THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH) - Giải thích rộng về chúng Ma-hê Thủ-la thiên
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1 - Phần 1
Phẩm 1 - Phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
Văn kinh có hai phần : Trước là một câu tổng nêu, nên nói mỗi người đắc một pháp môn của Phật mà được tự tại. Sau là biệt nêu, cũng có hai : 17 chúng đầu, mỗi người một pháp môn tự tại, là phân tổng thành biệt, gọi là Dị sanh. Phổ Hiền sau, một người mà tất cả các pháp môn tự tại, là nhiếp biệt thành tổng, thâu ‘dị’ về ‘phổ’, gọi là Đồng sanh. Cho nên, hai chúng đồng một duyên khởi. Suy nghĩ thì sẽhiểu.
Trong văn kinh, 18 chúng phân thành 18 đoạn. Mỗi đoạn đều có hai phần : Phần đầu là trường hàng (văn xuôi) nói về việc đắc pháp, là kinh gia tự liệt. Phần sau là kệ tụng tán thán, là đương thời văn.
1. CHÚNG MA-HÊ THỦ-LA THIÊN : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. THIỆN HẢI MA-HÊ THỦ-LA THIÊN : Nói về thể và dụng. Ngay thể, thì PHÁP GIỚI HƯ KHÔNG là cảnh, tịch tĩnh là chỗ chứng. Ngay dụng, thì PHƯƠNG TIỆN là thiện xảo ứng cơ, QUANG MINH là giác chiếu thành tựu lợi ích.
PHÁP MÔN : PHÁP có 3 nghĩa là tự tánh, quĩ tắc và đối trí. MÔN có 4 nghĩa : 1/Nêu biệt, như môn này không phải là các môn kia. 2/Thông trí du nhập. 3/Thu nhập : Tất cả nhập một, dùng một đó làm môn. 4/Thông xuất : Vì trong một môn, có thể xuất sinh tất cả, không cùng tận. PHÁP tức là MÔN, thuộc Trì nghiệp thích. PHÁP GIỚI HƯ KHÔNG … tức là PHÁP MÔN, cũng thuộc Trì nghiệp thích. Các môn sau đều theo đó mà hiểu.
Tất cả đều là pháp môn sai biệt trong Phật cảnh giới pháp giới duyên khởi. Song các chúng này đều tỏsuốt một môn mà nhập Phật hải, thuộc về Phật biệt đức, nên xưng là TỰ TẠI. Cũng ở trong một môn này mà nhiếp tất cả môn, tác dụng vô tận, nên gọi là TỰ TẠI. Phần sau đều theo đó mà hiểu.
2. ĐẠI TỰ TẠI XỨNG QUANG MINH THIÊN : TẤT CẢ PHÁP là cảnh. PHỔ DU là trí. Trước là giáo, sau là nghĩa. Sẽ giải thích trong phần kệ tụng.
3. CÔNG ĐỨC TỊNH NHÃN THIÊN : BẤT SINH BẤT DIỆT, chỉ cho pháp thân. PHƯƠNG TIỆN, chỉ cho sắc thân. Trước là chứng đạo, sau là giáo đạo. BẤT SINH BẤT DIỆT có 10 nghĩa :
1/ Chân lý lìa tướng hữu vi, nên bất sinh bất diệt.
2/ Không phải hữu vi nên bất sinh, là vô vi nên bất diệt.
3/ Không giữ tự tánh nên bất sinh. Không đổi tự tánh nên bất diệt.4/ Bất biến nên bất sinh. Tùy duyên nên bất diệt.
Bốn nghĩa trên thuộc Viên thành.
5/ Duyên khởi không tánh nên bất sinh. Duyên khởi không mất nên bất diệt.
6/ Duyên khởi không mất nên bất sinh, vì lý tánh không hiện. Duyên khởi không tánh nên bất diệt, vì lý tánh hiển bày.
7/ Vì duyên khởi nên không thể sinh diệt.
Ba nghĩa này thuộc Y tha.
8/ Do tình chấp không lý nên không thể sinh diệt.
9/ Vì sở chấp nên bất sinh, là vô tướng quán cảnh nên bất diệt.
Hai nghĩa này thuộc Sở chấp.
Cả chín nghĩa trên đều thuộc cảnh.
PHƯƠNG TIỆN là, các đạo lý trên khéo hiện vào từng căn khí.
10/ Không trụ thế gian nên bất sinh, không đồng với phàm phu. Không trụ niết bàn nên bất diệt, không đồng với Nhị thừa. Vì bất sinh mà có phương tiện nên không trụ niết bàn. Vì bất diệt mà có phương tiện nên không trụ thế gian. Nếu không như thế thì khi khác với phàm phu phải đồng với Tiểu thừa ; Khi khác Tiểu thừa phải đồng với phàm phu. Nhưng do phương tiện mà không phải phàm phu cũng không phải Nhị thừa.
10 nghĩa này tổng và biệt không hai, vì lục tướng viên dung. Suy đó thì biết.
4. ĐẠI TUỆ QUANG THIÊN : Nói về trí thiện xảo rộng sâu khó lường. QUANG là nghĩa trừ tối. DU là nghĩa tiến nhập.
5. TỊNH QUANG ÂM THIÊN : Y vào phổ môn thiền nên nói NHẤT THIẾT. Vì thấy Phật lý pháp giới, vì diệt hoặc, nên sinh KHỞI VÔ LƯỢNG Hỉ LẠC.
6. THÍ THIỆN NHÃN THIÊN : Nhiễm phần đáng sợ chuyển diệt. Tịnh phần tịch tĩnh chuyển hiện. DU nghĩa là chứng nhập.
7. BẤT TƯ NGHỊ THIÊN : CẢNH GIỚI là chỉ cho phần hạn. VÔ LƯỢNG CẢNH GIỚI … là do hóa dụng trùm khắp. BẤT KHỞI là không tác ý, là dụng mà hằng tịch.
8. NHẠO ĐẠI THỪA THIÊN : Khéo dứt ba thời. Phật đức ứng cơ mà không tới lui.
9. PHỔ TẠP ÂM THIÊN : Chân lý tịch tĩnh là cảnh sở duyên của Phật.
10. NHẠO XƯNG QUANG THIÊN : Đa phương tiện của Phật là sở duyên của chúng sinh.
Trong 10 pháp môn này, môn đầu là tổng. 9 môn còn lại là biệt. Đồng, dị, thành, hoại cứ theo đó mà hiểu.
KỆ TỤNG : “Lúc ấy Thiện Quang … tụng rằng” là sinh khởi. NHỜ PHẬT LỰC là muốn nói không phải tựlực. QUÁN SÁT tự chúng là chỉ cho sự thu nhiếp trùm khắp pháp giới, là hiển cái đồng mà nói.
Vì sao làm kệ tán thán? Địa Luận nói: “Vì ít chữ mà nhiếp nhiều nghĩa nên tán thán đa phần hay dùng kệ tụng”. Tụng có 4 thứ :
a. Số tự tụng : Theo Phạn bản, không kể là trường hàng hay kệ tụng, cứ 32 chữ thành một bài tụng.
b. Già-đà tụng : Đây gọi là Phúng tụng hoặc Trực tụng, không tụng phần trường hàng.
c. Kỳ dạ tụng : Đây gọi là Ứng tụng, là ứng tụng lại phần trường hàng.
d. Uấn-đà-nam tụng : Đây gọi là tập thí, là dùng ít lời mà hàm nhiếp nhiều nghĩa, nên gọi là tập. Có tác dụng giúp người dễ thọ trì, nên nói tập thí.
Ba loại tụng sau có khi 7 chữ, có khi 5 chữ, có khi 4 hay 3 chữ. Như “Ở thế giới, như hư không” là loại tụng 3 chữ. Đều lấy 4 câu làm một bài tụng. Kệ tụng ở đây tương đương với loại Kỳ dạ tụng. Các bài tụng sau cũng y vậy.
Kệ tụng gồm 20 hàng. Cứ 4 câu thành một kệ. Tổng cộng có 10 bài. Một bài tụng một pháp môn vừa nói trên.
Hỏi : Đây muốn tán thán Phật vì sao lại tụng pháp môn của mình?
Đáp : Vì chúng này đã hiện trong Phật Hải ấn, thuộc về Phật biệt đức. Tụng pháp môn của mình chính là tán thán Phật. Phật đức huyền diệu không phải là chỗ mà các thứ khác biết được. Nếu không phải là Phật đức thì không lấy gì hiển được Phật. Luận Đại Trí Độ q.12 nói “Lại nữa, Phật nên cúng dường Phật, người khác không biết đức của Phật. Như kệ nói : Người trí kính người trí. Trí luận thì trí hỉ. Người trí biết được trí. Như rắn biết chân rắn”.
Kệ (1) : Tụng pháp môn đầu tiên. Câu (1) (2) (3) nói về thể. Câu (4) nói về dụng. Câu (1) nói vềcảnh. Câu (2) (3) nói đến chứng đạo : Hoặc là thân đầy khắp pháp giới. Hoặc là pháp giới chứa đầy thân Như Lai. Tâm tịch tĩnh nên KHÔNG THỦ. Cảnh tịch tĩnh nên KHÔNG KHỞI. Lại, câu (1) nói vềPHÁP GIỚI ở phần trường hàng. Câu (2) là nói về hư không. Câu (3) nói về tịch tĩnh. Câu (4) nói vềphương tiện.
Kệ (2) : Câu (1) (2) nói về NHẤT THIẾT PHÁP. Câu (3) nói về PHỔ DU. Câu (4) kết luận về tên vị thiên.
Kệ (3) : Câu (1) nói về BẤT SINH BẤT DIỆT, thuộc chứng đạo. Câu (2) (3) nói về phương tiện, thuộc giáo đạo. Câu (2) là thân phương tiện. Câu (3) là khẩu phương tiện. Câu (4) chỉ vào vị Thiên, để biết do đắc pháp tự tại mà có tên.
Kệ (4) : Câu (1) (2) nói về PHƯƠNG TIỆN TRÍ HẢI. Câu (3) nói về QUANG. Câu (4) nói về DU và kết luận về người đắc pháp.
Kệ (5) : Câu (1) (2) (3) nói về THIỀN VÔ LƯỢNG HỈ LẠC. Câu (4) nói về PHỔ KHỞI và cái tên HỈ LẠC.
Kệ (6) : Câu (1) nói về SI ÚY. Câu (2) nói về DU TĨNH. Câu (3) nói về CHUYỂN, là chiếu trừ. Câu (4) kết luận về người đắc pháp.
Kệ (7) : Câu (1) (2) nói về VÔ LƯỢNG CẢNH GIỚI. Câu (3) nói về BẤT KHỞI. Câu (4) kết pháp thuộc người.
Kệ (8) : Câu (1) (2) nói về NHẤT THIẾT PHÁP. Câu (3) nói về BẤT LAI BẤT KHỨ . Câu (4) kết pháp thuộc người.
Kệ (9) : Câu (1) (2) (3) là PHẬT CẢNH GIỚI TỊCH TĨNH. Câu (4) kết pháp thuộc người.
Kệ (10) : Câu (1) (2) (3) nói đến VÔ LƯỢNG CẢNH GIỚI. Vô lượng cảnh giới có ba :
a. Thời vô lượng : Câu (1).
b. Cảnh vô lượng, chỉ cho bồ-đề và chúng sinh : Câu (2).
c. Thiện xảo vô lượng : Câu (3).
Câu (4) : Kết luận về người đắc pháp.
2. CHÚNG QUẢ THẬT THIÊN thuộc Đệ tứ thiền : Có 8 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. LẠC NGHIỆP QUANG MINH THIÊN VƯƠNG : QUÁN căn cơ chúng sinh, dấy PHÁP VÂN tuôn mưa pháp làm lợi ích cho các chúng sinh đó.
2. TỊNH KIÊN CỐ THIÊN : DIỆU SẮC là hiện thân. PHƯƠNG TIỆN là thuyết pháp. Hai thứ này thuộc năng ứng. NIỆM là niệm trì pháp. QUÁN là quán sắc thân. Hai thứ này thuộc căn cơ sởứng . Do niệm này mà diệt si, thành tựu thanh tịnh.
3. LẠC LẠC THIÊN VƯƠNG : Thấy các quốc độ như lưới Nhân-đà la, vì duyên khởi không tánh.
4. PHỔ MÔN TUỆ NHÃN THIÊN : Nhập Đà-la-ni duyên khởi. Một môn mà dung nhiếp hết pháp giới, nên nói là PHỔ MÔN.
5. BẤT CHUYỂN ÁI THIÊN : BẤT CHUYỂN ÁI là vì tự lưu ‘hoặc’ để chuyển đi cái ái thọ sinh của các chúng sinh khác, khiến chúng diệt hẳn. Cũng khiến cho người khác diệt ‘hoặc’ không còn sinh trong tam giới.
6. THIỆN TUỆ QUANG THIÊN : NHẤT THIẾT THẾ GIAN CẢNH GIỚI là khí và chúng sinh thế gian. Phật vào đó thuyết pháp mà hằng trụ tịch diệt, nên nói BẤT TƯ NGHỊ .
7. VÔ CẤU TỊNH QUANG THIÊN : Hội được hai không (nhân và pháp), hiển hai đế (tục và chân). CHÚNG SINH và PHÁP là chỉ cho nhân và pháp. XUẤT YẾU là hội chân không.
8. VÔ CẤU QUANG THIÊN : Khiến các căn cơ chứng nguồn chân mà nhập quả hải.
KỆ TỤNG :
Có 19 bài kệ, phân làm hai : 17 bài đđầu, tụng về các pháp môn đã nói ở phần trường hàng. 2 bài sau, nêu nhân, tổng tán thán.
17 bài đầu : Tụng về các pháp môn
P.M (1) : Kệ (16) tán thán Phật đức thậm thâm, là tụng về năng QUÁN.
Kệ (17) tụng PHÁP VÂN thấm mở căn dục của chúng sinh.
P.M (2) : Kệ (5) tụng về phương tiện DIỆU SẮC.
Kệ (6) nói đến NIỆM QUÁN.
P.M (3) : Kệ (9) là khéo hiện chân lý.
Kệ (10) là y LÝ hiện SỰ. Lưới Nhân-đà-la thông cả lý sự.
P.M (4) : Kệ (7) là PHỔ MÔN hiện thân pháp giới.
Kệ (8) hiển pháp pháp giới.
P.M (5) : Kệ (11) : Đoạn đức nhiếp sanh, chuyển diệt hoặc, nghiệp, khổ.
Kệ (12) : Chuyển hiện phúc trí v.v... đều thông nhau như Nhân-đà-la.
Kệ (13) : Kết luận pháp thuộc người. Phương tiện là BẤT CHUYỂN ÁI.
Trong phần trường hàng, chỉ có những SỰ trong bài kệ (11) là cần biết.
P.M (6) : Kệ (14) : NHẬP NHẤT THIẾT THẾ GIAN CẢNH GIỚI.
Kệ (15) : 3 câu là BẤT TƯ NGHỊ. Câu cuối kết luận pháp thuộc người.
P.M (7) : Kệ (3) : CHÚNG SINH xuất yếu để biết vô ngã. Dùng hiển tục đế.
Kệ (4) : NHẤT THIẾT PHÁP xuất yếu để biết vô ngã. Dùng hiển chân đế.
P.M (8) : Tụng pháp môn THỌ HÓA GIẢ … trong phần trường hàng.
Kệ (1) là dùng quả để thành tựu các căn cơ.
Kệ (2) là nhiếp các căn cơ nhập Phật quả.
2 bài sau : Tụng về nhân và tổng tán thán.
Kệ (18) nêu nhân duyên thành tựu đức.
Kệ (19) là đối cơ hiển dụng.
Cũng có thể giải thích như sau : Các bài kệ thứ lớp ngược lại với các pháp môn tụng ởphần trường hàng. Hai bài kệ đầu tụng pháp môn cuối. Hai bài kệ kế, tụng PM (7). Hai bài kế nữa tụng P.M (2). Hai bài kế nữa tụng P.M (4). Ba bài kế nữa tụng PM (3). Hai bài kế nữa tụng PM (6). Hai bài kế nữa tụng PM (5). Bốn bài sau cùng tụng PM (1). Các bài kệ không trùng với thứ tự các pháp môn ở phần trường hàng, là do biện tài tùy hứng mà nói, nên không theo thứ tự.
3. CHÚNG BIẾN TỊNH THIÊN thuộc Đệ tam thiền : Có 7 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. TỊNH TRÍ THIÊN VƯƠNG : QUÁN tam phẩm THIỆN CĂN của chúng sinh khiến được tăng trưởng. Cũng có thể giải thích : Như thấy cửa thành, đầu tiên nghe danh Phật, là thiện căn. Thu Tử không thấy …
2. HIỂN DIỆU THIÊN VƯƠNG : NHẤT THIẾT HỮU là tất cả thế giới. Nơi đó Phật ra đời giác ngộ chúng sinh, chiếu hiện các pháp, nên nói GIÁC CHIẾU.
3. THẮNG DIỆU THIÊN VƯƠNG : TỔNG TRÌ ở tâm đầy đủ văn nghĩa, nên tuyên thuyết văn nghĩa bằng bốn loại BIỆN TÀI.
4. PHỔĐĂNG THIÊN VƯƠNG : Phật ra đời hiếm gặp nên sinh ưa thích (NHẠO). Ra rồi trừ nạn nên nói GIẢI THOÁT.
5. TRÍ DIỄM THIÊN VƯƠNG : CHÚNG SINH vốn như, thuận với mé duyên khởi mà hiển đức không cùng, nên sinh HOAN HỈ.
6. HÓA LẠC THIÊN VƯƠNG : Đầu tiên là nói về thắng dụng của HÓA BỒ-TÁT. Kế là nói về đức tướng đầy đủ (CHU BỊ). Sau là NHẬP VÔ TẬN, thuận với thể tánh tột cùng. Đều là pháp thuộc Nhất thừa Biệt giáo.
7. DŨNG HÓA THIÊN VƯƠNG : CHÚNG SINH KHỔ NÃO là sở cứu (kẻ được cứu). TỪ BI là năng cứu. TRÍ, là không thủ tướng. MÃN, là công đức giáo hóa đầy đủ. Thành tựu lợi ích.
KỆ TỤNG : Có 11 bài kệ.
P.M (1) : Kệ (1). Trường hàng đã nêu sở quán, đây hiển công đức của năng quán. Cũng có thể giải thích : Câu (1) (2) để biết năng quán, là Phật trí vô ngại trùm khắp. Câu (3) nói về loại thiện căn khó biết, là cảnh giới Phật. Câu (4) là kết người được pháp.
P.M (2) : Kệ (2) (3) nói về HỮU và CHIẾU ở phần trường hàng. Kệ (2) là nương thể khởi dụng. Kệ (3) hiển dụng qui về thể.
Kệ (4) (5) là nói về nghĩa GIÁC trên. Kệ (4) là khai mê hiển giác. Kệ (5) là giác tánh vượt ngoài tình thức.
P.M (3) : Kệ (6). Câu (1) (2) nói về TỔNG TRÌ. Câu (3) nói về BIỆN TÀI. Câu (4) kết pháp thuộc người.
P.M (4) : Kệ (7). Câu (1) (2) là THÍCH Phật ra đời. Câu (3) (4) nói về GIẢI THOÁT.
P.M (5) : Kệ (8). Câu (1) (2) nói về chúng sinh và pháp thậm thâm. Câu (3) (4) là sinh hoan hỉ, vì thấy lý công đức.
P.M (6) : Kệ (9). Câu (1) (2) nói về HÓA BỒ-TÁT trên. Câu (3) (4) là nói về CÔNG ĐỨC CHU BỊ NHẬP VÔ TẬN.
P.M (7) : Kệ (10) (11). Kệ (10) : Câu (1) (2) tụng về sở cứu. Câu (3) (4) tụng về năng cứu và TRÍ, là thấy thanh tịnh, chính là trí.
Kệ (11) nói về sự viên MÃN. Câu (1) (2) nói về hóa thân viên mãn. Câu (3) (4) nói về hóa nghiệp viên mãn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment