THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1)
Nói về THỜI & XỨ & CHỦ (Giải thích cây Bồ-đề, tòa báu, Phật)
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1 - phần 1
Phẩm 1 - phần 1
Nói về THỜI, XỨ và CHỦ
2. CÂY BỒ-ĐỀ : Có 10 câu.
Câu đầu CÂY BỒĐỀ là nói tổng quát, thuộc 3 cách giải thích là Lân cận, Y chủ và Trì nghiệp thích. Vì trong Viên giáo, y báo và chánh báo vô ngại, Nhân (人) và Pháp tương thị. Được bồ-đề là CÂY. CAO LỚN, là vượt khỏi lục Thiên. HIỂN, là sáng khắp mười phương. Nên nói THÙ ĐẶC. Đây là câu tổng quát. 9 câu sau hiển riêng (biệt) sự thù đặc.
1/ THÂN thù đặc : Vì thân cây hiển bày nghĩa kiên cố thanh tịnh, nên nói LẤY LƯU LY TRONG SUỐT LÀM THÂN.
2/ CÀNH thù đặc : Vì cành nhánh là nghĩa phương tiện theo căn khí có sai biệt, nên nói BÁU VI DIỆU LÀM CÀNH ……
3/ LÁ thù đặc : Vì lá ở các cành là nghĩa che chở làm lợi ích cho chúng sinh, nên nói LÁ BÁU RỦ ... TRÙNG VÂN là mây giăng lớp lớp. TRỌNG VÂN là mây giăng mù mịt.
4/ HOA thù đặc : Là các hạnh trang sức đẹp đẽ. Là hạnh lợi ích được thành tựu. Nên nói HOA BÁU NHIỀU SẮC XEN NHAU.
5/ QUẢ thù đặc : Là nghĩa hạnh thành cảm quả. NHƯ Ý, một là như ý của người giáo hóa (năng hóa), bình đẳng cứu tất cả. Hai là như ý của người được giáo hóa (sở hóa), cầu đều được. MA-NI là tên chung của châu báu. Lấy cái chung dùng vào cái riêng, nên nói NHƯ Ý MA-NI.
5 thứ trên tạo thành thể của cây. Nghĩa là, pháp giới thanh tịnh ví như đất. Hiển hiện Phật thân như đất sinh cây. Tùy cơ mà thấy sai biệt như cành nhánh của cây. Thấy, thì không gì không lợi ích như lá rợp thành tàng. Từ lợi ích thành hạnh như hoa trên cây nở. Hạnh mãn được quả như cây sinh quả. Đây là ứng vào việc khởi hóa nhiếp sanh mà hiện ra cây Phật.
Cũng có thể giải thích như sau : Bản thức như đất, chủng tánh Bồ-tát trong thức như hạt giống cây. Phát tâm bồ-đề như sinh mầm cây. Tu thêm chánh hạnh như trưởng dưỡng thân cây. Tùy căn khí mà tạo nhân vị tu hành như cây phân cành. Đây là ứng vào tự hạnh. Che chở làm lợi ích cho người ví như tàng lá. Tự lợi, lợi tha nghiêm sức cho nhau như hoa. Nhân đầy quả hiện như cây sinh quả. Đây là ứng vào việc tu hành có thứ lớp mà thành tựu cây Phật.
5 câu trên để rõ thể cây nhiếp các đức.
4 câu sau để rõ diệu dụng tự tại của cây bồ-đề.
6/ ÁNH SÁNG thù đặc : Ánh sáng có tác dụng biến khắp.
7/ HÓA HIỆN thù đặc : Tùy chỗ đến mà hiện thân làm Phật sự. Vì vô biên nên KHÔNG THỂ CÙNG, là tất cả xứ. Không thôi nghỉ nên KHÔNG THỂ TẬN, là tất cả thời.
8/ PHÁP thù đặc : Nơi các xứ làm Phật sự gì? Hiện khắp giáo pháp của con đường Đại thừa Bồ-tát. Vì là quang minh của A-hàm nên hay hiện pháp.
3 câu trên, theo thứ tự nhiếp thuộc ba nghiệp thân, ý và ngữ.
9/ PHẬT LỰC thù đặc : Phật lực gia trì thường xuất ra âm thanh tán dương công đức. Nếu không có việc trong cây tự xuất ra âm thanh tán dương, thì người đời không có thể biết được công đức thù thắng của Như Lai.
Trong 10 câu trên, 6 tướng tổng, biệt … có thể theo đó mà hiểu. Giải thích “Cây bồ-đề” xong.
3. TÒA BÁU THÙ THẮNG : Đây cũng có 10 câu.
Câu đầu là nói tổng quát.
Theo luận Đại Trí Độ, Phật trong loài người giống như sư tử trong loài thú. Chỗ Phật ngồi, không kể là giường hay đất, đều gọi là tòa sư tử. Chỗ vua ngồi cũng vậy. Lại, ngồi nơi tòa này thuyết pháp sư tửhống vô úy, nên cũng gọi là tòa sư tử. Phẩm Ly Thế Gian sau sẽ nói rõ 10 loại tòa. Giữa tòa sư tử mà phân biệt diễn nói nghĩa thậm thâm. Đây đều thuộc Y chủ thích, cũng có khi thuộc Trì nghiệp thích. Vì y báo và chánh báo viên dung.
Vì tòa này bao hàm nhân, pháp, giáo, nghĩa, tất cả pháp trong pháp giới cùng với thế giới của chư Phật ở mười phương một cách sâu rộng và thù đặc, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN, GIỐNG NHƯ ĐẠI HẢI.
9 câu kế nói về cái KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN đó.
1/ NGHIÊM SỨC không thể nghĩ bàn : Thể nhiếp thu các đức, nên nói NGHIÊM SỨC BẰNG HOA BÁU VI DIỆU.
2/ DÒNG QUANG MINH không thể nghĩ bàn : Chỉ cho diệu dụng vô phương như mây trùm khắp. Nên nói DÒNG QUANG MINH NHƯ MÂY …
3/ HÀM NHIẾP không thể nghĩ bàn : Chứa vô số Bồ-tát như đại hải, nên nói TẠNG.
4/ NGỮ NGHIỆP không thể nghĩ bàn : Đại âm vang xa thành tựu lợi ích khó lường, nên nói KHÔNG THỂNGHĨ BÀN.
3 câu trên là tùy vào sởứng, là dụng của ba nghiệp thân, ý và ngữ.
5/ GIA TRÌ không thể nghĩ bàn : Tuy dòng quang minh của tòa sư tử chiếu khắp, nhưng quang minh của Phật lại phủ trùm lên, hiển rõ sự thù thắng. Ánh sáng của châu ma-ni có thể chiếu đến bốn mươi do-tuần, phủ cả cung điện Luân Vương. Nay quang minh của Phật chiếu khắp pháp giới phủ luôn tòa sư tử, vượt xa bốn mươi do-tuần kia, nên nói VƯỢT XA MA-NI …
6/ BIẾN HÓA không thể nghĩ bàn : Là dụng biến hóa giúp khai mở giác tánh cho chúng sinh, nên nói LÀM PHẬT SỰ.
7/ ỨNG CƠ không thể nghĩ bàn : Mọi căn cơ thuần thục ở mười phương TẤT CẢĐỀU THẤY. Một tòa ứng khắp KHÔNG CÓ CHƯỚNG NGẠI.
8/ CỰC NHANH không thể nghĩ bàn : MỘT NIỆM là thời gian cực ngắn. TẤT CẢ HIỆN HÓA, là sở hiện nhiều. ĐẦY KHẮP PHÁP GIỚI, là cực kỳ rộng lớn. Trong một niệm có thể hiện một hóa thân đã hy hữu, huống là tất cả. Trong một niệm có thể hóa hiện tất cả hóa thân đã rất hy hữu, huống là các thứ hiện ra, mỗi mỗi đều rộng lớn đầy khắp pháp giới. Trong khoảng một niệm, khởi cực nhanh đại dụng vô biên này. Trong mỗi niệm còn lại cũng như vậy.
9/ CHÂN TÁNH không thể nghĩ bàn : Vì tánh thể Như Lai tạng trùm khắp, khiến diệu dụng nói trên chóng thành vô ngại.
Câu (5)(6) (7) (8) nói về diệu dụng của tòa sư tử. Thứ lớp nương nhau. 4 câu này theo thứ tự trả lời 4 câu hỏi sau : 1/Có tướng gì? 2/Cảm ứng thế nào? 3/Nhanh ra sao? 4/Từ đâu thành?
Câu 9 là tổng kết. Vì nói riêng thì khó trùm khắp, nên kết luận rằng VÔ LƯỢNG CÁC BÁU … Vì tòa cao hiển hiện nên gọi là ĐÀI.
Hỏi : Tòa sư tử này mang nghĩa lý gì mà nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN?
Đáp : Đã nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN thì nghĩa của nó thật vô tận. Lược thì có 10 loại :
1/ Không thể có phân mà nghĩ bàn. Vì đồng pháp giới.
2/ Không thể không phân mà nghĩ bàn. Vì tùy căn cơ mà hiện.
3/ Không thể dùng lý mà nghĩ bàn. Vì có hoa báu (là sự) nghiêm sức.
4/ Không thể ngay nơi sự mà nghĩ bàn. Vì là tánh Như Lai tạng.
5/ Không thể y vào y báo mà nghĩ bàn. Vì là sở thành của hàng Bồ-tát.
6/ Không thể y vào chánh báo mà nghĩ bàn. Vì là y quả của Phật.
7/ Không thể y vào nhân (人) mà nghĩ bàn. Vì nhiếp thuộc pháp sở y.
8/ Không thể y vào pháp mà nghĩ bàn. Vì có đủ ba nghiệp làm nhân (人) dụng.
9/ Không thể y vào quả mà nghĩ bàn. Vì có đủ nhân vị của Bồ-tát.
10/ Không thể y vào nhân mà nghĩ bàn. Vì Phật quả có.
10 nghĩa trên tương tức vô ngại. Nghĩa là, 1 TÒA là tổng tướng, 10 nghĩa là biệt tướng. Đồng nói lên nghĩa của tòa, là đồng tướng. 10 nghĩa không lẫn lộn, là dị tướng. Do 10 nghĩa này khiến pháp tòa xuất hiện, là thành tướng. Mỗi thứ trụở tự pháp, là hoại tướng.
Hỏi : Đã nói vì căn cơ mà hiện thì không thể không có phần lượng. Chưa biết phần hạn của nó thế nào?
Đáp : Cũng khó mà biết được. Chỉ có thể so sánh mà hiểu. Như phẩm Thập Địa nói: “Tòa của Bồ-tát Thập địa chu vi của nó bằng mười a-tăng-kỳ trăm ngàn Tam thiên đại thiên thế giới”. Phần hạn của tòa này so với tòa của Như Lai, giống như lấy đậu vãi ra đất. Nếu so với Đại thiên thế giới, phần hạn của tòa Như Lai rất khó lường.
Từ trên đến đây 3 phần, xong phần khí thế gian viên mãn.
2/3 CHỦ, nói về trí chánh giác thế gian viên mãn. Dùng 5 môn giải thích : 1/ Định Phật thân. 2/Dung nhiếp. 3/Hiển sai biệt. 4/Biểu thị pháp. 5/Giải thích văn.
1. Định Phật thân :
Hỏi : Phật trong 8 hội này là thân nào?
Đáp : Có người giải thích là hóa thân Phật. Vì thị hiện 8 tướng thành đạo dưới cây bồ-đề là hóa thân Phật. Chẳng lìa thăng thiên là trùng hóa. Vì tên khác của Thích-ca Mâu-ni là Lô-xá-na, không phải báo thân nào khác.
Có người giải thích, Phật nói kinh này là thật báo thân. Vì là thân pháp giới Lô-xá-na. Vì cư ở tịnh độLiên Hoa tạng. Trong hội VII, đầu tiên là tán thán Phật với đủ 21 loại công đức thù thắng, chính là thật báo. Chỉ vì không lìa hóa thân, nên nói luôn dưới cây bồ-đề, chứ không phải là hóa thân.
Thám Huyền Ký đây giải thích : Căn cứ theo văn kinh sau, Phật đây là thân của thập Phật thông cảtam thế gian. Vì thuyết cho hàng Bồ-tát chưa đăng địa là Thập tín và Tam hiền, nên sở kiến đó không phải là thật báo thân. Nhưng cư ở Liên Hoa tạng thì không thể hạn cuộc trong hóa thân. Thân quốc độv.v… không phải là 2 thân đó mà nhiếp cả 2 thân đó. Tánh dung thông nên đầy đủ chủ bạn như lưới châu của trời Đế Thích. Thì biết, chỉ là thân thập Phật trùm khắp pháp giới.
2. Dung nhiếp : Có hai.
1/ Nhiếp hết thảy tam thế gian. Vì đầy đủ 3 sự đó mới thành Phật. Hai thân trong ba thân chỉ nhiếp thuộc trí chánh giác trong tam thế gian. Tịnh độ vi diệu và thân đồng sanh đều được nhiếp trong đó.
2/ Chánh báo là lỗ lông. Y báo, trong hạt bụi. Mỗi thứ trùng trùng nhiếp đủ tam thế gian cùng với tất cả pháp, như lưới châu của trời Đế Thích hiện.
3. Hiển sai biệt : Một thân Thích-ca, do ứng với căn cơ sai biệt của chúng sinh mà có nhiều loại :
. Hoặc đồng phàm không phải thánh, như thấy thân voi đen chân dài 0.9m, thân thần cây v.v... Đây là ở địa vị Nhân, Thiên.
. Hoặc đồng thánh không phải phàm. Vì đồng với thân La-hán thánh nhân.
. Hoặc vừa phàm vừa thánh. Vì thân thật báo do cha mẹ sinh, từ tứ đại làm thành, nên đồng với phàm thân. Đầy đủ ngũ phần pháp thân, các lậu hoặc hết, nên là thánh.
. Hoặc không phải phàm không phải thánh. Vì nhiếp thuộc tam thân của Đại thừa. Vì không đồng với thánh La-hán của Tiểu thừa.
. Hoặc là hóa thân, không phải pháp và báo thân. Vì đủ 8 tướng ở Diêm-phù-đề. Vì ở đỉnh trời Sắc giới lập riêng thật báo kia, như kinh Phạm Võng v.v… đã nói. Đây thuộc Sơ giáo.
. Hoặc là báo thân, không phải hóa và pháp thân. Vì thân này đầy đủ 21 thứ công đức thù thắng, là Thọ dụng thân, như kinh Phật Địa nói. Đây thuộc Chung giáo.
. Hoặc là pháp thân, không phải là báo và hóa thân. Vì sắc là như. Kinh nói: “Thân hiện nay của ta chính là pháp thân”. Đây thuộc Đốn giáo.
. Hoặc đủ cả pháp, báo và hóa thân, như ba phần trước vừa nói.
. Hoặc không phải pháp, báo và hóa thân. Vì là thập Phật. Vì thông cả tam thế gian. Vì đầy đủ chủ bạn. Như văn sau của kinh đã nói. Đây thuộc Viên giáo.
Cho nên, thân Thích-ca này viên dung, vô ngại, rất khó nghĩ bàn.
4. Biểu thị pháp : Phật thuyết pháp có tất cả 4 địa vị.
1/ Đồng với thân La-hán : Vì thị hiện thuyết pháp Tiểu thừa.
2/ Hóa thân Phật : Vì thị hiện thuyết pháp Tam thừa. Thuyết rộng cho hàng Địa tiền. Thuyết lược cho hàng Đăng địa.
3/ Báo thân Phật : Vì thị hiện thuyết pháp Tam thừa. Thuyết lược cho hàng Địa tiền. Thuyết rộng cho hàng Đăng địa.
4/ Thập thân Phật : Hiển thị pháp Nhất thừa, đồng nói 6 vị. Vì pháp được nói đây là pháp vô tận đầy đủ chủ bạn. Phật cũng đồng với thập thân vô tận này.
5. Giải thích văn : Giải thích nghĩa của trí chánh giác này, cũng dùng 10 môn.
Câu đầu là tổng. 9 câu còn lại là biệt.
Câu (1) : Trước, là thân ngồi trên tòa báu, nên nói NHƯ LAI Ở TRÊN … Sau, là trí khế hợp với nguồn chân, nên nói NƠI TẤT CẢ PHÁP THÀNH TỐI CHÁNH GIÁC.
NHƯ LAI, luận Địa Trì nói: “Ngôn ngữ nói ra không trái với NHƯ nên gọi là NHƯ LAI”. Luận Chuyển Pháp Luân nói: “Đệ nhất nghĩa đế gọi là NHƯ. Chánh giác gọi là LAI. Chánh giác Đệ nhất nghĩa đế, nên gọi là NHƯ LAI”. Kinh nói: “Nương 6 ba-la-mật LAI thành chánh giác nên gọi là NHƯ LAI”. Luận cũng nói: “Nương đạo NHƯ thật LAI thành chánh giác”.
Hỏi : Đã xuất chướng, được gọi là Như Lai. Sao còn tại triền, không gọi là Như Khứ?
Đáp : Cũng có nghĩa đó, nên kinh nói :“Pháp thân lưu chuyển trong 5 đường, gọi là chúng sinh”. Đã nói lưu chuyển thì phải biết là có đi (khứ). Mà cũng không đi, vì tuy ở tại triền mà bất động.
Hỏi : Nếu xuất chướng bất động như thế thì nên không có lai (đến).
Đáp : Tịnh pháp thuận với chân, từ chân mà khởi nên phải có lai. Nhiễm pháp trái với lý, là vọng pháp, nên không thể có khứ hoặc cũng không có lai. Vì thủy giác đồng bản giác. Thủy giác đã không có tướng dị, cho nên không lai. Kinh nói “Như Lai không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nên nói Như Lai”.
TẤT CẢ PHÁP, là pháp nhị đế (sở giác). TỐI CHÁNH GIÁC, là diệu trí (năng giác). Bồ-tát cũng có chánh giác nhưng là từng phần, chưa được tận cùng, nên không được gọi là TỐI. Nay thành tựu đến chỗ tận cùng, nên gọi là TỐI CHÁNH GIÁC.
9 câu kế hiển riêng nghĩa Như Lai thành chánh giác. Thân Như Lai nhất pháp giới tùy duyên hiển hiện có 3 lớp ba nghiệp : I/Có ba môn để rõ ba nghiệp bình đẳng tự tại nhiếp sanh. II/Ba nghiệp nhiếp sanh thành tựu lợi ích không hư dối. III/Ba nghiệp thành tựu lợi ích, là dụng qui về như.
I. BA NGHIỆP BÌNH ĐẲNG
1. Thân nghiệp bình đẳng : Hai câu“Liễu pháp ba đời … thế gian”. Trong đó phân làm hai:
Câu đầu, nói về thân nghiệp bình đẳng. Câu hai, thân nghiệp nhiếp độ chúng sinh.
Câu đầu hiển nghĩa sâu. Câu sau hiển nghĩa rộng.
Câu đầu biện không phải ngay nơi ba đời, nên nói BÌNH ĐẲNG. Câu sau biện không lìa ba đời, nên nói NHẬP VÀO KHẮP.
Câu đầu nêu nghĩa bất biến. Câu sau nói nghĩa tùy duyên.
Câu đầu chỉ cho thể. Câu sau nói đến dụng.
LIỄU là chiếu liễu (soi rõ). PHÁP BA ĐỜI là hiển TẤT CẢ PHÁP vừa nói ở câu trên.
BÌNH ĐẲNG, có hai nghĩa :
1/ Liễu tri được quá khứ và vị lai đồng với hiện tại, nên nói BÌNH ĐẲNG. Đây thuộc cảnh giới tục đế.
2/ Pháp ba đời dời đổi đã liễu tri được đó không tồn tại, qui về cái thật, không có ba thời sai khác, nên nói BÌNH ĐẲNG. Đây thuộc cảnh giới chân đế. Ý của văn kinh là ở chỗ này, đó là không trụ sự mà nhập lý.
NHẬP VÀO KHẮP … là không trụ lý mà theo sự.
Câu đầu thì không hoại sự mà hiển lý. Lý mà không phải sự. Câu sau thì không trái lý mà theo sự. Sựmà không phải lý. Lý sự viên dung, hai mà không hai, không chướng không ngại. Hai câu ấy hiển thịcùng với các công đức khác tạo thành nghĩa y chỉ, là THÂN.
2. Ngữ nghiệp bình đẳng : “Diệu âm vang khắp … giống như hư không”.
DIỆU ÂM VANG KHẮP, là nói viên âm của Như Lai theo tánh duyên khởi trùm khắp mọi nơi mà không hoại từng thuyên biểu riêng. Nếu bình đẳng trùm khắp mà mất âm khúc thì viên mà không âm. Nếu có âm khúc mà trái với trùm khắp thì âm mà không viên. Nay không hoại âm khúc mà bình đẳng trùm khắp, bất động trùm khắp mà vẫn có âm vận sai biệt, chính là viên âm của Như Lai. Đây không phải là cảnh giới suy lường của tâm thức.
NHƯ HƯ KHÔNG có 5 nghĩa. Vì tợ như viên âm của Phật, nên lấy làm dụ.
. Nghĩa trùm khắp : Như viên âm của Phật trùm khắp pháp giới, không chỗ nào không đến. Như mắt có dõi tìm cũng không định được bến bờ âm thanh của Như Lai.
. Nghĩa bình đẳng : Hư không tuy trùm khắp mà thể hằng không hai, huống là viên âm của Phật, bình đẳng một vị.
. Nghĩa vô ngại : Hư không không có chướng ngại, như viên âm của Phật tùy căn cơ thuần hay chưa thuần mà nghe hay chẳng nghe nhưng đều không có chướng ngại.
. Nghĩa đối hiện : Tất cả chúng sinh đều cho rằng đối trước mình là hư không, nhưng hư không không hiện tiền. Viên âm của Phật cũng vậy. Tùy căn cơ sai biệt mà mỗi người mỗi nghe, còn âm thanh thì không có đây hay kia.
. Nghĩa hàm chứa : Vì hư không bao hàm và chứa nhận các sắc pháp. Viên âm cũng vậy, hàm nhiếp nghĩa của các pháp sở thuyên.
Các nghĩa còn lại, phẩm Tánh Khởi sau sẽ giải thích.
3. Ý nghiệp bình đẳng : “Pháp tướng … chúng sinh”. Phân làm hai :
1/ PHÁP TƯỚNG … là nói ý nghiệp bình đẳng.
2/ TÂM BÌNH ĐẲNG … là nói ý nghiệp nhiếp hóa chúng sinh.
Câu đầu nói đến lý. Câu sau nói về lượng.
Câu đầu là trí. Câu sau là bi.
Tự lợi và lợi tha không trụ vào duyên, tương dung, không có hai tướng.
PHÁP TƯỚNG BÌNH ĐẲNG còn là chỗ mà Phật trí giẫm qua nên nói HÀNH XỨ.
NHƯ HƯ KHÔNG, là dụ cho hành này là pháp bình đẳng. Vì cảnh và trí cùng như, năng và sở đều mất, như hư không không có chướng ngại. Vì đồng một vị, trùm khắp, hàm nhiếp và hữu dụng. Lại, hoặc chỉcó cảnh như hư không, hoặc chỉ có trí, hoặc có đủ cả hai, hoặc cả hai đều không. Cứ theo đó mà suy nghĩ.
Cũng có thể giải thích : Công đức của Phật quả, Phật giới v.v… xứng đồng chân tánh nên nói BÌNH ĐẲNG. Chỉ có Phật trí biết được, nên nói TRÍ TUỆHÀNH XỨ. Vì không có phần hạn nên NHƯ HƯ KHÔNG. Luận Phật Địa q.4 nói: “Như Khế kinh nói: “Cho đến đặt ra mọi ví dụ để ví dụ cho công đức mà Như Lai có được đều là hủy báng Như Lai, chỉ trừ một ví dụ là hư không. Vì giới v.v… của Như Lai có vô lượng công đức đồng với hư không …”.
TÂM BÌNH ĐẲNG TÙY THUẬN tất cả chúng sinh, có 4 nghĩa :
1/ Vô tư làm lợi ích cho chúng sinh, nên nói TÂM BÌNH ĐẲNG.
2/ Bình đẳng trùm Viên giáo.
3/ Bình đẳng thụ (授) cực quả.
4/ Bình đẳng liễu đạt căn tánh của chúng sinh, không ngại nhiếp hóa.
Đây chính là công đức dụ như hư không vừa nói trên. Có thể dùng đó để nhiếp hóa chúng sinh, nên nói TÙY THUẬN.
Giải thích ba nghiệp bình đẳng xong.
II. BA NGHIỆP NHIẾP SANH :
Là nói ba nghiệp nhiếp hóa chúng sinh, thành tựu lợi ích không hư dối. Có 8 câu : Câu đầu là nói chung. 7 câu kế là nói riêng.
Câu đầu là tổng : Câu “Thân ấy … đạo tràng” : Là thành tựu căn cơ.
Vì THÂN ẤY NGỒI KHẮP, là đầy đủ ba nghiệp.
TẤT CẢĐẠO TRÀNG, có 3 thứ : 1/Khắp tất cả Tu-di sơn giới. 2/Khắp tất cảcác giới như cây, hình tượng v.v… 3/Khắp tất cả trần đạo. Trùng trùng như lưới châu của trời Đế Thích. Nên văn sau nói: “Là hư già-na Phật, thường chuyển pháp luân xứ”. Phần kết thông sau đều theo văn đây.
7 câu kế là biệt :
1. Ý nghiệp nhiếp sanh : Hai câu “Đều biết … Quang minh trí …”. Có hai ý :
a. Ý nghiệp nhiếp hóa chúng sinh : Biết rõ căn khí của chúng sinh, nên nói ĐỀU BIẾT TẤT CẢ SỞ HÀNH …
b. Thành tựu lợi ích không hư dối : Dùng mặt trời trí tuệ phá si ám cho chúng sinh, nên nói MẶT TRỜI TRÍ TUỆ …
2. Thân nghiệp nhiếp sanh : Ba câu “Đều hay … Phóng khắp … Vô lượng …”. Có ba ý :
a. Y nơi quốc độ hiện thân, nên nói: THƯỜNG HIỂN HIỆN CÁC QUỐC ĐỘ PHẬT.
b. Y thân phóng quang. Có hai : Một, thể của quang minh suốt thông 3 đời, nên nói QUANG MINH BA ĐỜI. Hai, quang minh chiếu soi cảnh giới ba đời cũng gọi là QUANG MINH BA ĐỜI. Đều từ trí tuệ như đại hải xuất ra, nên nói TRÍ HẢI QUANG MINH. Cơ cảnh được chiếu soi đều thuần thục, nên nói TỊNH.
c. VÔ LƯỢNG QUANG MINH là quang minh nhiếp quyến thuộc, cũng vì do nhiều nên nói VÔ LƯỢNG. CHIẾU SOI TỊNH CẢNH là hiển cái sâu. VÔ LƯỢNG là để biết nó rộng.
3. Ngữ nghiệp nhiếp sanh : Hai câu “Không hoại … Do lực vô úy …”
a. Thật giáo thì không biến động, nên nói KHÔNG HOẠI.
b. Hiển sở y nhân của giáo, nên nói DĨ LỰC VÔ ÚY…
Dĩ nghĩa là do. Đây là so với câu trước mà thành nghĩa ‘nhân’. Ngoài ra, DĨ còn có nghĩa là DÙNG. DÙNG LỰC VÔ ÚY này khai môn phương tiện, giáo hóa chúng sinh thành tựu quyền giáo. Nên với loại quyền giáo ở câu này, nó cũng làm sở y. LỰC QUANG TỰ TẠI là thông dụng vô ngại đủ cả quyền thật.
III. DỤNG QUI VỀ NHƯ :
1. Thân nghiệp : Câu “Thường hiện khắp tất cả …” trở đi.
Tuy HIỆN KHẮP nhiều xứ mà dụng đồng với thể, nên nói NHƯ HƯ KHÔNG.
MÀ KHÔNG ĐẾN ĐI, vì trùm khắp, vì bất động. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: “Tuy khởi đại dụng mà không có tướng dụng có thể được”. Đây là dụng mà thường tịch.
2. Ý nghiệp : Hai câu “Liễu đạt … Tất cả quang minh …”.
Câu đầu là bỏ vọng. Câu sau là thuận chân.
Câu đầu, liễu tánh vốn không. Câu sau, thật tướng không diệt.
Câu đầu, liễu pháp chẳng có. Câu sau, chứng pháp chẳng không. Luận Trung Biên có kệ: “Không hai, có không này. Hai này gọi không tướng” là chỉ cho chỗ này. Đây cũng để giải thích thành tựu nghĩa ởcâu trước : Vì sao hiện khắp mà không đến đi? Giải thích : Vì liễu đạt pháp không tự tánh. Vì sao đến đi mà không tự tánh? Vì cái đến đi đó THUẬN VỚI TƯỚNG BÌNH ĐẲNG. Thuận với tướng bình đẳng thì có đại dụng. Vô minh hôn ám hết, nên nói TẤT CẢ QUANG MINH. Không mất đại dụng, nên nói HIỆN KHẮP SỞ HÀNH …
3. Ngữ nghiệp : Câu “Âm thanh ngữ ngôn …”.
THẾ GIỚI CỦA CHƯ PHẬT, là khắp tất cả xứ.
ÂM THANH KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN là, thuận với nhiều, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN.
Ba lớp ba nghiệp trên, mỗi lớp có một tổng, hai biệt : Đầu là tổng. Hai thứ còn lại là biệt. Ba lần ba là chín, là biệt.
TỐI CHÁNH GIÁC là tổng. Đồng, dị, thành, hoại cứ theo đó mà suy thì hiểu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment