THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1&2)
Giải thích Chúng Đâu suất thiên, Chúng Dạ ma thiên, Chúng Đao lợi thiên, Chúng Nhật thiên tử,
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm1 - Phần 1
Phẩm1 - Phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
8. CHÚNG ĐÂU SUẤT THIÊN : Có 8 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. ĐÂU SUẤT THIÊN VƯƠNG : Vì các căn cơ mà hiện ở đời, gọi là THÀNH TỰU. Tùy
2. LẠC BẢO KẾ VƯƠNG : Là tuệ quang chiếu chân không. Cũng là thể KHÔNG, là TỊNH đức, là QUANG dụng.
3. THẮNG TRÀNG THIÊN : NGUYỆN HẢI vô ngại đồng thể tánh với vật, nên nói NHẬP. Tự tánh ly tướng nên nói TỊCH TĨNH.
4. BÁCH QUANG MINH THIÊN : Theo Già tình, thập tướng đều không, gọi là VÔ LƯỢNG, VÔ TƯỚNG. Theo Biểu đức, tánh đức nhiều như cát sông Hằng, gọi là vô lượng, vô tướng. Khiến cho chúng sinh quán sát, tu hành, diệt hoặc nghiệp chướng, gọi là QUÁN HẠNH.
5. SIÊU DŨNG NGUYỆT THIÊN : PHẬT CẢNH có hai : Phần hạn và sở chứng. SIÊU DŨNG có hai : Siêu phàm phu Tiểu thừa và siêu nghĩ bàn. GIÁC LỰC có hai : Chứng lý và chiếu cơ.
6. THẮNG NHÃN QUANG THIÊN : Dùng công đức Phật huân tập chúng sinh, nên gọi là HỈ TU TẬP. Khiến họ phát tâm bất thối, gọi là BẤT KHẢ TỰ HOẠI BỒ-ĐỀ TÂM.
7. TÚC TRANG NGHIÊM THIÊN : Dùng lượng trí điều phục chúng sinh.
8. LẠC TĨNH DIỆU THIÊN : Đầu tiên, là duyên khởi vô tận. Kế, là chóng quay về chân tánh, cũng là hồi pháp định cơ. Sau là tùy cơ duyên mà ứng hiện, cũng thuộc VÔ BIÊN TÂM HẢI căn khí. NIỆM NIỆM HỒI HƯỚNG thì dục lạc không thể xen vào. TÙY KHÍ PHỔ HIỆN, thì Phật hay ứng hiện.
KỆ TỤNG : Kệ có vài chỗ không theo thứ tự với trường hàng.
PM (1) : Kệ (1). Câu (1) là thể của pháp luân. Câu (2), nói đến đối tượng mà vì đó Như Lai hiện ở đời. Câu (3) là chuyển pháp luân. Câu (4) là kết luận sự thù thắng. Lại, câu (1) (2) là thành tựu. Câu (3) (4) là chuyển pháp luân.
PM (2) : Kệ (3). Câu (1) (2) tụng về HƯ KHÔNG GIỚI. Câu (3) (4) là TỊNH QUANG.
PM (3) : Kệ (2). Câu (1) (2) tụng về QUẢNG NGUYỆN HẢI. Câu (3) (4) NHẬP CHƯ CHÚNG SINH TỊCH TĨNH. CÁC PHÁP là phương tiện. THẮNG là tên vị thiên.
PM (4) : Kệ (4). Câu (1) (2) là quán đối tượng. Câu (3) tụng về VÔ LƯỢNG VÔ TƯỚNG, là quán cảnh. Câu (4) là QUÁN HẠNH thành tựu.
PM (5) : Kệ (6). Câu (1) (2) tụng về PHẬT CẢNH GIỚI SIÊU DŨNG. Câu (1) (2) tụng về GIÁC LỰC. Cũng có thể lấy kệ (5) tụng cho pháp môn (5), còn kệ (6) tụng cho pháp môn (7).
PM (6) : Kệ (7). Câu (1) (2) là HỈ TU TẬP. Câu (3) tụng về BỒ-ĐỀ TÂM. Câu (4) là BẤT KHẢ HOẠI.
PM (7) : Kệ (5) tụng về PHẬT ĐIỀU PHỤC CHÚNG SINH PHƯƠNG TIỆN.
PM (8) : Kệ (8). Câu (1) (2) tụng về VÔ BIÊN TÂM HẢI. Nói PHẬT TỬ là NIỆM NIỆM … HỒI HƯỚNG có 3 nghĩa : a/Vân tập. b/Hướng về Phật hưng cúng dường. c/Hướng về Phật nghe pháp. Như kinh nói: “Đều đến vân tập, cúng dường và nghe pháp”. Câu (4) là TÙY KHÍ PHỔ HIỆN.
9. CHÚNG DẠ MA THIÊN : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. DẠ MA THIÊN VƯƠNG : Khiến cho chúng sinh lìa ưu não ở thế gian, hướng về thiện căn xuất thế, thuận với chân thể. Dứt tất cả phiền não được công đức pháp thân gọi là LY ƯU. Dạy đạo thanh tịnh cho chúng sinh, gọi là HƯỚNG THIỆN CĂN.
2. DUYỆT LẠC QUANG THIÊN : Vì phần hạn sở duyên không phải là một.
3. VÔ TẬN TUỆ THIÊN : Trước là đại trí lìa lỗi không trụ sinh tử. Sau là đại bi nhiếp sanh không trụ niết bàn. Lại, nhờ đầy đủ đại bi cứu sanh, khiến chúng sinh lìa khổ hoạn. Phần kệ thuận với cách giải thích này.
4. TỊNH TRANG NGHIÊM THIÊN : Hiểu được nhiều loại thiện căn sai biệt vô biên như tín v.v… tức căn hạnh nhiều. Lại biết trong một căn có tất cả căn, tương tức, tương nhập v.v… trùng trùng vô tận. Lại biết các CĂN tuy đồng chân tánh mà riêng rẻ rõ ràng, nên nói PHÂN BIỆT.
5. TRÌ TU-DI SƠN : Môn Đà-la-ni cùng tận pháp giới nên nói VÔ LƯỢNG. TỔNG TRÌ các pháp rõ ràng như nước và gương, nên nói CHIẾU MINH (soi rõ). Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, vùng ven thế giới Sa-bà có núi Tu-di, trên đó có vị Thiên vương tên TRÌ TU-DI, đắc tam-muội Thủ Lăng Nghiêm, trụ trong cung trời Đế Thích, trên khắp trăm ức đỉnh Tu-di, người khác không thể thấy. Nay lại ở trong chúng DạMa này, là do Bồ-tát tự tại các nơi hóa hiện, không có gì lạ.
6. BẤT TƯ NGHỊ TUỆ THIÊN : Phần này có 4 nghĩa :
1/ Duyên tạo nghiệp : Là thân v.v… làm duyên.
2/ Nghiệp sở tạo : Là thiện, ác và bất động.
3/ Duyên khởi vô tác : Tánh của nghiệp là chân.
4/ Nghiệp tuy chân mà không mất sinh quả. Vì trải qua các CẢNH GIỚI, vì NGHIỆP HẠNH, vì CHÂN THẬT, vì BẤT TƯ NGHỊ.
Lại, duyên Phật làm CẢNH GIỚI. Nghiệp sở tạo là thiện thì nhất định không hư dối, nên nói CHÂN THẬT. Nhân thiện tuy nhỏ nhưng nhất định sẽ được đại quả bồ-đề, nên nói không thể nghĩ bàn (BẤT TƯ NGHỊ), như hạt Ni-câu-đà v.v… Phần kệ tụng thuận với cách giải thích này.
7. TỀ LUÂN THIÊN : Trước là chuyển vô tận pháp luân Nhất thừa, Tam thừa v.v… Sau là uốn nắn chúng sinh, thành tựu lợi ích, gọi là ĐIỀU PHỤC. Lại, đầu là thể pháp luân, sau là lợi ích của pháp luân. Là ĐIỀU cho nhập pháp và PHỤC trừ lỗi ác.
8. BẤT TƯ NGHỊ QUANG THIÊN : CHÚNG SINH GIỚI là sở kiến. THẮNG NHÃN là năng kiến. PHỔ QUÁN là chánh kiến. Vì thấy chúng sinh giới cực lớn, vì là chân tánh, vì tất cả trong một, vì đầy đủ thắng nghĩa nhân quả v.v…, vì như lưới châu trời Đế Thích, nên gọi là PHỔ (khắp). Tam thừa không có loại nhãn này nên nói THẮNG. Lại, THẮNG NHÃN quán căn khí của chúng sinh mà ban mưa pháp đầy khắp. Phần kệ sau thuận với ý này.
9. NGUYỆT TƯ NHAN THIÊN : Dùng phổ trí soi chiếu khiến pháp được hiện. Lại, vì là PHÁP THẬT nên hiện khắp (PHỔ HIỆN) quần sinh.
10. PHỔ ÂM THIÊN QUÁN THIÊN : THIÊN CHÚNG là muốn nói đến căn khí. Sau, là ứng với căn khí đó mà ban pháp giáo hóa khiến trừ tâm cấu hoặc, nên nói TÂM TỊNH. Đây là lợi ích của việc giáo hóa. Lại, tuy giáo hóa mà không thấy có năng hóa sở hóa, cũng gọi là TÂM TỊNH, thuộc về tự lợi.
KỆ TỤNG : Có 8 bài kệ.
7 kệ đầu, mỗi kệ tụng một pháp môn. Kệ cuối tụng hai pháp môn.
P.M (1) : Kệ (1). Câu (1) (2) tụng về LY ƯU. Câu (3) (4) là HỒI HƯỚNG THIỆN CĂN.
P.M (2) : Kệ (2). Câu (1) (2) tụng về chánh lý, chỉ cho CẢNH GIỚI. Câu (3) nói đến đại trí. Câu (4) nói về đại định. Lại, câu (1) (2) nói về sở chứng. Câu (3) nói về năng chứng. Câu (4), nói đến chứng cũng là tên của vị thiên.
P.M (3) : Kệ (3). Câu (1) (2) LY CHƯ HOẠN. Câu (3) là CỤĐẠI TỪ BI. Câu (4) kết luận tên vị thiên.
PM (4) : Kệ (4). Câu (1) (2) là liễu đạt vô ngại, chỉ cho PHÂN BIỆT nói trên. Câu (3) tụng về CHƯ CĂN, là HẠNH, tức là căn hạnh. Câu (4) là biết ý của chúng sinh để giáo hóa.
P.M (5) : Kệ (5). Tụng luôn cho P.M (7) là chuyển pháp luân, vì đồng. Câu (1) là VÔ LƯỢNG TỔNG TRÌ. Câu (2) và (3) là CHIẾU MINH và CHUYỂN PHÁP LUÂN (thuộc PM 7). Câu (4) là lết luận tên vị thiên. Theo Địa Luận thì câu (1) là thể. Câu (2) là nhân. Câu (3) là quả. Câu (4) kết luận.
PM (6) : Kệ (7). Câu (1) THẤY THÂN NHƯ LAI là nói đến CẢNH GIỚI. Câu (2) (3) là NGHIỆP HẠNH CHÂN THẬT : Câu (2) là diệt nhân nhiễm ô. Câu (3) là lìa nhiễm duyên. Câu (4) là BẤT TƯ NGHỊ , vì chứng được cảnh giới diệu tịnh.
PM (8) : Kệ (6). Câu (1) (2) tụng về THẮNG NHÃN của diệu thân. Câu (3) là quán rồi thì hiện thân. Câu (4) là kết luận. QUANG là tên vị thiên. THẮNG là chỉ cho nhãn căn. CẢNH GIỚI là thứ được quán (sở quán).
PM (9) (10) : Kệ (8). Câu (1) (2) là PHỔ HIỆN. Câu (2) nói về THI TÁC. Câu (3) kết tên vị thiên thứ(10).
10. CHÚNG ĐAO LỢI THIÊN : Có 10 vị đắc pháp. Chánh văn sang phần 2 (xem tại đây)
TRƯỜNG HÀNG
1. THÍCH ĐỀ HOÀN NHÂN : TAM THẾ PHẬT XUẤT HƯNG … là ba thời hiện tại trong chín đời. Vì thành tựu các căn cơ mà hưng hoặc phế, thông cả y và chánh báo, là cảnh sở quán. Sau, nói về năng quán, là nơi cái hưng và phế trước mà diệu đạt được thắng dụng, gọi là QUYẾT ĐỊNH TRÍ. Thuận lý khéo chứng, gọi là NIỆM HỈ. Lại, dụng tuy khởi tận mà lý chiếu trạm nhiên, nên nói ĐẠI TRÍ NIỆM HỈ.
2. PHỔ XƯNG MÃN THIÊN : Hai sắc đồng như, công đức vốn tịnh. Lại, Phật hiện đồng với sắc của chúng sinh, nên nói CHÚNG SINH SẮC. Sắc của chúng sinh thì như, nên nói NHƯ LAI SẮC. Từ thể khởi dụng, gọi là CÔNG ĐỨC LỰC. Đây là kết lại phần trước. Dụng không khác thể, nên nói THANH TỊNH. Đây là kết phần sau.
3. TỪ NHÃN THIÊN : BÌNH ĐẲNG, vì đồng một thể, vì trí dẫn đường, vì không phân biệt oán thân. VÂN, vì che chắn hư không, vì thấm nhuần lợi ích, vì hàm chứa nước pháp, vì tuôn mưa thấm ướt mọi căn cơ.
4. BẢO QUANG XƯNG THIÊN : QUANG SẮC của NIỆM PHẬT … số nhiều hơn bụi, nên nói là CHÚNG. Mỗi thứ đều nhiếp đủ công đức pháp giới, nên nói đầy đủ (CỤ TÚC). Từng thứ tác dụng trùm khắp pháp giới mà không ngăn trở nhau, nên nói PHỔ THẾ.
5. LẠC HỈ KẾ THIÊN : Liễu đạt nghiệp quả sai biệt, cũng liễu đạt nghiệp quả đều như, nên nói QUÁN CHÚNG SINH NGHIỆP BÁO. Lại, Phật lấy tịnh NGHIỆP làm duyên, khiến chúng sinh thấy Phật là BÁO. Lại, chúng sinh y nơi chủng Phật được thiện căn là NGHIỆP. Duyên với Phật mà được thấy là BÁO.
6. LẠC NIỆM TỊNH THIÊN : PHẬT QUỐC CỤ TỊNH, vì được trang nghiêm bằng báu thanh tịnh, vì thọdụng diệt hoặc. TỊNH là sở cư, là cái tịnh của bản tánh.
7. TU -DI THẮNG ÂM THIÊN : Thế gian duyên khởi, gọi là SINH. Vô tác tức chân, gọi là DIỆT. Vì không hai nên sinh tức là diệt, diệt tức là sinh. Kinh nói: “Vừa sinh liền có diệt. Không vì người ngu nói. Tất cảpháp không sinh. Ta nói nghĩa sát na ...”. Phật trí soi chiếu, gọi là QUÁN.
8. NIỆM TRÍ TUỆ THIÊN : Lỗ lông duyên khởi hiện các hạnh pháp, gọi là KHỞI CHƯ HẠNH. Khiến tu hạnh Bồ-tát, gọi là HÓA CHÚNG SINH NHÂN. Vì đây là NHÂN địa của người tu hành. Tu hành thành tựu, thể nhập lý tánh, gọi là SIÊU NIỆM.
9. TỊNH HOA QUANG THIÊN : LẠC có 4 thứ :
1/ Lạc tán loạn ở Dục giới.
2/ Lạc của định địa.
3/ Lạc của tiểu niết bàn.
4/ Lạc của đại niết bàn, đại bồ đề, đại từ v.v…
Lạc của Nhất thừa, Tam thừa v.v… đều do Phật mà được thành tựu. Nay y cứ theo cái lạc thứ nhất, mà nói là THIÊN LẠC, vì là chư thiên thuộc cõi trời Dục giới. Lý thật thì chung tất cả. Gọi Phật là đệ nhất nghĩa tịnh thiên, là chỉ cho cái lạc này.
10. TUỆ NHẬT NHÃN THIÊN : Dạy các thiên tử một niệm niệm Phật, gần thì lìa được ác thú, xa thì diệt si hoặc, nên nói LƯU THÔNG THIỆN CĂN.
KỆ TỤNG :
P.M (1) : Kệ (1). Câu (1) (2) là TAM THẾ PHẬT XUẤT HƯNG và ĐẠI TRÍ. Câu (3) tụng về TRỤ và DIỆT, chỉ cho Phật quốc độ thân. Câu (4) là NIỆM HỈ.
P.M (2) : Kệ (2). Câu (1) (2) là CHÚNG SINH SẮC và NHƯ LAI SẮC. Câu (3) (4) là CÔNG ĐỨC LỰC THANH TỊNH và kết tên người đắc pháp. Lại, câu (1) hiển sự THANH TỊNH. Câu (2) hiển hai SẮC : Sởứng là chúng sinh sắc. Câu (3) hiển CÔNG ĐỨC LỰC.
P.M (3) : Kệ (3). Câu (1) là ĐẠI TỪ. Câu (2) là BÌNH ĐẲNG. Câu (3) là che chở (ẤM PHÚ). Câu (4) là kết người thấy pháp.
P.M (4) : Kệ (4). Câu (1) (2) tụng về thế lực trùm khắp của niệm Phật (NIỆM PHẬT PHỔ THẾ). Câu (3) (4) là CHÚNG QUANG SẮC CỤ TÚC và kết luận.
P.M (5) : Kệ (5). Câu (1) tụng chung về NGHIỆP BÁO. Câu (2) là QUÁN. Câu (3) (4) tụng riêng vềthiện nghiệp báo và quán.
P.M (6) : Kệ (6). Câu (1) (2) tụng về CHƯ PHẬT QUỐC. Vì trí chánh giác tức là khí thế gian. Câu (3) (4) tụng về CỤ TỊNH, là thân thọ dụng thanh tịnh, và kết luận, vì NIỆM là tên vị thiên.
P.M (7) : Kệ (7). Câu (1) tụng về QUÁN. Câu (2) tụng về THẾ GIAN. Câu (3) (4) tụng về SINH DIỆT. Ứng cơ là nghĩa sinh diệt. Cũng là khiến cho trí sanh, ‘hoặc’ diệt. DIỆU ÂM là tên vị thiên.
P.M (8) : Kệ (8). Câu (1) là KHỞI CHƯ HẠNH. Câu (2) là HÓA CHÚNG SINH. Chữ PHẬT TỬ giống như chữ NHÂN. Câu (3) (4) là SIÊU NIỆM và kết luận tên vị Thiên.
P.M (9) : Kệ (9). Câu (1) (2) là NHẤT THIẾT THIÊN NGU LẠC (Cái vui của tất cả chư thiên). Câu (3) (4) là cái nhân sinh ra cái vui đó. Câu (4) kết người đắc pháp.
P.M (10) : Kệ (10). Câu (1) (2) tụng về THIÊN XỨ GIÁO HÓA. Câu (3) (4) tụng về LƯU THÔNG THIỆN CĂN. TUỆ NHẬT là tên vị thiên.
11. NHẬT THIÊN TỬ : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. NHẬT QUANG THIÊN TỬ : Mặt trời trí tuệ tỏa sáng soi CHIẾU CHÚNG SINH hải, tánh trùm khắp ba thời. Vi VỊ LAI khó biết nên nêu riêng ra. Ứng với bản duyên khởi an cố nhiếp đức, nên nói CHÁNH TRỤTRANG NGHIÊM. Lại, quang minh của Phật tuệ soi chiếu các căn cơ, khiến họ chánh trụ tu hành trang nghiêm đến tận thời vị lai.
2. NHÃN DIỄM QUANG THIÊN : CHIẾU CHƯ SẮC, tức đồng với Nhất thiết chủng trí hải. Cũng là dùng TRÍ HẢI soi chiếu làm hiện các sắc. Cũng là chiếu soi sắc tướng của chúng sinh để biết tâm họ. Cũng là soi thấy SẮC như bóng hiện dưới nước trong tâm khổng . Cũng biết được tâm niệm của chúng sinh, khiến họ được khai ngộ mà phát sinh đại trí. Phần kệ thuận với nghĩa cuối này.
3. TU-DI QUANG THIÊN : Phật làm tăng thượng duyên, giúp chúng sinh phát khởi công đức ‘ly nhiễm bỏ liệt theo ưu’, nên nói CHUYỂN THẮNG. Lại, Phật thân ra đời gọi là KHỞI CHÚNG SINH, vì Phật là đại thân của chúng sinh. Thuyết pháp lợi sinh, gọi là CHUYỂN THẮNG THANH TỊNH CÔNG ĐỨC.
4. TỊNH BẢO NGUYỆT THIÊN : KHỔ HẠNH là nhân. ĐỘ có hai nghĩa : 1/Đến : Đến cửa nhân, là bờ khổhạnh này. 2/Vượt qua : Qua nhân được quả.
5. DŨNG MÃNH BẤT THỐI THIÊN : VÔ CHƯỚNG NGẠI, chỉ cho trí thể. PHỔ CHIẾU (chiếu khắp pháp giới), chỉ cho trí dụng. Chiếu một pháp liền hiện tất cả pháp, nên nói VÔ CHƯỚNG NGẠI. Vô ngại mà chiếu, nên nói PHỔ CHIẾU. Lại, biện tài vô tận gọi là VÔ CHƯỚNG NGẠI. Thuyết pháp đầy khắp gọi là PHỔ CHIẾU. Phần kệ thuận với ý đây.
6. DIỆU HOA QUANG THIÊN : Phật quang soi chiếu các căn cơ, khiến họ phát khởi ý đạo, nên nói TỊNH NHẬT QUANG CHIẾU CHÚNG SINH THÂN.
7. THẮNG QUANG THIÊN : Phật quang soi chiếu khiến chúng sinh tăng trưởng thiện căn, gọi là TÍCH TẬP CÔNG ĐỨC. Lại, do Phật nhiều kiếp tích tập công đức, nên được QUANG CHIẾU THẾ GIAN. Vì thếmà năng chiếu.
8. BẢO KẾ THIÊN : Tánh hải đầy đủ công đức đáng quí, gọi là BẢO. Ứng cơ ấn hiện y báo, chánh báo, giáo nghĩa nên nói CHÚNG BẢO HẢI …
9. MINH NHÃN THIÊN : Khéo trừ si ám, gọi là KHAI THANH TỊNH NHÃN. Khiến thấy chân lý, gọi là QUÁN PHÁP GIỚI TẠNG.
PHÁP GIỚI TẠNG, Phật Tánh Luận nói: “Ngũ tạng v.v…”
10. THẮNG ĐỊA THIÊN : Tuy chúng sinh đa phần chiêu cảm Ngũ thừa, nhưng rốt cuộc cũng qui về nhất lý. Vì các thừa đều thanh tịnh, nên gọi là TỊNH THỪA. Lại, phân một làm năm hoàn toàn không tạp lẫn, cũng nói là TỊNH.
KỆ TỤNG : Có 11 bài kệ
P.M (1) : Kệ (1). Câu (1) tụng về TẬN VỊ LAI TẾ. Câu (2) tụng CHIẾU THẬP PHƯƠNG CHƯ CHÚNG SINH. Chúng sinh thế gian ngay tại khí thế gian, nên văn nêu chung. Câu (3) chỉ cho CHÁNH TRUï, vì cơ duyên khế hợp. Câu (4) tụng về TRANG NGHIÊM.
P.M (2) : Kệ (2). Câu (1) (2) là CHIẾU CHƯ SẮC. Câu (3) (4) là VÔ THƯỢNG TRÍ HẢI.
P.M (3) : Kệ (3). Câu (1) (2) là KHỞI CHÚNG SINH. Câu (3) (4) là CHUYỂN THẮNG THANH TỊNH CÔNG ĐỨC. Cũng là tụng về chúng sinh sở khởi. Đây lược bớt không thấy nói đến.
P.M (4) : Kệ (4). Câu (1) (2) là KHỔ HẠNH, vì là hạnh khó làm. Hạnh khó làm có 4 thứ :
1/ Khó về thời gian, như phải trải qua vô số kiếp.
2/ Khó về nơi chốn, như trải qua các cõi.
3/ Khó về các hạnh, như trải qua các hạnh khó khổ.
4/ Chỗ hướng đến khó, như trải dài sinh tử vì chúng sinh.
Câu (3) (4) là NHẠO ĐỘ, chính là quả.
P.M (5) : Kệ (5). Câu (1) là VÔ CHƯỚNG NGẠI. Câu (2) (3) (4) là PHỔ CHIẾU.
P.M (6) : Kệ (6). Câu (1) (2) là TỊNH NHẬT QUANG CHIẾU. Câu (3) (4) là sở CHIẾU CHÚNG SINH THÂN và tướng lợi ích.
P.M (7) : Kệ (7). Câu (1) tụng về THẾ GIAN sở chiếu. Câu (2) (3) (4) đều tụng về QUANG minh năng chiếu và TÍCH TẬP CÔNG ĐỨC.
P.M (8) : Kệ (8). Câu (1) tụng về CHÚNG BẢO HẢI. Câu (2) (3) (4) đều là HIỆN CHỦNG CHỦNG SẮC CẢNH GIỚI : Tánh hải ấn cơ, pháp nhĩ hiển hiện y báo, chánh báo, giáo nghĩa, nên nói PHÁP NHƯ THỊ.
P.M (9) : Kệ (9). Câu (1) (2) là NHẤT THIẾT THÚ KHAI TỊNH NHÃN. Câu (3) (4) là QUÁN PHÁP GIỚI TẠNG.
P.M (10) : Kệ (10) (11). Kệ (1) tụng về CHÚNG SINH THỪA, là ngũ thừa phương tiện. Kệ (2) tụng vềTỊNH, là hội ngọn về gốc. Kệ (1) chỉ cho Đồng giáo. Kệ (2) chỉ cho Biệt giáo. Không hai nên nói TỊNH.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment