HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1 - phần 1
Phẩm 1 - phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
1/2 DỊ SANH
2. KIM CANG LỰC SĨ
Vì là thị vệ của Phật, gần nên kể tên trước. Muốn nói Phật đức duyên khởi chẳng hoại tướng, các hạnh sở y như bờ kim cang. Hạnh của các chúng quyến thuộc cũng vậy.
Trong phần tán thán công đức có 8 câu. Câu đầu là nói tổng quát về bản nguyện hầu hạ Phật. 7 câu sau là hiển riêng phần công đức.
1. Bản nguyện hầu hạ : Câu “Đã trải qua … thị vệ chư Phật”.
. Nếu thuộc giáo Tam thừa, thì từ Bát địa trở lên mới hiện hình hiển sự hầu cận Phật. Trở về trước chỉ là mật vệ.
. Nếu thuộc Nhất thừa, thì mãn tâm Thập tín trở đi đều hiện hình thị vệ Phật. Như nói ở hai phẩm Hiền Thủ và Minh Pháp. NGUYỆN là tùy tâm mong cầu. Cần khế hợp chí thành, là THỆ.
2. Hiển riêng công đức : Phân làm hai.
1. Nội đức viên mãn : Ba câu “Phật nguyện … Vô lượng … Đều hành …” .
1/ Nguyện hạnh đầy đủ.
2/ Phúc trí thanh tịnh.
3/ Đại định thâm sâu.
2. Ngoại dụng đầy khắp : Bốn câu “Có vô lượng … hóa độ họ”.
1/ Lực đồng quả khắp.
2/ Lớn nhỏ trùng nhập.
3/ Thân xuất chúng : Biểu trưng cho việc không sợ đại chúng.
4/ Tùy loài khéo hiện : Đều y nơi Duyên khởi mà luận.
3. ĐẠO TRÀNG THẦN
Vì ở tại gốc cây, cũng gần nên nói liền sau. Trong phần tán thán công đức, lược nêu nhân duyên đến pháp hội, như chỗ hồi hướng thiện tri thức thứ mười của Thiện Tài được nói ở phần sau. Cũng là thủ hộđạo tràng, như Bảo Kế v.v…
Đạo Tràng Thần, thuộc Y chủ thích. Đạo Tràng tức là Thần, thuộc Trì nghiệp thích. Nhất thừa thì bao gồm cả hai cách giải thích trên, vì đều là pháp môn. Tam thừa thì chỉ có Y chủ thích, vì người và pháp riêng. Tên của các Thần sau cũng theo hai thứ Y chủ và Trì nghiệp này mà giải thích.
4. LONG THẦN : Rồng ở trên cao, là nghĩa che chở, nên nói TRANG NGHIÊM PHÁP ĐƯỜNG. Như văn kinh sau nói, Phổ Quang Đường do rồng làm …
5. ĐỊA THẦN : Thần đất dưới thấp, là nghĩa vận tải. Phần nhiều hiện thân nữ, như Kiên Lao v.v…
6. THỌ THẦN : Thần cây ở giữa, là nghĩa kiến lập. Đức thọ cao tình, nên ĐẠI HỈ.
7. DƯỢC THẦN : Thần dược thảo, là nghĩa đối trị. Pháp dược nghiền nát hoặc nhiễm, là BI môn.
8. CỐC THẦN : Thần lúa là nghĩa trông coi giúp đỡ. Vì nuôi dưỡng trăm họ, khiến trăm họĐẠI HỈ. Như Hậu Tắc cùng Xã Công v.v…
9. HÀ THẦN : Thần sông là nghĩa trôi chảy thấm nhuần. Trong phần tán thán công đức, TINH CẦN là nghĩa trôi chảy, LỢI ÍCH là nghĩa thấm nhuần.
10. HẢI THẦN : Thần biển là nghĩa đầy đủ công đức. Như thập tướng v.v… nói ở văn sau. Trong phần tán thán công đức, dùng pháp đồng sự, có thể tự biết .
11. HỎA THẦN : Thần hỏa là nghĩa thành thục, chiếu sáng, thiêu đốt, trừ ám. Thành thục và chiếu sáng thành hai thứ trang nghiêm. Thiêu đốt và trừ ám là trừ diệt hai chướng.
12. PHONG THẦN : Thần gió là nghĩa tụ tán. Như phong tai làm cho tán, phong luân giữ cho tụ. Tán hoặc mà tụ đức. Cũng khiến cho thân chúng sinh không phân tán. Đều là lực phong thần của pháp giới duyên khởi Xá-na.
Nội phong có 5 thứ :
1/ Tức phong : Hơi thở ra vào từ rốn luân khởi.
2/ Tiêu phong : Hướng xuống dưới làm tiêu thức ăn.
3/ Trì phong : Khiến cho hoạt động của người được tốt đẹp.
4/ Tai phong : Khiến người bị bệnh.
5/ Lực phong : Người sắp chết, nếu giải thích chi tiết, thì mặt có 5 sắc phong : Vào địa ngục thì có sắc đen. Vào súc sinh thì có sắc xanh. Vào ngạ quỉ thì có sắc vàng và lưỡi thè ra ngoài. Vào loài người thì có sắc diện bình thường. Về cõi trời thì sắc diện tươi như hoa, tinh quang khả ái.
13. KHÔNG THẦN: Thần hư không có 7 nghĩa : 1/Vô biên. 2/Vô ngại. 3/Nhất vị. 4/Hàm nhiếp. 5/Hiển thị. 6/Ly nhiễm. 7/Kiên cố. Năm thứ trước là tiêu chuẩn của hư không. Hai thứ sau, nói trong phần tán thán công đức.
14. CHỦ PHƯƠNG THẦN : Thần chủ phương là nghĩa hiển thị. Vì hiển thị phương góc, khiến thấu mê hướng chánh, nên nói KHÉO CHIẾU. Chiếu giống như THỊ (hiển bày).
15. CHỦ DẠ THẦN : Thần chủ ban đêm là nghĩa trợ thành, vì không phải thời chính. Trong đêm tối dẫn dắt chúng sinh, như Dạ Thiên v.v… nói ở văn sau.
16. CHỦ TRÚ THẦN : Thần chủ ban ngày là nghĩa chánh tu, vì là thời chính, nên nói TIN THÍCH CHÁNH PHÁP. Cũng mang nghĩa trang sức, nên nói TRANG NGHIÊM.
17. A-TU-LA : Cách gọi mới là A-tố-lạc. Luận Bà-sa gọi là Phi Thiên. Luận Phật Địa nói A-tu-la thuộc Thiên thú. Nhưng đa phần làm việc gian dối không đúng với thật hạnh của chư Thiên, nên gọi là Phi Thiên. Như ở thế gian, người làm việc ác gọi là phi nhân hay bất chính. Có khi gọi là Bất Tửu, vì trong biển cả làm rượu mà không thành v.v... Cũng có khi gọi là Mẫu của Tỳ-ma. Vốn từ trời sinh ra, nên gọi là Liệt Thiên. Kinh A-hàm nói: “Lúc kiếp sơ thành, Quang Âm Thiên đến giữa biển tắm rửa. Nước chạm vào thân làm mất sự trinh bạch mà thành bào thai. Trải qua tám ngàn năm mới sinh được một bé gái. Thân như Tu-di, có 999 cái đầu. Đầu có ngàn mắt và 999 cái miệng. Miệng có 4 răng. Răng trên phun lửa như ánh chớp. Có 24 tay và 999 cái chân. Nô đùa trên biển, nước sạch vào thân sinh một bào thai, trải qua tám ngàn năm sinh ra Tỳ-ma-chất-đa. Thân có 9 đầu, đầu có ngàn mắt, miệng phun ra nước. Có 999 cái tay và 8 cái chân. Thân hình lớn gấp bốn lần núi Tu-di. Ăn thuần bùn đọng và củ sen. Đa phần đều hay đấu tranh với chư Thiên. Nói rộng trong kinh Chánh Pháp Niệm.
A -tu-la có 5 trụ xứ :
1/ Trong núi Chúng Tương, như văn sau nói.
2/ Phía bắc chân núi Tu-di xuống dưới biển cả hai vạn một ngàn do-tuần. Tu-la vương tên là La-hầu, đây gọi là Chướng Ngại. Có thể dùng tay che mặt trăng mặt trời v.v… thống lĩnh vô lượng chúng.
3/ Từ đó xuống hai vạn một ngàn do-tuần nữa. Vua tên là Dũng Kiện, cũng thống lĩnh nhiều chúng.
4/ Xuống thêm hai vạn một ngàn do tuần nữa. Vua tên là Hoa Man, cũng thống lĩnh nhiều chúng.
5/ Lại qua khỏi đó nữa, có vua tên là Tỳ-ma-chất-đa, đây gọi là Hưởng Cao, là cha của Xá-chi. Thân bằng năm ngọn núi Tu-di. Khi đánh nhau với trời Đế Thích, bắt đầu từ đáy biển hét lớn lên: “Ta là Tỳ-ma-chất-đa. Ta là Tỳ-ma-chất-đa”. Lúc đó các núi ở Diêm- phù đồng thời chấn động. Cũng gọi là Huyệt Cư, vì trong đó có thành Quanh Minh, chúng đều ở trong.
A-tu-la, theo luận Phật Địa quyển thượng, nhiếp thuộc Thiên thú, nhưng theo Tỳ Vân, có khi thuộc quỉthú, vì bị tâm xiểm khúc che đậy. Kinh Chánh Pháp Niệm nói: “A-tu-la nhiếp thuộc ngạ quỉ và súc sinh, vì La-hầu là con sư tử ...”. Kinh Già-đà thì nói A-tu-la thuộc cả ba loại. Do những thuyết trên nên chỉ có ngũ đạo. Nếu phân thành lục đạo, thì thượng trung hạ thuộc thiện thú tương ưng với Thiên, Nhân, A-tu-la. Thượng trung hạ thuộc ác thú tương ưng với tam đồ khổ. Theo luận Đại Trí Độ, La-hầu A-tu-la vương là một đại Bồ-tát.
18. CA-SÚC-LA : Cách gọi mới là Yết-lộ-đồ, đây gọi là Diệu sí điểu. Cánh chim có đủ sắc báu trang nghiêm, không phải chỉ có sắc vàng. Theo kinh Hải Long Vương, hai cánh của chim này cách nhau 336 vạn lý. Cả Diêm-phù-đề chỉ chứa được một chân của nó. Theo kinh Niết Bàn, chim này có thểăn hết rồng, cá, bảy báu v.v… trừ kim cang, vì không tiêu hóa được. Nó ăn các con rồng đúng vào lúc rồng hết tuổi thọ. Lại, rồng nào ở quá khứ đã thọ tam qui thì nó không ăn. Rồng biết tu theo Phật, nó cũngkhông ăn. Theo kinh Tăng Nhất, trong bốn cách sinh của Kim sí điểu thì :
. Nếu là chim noãn sinh, thì từ nơi cây thiết xoa lao xuống biển bắt rồng noãn sinh. Khi nước còn chưa hợp lại, đã trở về cây cũăn rồng. Nếu trúng rồng thai sinh, thì chim liền chết.
. Nếu là chim thai sinh, thì có thể bắt rồng thai sinh và noãn sinh, không thể bắt rồng thấp và hóa sinh.
. Nếu là chim thấp sinh, thì có thể bắt ba loại rồng thai, noãn và thấp sinh, mà không bắt được rồng hóa sinh.
. Nếu là chim hóa sinh, thì có thể bắt cả bốn loại rồng.
Hằng ngày chim có thểăn một đại Long vương và 500 rồng con. Bay một vòng quanh Tứ thiên hạ rồi mới trở lại lần lượt ăn từng con. Khi sắp chết lũ rồng ói ra chất độc nên chim không thểăn tiếp. Đói lại bị lửa thiêu đốt, nó dương cánh lao thẳng xuống bờ phong luân. Bị gió thổi quay trở lên, cứ vậy lên xuống 7 lần không chỗ nghỉ chân, bèn đến chết trên đỉnh núi Kim Cang Luân. Đó là do ăn thịt rồng độc khí phát lửa mà tự cháy. Long vương Nan-đà sợ lửa thiêu cháy mất núi báu, mới mưa xuống dập lửa, hạt to bằng trục bánh xe nên thịt thân chim tiêu nát, chỉ còn quả tim lớn bằng bắp vế người, thuần một màu xanh lưu ly. Luân vương nhặt được dùng làm châu báu. Đế Thích nhặt được dùng làm hạt châu giắt búi tóc. Văn sau nói “Bồ tát Kim sí vương sống chết trong đại hải, quắp lấy Nhân, Thiên, Long đặt lên bờ niết bàn” chính là ý này.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment