THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 2)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH) - Giải thích Chúng Đa văn chủ, Chúng Phổ Hiền,
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm1 - Phần2
Phẩm1 - Phần2
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
16. CHÚNG ĐA VĂN CHỦ ở Bắc phương : Có 8 vị đắc pháp.
Đa Văn Chủ thống lĩnh hai bộ chúng : Một là Dạ-xoa, đây gọi là quỉ Khinh Tiệp. Hai là La-sát, đây gọi quỉ Khả Úy. La-sát nữ thì hay đoạt tinh khí người. Trong tim chúng sinh có 7 giọt cam thủy. Nếu lấy một giọt, người sẽ đau đầu. Lấy hai giọt, sẽ khiến người phiền muộn. Lấy ba giọt, thân người sẽ bệnh. Lấy 4 giọt trở lên, người sẽ chết.
Trong 8 bộ, chỉ có loài rồng Khẩn-na-la và Tỳ-xá-đồ là súc sinh, 5 bộ còn lại đều là quỉ. Do lực của Dạ-xoa và La-sát đều lớn nên cũng gọi là quỉ. Vì thế văn trên đều gọi chúng là quỉ vương.
TRƯỜNG HÀNG
1. TỲ-SA-MÔN DẠ-XOA : BÌNH ĐẲNG QUÁN thuộc lý trí. PHƯƠNG TIỆN thuộc lượng trí. Đây là năng cứu. LY NHẤT THIẾT … là thành tựu cứu sự : Trước là LY ÁC. Sau là dùng thiện hạnh làm lợi ích cho chúng sinh.
2. ÂM CHỦ DẠ-XOA :
1/ Ứng khắp (PHỔ) quần sinh, hiện thân thù THẮNG.
2/ PHỔ độ khắp quần sinh, thành tựu lợi ích thù THẮNG.
3. TRÌ ĐỊA DẠ-XOA : TINH KHÍ có hai :
1/ Ác khí : Phiền não nghiệp khổ. Vì ở đây là pháp môn của Dạ-xoa, nên là NĂNG TRỪ ác khí này.
2/ Thiện khí : Kinh Đại Tập nói: “Trong một đất nước, nếu vị đế vương biết kính phụng Tam bảo thì có 3 thứ tinh khí tăng trưởng. 1/Địa khí : Ngũ cốc được mùa … 2/Nhân khí : Con người ít phiền não, dung mạo tươi tắn vui vẻ. 3/Thiện căn khí : Thường chuyển pháp luân, Tam bảo tăng thịnh …”. Theo văn kinh đây, sinh thiện căn bồ-đề phần, gọi là SINH KHÍ.
4. NHẤT THIẾT CHỦ DẠ-XOA : Trí QUÁN CÔNG ĐỨC Phật. Lời tán thán hiển pháp.
5. THẮNG NHÃN THẦN TÚC DẠ-XOA : Lý trí quán chúng sinh, là Phật pháp thân. Lượng trí soi chiếu nghiệp quả của chúng sinh ở mười phương, nên lấy đó làm tên pháp môn.
6. KIÊN CỐ KIM CANG NHÃ DẠ-XOA : DỮ (cho) AN LẠC có hai : Trước là cái lạc do trừ tà hiển chánh. Sau là cái lạc do giáo hóa khiến chúng sinh điều phục.
7. HỘ MỆNH DẠ-XOA :
1/ Nhậm TRÌ lực dụng của tự thể để độ sinh.
2/ TRÌ (giữ) cái lực của trí dụng để độ sinh.
3/ Phúc trí Phật : Là cái trì rốt ráo trong ba cái trì của luận Địa Trì. Phúc trí này siêu vượt chúng sinh, nên có lực cứu họ. Phần kệ tụng thuận với ý đây.
8. NĂNG PHÁ TU-DI SƠN DẠ-XOA : Nhiều kiếp tu nhân, nhân THUẬN với quả nên nói PHẬT đầy đủthập LỰC.
KỆ TỤNG : 8 bài kệ. Một bài tụng một pháp môn.
P.M (1) (2) : Kệ (1) (2).
P.M (3) : Kệ (3). Câu (1) (2) là ĐOẠT CHÚNG SINH TINH KHÍ. Câu (3) (4) là SINH KHÍ.
P.M (4) : Kệ (4). Câu (1) (2) tụng quá khứ đã quán và tán thán công đức của chư thánh. Câu (3) (4) nói : Nay đã thành tựu công đức, giúp người quán và tán thán công đức.
P.M (5) : Kệ (5). Trước là lý trí. Sau là lượng trí.
P.M (6) : Kệ (6) tụng về hai loại lạc.
P.M (7) : Kệ (7). Trước là do có LỰC CỨU độ chúng sinh mà khiến phúc đức được thù thắng. Sau làđược trí tuệ thâm sâu.
P.M (8) : Kệ (8). Câu (1) (2) là KHỞI TÙY THUẬN. Câu (3) (4) là PHẬT LỰC.
17. CHÚNG LỰC SĨ : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. KIM CANG NHÃN CHIẾU LỰC SĨ : THỊ HIỆN Phật SẮC thân ở đời.
2. LY CẤU NHẬT DỤNG LỰC SĨ : Nơi mỗi lỗ lông, hiện lớp lớp quang sắc.
3. TU-DI HOA QUANG LỰC SĨ : Pháp thân không bờ mé, gọi là LY CẤU. Khởi dụng ứng khắp, gọi là TỰTẠI CHỦNG CHỦNG ...
4. TỊNH VÂN ÂM LỰC SĨ : TỊNH ÂM có 4 nghĩa sâu, rộng, vi diệu và lợi ích nên đều BẤT KHẢ LƯỜNG. Trong phần kệ sau, có bốn câu cứ theo thứ tự mà hiểu.
5. A-TU-LA CHỦ LỰC SĨ : Có hai. Đầu, là tại xứ hiện thân. Sau, là trong chúng thuyết pháp. Đều có nhiều môn nên nói CHỦNG CHỦNG. Phần kệ sau, mỗi thứ có hai câu, cứ theo thứ tự mà hiểu.
6. KIM CANG QUANG LẠC LỰC SĨ : Có hai :
1/ Nhiếp tướng qui chân, nên không có (VÔ) tướng nào (DƯ) là không nhập chân.
2/ Từ chân khởi dụng, nên không có (VÔ) cái chân nào (DƯ) là không nhập vào cái dụng của chân.
Nên lấy đó làm tên pháp môn. Phần kệ, mỗi thứ hai câu, cứ theo thứ tự mà hiển.
7. LÔI ÂM LỰC SĨ: Chuyển tình trụ pháp, gọi là CỬ. Thật thông tất cả, thành tựu tịnh hạnh, gọi là THIÊN.
8. SƯ TỬĐOAN NGHIÊM LỰC SĨ : NHƯ LAI CÔNG ĐỨC, là nói về thể công đức, có đủ cả nhân quả. Phần kệ, câu (1) (2) là nhân. Câu (3) là quả. QUẢNG CHIẾU là dụng. Câu (4) của bài kệ hiển dụng này.
9. THẮNG QUANG MINH LỰC SĨ : Hiện Phật thân và quốc độ, khiến chúng sinh diệt ác giữ thiện. Phần kệ, trước là hiện Phật độ, sau là hiện Phật thân.
10. CHÂU KẾ HOA QUANG LỰC SĨ : Mây quang minh trùm khắp thế gian, tuôn mưa pháp bảo, nên lấy tên pháp môn là BỒ-TÁT … THẾ GIAN VŨ BẢO.
KỆ TỤNG : 10 bài kệ. Mỗi bài tụng một pháp môn, như đã nói trên.
18. CHÚNG PHỔ HIỀN
Hỏi : Sao trước mỗi người chỉ được một pháp môn, mà đây một người lại đủ nhiều pháp môn?
Đáp : Vì trước là nói biệt trong tổng, thuộc Dị sanh. Còn đây nói tổng ở trong biệt, thuộc Đồng sanh.
Hỏi : Sao trước kể ra nhiều người mà đây chỉ có một?
Đáp : Vì hình tượng của người này, nơi đạo vị công đức, tượng trưng cho PHỔ môn. Cho thấy, một tức tất cả, tất cả tức một. Vì PHỔ thu BIỆT vậy.
Văn kinh có hai phần : Trực thuyết và trùng tụng.
TRỰC THUYẾT
Phân làm hai : Trước là tổng. Sau là biệt.
. Tổng : Đoạn “Lúc ấy, Bồ-tát … công đức hải” : Trước là tự phần, sau là thắng tiến.
. Biệt : Có 10 môn.
P.M (1) : “Xuất sinh cứu kính …” : Trang nghiêm quốc độ, điều phục chúng sinh. Hai thứ này tương tức, dung thành tứ cú. Có thể tự hiểu.
P.M (2) : “Nghệ chư Phật …” : Xứng hợp với Phật, khởi Phật đức trùm khắp nhiều như cát bụi.
P.M (3) : “Bồ-tát chư địa …” : Nói về ngũ vị, thập nguyện và hai hạnh.
P.M (4) : “Phổ môn thị hiện …” : Một môn có tất cả môn, gọi là PHỔ MÔN. Trong đó hiện một thân tức là tất cả thân, gọi là PHÁP GIỚI THÂN. Thân đều tuôn mưa pháp, nên nói VÂN.
P.M (5) : “Trì chư Phật độ …” : Thân tạo thành các quốc độ, gọi là hộ TRÌ CHƯ PHẬT ĐỘ. Dùng tam LUÂN điều phục và giáo hóa, nên lấy đó làm tên pháp môn.
P.M (6) : “Nhất thiết chúng trung …” : Hiện thân khắp hết các đại hội Phật quốc, gọi là CHÚNG TRUNG HIỆN. Thuyết bản hạnh của Bồ-tát Nhất thừa, gọi là BỒ-TÁT CẢNH GIỚI.
P.M (7) : “Nhất niệm trung …” : SINH DIỆT, thì cực ngắn. TAM THẾ KIẾP, lại cực dài. NHẤT NIỆM TRUNG, TRI (Trong một niệm, biết) … là biết cực nhanh.
TRI (Biết) … có 3 nghĩa :
a/ Cùng tận được bờ mé của ngắn dài.
b/ Biết cái tương tức tương nhập của chúng.
c/ Đạt được tánh bình đẳng của chúng.
Ba thứ này không hai.
P.M (8) : “Phân biệt hiển hiện …” : CĂN dục của BỒ-TÁT là năng quán. CẢNH GIỚI HẢI là sở quán. Biện riêng hai thứ này, gọi là PHÂN BIỆT HIỂN. Trong đó, hoặc là nêu cảnh nói căn, hoặc là nêu căn thủcảnh. Hoặc cả hai đều hiển.
P.M (9) : “Kỳ thân tự tại …” : THÂN có hai : Tánh và dụng. PHÁP GIỚI cũng có hai : Lý và sự. Theo thứtự, hai thân trùm khắp hai pháp giới. Hai giới và hai thân tự tương tức nhau. Tứ cú vô ngại. Suy nghĩsẽ thấy.
P.M (10) : “Nhất thiết Bồ-tát …” : Trước, nói rộng về nhân pháp. Sau, từ “Nhập Nhất Thiết Trí …” trở đi, nói về cái quả khế hợp với nhân đó. Lại, trước là dùng một lời nói tất cả môn, gọi là QUẢNG PHÂN BIỆT … Sau, trong mỗi môn hiển tất cả pháp, nên nói NHẬP NHẤT THIẾT … Phần kệ tụng thuận với cách giải thích sau.
TRÙNG TỤNG :
Có 20 bài kệ. Cứ hai bài, theo thứ tự tụng một pháp môn. Vì nhân quả không hai, pháp thể toàn thu, nên trực thuyết thì hiển nhân, trùng tụng nói về quả. Văn kinh có phần lệch nhau.
P.M (1) : Kệ (1) là trang nghiêm PHẬT ĐỘ. Kệ (2) là ĐIỀU PHỤC CHÚNG SINH.
P.M (2) : Kệ (3) tụng về NGHỆ CHƯ PHẬT SỞ. Chữ THẤY giống như chữ NGHỆ. Kệ (4) là KHỞI NHẤT THIẾT CỤ TÚC CÔNG ĐỨC.
P.M (3) : Kệ (5) là y vị khởi hạnh. Kệ (6) là y hạnh nhập chứng.
P.M (4) : Kệ (7) (8) : Câu (1) (2) tụng về PHỔ MÔN. Câu (3) (4) (5) (6) tụng PHÁP GIỚI THÂN. Câu (7) (8) tụng về VÂN. Vì tuôn mưa pháp, nên nói là DẪN DẠY …
P.M (5) : Kệ (9) là TRÌ CHƯ PHẬT ĐỘ. Kệ (10) là PHƯƠNG TIỆN LUÂN.
P.M (6) : Kệ (11) là CHÚNG TRUNG HIỂN HIỆN. Kệ (12) là BỒ-TÁT CẢNH GIỚI.
P.M (7) : Kệ thứ (13) và (14). Câu (1) (2) của hai kệ đều tụng về sở TRI, là SINH DIỆT cực ngắn và TAM THẾ KIẾP cực dài. Câu (3) (4) của hai bài kệ đều tụng về năng TRI, là thấu được chân.
P.M (8) : Kệ (15) tụng về CĂN dục của BỒ-TÁT. Đây có hơi lệch với phần trực thuyết trên. Kệ (16) tụng về CẢNH GIỚI HẢI.
P.M (9) : Kệ (17) là thể trùm khắp. Kệ (18) là dụng đầy đủ.
P.M (10) : Kệ (19) tụng về QUẢNG biện PHÁP của Bồ-tát. Kệ (20) là nhập NHẤT THIẾT TRÍ. Cũng có thể tụng chung.
Giải thích phần hạn Phổ Hiền, dùng 8 môn nói về lưới Nhân-đà-la là : 1/Lý. 2/Độ. 3/Thân. 4/Giáo. 5/Pháp. 6/Hạnh. 7/Thời. 8/Sự : là bụi nhỏ v.v…
Luận về đại ý thì văn kinh có hai :
1/ Hễ có sử, tập, phiền não, nhiễm nghiệp và báo thì đều nhập phàm cảnh.
2/ Từ ngoài nhập thánh cảnh. Trong thánh cảnh cũng có hai là lý và lượng. Hai thứ này mỗi thứ lại có hai pháp. Cảnh giới lưới Nhân-đà-la là lượng trong lý và một phần trong lượng. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment