THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (Đồng sanh)
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1 - Phần 1
Phẩm 1 - Phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (ĐỒNG SANH)
1/1 ĐỒNG SANH
1. Số viên mãn :
ĐẠI có 8 nghĩa :
1/ Số đại : Là thập sát trần v.v…
2/ Đức đại : Vì đầy đủ công đức pháp giới Nhất thừa.
3/ Tác nghiệp đại : Vì cứu cái khổ cực nặng của chúng sinh.
4/ Cung kính đại : Vì được những bậc đại nhân như Thiên vương v.v… cung kính.
5/ Thù thắng đại : Vì tối thù thắng trong tất cả chúng sinh.
6/ Hạnh đại : Vì tu lục vị hạnh và hai lợi tự và tha.
7/ Nguyện đại : Vì thập chủng đại nguyện thập tận cú.
8/ Thời đại : Vì tu hành trong ba vô số kiếp hay vô lượng a-tăng-kỳ.
1. BỒ-TÁT
Theo Phật Địa Luận, Vô Tánh Nhiếp Luận v.v… có tất cả 3 cách giải thích :
1/ Bồ-đề, đây gọi là giác, thuộc sở cầu. Tát-đỏa, đây gọi là hữu tình, thuộc sở độ. Đây là từ cảnh được tên. Với ngôn nghĩa đó, nếu theo tâm mà xưng thì phải nói là bi trí.
2/ Bồ-đề, đây gọi là giác, thuộc sở cầu. Tát-đỏa là năng cầu. Bồ-đề tát-đỏa là hữu tình cầu bồ-đề. Đây là nhắm vào nhân và pháp mà được tên. Cũng là lấy tâm và cảnh làm chỗ trọng yếu.
3/ Bồ-đề, như trên. Tát-đỏa, đây nói dũng mãnh, là có chí năng. Bồ-đềtát đỏa là dũng mãnh cầu đại bồ-đề. Luận Đại Trí Độ nói: “Tát-đỏa, có khi gọi là chúng sinh, có khi gọi là đại tâm”, chính là hai nghĩa trên.
CÂU (CÙNG), vì Bồ-tát truyền pháp đang cùng nghe với các đại Bồ-tát, vì Như Lai đang thuyết pháp cùng vớiø các đại Bồ-tát. Luận Đại Trí Độ cũng nói: “Đồng chỗ, đồng thời, đồng tâm, đồng giới, đồng kiến đạo giải thoát, gọi là cộng (cùng)”. Cộng, giống như ‘câu’.
2. Hạnh viên mãn : Danh hiệu của Bồ-tát nhiều, vì có hai ý : 1/Hiển thô tế trên đồng với nhiều thếgiới. 2/Vì chúng này thông hết tự phần của 8 hội.
Đức trùm khắp pháp giới, gọi là PHỔ. Rất thuận với việc điều phục thiện căn, gọi là HIỀN. Luận Đại Trí Độ gọi là Biến Cát. Bồ-tát trong phần văn kinh đây đều có tên PHỔ, vì trùm khắp. NGUYỆT, là đức thanh lương. VƯƠNG, là đức tự tại. QUANG, là cái dụng liễu được si ám. Kế nữa là đức kiên cố, đức độc xuất, diễn thuyết giáo thanh lương, đức minh tôn. Luận Đại Trí Độ nói: “Hỏi : Bồ tát rất nhiều, sao kểra ít? Đáp : Bồ tát vô lượng nêu không thể hết. Nếu kê hết ra thì văn tự không thể tải nổi. Vả lại, Bồ-tát không ngoài hai loại : Tại gia và xuất gia, phương này và phương khác. Tại gia như Bạt-đà-la v.v… Xuất gia như Diệu Đức v.v… Phương này như Từ Thị v.v… Phương khác như Quán Âm v.v... Chỉ cần nêu hai loại đó thì biết tất cả đều đã nhiếp hết”. Đây là nói trong thế giới Sa-bà. Chúng Hoa Nghiêm cứtheo văn đó mà hiểu.
3. Đức viên mãn : Phần tán thán công đức viên mãn này có hai : Trước, nói về nhân (người), sau là nói về pháp.
NHÂN : HỮU (bạn), là đức như nhau, hiển nhân quả không hai. Văn đây có hai ý :
1/ Nêu Phật hiển đức, như nói: “Muốn biết người nào, trước cứ nhìn bạn nó …”.
2/ Vì sao tập hội ở đây? Vì là bạn hữu, vì làm thành nhau. Sách thế tục nói: “Đồng chí hướng, gọi là bạn hữu”.
THIỆN HỮU có 3 nghĩa :
. Nghĩa hơn mình, như Thiện Tài đi tìm bạn.
. Nghĩa công đức như nhau, vì là bằng hữu.
. Nghĩa kém ít, vì Phổ Hiền v.v… gọi là bậc dẫn đạo tôn quí thứ hai.
PHÁP :
. Câu đầu “Tất cả đều thành tựu …” là nói tổng quát. Tất cả Bồ-tát này đều thành tựu vô biên công đức rộng sâu như hải. Hải có 10 tướng, cứ theo đó thì biết.
. 25 câu kế là nói chi tiết (biệt). Phân làm hai : Trước là thành tựu tự phần công đức. Sau là thành tựu thắng tiến công đức. Hai phần này nói chung có 7 lớp :
1/ Một hạnh, thuần thục hay chưa thuần thục.
2/ Hai hạnh, như hạnh bố thí thành rồi, sau tu giới hạnh v.v…
3/ Ứng vào hai lợi mà phân.
4/ Thành tựu hạnh vị, lấy đắc vị làm thắng tiến.
5/ Ứng vào tỷ chứng mà phân.
6/ Ứng vào hai vị : Tiền vị đã thành là tự phần, hướng đến hậu vị là thắng tiến.
7/ Thành tựu nhân quả : Nhân thành là tự phần. Nhập quả là thắng tiến.
Nay phần văn kinh đây, có thể thấy ngay lớp cuối cùng đã đủ hết các lớp trên.
A. Thành tựu tự phần công đức : Là thành tựu 9 loại công đức.
1. Thành tựu Hạnh mãn công đức : Không xứ, không thời, mà không thấy. Hành 10 độ là thí, giới v.v… nên nói CÁC BA-LA-MẬT ĐẦY ĐỦ …
2. Thành tựu Tuệ nhãn công đức : Do nghĩa gì khiến cho các hạnh độ này được tròn khắp? Do tuệ nhãn thanh tịnh bằng với tam tế mà bình đẳng quán sát, nên nói TUỆ NHÃN THANH TỊNH …
3. Thành tựu Thâm định công đức : Y cái gì mà được tuệ nhãn? Do thâm định hiển phát. Trong đó có 3 nghĩa :
1/ Định mà không vị, nên nói TỊNH. Định sinh thắng tuệ, nên nói MINH.
2/ Định được thuần thục, nhập và xuất vô ngại, nên nói MINH TỊNH. Như văn kinh sau nói: “Đông phương nhập chánh thọ. Tam phương tam-muội khởi …”.
3/ Nhập thuần thục nhiều định : Khiến cho một nhiếp tất cả, nên nói ĐẦY ĐỦ MINH TỊNH. Văn kinh sau nói: “Nhập vi trần số các tam-muội. Một tam-muội sinh vi trần định”.
Ba câu “Các ba-la-mật … Tịnh nhãn … Với các tam-muội …” đó nói về hạnh tự lợi.
4. Thành tựu Diệu biện công đức : Khéo thuyết những pháp khó thuyết, nên nói BIỆN TÀI, chỉ cho 40 thứ vô ngại v.v… nói sau. Dùng một lời mà thuyết tất cả, nên nói RỘNG. Pháp được thuyết huyền diệu, nên nói SÂU. Cái sâu và rộng đó không có bờ mé, không chỗ tận cùng, nên nói VÔ TẬN.
5. Thành tựu Phổ diệu công đức : Vì quang minh nơi thân công đức của Phật SÁNG CHÓI soi hết mọi căn cơ của chúng sinh.
6. Thành tựu Điều hóa công đức : Khéo liễu tri tâm khí của chúng sinh, là TÂM HÀNH phức tạp, rồi tùy cơ mà truyền pháp. ĐIỀU, khiến lìa chướng. PHỤC, khiến nhập pháp. Nên nói NHƯ ỨNG MÀ ĐIỀU PHỤC.
Ba câu này nói về hạnh giáo hóa tha nhân của ba nghiệp.
7. Thành tựu Chân trí công đức : Dùng trí kim cang soi khắp tất cả cảnh giới sai biệt, đều đồng một vịpháp tánh bình đẳng.
8. Thành tựu Lượng trí công đức : Dùng trí tuệ rộng lớn minh đạt thâm trí và cảnh sở tri, không gì là không khắp, nên nói KHÔNG GÌ LÀ KHÔNG MINH ĐẠT.
Hai câu này nói về công đức của trí chiếu nhị đế. Còn cả tám câu, đều là nhắm vào hạnh mà hiển đức.
9. Thành tựu Nhiếp vị công đức : Có hai nghĩa :
1/ Nhiếp các hạnh trước nhập vào Tín vị v.v… trong ngũ vị.
2/ Cứở một vị, liền nhiếp tất cả các vị trước sau.
Hai thứ này cũng có hai :
. Ứng vào tương nhập để rõ về nhiếp.
. Ứng vào tương tức để nói về nhiếp.
Như ở thập môn nói trước. Theo đó, từ mãn tâm Thập tín trở đi, các vị đều có cái tương nhiếp này. Cho nên, trong phẩm Hiền Thủ sau, mãn tâm Thập tín liền đầy đủ tất cả vị cho đến Phật quả, chính là nghĩa này.
Từ trên đến đây xong Tự phần.
B. Thành tựu thắng tiến công đức : Từ “Vô thượng trí nguyện … Qua khắp tất cả …” trở đi, phân làm hai : 10 câu đầu nói về thể đức viên mãn. 6 câu sau, hiển diệu dụng tự tại.
B.1. Thể đức viên mãn : Thành tựu 10 loại công đức ở Phật quả
1. Đắc Phật trí nguyện đức : VÔ THƯỢNG, vì Phật quả không có gì hơn. TRÍ là đại trí, chỉ cho tứ trí, thập trí v.v… NGUYỆN là đại nguyện, là loại nguyện mà tự thể không chướng không ngại. Đại trí đã thành, đại nguyện đã mãn, trong hiện tại đều đã thành tựu viên mãn, không phải đang thành, nên nói ĐỀU ĐÃ THÀNH TỰU VIÊN MÃN.
2. Đủ Phật mật giáo đức : Có hai nghĩa :
1/ Ngôn bất tận lý : Gọi là bí mật giáo. Vì không phải liễu nghĩa.
2/ Vi diệu nan giải : Không phải là chỗ mà các giai vị dưới có thể hiểu, gọi là MẬT GIÁO, vì là sâu rộng. Nghĩa nói ở văn kinh đây là y cứ theo nghĩa thứ hai này. Vì sao nói sâu? Vì ngôn chính là vô ngôn. Vì sao lại rộng? Vì vô ngôn mà ngôn khắp pháp giới. Đây là “Thu Tử như người điếc …” nói ở văn kinh sau. Loại giáo sâu rộng này chỉ có Phật mới có, nay Bồ-tát cũng đầy đủ đồng Phật nên nói ra đây.
3. Đắc Phật quả pháp đức : Là được các công đức ở quả vị như 18 pháp bất cộng của Phật v.v… Sau đều gọi là Bất cộng. Phật Phật gặp nhau gọi là cộng pháp, không phải chung với Bồ-tát, nên nói CỘNG PHÁP CỦA PHẬT.
4. Đồng quả vị đức : Có bốn nghĩa :
1/ Đồng Phật HẠNH : Là hạnh đại bi.
2/ Đồng Phật ĐỊA : Là được Thập địa của Phật, là Tỳ-lô-xá-na trí tạng đại hải địa v.v...
3/ Đồng Phật ĐỨC : Vì được phúc, trí đức vô biên của Phật.
4/ Đồng Phật LỰC : Vì được thập lực. Lại được 10 loại đại lực v.v… như phẩm Bất Tư Nghì nói.
5. Tam-muội tự tại đức : Có hai nghĩa :
1/ Xuất nhập tự tại.
2/ Tương nhiếp tự tại.
Năm đức trên là đắc Phật tự lợi công đức.
6. Cơ cảm hiện hình đức : Vì cơ cảm quá nhiều, nên nói là CHÚNG SINH HẢI. Thân viên mãn ứng khắp, nên nói NHƯ ỨNG MÀ THỊ HIỆN. Như kinh nói: “Ứng với người mà dùng thân Phật độ được thì liền hiện thân Phật v.v…”.
7. Tùy hạnh nhiếp sanh đức : Tùy căn hạnh của chúng sinh mà trao truyền pháp môn khiến chánh hạnh được tăng trưởng, nên nói KIẾN LẬP.
Câu (6) là hiện thân. Câu (7) là thuyết pháp. Cả hai, đều là được công đức hóa sinh của Phật.
8. Xảo chứng pháp hải đức : Pháp Duyên khởi rộng sâu uyên áo bao trùm như đại hải, khéo đạt được bờ mé của nó, gọi là KHÉO NHẬP.
9. Nhập hải hồi chuyển đức : Khéo nhập môn Đà-la-ni Duyên khởi, khiến cho một nhiếp tất cả, nên nói HỒI CHUYỂN TỔNG TRÌ.
10. Quả hải sung thân đức : Vì nơi duyên khởi pháp hải khéo hồi chuyển, khiến cho pháp hải vô biên công đức của Phật đều nhiếp giữ SUNG MÃN THÂN mình. Cho nên, đều được công đức ở Phật quả là ý từ đây. Văn sau nói: “Bồ-tát tự tại trong nhân duyên hòa hợp … có thể tùy ý mà thị hiện nơi thân Phật” là đây.
B.2.Diệu dụng tự tại : Từ “Qua khắp tất cả …”. Có sáu loại :
1. Dụng đi khắp các quốc độ : Là đi cùng khắp các thế giới hải.
2. Dụng xuất sinh nguyện hải : Do nguyện lực này mà nhập quốc độ hải.
Dụng trước là đến các quốc độ của Phật khác. Dụng này là nguyện trang nghiêm quốc độ của mình.
3. Dụng tam đạt viên minh : Vì vị lai khó biết nên chỉ nêu riêng vị lai. Lý thật thì đủ cả ba thời.
4. Dụng phụng sự cúng dường.
5. Dụng nguyện hải rộng sâu : Nên nói NGUYỆN HẢI PHỔ HIỀN.
6. Dụng hóa vật trí viên : Nên nói VỚI CÁC CHÚNG SINH, TRÍ THÂN ĐẦY ĐỦ.
Phần chúng Đồng sanh xong.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment