THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1)
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH) - Giải thích về 4 chúng : Chúng Quang Âm thiên, Chúng Phạm thiên, Chúng Tha hóa thiên, Chúng Hóa lạc thiên.
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ
QUYỂN 2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN
Phẩm 1 - phần 1
Phẩm 1 - phần 1
Nói về CHÚNG SINH THẾ GIAN (DỊ SANH)
4 CHÚNG QUANG ÂM THIÊN thuộc Đệ nhị thiền : Có 10 việc đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. ÁI NHẠO THIÊN TỬ : TỊCH TĨNH có ba : 1/Lý tịch tĩnh. 2/Sự tịch tĩnh. 3/Xứ tịch tịnh. DIỆT KHỔ cũng có ba : 1/Tánh diệt. 2/Trí diệt. 3/Phúc diệt. Trong bài kệ sau, chỉ có xứ tịch tĩnh và phúc diệt.
2. DIỆU TẠP QUANG THIÊN : Đầu tiên là Đoạn đức, vì tâm TỊNH tánh TỊNH, vì LY CẤU trị TỊNH. Bảo Tánh Luận nói: “Một là tự tánh tịnh. Hai là vô cấu tịnh”. Kế là Trí đức, là rộng tu (QUẢNG TU) v.v… TÂM TỊNH là nói về căn khí. LY CẤU là duyên. ĐỨC HẢI là y duyên sở tu. Phần còn lại, sẽ giải thích trong phần tụng kệ.
3. TỰ TẠI ÂM THIÊN : Có hai cách giải thích :
a. Dài ngắn tương tức, vì thời kiếp như như.
b. Đức hơn kém giữa hai địa vị tự tại và không tự tại.
4. THẮNG NIỆM TRÍ THIÊN : Có ba cách giải thích :
a. THẾ GIAN SINH TRỤ DIỆT CHỦNG CHỦNG là nói nhiễm duyên khởi. THANH TỊNH là tánh tịnh ngay nơi nhiễm pháp. Tánh tịnh là đức, nên nói CÔNG ĐỨC.
b. Nói tịnh pháp duyên khởi là do phân biệt với chân như, nên nói THẾ GIAN SINH TRỤ DIỆT CHỦNG CHỦNG . Phân biệt với lỗi hoạn của nhiễm pháp, nên nói TỊNH CÔNG ĐỨC.
c. THẾ GIAN là xứ. Nói SINH, TRỤ, DIỆT là Phật ra đời, trụ thế rồi nhập diệt, với nhiều môn lợi ích giúp chúng sinh diệt nhiễm thành tựu thanh tịnh. Phần còn lại sẽ giải thích trong phần kệ sau, vì nghĩa thông hết nên giải thích luôn phần còn lại.
5. TỊNH LẠC ÂM THIÊN : Bồ-tát nhất sinh bổ xứ có thể cúng dường trọn vẹn đầy đủ, nên thành tựu việc cúng dường, hiển QUẢNG THUYẾT. Như “Trăm vạn ức …” nói sau.
6. THIỆN TƯ ÂM THIÊN : Được lực Đà-la-ni tự tại nên trong NHẤT NIỆM có thể THỌ nhận được nhiều,trong NHẤT NIỆM có thể giảng THUYẾT nhiều.
7. GIẢI THOÁT QUANG ÂM THIÊN : Tràng xứ có Phật xuất hiện, gọi là TRANG NGHIÊM ĐẠO TRÀNG.
8. THẬM THÂM ÂM THIÊN : THẦN TÚC là công đức. THẦN TÚC là năng ích, CÔNG ĐỨC là thành tướng sở ích.
9. LY CẤU XƯNG THIÊN : Phúc trí rộng sâu cùng với cơ duyên làm CẢNH GIỚI.
10. XUẤT TỊNH QUANG THIÊN : Nguyện lực và công đức lực là nguyện hạnh ở nhân vị, thuộc về năng trì. HỈ TẠNG là quả, thuộc về sở trì. HỈ thuộc đại trí. Trí thể có tính hàm nhiếp, nên gọi là TẠNG.
KỆ TỤNG : Có 10 bài kệ. Mỗi bài kệ là một pháp môn.
P.M (1) : Y nơi xứ thanh tịnh sinh phúc diệt khổ.
P.M (2) : Câu (1) là LY CẤU, thuộc hạnh duyên. Câu (2) nói về TÂM TỊNH, thuộc hạnh khí. Câu (3) nói vềĐỨC HẢI, là chỗ thành tựu. Câu (4) là kết pháp thuộc người. TRANG NGHIÊM chính là Diệu Tạp Quang vậy.
P.M (3) : Câu (1) nói về phương tiện rộng lớn. Câu (2) nói nhiều kiếp tu hành. Câu (3) nói về tánh vô ngại. Do phương tiện này mà trong một niệm xuất sinh nhiều kiếp công đức, gọi là PHƯƠNG TIỆN MÔN. PHÁP CHỦ ÂM là TỰ TẠI ÂM, đây là kết luận về người đắc pháp.
P.M (4) : Câu (1) (2) (3) tụng về THẾ GIAN SINH TRỤ DIỆT, là Phật ra đời … Câu (4) là diệt si ám, ca ngợi tịnh công đức. THẮNG NIỆM là tên của vị Thiên.
P.M (5) : Câu (1) nói xứ rộng lớn. Câu (2) nói năng cúng dường rộng lớn. Câu (3) nói cúng dường được lợi ích rộng lớn. Tụng chung về pháp môn BỒ-TÁT TẠI ĐÂU SUẤT CUNG QUẢNG THUYẾT CÚNG DƯỜNG đã nói ở phần trường hàng. Câu (4) là kết pháp thuộc người.
P.M (6) : Câu (1) (2) (3) nói trong một kiếp giảng nói hết nghĩa của các địa. Câu (4) nói trong NHẤT NIỆM có thể THỌ nhận và giảng THUYẾT, vì được tâm tự tại.
P.M (7) : Câu (1) nói về NĂNG TRANG NGHIÊM. Câu (1) (2) là hiện tướng trang nghiêm. Câu (4) là kết luận, nói tên pháp môn.
P.M (8) : Câu (1) (2) nói về THẦN TÚC VÔ TẬN. Câu (1) là thể. Câu (2) là dụng. Câu (3) (4) nói vềCÔNG ĐỨC HẢI, thành tựu lợi ích. Câu (3) là được lục căn thanh tịnh trước khi đăng địa. Câu (4) là khiến đăng địa, đạt được pháp thậm thâm. Cũng là kết luận tên người.
P.M (9) : Câu (1) (2) nói về CÔNG ĐỨC HẢI. Câu (1) là tuệ, câu (2) là phúc. Câu (3) là nói về CẢNH GIỚI. Câu (4) là kết pháp thuộc người.
P.M (10) : Câu (1) (2) nói về lực công đức QUÁ KHỨ của CHƯ PHẬT. Câu (3) là NGUYỆN LỰC. Câu (4) nói về SỞ TRÌ HOAN HỈ TẠNG, là quả đã thành tựu.
5 CHÚNG PHẠM THIÊN thuộc Sơ thiền : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. THI KHÍ ĐẠI PHẠM THIÊN : Từ chân mà khởi ứng, gọi là CHIẾU HIỆN CÁC PHÁP. Ứng mà không khác chân, gọi là NHẬP BẤT TƯ NGHÌ. Lấy ngay cái tịch làm chiếu, thì không thể là cái tịch do tạo tác. Lấy ngay cái chiếu làm tịch thì không thể là cái chiếu do tạo tác.
2. TRÍ QUANG MINH PHẠM : NHẤT THIẾT THIỀN ĐẲNG QUÁN là lý pháp thân. Vì đây là loại thiền mà trong đó bình đẳng quán cảnh. TỊCH TĨNH THIỆN TRỤ là diệu trí chứng hợp với lý pháp thân.
3. TRÍ QUANG TÂM PHẠN : Đầu tiên là căn bản trí chiếu pháp. Sau là hậu đắc trí khéo giáo hóa. Sát trần pháp hải gọi là CHƯ PHÁP BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Nhất âm diễn thuyết trải qua số kiếp nhiều như bụi không có cùng tận, gọi là NHẬP PHƯƠNG TIỆN. Sẽ giải thích ở phần kệ.
4. PHỔ ÂM VÂN PHẠM : Phật âm viên ứng, gọi là DIỆU ÂM THANH HẢI. Đồng khắp pháp giới, gọi là BÌNH ĐẲNG ĐỘ NHẬP.
5. ỨNG THỜI ÂM PHẠM : Giữ cho các căn yên định, gọi là NHIẾP. Một cách cương cường, gọi là PHỤC. Phương tiện này từ trong Phật thân mà hiện, nên nói TỐI THẮNG.
6. TỊCH TĨNH QUANG PHẠM : Phật thân ứng khắp, hiện trong các cõi, gọi là NĂNG KHỞI AN TRỤ. Ngữnghiệp trùm khắp, tịnh âm thuyết pháp, gọi là PHÂN BIỆT CHƯ PHÁP.
7. HỈ QUANG PHẠM : Ba nghiệp vô biên khéo giáo hóa chúng sinh.
8. KIÊN CỐ PHẠM : Pháp ly tình kế gọi là TỊNH TƯỚNG. Khéo chứng diệu trí, gọi là TRỤ TỊCH HẠNH.
9. LẠC MỤC QUANG PHẠM : Quá khứ và vị lai không có đến đi (VÔ LAI VÔ KHỨ). Hiện tại thì không chỗy chỉ (VÔ SỞ Y). Sinh, không từ đâu đến. Diệt, không đi về đâu. Trụ, không chỗ y chỉ. Với tâm quán như thế, gọi là DŨNG MÃNH.
10. NHU NHUYẾN ÂM PHẠM : Hễ có một HẠNH thì đều CHIẾU khắp VÔ TẬN PHÁP hải.
KỆ TỤNG : Có 8 bài kệ. 7 bài đầu mỗi bài một pháp môn.
P.M (1) : Câu (1) (2) là CHIẾU HIỆN CHƯ PHÁP. Câu (3) (4) là NHẬP BẤT TƯ NGHỊ.
P.M (2) : Câu (1) (2) là THIỀN ĐẲNG QUÁN. Câu (3) (4) là TỊCH TĨNH THIỆN TRUï. Lại, ngay câu (4) là kết pháp thuộc người.
P.M (3) : Câu (1) là CHIẾU CHƯ PHÁP BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Câu (2) (3) là NHẬP PHƯƠNG TIỆN. Câu (4) kết pháp thuộc người.
P.M (4) : Câu (1) (2) (3) là DIỆU ÂM THANH HẢI. Câu (4) là BÌNH ĐẲNG ĐỘ NHẬP, cũng là câu kết luận.
P.M (5) : Câu (1) (2) là NHIẾP PHỤC. Câu (3) (4) là TỐI THẮNG.
P.M (6) : Câu (1) (2) (3) nói đến NHẤT THIẾT SÁT NĂNG KHỞI AN TRỤ, là hiện thân. Câu (4) là PHÂN BIỆT CHƯ PHÁP, là tịnh âm thuyết pháp.
PM (7) : Câu (1) (2) nói về VÔ LƯỢNG PHƯƠNG TIỆN, là tam nghiệp luân. Câu (3) (4) nói về giáo HÓA CHÚNG SINH, là tự tại soi chiếu các căn cơ.
P.M (8) : Câu (1) (2) là TRỤ TỊCH HẠNH. Câu (3) (4) nói về tướng thanh tịnh của các pháp (CHƯ PHÁP TỊNH TƯỚNG).
P.M (9) và (10) : Không có kệ tụng, chỉ giải thích chung qua bài kệ (8). Câu (1) tụng P.M (8). Câu (2) tụng P.M (10). Câu (3) tụng P.M (9). Câu (4) kết luận về tên vị thiên. LẠC là tên vị thiên thứ (9). ÂM là tên vị thiên thứ (10).
6 CHÚNG THA HÓA THIÊN : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. TỰ TẠI THIÊN VƯƠNG : CHÚNG SINH có 2 TẠNG : Một là phiền não tạng, thì giáo hóa khiến chuyển cho hết. Hai là Như Lai tạng, thì giáo hóa khiến chuyển cho hiện. Hai thứ này không hai, hòa hợp dung thông, nên được hóa ích.
2. THIỆN NHÃN QUANG THIÊN : Khiến chúng sinh được cái lạc của đại niết bàn.
3. TẠP BẢO QUANG THIÊN : Biết rõ căn khí của từng người, khéo làm lợi ích.
4. TINH TẤN THIỆN TUỆ THIÊN : Phân biệt nghĩa ba tánh mà chúng sinh có. Phật vì chúng sinh mà nhất âm hiển phân trùm pháp hải rộng lớn. Sẽ giải thích ở phần kệ sau.
5. DŨNG DIỆU TẠP ÂM THIÊN : TỪ NIỆM chở che chúng sinh. Tuệ nhãn thì QUÁN SÁT.
6. QUANG MINH LẠC TRÀNG THIÊN : Thập lực của Đại từ phá tan núi MA kiêu mạn.
7. TỊNH CẢNH GIỚI THIÊN : Ứng niệm nhiếp hóa chúng sinh.
8. TẠP SẮC LUÂN VƯƠNG : Niệm chư Phật khắp pháp giới, khéo thông hết Phật cảnh.
9. TRÍ HOA DIỆU QUANG THIÊN : PHẬT CÔNG ĐỨC TỰ TẠI là hiển công đức của người giáo hóa. GIÁC NGỘ SUNG MÃN NIỆM là ứng khắp quần cơ. TÙY THUẬN có hai : 1/Căn duyên tương thuận. 2/Khiến cho căn cơ vào được pháp.
10. ĐẠI LỰC QUANG THIÊN : Nói về Phật quốc độ hải. Vì chỉ là cảnh giới Phật tuệ, nên LY THẾ GIAN.
KỆ TỤNG : Có 10 bài. Mỗi bài tụng một pháp môn.
P.M (1) : Câu (1) (2) tụng về Như Lai tạng. Câu (3) (4) là giáo hóa chúng sinh. Cũng có thể tụng chung tất cả.
P.M (2) : Câu (1) (2) (3) tụng về pháp. Câu cuối kết luận tên người.
P.M (3) : Câu (1) nói về GIẢI CHÚNG SINH. ĐẤT NGHI RỪNG HẠN là muốn nói đến TÁNH DỤC. Các câu còn lại tụng về PHƯƠNG TIỆN và kết người đắc pháp.
P.M (4) : Câu (1) nói về PHÂN BIỆT. Câu (2) tụng NGHĨA. Câu (3) giải thích cái nghi “Làm sao nhất âm mà có thể diễn nói nhiều pháp”. Giải thích : Đó là do trùm khắp. Câu (4) kết người đắc pháp. THẮNG DŨNG chỉ cho TINH TẤN.
P.M (5) : Câu (1) (2) nói về QUÁN SÁT, là trí quán nạp pháp, gọi là NHẬP ĐẦU LÔNG PHẬT… Câu (1) (2) là TỪ NIỆM và kết luận tên người.
P.M (6) : Câu (1) tụng về MA SỰ. Câu (2) (3) tụng về SIÊU XUẤT. Câu (4) kết luận.
P.M (7) : Câu (1) (2) nhờ NIỆM PHẬT mà được trí tuệ, diệt si ám ly nhiễm nhân. Câu (3) (4) là ly nhiễm quả và kết luận tên người đắc pháp.
P.M (8) : Câu (1) tụng chư Phật ở mười phương. Câu (2) là NIỆM SUNG MÃN, vì đầy đủ niệm ấy. Câu (3) (4) tụng về sự lợi ích của niệm sung mãn và kết luận tên người. Tràng (cờ) giống như luân (bánh xe).
P.M (9) : Câu (1) là Phật CÔNG ĐỨC TỰ TẠI. Câu (2) là GIÁC NGỘ và NIỆM TÙY THUẬN. Câu (3) (4) là SUNG MÃN và kết luận.
P.M (10) : Câu (1) tụng về LY THẾ GIAN, vì là Phật độ hải. Câu (2) nói về cảnh giới. Câu (3) tụng về cái nhân ly thế gian. Do tướng thế gian đã dứt, Phật độ hải không gì có thể vượt hơn, nên nói KHÔNG CAO TÂM, chính là vô phân biệt. Câu (4) kết luận tên người.
7 CHÚNG HÓA LẠC THIÊN : Có 10 vị đắc pháp.
TRƯỜNG HÀNG
1. THIỆN HÓA THIÊN VƯƠNG : Dùng duyên khởi vô tác phân biệt các pháp.
2. TỊNH QUANG THỜI THIÊN : Có 3 cách giải thích :
1/ Quán thật tánh của ba hữu (tam giới) và hai ngã.
2/ NHẤT THIẾT HỮU chỉ cho lý hữu. NGÃ chỉ cho tình chấp. Tình và lý không hai, nên nói CHÂN THẬT. Phật Tánh Luận nói: “Chân đế không có nhân và pháp nên không phải có. Hiển hai không nên không phải không. Lại, nhân pháp không mà chẳng phải không. Hai không có mà chẳng phải có. Nơi tục đế, phân biệt tánh mà chẳng phải có, y tha tánh mà chẳng phải không. Lại, phân biệt, không nhất định không. Y tha, không nhất định có. Cho nên, hai đế đều lìa có và không”. Biện Trung Biên Luận v.v… cũng nói: “Tuy Phật hiện ‘hữu’ nhưng ở nơi ‘hữu’ tìm Phật thì không thể được. Vì hữu tức là chân thì không có hữu”, nên nói QUÁN NHẤT THIẾT HỮU CHÂN THẬT. “Phật tuy hiện ngã, song ở nơi ngã tìm Phật thì không thể được. Vì ngã tức là chân thì không có ngã”, nên nói QUÁN NGÃ CHÂN THẬT. Phần còn lại sẽ giải thích trong kệ tụng.
3. HÓA LỰC QUANG THIÊN : Diệt ngu si của chúng sinh, là TUỆ. Được Phật quả thì tuệ viên mãn (MÃN TÚC).
4. NAN THẮNG THIÊN : Viên âm vui thích trùm khắp, phát khởi dũng mãnh tu hành.
5. NIỆM QUANG THIÊN : Thập Liên Hoa tạng vi trần số tướng hải, nên nói CỤ TÚC (đầy đủ) VÔ TẬN, như phẩm Tướng Hải nói. HẢO CÔNG ĐỨC là tiểu tướng, như phẩm Tiểu Tướng Công Đức nói.
6. DŨNG VÂN ÂM THIÊN : Kiếp sự trong ba đời ở tại Phật trí, được Phật trí soi chiếu không tạp loạn, nên nói THỨĐỆ. Đây chỉ nói thời quá khứ. Trong kệ có đủ ba thời.
7. TỊNH QUANG THẮNG THIÊN : Phúc trí vô biên làm lợi ích cho chúng sinh. Cũng là trưởng dưỡng phúc trí vô biên cho chúng sinh. Bài kệ sau thuận với phần giải thích đầu.
8. LẠC QUANG KẾ THIÊN : Thân sự duyên khởi đồng với pháp tánh trùm khắp.
VÔ NGẠI có 7 :
1/ Chất không chướng ngại thân.
2/ Thân không chướng ngại chất.
3/ Trùm khắp mà không ngại ẩn : Vì cơ bất cảm xứ, tuy trùm khắp mà ẩn.
4/ Đầy khắp mà không ngại phân : Vì ứng cơ mà hiện ngắn dài, nhưng không chướng ngại, đầy khắp hư không.
5/ Ngồi không ngại đứng, đi v.v…
6/ Một không ngại nhiều : Vì các phương hiện nhiều mà luôn là một.
7/ Lý không ngại sự : KHÔNG GIỚI là giới, giống như tánh. Tánh không là lý, KIẾT GIÀ PHU TỌA là sự. Do duyên khởi dung thông nên VÔ NGẠI. Các căn còn lại y theo đó mà hiểu.
9. LẠC TRÍ TUỆ THIÊN : Nghiệp hạnh duyên khởi khéo vì căn cơ của chúng sinh mà hiện, gọi là PHƯƠNG TIỆN. VÔ TẬN là sở duyên của căn cơ, nên nói CẢNH GIỚI.
10. HOA QUANG KẾ THIÊN : Tất cả nhân quả thiện ác của chúng sinh đồng trong pháp giới không có đến đi, nên nói ĐẲNG QUÁN.
KỆ TỤNG : Có 10 bài kệ. Theo thứ tự, mỗi bài một pháp môn.
P.M (1) : HÓA có 3 nghĩa : 1/Sở y hóa khởi. 2/Hóa không có thể tánh. 3/Hóa hiện tợ có. Câu (1) (2) tụng nghĩa thứ nhất : Câu (1) tụng về NHẤT THIẾT PHÁP, là sở y. Câu (2) nói PHÂN BIỆT HÓA, là sởkhởi. Câu (3) tụng về nghĩa thứ hai, là không thể tánh. Câu (4) tụng về nghĩa thứ ba, là hiện hữu. Nghĩa là, Phật cùng chúng sinh làm duyên khởi cho nhau.
P.M (2) : Câu (1) (2) là QUÁN NHẤT THIẾT HỮU và NGÃ đều vô sở hữu. Câu (3) (4) tụng về CHÂN THẬT và kết luận người đắc pháp.
P.M (3) : Câu (1) (2) là LY SI hoặc. Câu (3) (4) là TRÍ TUỆ MÃN TÚC và kết luận tên người đắc pháp. LỰC là tên của vị thiên.
P.M (4) : Câu (1) (2) là tụng về PHẬT ÂM. Câu (3) (4) là PHÁT KHỞI HOAN HỈ DŨNG MÃNH và kết luận.
P.M (5) : Câu (1) (2) là PHẬT TƯỚNG HẢO. Câu (3) (4) là VÔ TẬN và kết luận.
P.M (6) : Câu (1) (2) là QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG KIẾP… Câu (3) (4) là TRÍ TUỆỨC NIỆM.
P.M (7) : Câu (1) (2) là thể của CHỦNG CHỦNG CÔNG ĐỨC TRÍ TUỆ. Câu (3) (4) tụng về phúc trí và kết luận. Các thứ còn lại lược bớt, không thấy nói đến. Trong phần kết luận, TỊNH TRI KIẾN đã là tịnh, Quang Thắng Thiên sao lại gọi là Như Lai? Vì vị Thiên này chính là Phật. Như trên đã nói.
P.M (8) : Tụng về KHÔNG GIỚI KIẾT GIÀ PHU TỌA VÔ NGẠI : Trường hàng trên nói về quả dụng, đây tụng về nhân hạnh. Câu (1) là thời kiếp lâu xa. Câu (2) là công đức viên mãn. Câu (3) là dũng mãnh tu hành. Câu (4) kết luận tên người đắc pháp.
P.M (9) : Câu (1) (2) tụng PHƯƠNG TIỆN CẢNH GIỚI. Câu (3) (4) tụng VÔ TẬN LỰC và kết luận. Vì hay hiện pháp lực trùm khắp, nên nói VÔ TẬN.
P.M (10) : Câu (1) (2) là CHÚNG SINH NGHIỆP HẠNH KHỔ LẠC. Câu (3) là ĐẲNG QUÁN. Câu (4) là kết luận. CHIẾU, chỉ cho Hoa Quang. Kệ này cũng có thể tụng cho P.M (9). Kệ trước tụng cho P.M (10). Suy nghĩ sẽ thấy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/3/2018.
No comments:
Post a Comment