THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 2)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (Nội chúng)
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm1 - Phần2
Phẩm1 - Phần2
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (NỘI CHÚNG)
NỘI CHÚNG
TRƯỜNG HÀNG
HẢI TUỆ v.v… là hiển nhân và quả đồng một thể, y báo và chánh báo vô ngại, cảnh và trí không hai. Duyên khởi LÂU QUÁN trong nhân ngoài quả. Vì trong tức là ngoài, nên XUẤT sinh BỒ-TÁT. Văn kinh có 3 phần : Trước là nói về xuất xứ. Kế, nói về sở xuất nhân (người). Sau, nói về hưng cúng dường.
1. Xuất xứ :
1/ TÒA SƯ TỬ trong LÂU QUÁN : Là trụ xứ riêng của Như Lai.
2/ LÂU QUÁN cũng là TÒA : Như văn kinh nói ĐÀI CAO LÂU QUÁN.
2. Sở xuất nhân : Có ba : Nêu số, kể tên và kết số.
3. Cúng dường : Có ba, là thân, khẩu, ý. Thứ đầu là tài vật. Hai thứ sau là pháp.
A. Thân Nghiệp Cúng Dường : Trước là chánh cúng : Có ba thứĐẠI là cúng dường đại, tâm đại và điền đại. Sau, qui về tịnh.
1. Ba thứ đại :
. “Rải các hoa đẹp …” là CÚNG DƯỜNG ĐẠI, có 5 việc : Rải hoa, đốt hương, phóng quang, trổi nhạc và mưa báu, như văn kinh đã nói. Các thứ này đều là tướng trạng của pháp môn duyên khởi. Đó là hoa hạnh, hương giới, quang trí, ngữ âm và pháp bảo được thuyết giảng mà không làm mất đi các sựtướng hoa, hương v.v…
. “Số vật phẩm mà …”, là nói về lượng cúng dường : Một là cúng dường nhiều. Hai là cúng dường rộng.
. “Chư vị đều đại hoan hỉ …”, là nói về TÂM ĐẠI và ĐIỀN ĐẠI. Trong ĐIỀN ĐẠI, trước là Phật, sau là đại chúng.
Hỏi : Sao trong phần ngoại chúng không nói đến cúng dường tài vật mà đây lại nói?
Đáp : Vì tài cúng của ngoại chúng không hiển được sự thù thắng, chỉ có tài cúng của nội chúng mới hiển được sự kỳ đặc, nên đây hiển riêng.
. “Mưa làm mưa …” là luận chung.
2. Qui về tịnh : Câu “Tùy phương xuất sinh …”.
B. Ý nghiệp cúng dường : Pháp cúng dường có hai. Trước, nói về pháp. Sau, nói về cúng dường pháp. Cúng dường pháp có hai : Trước, nói về sở đắc. Sau, kết thành tựu viên mãn.
1. Sở đắc :
. “Chư vị Bồ-tát đó …” là ứng vào cảnh mà nêu môn.
. “Đối với cảnh giới … biện tài pháp hải”, hiển tự lợi và lợi tha.
. “Lại đắc pháp môn …” là ứng vào trí mà nêu môn.
. “Trụ ngay … nhập được” là hiển nhân quả.
2. Kết thành tựu viên mãn :
a. Kết nhân đã đầy tròn : Câu “Thành tựu đầy đủ …”. Kinh Niết Bàn nói: “Ái có hai thứ : Một là ngạ quỉái. Hai là pháp ái. Như Lai không có ngạ quỉ ái. Vì thương xót chúng sinh nên có pháp ái”. Đây, diệu trí khéo thủ chân lý, nên gọi là PHÁP ÁI. Ái mà vô tướng, gọi là ĐẠI LỰC.
b. Kết quả viên mãn : Câu “Vô lượng … rốt ráo”. Câu (1) là trí đức. Câu (2) là đoạn đức. Câu (1) là tu thành. Câu (2) là nhập lý. Câu (1) là vô thường đức. Câu (2) là thường đức. Câu (1) là hữu vi. Câu (2) là vô vi. Câu “Đều đã cúng …” là cúng Phật.
Hỏi : Vì sao trong phần cúng dường tài vật, thì cúng cả Phật và Bồ-tát, mà trong phần cúng dường ý nghiệp này chỉ có Phật?
Đáp : Là để hiển pháp cúng dường thâm sâu vi tế, chỉ có Phật là cùng tột.
C. Ngữ nghiệp cúng dường : Trước là nêu người. Sau, là kệ tán thán.
Vì trong mỗi một vật cụ trang nghiêm đều hiện ra các chúng Bồ-tát Hải Tuệ v.v… Nay nêu chung các chúng, trong đó mỗi thượng thủ đều gọi là Hải Tuệ, đồng tụng kệ này, nên nói TẤT CẢ HẢI TUỆ…
KỆ TỤNG : Có 19 bài : Theo nghĩa, phân làm 9.
1. Kệ (1) : Nói về THỂ thanh tịnh. Cảnh và trí vô ngại.
2. Kệ (2) (3) (4) : Nói về TƯỚNG đầy đủ, là tam thế gian.
3. Kệ (5) (6) : Nói về DỤNG thù thắng. Trước, hiển sự mau chóng. Sau, là lợi ích.
4. Kệ (7) (8) : Nói về nhân quá khứ thâm sâu kiên cố.
5. Kệ (9) : Tán thán đại chúng quán Phật không chán.
6. Kệ (10) (11 (12) (13) : Tán thán tòa báu trang nghiêm. Kệ (10) nói về Phật. Kệ (11) nói về hương. Kệ (12) nói về chuỗi hoa. Kệ (13) nói về quang minh.
7. Kệ (14) (15): Tán thán việc thuyết pháp.
8. Kệ (16) (17) : Tán thán xứ viên mãn.
9. Kệ (18) (19) : Tán thán Phật trùm khắp, cũng là kết luận chung cho phần Chúng sinh viên mãn.
III. PHÁT KHỞI
Tự phần phát khởi có hai : Trước, là đất chấn động. Sau, là hưng cúng dường.
1. ĐẤT CHẤN ĐỘNG có ba :
- Động nhân là Phật lực
- Động xứ là Hoa Tạng
- Động tướng là 6 loại v.v…
Trong đó có 4 câu phân biệt : 1/Động xứ. 2/Động tướng. 3/Sở vi. 4/Động thời.
1. Động xứ : Đoạn “Lúc ấy do thần lực … 18 tướng chấn động”.
Hỏi : Vì sao đây là nước Ma-kiệt mà lại nói là Hoa Tạng giới?
Đáp : Y cứ theo văn kinh sau thì có 4 câu :
. Hoặc chỉ có thế giới Sa-bà, là ứng với Tam thừa mà nói.
. Hoặc chỉ có thế giới Hoa Tạng, là ứng với Nhất thừa Biệt giáo mà nói.
. Hoặc thế giới Sa-bà trong thế giới Hoa Tạng, là ứng với Nhất thừa Đồng giáo mà nói.
. Hoặc không Hoa Tạng cũng không Sa-bà, là ứng vào tánh bình đẳng của quốc độ hải mà nói.
Cho nên, tùy theo pháp được nói mà XỨ có sai biệt. Văn đây, ứng với Biệt giáo mà nói.
2. Động tướng : Đoạn “6 loại 18 tướng … biến dũng”.
. 6 tướng chấn động : Giữa nổi lên, bốn bên chìm xuống. Tây nổi lên, đông chìm xuống v.v… Cứ vậy mà giữa, bên và bốn phương, tất cả có 6 tướng chấn động. Đây là nhắm vào Tam thừa và Đồng giáo mà nói.
. 18 tướng chấn động : Là nhắm vào Biệt giáo và Đồng giáo mà nói.
ĐỘNG là lắc lư không yên. Như gió làm rung cây. Theo kinh Niết Bàn, chấn động nhỏ gọi là địa động, chấn động lớn gọi là đại địa động. Có tiếng vang nhỏ gọi là địa động, có tiếng vang lớn gọi là đại địa động. Chỉ có đất động, gọi địa động. Núi, sông, cây, cỏ cùng với các biển lớn, tât cả đều động, gọi là đại địa động. Động, gọi là địa động. Khi động có thể khiến cho tâm chúng sinh động, gọi là đại địa động. Đây là ứng vào Tam thừa mà nói các thứ này.
Ở đây, động có 3 loại : 1/Động : Là một phương động. 2/Biến động : Là bốn phương đều động. 3/Đẳng biến động : Là cả tám phương đều động, cũng động cả bốn phương, tám phương, mười phương.
Lại ĐỘNG, thì chỉ có một phương động. BIẾN ĐỘNG, thì mười phương thứ lớp trước sau động. ĐẲNG BIẾN ĐỘNG, thì mười phương đồng thời động. Kinh Đại Bát-nhã gọi là động, đẳng động và đẳng cực động. 5 tướng kia đều y theo đây. Mỗi thứ đều có hạ, trung, thượng, cũng gọi là tiểu, trung, đại. Nên có 18 tướng.
KHỞI, là diêu khởi như bột nổi lên. Kinh Đồng Tánh gọi là ‘tác diêu’. Kinh Đại Bát-nhã gọi là ‘kích’, là có sự va đập.
GIÁC, là tiếng động lớn làm giựt mình tỉnh ngộ. Kinh Đồng Tánh gọi là ‘thanh’. Đại Bát-nhã gọi là bạo (nổ). Địa Luận Thích gọi là ‘thượng khứ’.
CHẤN, là tiếng động ngầm phía dưới. Địa luận gọi là ‘hạ khứ’.
HỐNG, là tiếng gầm rú.
DŨNG, là vọt lên như suối phun v.v…
Sáu phương chìm nổi là đông vọt, tây chìm v.v… Ba thứ động, khởi, dũng thuộc về sắc. Ba thứ còn lại thuộc thanh. Sáu thứ này đều gọi là động, là vì thứ đầu thường thù thắng và mang tính tổng quát. Năm thứ còn lại theo chỗ riêng mà đặt tên. Như thập sắc xứđồng gọi là sắc xứ mà sắc xứ đầu tiên cũng có tên là sắc xứ.
3. Sở vi : Để biết vì sao mà động.
. Y nơi thắng tư duy, kinh luận Phạm Thiên nói ĐỘNG là vì :
1/ Để cho các ma sợ hãi.
2/ Để khi thuyết pháp đại chúng không tán tâm.
3/ Giúp người phóng dật sinh giác tri.
4/ Để chúng sinh nghĩ đến pháp tướng.
5/ Để chúng sinh quán thuyết pháp xứ.
6/ Để kẻ thành tựu được giải thoát.
7/ Khiến tùy thuận hỏi (nghe) chánh nghĩa.
8/ Luận Trí Độ nói: “Muốn để chúng sinh biết tất cả pháp là không, vô thường”.
9/ Cổ đức nói: “Để phá đi sự chấp thủ của người đời”.
10/ Biểu trưng cho việc thuyết giảng đại pháp, nên hiện điềm lành.
. Theo Địa Luận, động vì bốn hạng chúng sinh :
1/ Chúng sinh bất thiện.
2/ Chúng sinh tin thích những thứ thuộc cõi trời.
3/ Chúng sinh ngã mạn.
4/ Chúng sinh thích chú thuật v.v...
4. Động thời : Luận Đại Trí Độ nói có 8 thời. Trường A-hàm thì nói :
1/ Khi đại thủy động.
2/ Khi tôn thần tỷ thí thần lực.
3/ Khi Như Lai nhập thai.
4/ Khi Như Lai ra khỏi thai.
5/ Khi Như Lai thành đạo.
6/ Khi Như Lai chuyển pháp luân.
7/ Khi Như Lai ngưng giáo hóa.
8/ Khi Như Lai nhập niết bàn.
9/ Hàng Tì-kheo đại thần túc, tâm được tự tại cho đến quán địa vô tướng thì đất động. Đây là theo kinh Tăng Nhất q. 28.
10/ Khi chư vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật, là nhân chủ thiên địa. Lúc ấy Địa thần rất hoan hỉ: “Ta nay đã có chủ” , nên đất động. Như khi vua mới lên ngôi, thần dân vui mừng xưng tán vạn tuế, ca hát, nhảy nhót … Đây là theo luận Đại Trí Độ q.10.
Theo kinh Niết Bàn, khi Bồ-tát hạ sinh ở cõi Diêm-phù-đề, gọi là đại địa động. Bồ-tát xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập niết bàn thì ở đại địa có 6 thứ chấn động. Vì sao? Vì khi Bồ-tát hạ sinh, chư Thiên và chư vị Bồ-tát ở Dục giới và Sắc giới đều đến hầu hạ và đưa tiễn, phát đại âm thanh tán thán Bồ-tát. Phong khí nơi miệng hắt ra khiến đại địa chấn động. Lại, vì Bồ-tát là tượng vương và long vương trong loài người, nên khi long vương nhập thai, các long vương dưới đất khiếp sợ. Vì thế, đại địa có 6 loại chấn động.
2. HƯNG CÚNG DƯỜNG : Có hai, tại đất này và kết thông.
1. Cúng dường tại đất này : CHƯ VƯƠNG Ở TẤT CẢ THẾ GIỚI có hai nghĩa :
1/ Vương chúng đã được liệt kê trước.
2/ Vương chúng còn lại ở mười phương thế giới và chung cho cả hai loại vương.
Trong đó, trước là nói tổng quát, sau là nói chi tiết (biệt).
2. Kết thông : Có thể tự hiểu lấy.
Từ trên đến đây, nói về tướng tự tại thuộc một thế giới và tam thế gian xong.
TỰ PHẦN THUỘC VÔ TẬN THẾ GIỚI Ở MƯỜI PHƯƠNG
Đoạn “Tất cả mười phương … lại như vậy” là kết thông mười phương. Vì một hội tức là tất cả hội, hiển bày giáo viên mãn nhiếp hết chủ bạn. Có hai : Trước là nhắc lại tướng tam thế gian của cõi này. Sau là kết thông.
1. TƯỚNG TAM THẾ GIAN : PHẬT NGỒI NƠI ĐẠO TRÀNG, là nói về trí chánh giác và khí thế gian. Quảđức của hai thứ này viên dung trùm khắp mười phương, nghĩa hiển nhau nên không giải thích riêng. Chúng sinh thế gian đồng cái quả trùm khắp, nhưng nghĩa ẩn nhau, nên giải thích riêng. Vì sao chúng này có thể đồng với Phật quả mà trùm khắp? Giải thích có hai : Một là sở nhân, hai là quả đồng khắp.
1. Sở nhân có ba : 1/Định tuệ lực. 2/Pháp môn lực. 3/Như Lai lực.
1/ Định tuệ lực : Mỗi người tùy theo phần hạn pháp môn mình đã đắc, gọi là CẢNH GIỚI. Y nơi tam-muội môn mà không đắm định, không bỏ dụng, khéo nhiếp pháp môn khiến được trùm khắp, gọi là PHƯƠNG TIỆN. HOAN HỈ và CHÁN LÌA thuộc tuệ.
2/ Pháp lực : Viên pháp pháp nhĩ chóng trùm hết các phương, chóng đạt được quả, gọi là PHÁP DŨNG MÃNH. Bồ-tát chứng được tùy pháp trùm khắp này, gọi là THÔNG ĐẠT. Đây đồng với văn kinh trên “Y lực giải thoát nhập Như Lai hải”.
3/ Như Lai lực : Phật lực khiến nhập được Phật cảnh giới, nên hay trùm khắp.
2. Quả đồng khắp : Câu “Chư Phật vô lượng …” là kết luận ‘đồng một quả hải’. ĐỘ là đến, là thấu triệt.
Các thứ này, đều là mỗi người sở đắc một pháp môn nói ở văn trên. Nhưng trước thì hiển công đức, theo đó trình bày rộng mỗi pháp môn, còn đây nhắc lại chung hết, nên chỉ lược sơ.
2. KẾT THÔNG : Câu cuối “Một thế giới … cũng như vậy”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment