cho người học Phật thăng tiến trên con đường giác ngộ. Hỷ xả là chất liệu quý báu giúp con người hóa giải những oán kết, thù hận, ích kỷ hẹp hòi, không gây khổ cho nhau và mang lại an lạc, hạnh phúc cho mọi người. Đức Phật Di Lặc thành đạo dưới gốc cây Long Hoa, tuổi thọ đến tám vạn bốn ngàn, do Ngài tu tập hạnh hỷ xả nên thọ mạng được lâu dài như thế. Hẳn nhiên nếu chúng ta luôn sống với tâm hoan hỷ, bao dung, độ lượng thì chắc chắn không bị tổn hại bởi các độc tố tham, sân, si gây nên. Như thế thì ta sẽ sống an nhiên, tự tại và tuổi thọ cũng được tăng trưởng. 
Hỷ xả - hai từ nghe thật đơn giản nhưng quả là rất khó thực hành. Khi lòng còn đầy phiền não, tâm còn ô trược, ý còn lăng xăng mơ tưởng mông lung, đầy rẫy ước muốn thì khó tránh khỏi chao động vui buồn theo cảnh trần thịnh suy, thăng trầm, vinh nhục, mất còn hợp tan. Ngũ dục thế gian (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) tuy bản tính vô tình, nhưng lại có sức mạnh cuốn hút, xô đẩy con người đắm chìm trong khổ lụy. Lòng người chưa thanh tịnh thi khó tránh khỏi sự lôi cuốn của ngũ dục lạc. Chỉ khi tâm thanh tịnh, lòng an định, tâm tư gột sạch não phiền tham, sân, si, ích kỷ, đố kỵ, kiêu mạn… thì lúc ấy cõi lòng tự nhiên rộng nở đóa hoa xuân. 
Hạnh phúc thật sự chỉ có với những người biết sống tri túc, buông xả và làm lợi ích cho nhân loại. Đó là đạt được mùa xuân hỷ xả thường tại. Ai biết sống đời hỷ xả, vị tha là người mở rộng cánh cửa hạnh phúc cho mình và cho đời. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy người tu hành muốn được tự tại giải thoát thì phải biết sống “bất tùy phân biệt”, tức là không phân biệt chấp trước dính mắc theo trần cảnh.  
Là đệ tử Phật, để sống được trọn vẹn với mùa xuân hỷ xả, trước tiên phải tập sống với mọi người bằng đức tính khoan dung độ lượng, thương người thương vật như chính thương ta, biết tha thứ những lỗi lầm của người chung quanh. Đừng ghi sâu hay chấp nhặt những lời nói, cử chỉ, hành động không tốt đẹp của người khác trong lòng. Hãy nghĩ rằng những gì họ làm đó là những điều sơ xuất do vô tình hay vụng về mà ra. Nếu cứ mãi ôm ấp những nỗi bực tức, oán thù thì chỉ tạo thêm cho ta nhiều đau khổ trong cuộc sống mà thôi.
Hơn một bước nữa, chúng ta phải tập chuyển đổi những tính thù ghét, đố kỵ ra thành tính hoan hỷ. Thấy người khác thành công, ta không ganh ghét, dù đó là kẻ đã làm cho ta đau khổ. Ngược lại, ta còn vui mừng với họ, hoan hỷ tán thán sự thành công của họ, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát. Từ đó, dần dần tập xả bỏ những gì ta quý báu dù vật chất hay tinh thần với tâm hồn an vui, tự tại. Vì nếu đã xả bỏ mà còn buồn rầu thì không đạt hiệu quả gì. Xả không phải là một sự hy sinh để rồi làm cho người hy sinh phải đau khổ. Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với tâm hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ xiềng xích. Xả là một cử chỉ tháo gỡ để được giải thoát, cho nên ta vui mừng chứ không phải là một sự trói buộc mà phải khóc than. 
Đức Phật đã dạy rõ: Này hỡi các Tỳ kheo, có hai thứ bệnh. Hai thứ là gì?- Bệnh thể xác và bệnh tâm. Nhiều người nói rằng thể xác mình khỏe mạnh trong một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay một trăm năm, hay hơn nữa. Nhưng ngoài những vị đã gội sạch bợn nhơ (những bậc thánh), trên thế gian này rất ít chúng sinh có thể nói rằng tâm mình khỏe mạnh, dù trong khoảnh khắc. (Anguttara Nikaya, Tăng Nhất A Hàm). 
Hãy dứt bỏ cái gì không phải của con. Sự dứt bỏ ấy sẽ đem lại cho con hạnh phúc và an vui. Cái gì không phải của con? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải của con. Hãy dứt bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ðó là một sự dứt bỏ sẽ tạo cho con Hạnh Phúc và An Vui". (Tạp A Hàm XXII, 33).
Như vậy, để được sống an lạc với mùa xuân hỷ xả của Phật Di Lặc, không gì hơn, mỗi người con Phật chúng ta phải tập sống hạnh buông xả một cách dứt khoát, không luyến tiếc, không câu nệ chấp nê, cái gì qua rồi thì cho qua đi, không vướng tâm bận lòng. Xem mọi chuyện đã qua như tiếng vang, như nhạn bay qua mặt hồ, như gió thoảng qua cành trúc. Có buông xả mọi chấp trước trong tâm thì mình và người mới sống hòa thuận, vui vẻ. Nhờ đó dễ dàng tạo cho nhau mùa xuân an lành, hạnh phúc chân thật trong cuộc sống. Và như vậy thì ngày Tết là ngày đầy hoan hỷ, tràn ngập hy vọng, hạnh phúc đối với chúng ta.  
- Hình tượng Phật Di Lặc có sáu đứa trẻ chung quanh, là biểu trưng cho “Lục tặc” (sáu tên giặc), chính là sáu căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nơi mỗi con người. Sáu căn này luôn rong ruổi theo lục trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), để rồi đánh mất bản tâm thanh tịnh thường hằng. Ngài ngồi cười an nhiên, bất động trước mọi sự quấy nhiễu của Lục tặc, là biểu trưng cho sự tỉnh giác, luôn chính niệm khi lục căn tiếp xúc với lục trần. Tuy nói sáu căn là giặc, nhưng chúng ta không thể tách rời sáu căn, mà phải từ nơi sáu căn này tu tập, thúc liễm thân tâm. Khi sáu căn ta thanh tịnh, tức là không bị lục trần lôi cuốn, không đam mê, không chạy theo những danh, lợi, tài, sắc… của Lục trần thì từ nơi đây, Phật tính sẽ hiển bày.
- Hình tượng Phật Di Lặc mang túi vải càn khôn có liên quan đến câu chuyện ứng thân hóa độ của Ngài. Tương truyền vào thời nhà Lương, Trung Quốc, Đức Phật Di Lặc với thân hình mập mạp, bụng lớn, miệng luôn nói cười rất khác người đã thị hiện ở chùa Nhạc Lâm, Châu Minh, huyện Phụng Hóa, Trung Quốc. Tuy nhiên, không ai biết tên họ của Ngài là gì, chỉ thấy Ngài luôn mang một túi vải trên vai và đi khất thực. Ăn xong, còn dư bao nhiêu Ngài đều cho vào túi vải đó. Từ hình ảnh đó mà người đời gọi Ngài là Bố đại Hòa thượng (Hòa thượng mang túi vải). 
Một mùa xuân nữa lại trở về. Mùa xuân là mùa hy vọng, hy vọng cho tương lai tốt đẹp, tươi sáng hơn, như nụ cười hoan hỷ đầy từ bi của Ðức Phật Di Lặc. Nụ cười của Ngài đã mang lại cho chúng sinh  một niềm tin tích cực vào tương lai rực rỡ. Trong ngày đầu năm mới, là người đệ tử Phật, ngoài việc chúc nhau những lời tốt đẹp, không gì hơn là cùng chúc nhau được an lạc, như nụ cười hoan hỷ của Đức Phật Di Lặc. Nụ cười xuất phát từ trong tâm thanh tịnh, không phiền não và đó là nụ cười bất diệt. Do vậy, mỗi mùa xuân Di Lặc là một lần gợi nhắc cho chúng ta hãy tiếp tục nỗ lực thực tập hạnh từ bi, hỷ xả để được sống an lạc, giải thoát. Người tu học Phật, không có gì hạnh phúc và an lạc bằng khi được sống với mùa xuân hỷ xả. Hãy mạnh dạn xả bỏ những oán thù, tài, sắc, danh vọng... cho lòng được thanh thoát. 
Ngày mùng một Tết là ngày khánh đản đức Phật Di-lặc, cũng là ngày hứa hẹn hạnh phúc cho mỗi chúng sinh. Hạnh phúc bằng cách giải thoát khổ đau, ra khỏi luân hồi. Trong mỗi người, không ai không có sáu tên giặc, nhưng chúng trở thành giặc hay bạn, quan trọng là do bản thân mình. Thế nên, nếu chúng ta biết tu tập, chuyển hóa sáu căn thì tự nhiên được an lành tự tại. Đó chính là mùa Xuân viên miễn trong đời.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.3/2/2019.

No comments:

Post a Comment