THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần1)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH) - Giải thích từ Khẩn-na-la vương cho đến Ma-hê-thủ-la thiên.
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1- phần 1
Phẩm 1- phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
19. KHẨN-NA-LA : Cách gọi mới là Khẩn-nại-lạc, đây gọi là Ca Thần. Vì hay xướng hát ngâm vịnh làm vui. Vì loạn tâm mà đầu thai vào súc sinh. Có khi gọi là Nghi Thần, cũng nhiếp thuộc súc sinh. Vì hình mạo tương tự như người, gương mặt rất đoan chánh, nhưng trên đỉnh lại có một sừng, người thấy sinh nghi, không biết đó là người, quỉ hay súc vật, nên gọi là NGHI THẦN.
20. MA-HẦU-LA-GIÀ : Cách gọi mới là Mạc-hô-lạc-ca, đây gọi là Đại Phúc, cũng gọi là Đại Mãng, cũng gọi là thần Phúc Hành, vì có thể hộ pháp và hay trừ nghi.
21. CƯU-BÀN-ĐỒ : Kinh Chánh Pháp Hoa gọi là quỉ Yểm-mị, cũng gọi là quỉĐông qua, hay hút tinh khí v.v… của người. Vua tên là Tỳ-lâu-lặc, đây gọi là Tăng Trưởng, là chủ của phương nam này. Thiên vương thống lĩnh hai bộ quỉ, một là Cưu-bàn-đồ, một là Bệ-lệ-đa. Cưu-bàn-đồ là đặt tên theo chúng thống lĩnh.
22. QUỈ THẦN VƯƠNG : Là Tỳ-sa môn ở phương bắc, đây gọi là Đa Văn. Cũng lấy tên chúng thống lĩnh làm tên. Vì thu nhiếp các ác quỉ, không để chúng não hại chúng sinh, nên nói CẦN HỘ.
23. NGUYỆT THÂN THIÊN TỬ : NGUYỆT, là nghĩa thanh lương. Như văn sau nói: “Bồ tát Thanh Lương Nguyệt …”. NGUYỆT, còn có nghĩa là phát mở, như “Khai mở liên hoa v.v…”, theo văn kinh là khai mởtâm báu... Theo luận Câu-xá, mặt trăng cách đất 4 vạn do-tuần, rộng 50 do-tuần. Dùng thủy tinh và bạch kim hợp làm hai mặt xoay lại chiếu nhau, nên có tròn khuyết. Theo kinh Trường A-hàm, thành này vuông 1960 dặm, cao cũng vậy, một phần làm bằng thiên kim, một phần làm bằng lưu ly. Tòa vua rộng 20 dặm, nhìn xa giống như hình tròn. Trời thọ 500 năm. Con cháu truyền nhau một kiếp.
24. NHẬT THIÊN TỬ : Mặt trời rộng 51 do-tuần. Thành vuông 2040 dặm, cao cũng vậy. Cung thành được trang sức toàn bằng vàng ngọc bảy báu. Tòa vua rộng 20 dặm, tuổi thọ và con cháu cũng như Nguyệt Thiên Tử. Nhờ gió nắm giữ mà xoay quanh bốn mặt núi Tu-di.
Nhật và Nguyệt Thiên Tử trên, là hai bên trái và phải trong Tứ Thiên Vương, thuộc tầng trời thứ nhất. Đều do đạo lực tùy duyên mà hiện các hình thù khác nhau. Trong phần tán thán công đức, câu đầu là tự lợi, câu sau là lợi tha. NHẬT, có nghĩa là thành tựu và nhiêu ích. Theo luận Bảo Tánh, NHẬT có 4 nghĩa :
1/ Phá ám như tuệ.
2/ Chiếu hiện như trí.
3/ Luân tịnh như giải thoát.
4/ Ba thứ trên không lìa nhau, như đồng pháp giới.
25. ĐAO LỢI THIÊN : Kinh đây gọi là Tam Thập Tam Thiên. Tam thập tam thiên, luận Phật Địa q.5 nói; “Bốn mặt núi Diệu Cao, mỗi mặt có 8 Đại thiên vương, Đế Thích ở giữa, nên thành Tam thập tam (33) vậy”. Nói đầy đủ thì nên nói là Thích-ca Đề-bà Nhân-đà-la. Đây nói Năng Thiên Chủ. Theo kinh Tam Pháp Độ, nơi đó thân thiên tử cao một do-tuần, áo dài 2 do-tuần, rộng một do-tuần, nặng 6 thù, thọ1000 năm. Phần tán thán công đức có đủ cả tự lợi và lợi tha.
26. DẠ-MA THIÊN VƯƠNG : Đây gọi là Thời Thiên. Vì lấy thời hoa nở và khép làm ngày và đêm, nên lấy đó gọi tên. Luận Phật Địa nói; “Trong đó tùy thời mà thọ lạc nên gọi là Thời phần”. Thân Thiên tử này cao 2 do-tuần. Áo dài 4 do-tuần, rộng 2 do-tuần, nặng 3 thù. Tuổi thọ 2000 năm. Trong phần tán thán công đức có đủ cả Tự phần và Thắng tiến.
27. ĐÂU SUẤT THIÊN VƯƠNG : Cách gọi mới là Đổ-sử-đa. Đây gọi là Hỷ Túc. Luận Phật Địa nói: “Hậu thân Bồ-tát ở đó giáo hóa, phần nhiều tu về hạnh hoan hỉ và biết đủ, nên nói HỈ TÚC. Theo kinh Trường A-hàm, thân Thiên vương này cao 4 do-tuần. Áo, dài 8 do-tuần, rộng 4 do-tuần, nặng một thù. Một nửa thức ăn là cam lộ. Tuổi thọ 4000 năm. Có thể biết định tuệ của các Thiên vương này trong phần tán thán công đức.
28. HÓA LẠC THIÊN VƯƠNG, luận Phật Địa gọi là Lạc Biến Hóa Thiên. Loại Thiên này thích tự biến hóa ra các lạc cụ rồi tự vui thú. Ưa tự biến hóa làm các nhạc cụ để tự vui chơi. Tự hóa ra nhạc cụ rồi tự thọdụng trở lại, không phạm đến kẻ khác, nên gọi là Thiện Hóa, cũng gọi là Hóa Lạc. Theo kinh Tam Pháp Độ, thân chư Thiên này cao 8 do-tuần, áo dài 16 do-tuần, rộng 8 do-tuần, nặng một thù. Thức ăn là cam lộ. Thọ 8000 tuổi. Trong phần tán thán công đức nói đủ cả hai lợi tự và tha.
29. THA HÓA TỰ TẠI : Theo luận Phật Địa, loài Thiên này có thể khiến cho người khác làm ra các nhạc cụ, hiển sự tự tại của mình, nên lấy đó làm tên. Theo kinh Tam Pháp Độ, thân, áo và tuổi thọ gấp đôi so với Hóa Lạc Thiên trên. Trong phần tán thán công đức, loài Thiên này nhập pháp tự tại.
30. ĐẠI PHẠM THIÊN : Cách gọi mới là Ly Dục Nhiễm. Cực trong sạch nên nói LY NHIỄM. Theo luận Phật Địa, ly dục tịch tĩnh nên gọi là PHẠM. Thân là chúng. Theo kinh Trường A-hàm, vì ở trong Phạm chúng dùng Phạm âm nên lấy đó làm tên. THIÊN có nghĩa là tự tại, quang minh, thanh tịnh. Theo luận Đại Trí Độ, Thiên có ba thứ :
1/ Nhân thiên : Là Đế vương.
2/ Sinh thiên : Là cõi trời Dục giới và Sắc giới.
3/ Tịnh thiên : Là Đệ nhất nghĩa thiên của Phật và Bồ-tát.
THI KHÍ, đây gọi là Hỏa Sắc, có khi nói là Hỏa Đỉnh, vì hỏa tai đến được đó. Nếu tu thượng thiền là sinh vào cõi trời này. Trong Phạm chúng phát đại Phạm âm. Chư Thiên mỗi người tự nói: “Chỉ có cùng tiếng nói với ta, ở nơi Đại thiên giới được tự tại vô cùng”. Dung mạo như đồng tử (con nít). Thân có sắc bạc trắng, cao nửa do-tuần. Áo là y kim sắc. Không phải nam không phải nữ. Lấy thiền duyệt làm thức ăn. Thọmột kiếp. Đây là y theo kinh Trường A-hàm mà nói.
Trong phần tán thán công đức có 4 câu :
1/ Dùng cái gì độ?
2/ Độ chỗ nào?
3/ Trừ cái gì?
4/ Thành tựu công đức gì?
Y cứ theo văn kinh thì có thể hiểu.
Đại tiểu Sơ thiền bằng một ngàn Tứ thiên hạở Dục giới. Một ngàn Sơ thiền mới bằng Nhị thiền. Nhịthiền là đỉnh hỏa tai. Một ngàn Nhị thiền chỉ bằng Tam thiền. Tam thiền là đỉnh thủy tai. Một ngàn Tam thiền chỉ bằng Tứ thiền. Tứ thiền là đỉnh phong tai.
PHẠM MA, đây gọi là tịch tĩnh, thanh tịnh khiết. Đều được gọi là Phạm Khiết. THI KHÍ thuộc đỉnh hỏa tai, chủ cõi Sơ thiền. Còn gọi là Trì Kế v.v...
31. QUANG ÂM THIÊN : Theo luận Trí Độ, Nhị thiền gọi chung là Quang Âm. Khi chư Thiên đó nói, miệng phát ra vô biên ánh sáng thanh tịnh. Thân cao hai do-tuần. Thọ hai kiếp. Vì ở Sơ thiền hỏa quang phát âm dẫn nhiếp khiến sinh lên cõi trời này nên lấy đó làm tên. Có thể biết về định tuệ của chư vị trong phần tán thán công đức.
32. BIẾN TỊNH THIÊN : Vì Tam thiền thì ly hỉ nên thân tâm đều thanh tịnh. Trong kinh Trường A-hàm, do thượng phương tiện mà sinh làm vua cõi trời này, gọi là Tịnh Trí. Bốn tay nắm phong luân cai trị Kim sí điểu. Trong phần tán thán công đức, vì đây là địa vị lạc nên được cái lạc lớn của chân tánh.
33. QUẢ THẬT THIÊN TỬ : Gọi là QUẢ THẬT. Đệ tứ thiền thù thắng nhất trong các thiện quảở thế gian. Còn gọi là Quảng Quả. Trong phần tán thán công đức, vì là địa vị bất động nên nhập tánh tịch.
34. MA-HÊ THỦ-LA THIÊN : Luận Đại Trí Độ gọi là Đại Tự Tại Thiên. Có 8 tay 3 mắt, cưỡi đại bạch ngưu. Có thể biết số hạt mưa ởĐại thiên giới. Vì ởĐại thiên giới, rất tự tại, hoàn toàn không lỗi lầm, nên lấy đó làm tên. Luận Đại Trí Độ q.1 nói: “Đệ tứ thiền có 8 loại : 5 loại là trụ xứ của A-na-hàm, gọi là Tịnh Cư. 3 loại là thánh phàm đồng cư. Qua 8 xứ đó có trụ xứ của Bồ-tát Thập trụ, cũng gọi là Tịnh Cư, hiệu là Đại Tự Tại Thiên Vương”. Do đây mà biết, Tịnh Cư có 4 loại :
1/ Nhắm vào báo thuần tịnh : Chung cho cả thánh phàm.
2/ Nhắm vào hạng có đức hơn phàm phu : Chỉ dành cho A-na-hàm v.v...
3/ Nhắm vào nhân : Như nói có Bồ-tát Thập trụ. Bồ tát Thập trụ chính là Thập địa. Trong Thập địa, nhiếp thuộc địa thứ mười.
4/ Nhắm vào quả : Trong đó có báo thân tịnh độ v.v… thuộc Tam thừa, nên lấy đó đặt tên. Theo luận Đại Trí Độ, ngoài bát thiên, còn có riêng cõi trời của Bồ-tát Thập trụ.
Trong phần tán thán công đức thứ ba này, văn đây có hai cách giải thích :
1/ Chỉ hiển công đức của chúng này.
2/ Nói hết công đức của chúng Dị sanh từ trên tới đây, lại là giải thích cái nghi : Phổ Hiền thuộc Đồng sanh thì đồng trong quả hải, chúng Dị sanh là loại tạp ngọn thấp kém, vì sao cũng nhiếp thuộc quảhải?
Theo văn giải thích thì :
. Hai câu đầu từ “Tất cả đều đã … của Như Lai” là tổng nêu : Trong thì tu ly tướng, ngoài thì dự thắng lưu, nên đều ở trong quả hải duyên khởi.
. Phần kế từ “Đối với tất cả … Quang minh chiếu khắp” là nêu riêng từng chúng, cũng có hai : Trước là nêu công đức của chúng này. Sau là giải thích đồng quả hải.
1. Nêu công đức của chúng này : Ngoài thì giáo hóa cùng khắp. Trong thì công đức đầy đủ. Phần công đức đầy đủ có 4 : 1/Ba nghiệp thù thắng. 2/Đồng với Phật thừa. 3/Đoạn đức ly nhiễm. 4/Chiếu sáng nguồn chân.
Ba nghiệp thù thắng là thân thành diệu sắc, ý khéo an trụ và lời nói không chao đảo. Lời nói không chao đảo thì đầu tiên là xa lìa cái “nói không được”, nên ở trong chúng mà không CHAO ĐẢO. Sau là xa lìa cái “không đáp được”, nên khi bị vấn nạn KHÔNG AI CÓ THỂ PHÁ HOẠI. Sở dĩ có đủ ba thắng nghiệp đó là do Phật thừa thường hiện tiền. Sở dĩ Phật thừa hiện tiền được, là do xa lìa hai chướng. Xa lìa được hai chướng là do gặp được thắng duyên. Cho nên, nhập Phật hải. Đây là lấy sau giải thích trước. Nếu lấy trước giải thích sau thì : Do đủ ba thắng nghiệp này mà Phật thừa hiện tiền. Phật thừa hiện tiền nên lìa được hai chướng. Lìa hai chướng nên thấy được thân pháp giới của Phật. Vì thế mà có mặt trong số chúng. Nếu còn các chướng thì thấy mặt trời còn mất nhãn quang huống là thấy Phật, như văn sau nói “Như kẻ mù v.v…”.
. Phần đoạn đức cũng có hai câu : Câu đầu là nói tập chủng diệt hết. Câu sau là nói chánh sử trừ đã lâu. Y theo văn kinh thì có thể thấy.
2. Giải thích đồng quả hải : Từ “Vì sao?…” trở đi. Cũng có hai : Trước là quả nhiếp nhân. Sau là nhânnhập quả.
a. Quả nhiếp nhân : Trước là hỏi. Sau là giải thích.
Hỏi : Vì sao chúng này đồng trong Phật hải?
Đáp : Vì Phật thành tựu họ nên không có sai khác. Đây có ba : 1/Nêu Phật làm hạnh duyên. 2/ Y nơi duyên thành hạnh. 3/ Kết hạnh thuộc duyên.
. Phật làm hạnh duyên : 3 câu “Vì Như Lai … thiện căn” : Nêu thời đã qua, hạnh đã qua và vì đời mà tích tập thiện căn.
. Y duyên thành hạnh : 5 câu “Dùng mọi thứ … đủ thanh tịnh” : Câu đầu là khiến được địa vị Tam hiền. Câu hai là chứng vị Thập địa. Câu ba là từ địa vị Bát địa trở lên. Câu bốn là thành tựu địa Pháp vân. Câu năm là tổng kết.
. Kết hạnh thuộc duyên : “Mỗi người tùy vào bản hạnh …” là kết hạnh. “Đều do quang minh …” là thuộc duyên. Cho nên ở trong quả hải.
b. Nhân nhập quả : “Y nơi lực … tự tại”, là y nơi nhân mà nhập quả, y nơi biệt mà nhập tổng, y nơi pháp môn mà nhập Phật hải. Như mười loại giải thoát, chín đời tương tức nói ở văn kinh sau. Y NƠI LỰC này nên được nhân quả viên mãn đồng một biên tế. Cho nên, đối với các pháp môn trong Phật quảhải, đều được tự tại. Văn sau tán thán pháp môn, chính là việc này. Nếu là Tam thừa thì không được như đây, vì SỰ khác nhau, vì thầy và trò không đồng.
4. Cúng dường viên mãn : Đây là từ xa trở lại gần để nói về 18 chúng. 34 chúng trước ở trong Tứthiên, lược nêu nam bắc, kê đủ các Thần. Nay trong phần hưng cúng dường này, từ Thần Đạo Tràng đến Ma-hầu-la-già có 18 vị, hiển đủ Tứ vương. Vì sao? Vì Long, Thần … nhiếp thuộc Tây phương. Các loại còn lại đa phần thuộc Đông phương. Do hai loại này thống lĩnh chúng đông nên phân vương theo số chúng. Chỉ cần nêu hai vị vua này thì hiển đủ 18 chúng. Đây là muốn nói hàng thượng thủ tán thán Phật, nhiếp chúng theo vua, đông tây thâu hết. Cho nên bỏ bớt 18 chúng mà nêu thêm 2 vua.
Theo văn kinh, vì thống lĩnh nam bắc không rộng, không theo đông tây, nên không có phân hay hợp. Vì vậy, trong 34 chúng bỏ đi 18 chúng, chỉ còn 16. Cộng thêm 2 vua nên thành 18. Phần văn trước, đầu tiên nói đồng, sau mới đến dị. Còn ở đây thì đầu nói dị sau mới đến đồng. Vì sao? Vì phần văn trước, hiển thị y nơi gốc mà khởi ngọn. Nay là để rõ nhiếp ngọn trở về gốc. Lại, trong Dị sanh, phần văn trước thì đầu nói hạ liệt, sau mới đến thù thắng. Nay thì đầu nói thù thắng sau mới đến hạ liệt. Vì sao? Vì trước, hiển sự tăng giảm của pháp. Nay thì hiển thứ lớp tôn vị. Cũng có thể giải thích : Các thứnày đều hiển sự nghịch thuận tự tại không chướng không ngại của pháp giới duyên khởi hợp thành một đại pháp giới chúng, nên làm ra giáo này.
Hỏi : Đã nói hưng cúng dường vì sao không liệt kê các vật cúng dường?
Đáp : Vì vật không phải là thứ kỳ đặc, không đủ hiển sự thù thắng. Kinh nói “Trong các sự cúng dường, pháp cúng dường là hơn cả”. Cho nên, chỉ nói đến pháp cúng dường.
Hỏi : Nếu vậy, vì sao ở văn sau Hải Tuệ và chúng mới vân tập đều bày ra vật cúng dường?
Đáp : Chúng Hải Tuệ v.v… từ chỗ ngồi đứng dậy dâng vật cúng dường, vì hiển sự kỳ đặc. Khách chúng từ phương khác đến, mỗi người tùy theo xứ của mình mà dâng vật cúng dường, không đồng với chúng thường tùy. Như thân Thích-ca thì lấy Xá-lợi-phất v.v… làm chúng thường tùy, chỉ lấy việc tu hành và giáo hóa người làm pháp cúng dường, hoàn toàn không nói đến sự cúng dường nào khác. Đây, quyến thuộc của thân Xá-na cũng như vậy. Trong đó, mỗi người nhập pháp môn thấu đạt tự tại, làm ý nghiệp cúng dường. Nói kệ tán thán Phật là ngữ nghiệp cúng dường. Trong hội mà cung kính là thân nghiệp cúng dường.
Luận về pháp cúng dường, có hai thứ : 1/Theo giáo tu hành được pháp tự tại. 2/Tán dương, hiển phát pháp, giáo hóa và truyền thông. Nay ba nghiệp trên có đủ cả hai hạnh đó.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment