Friday, September 1, 2023

Việt Nam Cộng hòa (VNCH; tiếng Anh: Republic of Vietnam; tiếng Pháp: République du Viêt Nam, viết tắt RVN) là một nhà nước đã từng tồn tại từ năm 1955 đến năm 1975. Trong các tài liệu quốc tế, chính phủ này còn được gọi là South Vietnam (n.đ. 'Nam Việt Nam' hoặc 'miền Nam Việt Nam') để chỉ phạm vi địa lý kể từ khi Hiệp định Genève được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa bác bỏ việc thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vào năm 1956 theo Hiệp định Genève với lý do họ không ký hiệp định này mặc dù với việc kế thừa nghĩa vụ của Liên hiệp Pháp, chính phủ này vẫn phải thực thi. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đối chọi với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập năm 1969 do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lãnh đạo. Nguồn gốc của Việt Nam Cộng hòa bắt nguồn từ Chiến tranh Đông Dương. Sau Thế chiến II, phong trào Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 và tổ chức thành công Tổng tuyển cử toàn quốc vào tháng 1/1946 để chính thức trở thành nhà nước duy nhất có chủ quyền trên toàn bộ hai miền của Việt Nam.[1] Tổng tuyển cử được diễn ra thành công bất chấp việc thực dân Pháp tái xâm lược Việt Nam từ cuối năm 1945. Với Hiệp định Élysée được ký vào tháng 3/1949, một nhóm chính trị gia chống Cộng do Bảo Đại đứng đầu đã cùng thực dân Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam trở thành một thành viên độc lập một phần trong Liên hiệp Pháp[2]. Sau khi thất bại trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký Hiệp định Genève, theo đó Pháp từ bỏ chủ quyền ở Đông Dương, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự với việc Quân đội nhân dân Việt Nam rút về vùng tập kết phía Bắc vỹ tuyến 17, quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm Quân đội quốc gia Việt Nam) rút về vùng tập kết phía Nam vỹ tuyến 17. Trong thời gian chờ Tổng tuyển cử để hình thành nhà nước thống nhất trên cả hai vung tập kết quân sự, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nắm quyền quản lý hành chính ở vùng lãnh thổ phía Bắc vỹ tuyến 17, Liên hiệp Pháp mắm quyền quản lý hành chính ở vùng lãnh thổ phía Nam vỹ tuyến 17. Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam vào giữa năm 1955 và quyền quản lý hành chính ở miền Nam Việt Nam được giao lại cho Quốc gia Việt Nam.[3]. Từ đây, Hoa Kỳ thế chỗ Pháp, tiếp tục hậu thuẫn chế độ Quốc gia Việt Nam nhằm ngăn chặn Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam về mặt nhà nước. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Bảo Đại vào năm 1955 sau một cuộc trưng cầu dân ý với nhiều gian lận. Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Việt Nam Cộng hòa vào ngày 26 tháng 10 năm 1955, với Ngô Đình Diệm là tổng thống đầu tiên.[4] Chính phủ này lập tức được Hoa Kỳ công nhận và lần lượt có quan hệ ngoại giao với 77 quốc gia. Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đệ đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc nhưng đề nghị này bị Liên Xô phủ quyết.[5][6] Sau những hỗn loạn nội bộ ngày càng gia tăng, Ngô Đình Diệm bị ám sát trong cuộc đảo chính năm 1963 do tướng Dương Văn Minh cầm đầu và được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Sau đó, một loạt chính quyền quân sự được thành lập nhưng liên tục sụp đổ do các cuộc đảo chính lẫn nhau. Tướng Nguyễn Văn Thiệu sau đó nắm quyền trong giai đoạn 1967–1975 sau cuộc tuyển cử tổng thống. Với sự can dự của Mỹ, cục diện ở Việt Nam bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới đó là Chiến tranh Việt Nam[7]. Ngày 20/12/1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hỗ trợ thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (mà Mỹ gọi là Việt Cộng) để chính thức chuyển hướng từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang.[8]. Tới ngày 15/02/1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - lực lượng quân đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.[9] Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận được sự trợ giúp từ nguồn viện trợ và trang bị từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô,Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và các thành viên Khối Xã hội chủ nghĩa. Sau những bất ổn nội bộ và sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở miền Nam, Việt Nam Cộng hòa đứng trên bờ vực sụp đổ. Điều này dẫn tới việc Hoa Kỳ và đồng minh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam từ ngày 08/3/1965[10] sau khi cưỡng ép Việt Nam Cộng hòa phải chấp nhận sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.[11] Tiếp theo là các đơn vị bộ binh Hoa Kỳ để bổ sung cho đội ngũ cố vấn quân sự hướng dẫn những lực lượng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Một chiến dịch ném bom thường xuyên ở miền Bắc Việt Nam đã được các phi đội không quân Hoa Kỳ thực hiện từ năm 1966 và 1967. Chiến tranh Việt Nam đã đạt đến đỉnh điểm trong sự kiện Tết Mậu Thân tháng 2 năm 1968, khi có hơn 600.000 lính Mỹ và đồng minh (Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Thái Lan) cùng 600.000 lính Việt Nam Cộng hòa tham chiến ở miền Nam Việt Nam, cùng với hải quân và không quân Hoa Kỳ bắn phá miền Bắc Việt Nam. Với Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hoa Kỳ chính thức rút toàn bộ quân đội của mình và đồng minh khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp do Mỹ và đồng minh vẫn tiếp tục can thiệp chính trị và viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa. Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh kết thúc và Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau khi Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.[12]. Ngày 25 tháng 4 năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức Tổng tuyển cử để thành lập nhà nước thống nhất mang tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[13] Tên gọi Bài chi tiết: Các tên gọi của nước Việt Nam "Việt Nam" là tên gọi được vua Gia Long đặt ra vào năm 1804.[14] Đây là một biến thể của "Nam Việt" (chữ Hán: 南越), một cái tên được sử dụng trong thời cổ đại.[14] Vào năm 1839, vua Minh Mạng đã đổi tên nước thành "Đại Nam".[15] Tiền thân của Việt Nam Cộng hòa là Quốc gia Việt Nam do Pháp[a] thành lập năm 1949, trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 thì chính thức đổi tên thành Việt Nam Cộng hòa. Tên chính thức của Việt Nam Cộng hòa dịch sang tiếng Pháp được gọi là République du Viêt Nam. Tuy vậy, thuật ngữ "South Vietnam" thường được sử dụng phổ biến ở phương Tây vào năm 1954, khi Hội nghị Genève phân vùng Việt Nam thành 2 vùng tập kết quân sự tạm thời. Các tên khác mà chính phủ này thường tự gọi mình trong thời gian tồn tại là "Chính phủ Việt Nam" hoặc "Chính phủ quốc gia".

No comments:

Post a Comment