2)
Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ
gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3)
Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy hay Sư phụ, người con hay cháu phải gọi
là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy? Như vậy
con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình
chăng?
4)
Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại
gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng “con” được chăng, dù rằng vị tại gia cao
niên đó xưng là “con” với vị xuất gia?
5)
Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong
gia đình?
Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, cần
thông qua các điểm sau đây:
*1) Chư Tổ có dạy: “Phật pháp tại thế gian”. Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc
đời. Nói một cách khác, đạo ở tại đời,
người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành
đạo để giúp đời. Chư Tổ cũng có dạy: “Hằng thuận chúng sanh”. Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại
gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí,
ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh,tức là cho mọi người
trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
*2)
Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp:
Một
là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức,
trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh. Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người,
tại gia hay xuất gia,mà thôi. Người chưa
rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết
luận như vậy. Cho nên, việc tìm hiểu và
giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
*3)
Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo. Tuổi đời là tuổi tính theođời, kể từ năm sinh
ra. Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều
người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ
năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu
chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là
tuổi hạ (hay hạ lạp). Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ
tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời. Ở đây
không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không
liên tục.

Bây
giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay
do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó
là các vị đồng chơnnhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong
chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ. Thời
gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc
Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các
con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên
gọi là “khu ô sa di” (sa di đuổi quạ).
Đến
năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu
tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo
(nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô(nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ
Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia.
Ở
đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18
tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong
thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bênni, bên tăng
không có. Tuy nhiên trong tạng luật, có
đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni.
Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọilà tỷ kheo, hay tỳ khưu,
tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới. Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới
đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc
mãn đời (thường gọi là viên tịch, không nên lạm dụng từvãng sanh), không phải
thụ giới nào cao hơn. Việc thụ bồ tát
giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông,
nam tông không có giới này.
Ở
đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền, phát triển) là danh từ chỉ các
tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây
Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền,
nguyên thủy) là danh từ chỉ các tôngphái tu theo sự truyền thừa về phương nam
của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt
Nam.
Trong
lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh
hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng theo
hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo như sau:
1)
Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2)
Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là
ThượngTọa.
3)
Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa
Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni
bộ):
4)
Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay
ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5)
Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6)
Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sưbà (bây giờ gọi
là Ni trưởng).
Đó
là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong
việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo, không
được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp
thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong,
nhân dịp Đại Lễ hay Đại Hội Phật Giáo, trong các Giới Đàn, hay trong mùa an cư
kết hạ hằng năm.
Như
trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ. Ni sư nghĩa
là Thượng tọa bên ni bộ. Sư bà (hay Ni
trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ.
Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là:
“Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni”, chính là nghĩa đó
vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng:
Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni.
Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe
không quen tai nhưng không phải là sai. Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng
trách điều hành các cơ sở Giáo Hội Phật Giáo trung ương cũng như địa phương, hay
các Đại Tùng Lâm, Phật Học Viện, Tu Viện, thường làcác vị trên 80 tuổi đời, được
tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa hượng. Các vị thuộc hàng giáo
phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng
minh tối cao của các Giáo Hội Phật Giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn
thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa
là: thầy tu).
Đến
đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị
cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
1)*
Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị
kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách). Bên tăng cũng nhưbên ni, đều gọi sư phụ bằng
Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư).Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ,
thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ,Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế
với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh,
Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, thân hữu, hội hữu,
chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp
hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng,
cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo
Phật.
2)* Khi tiếp xúc với chư tăngni, quí vị cư sĩ
Phật Tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng
Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni
có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người
thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi
tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng,
cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng
thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy.
Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh
ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam Bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới),
mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị
ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư,
tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ
được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư,
không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni,
xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích
lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.

3)* Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật Tử tại
gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng
tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng
ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi
chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo)
tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là “Quí
Phật Tử”. Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia
đều cùng là Phật Tử, chứ không riêng tại gia là Phật Tử mà thôi. Việc một Phật Tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi
gọi một Phật Tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng, không
nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như
vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời:ngôi thứ, cấp bậc, đều có
thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứtheo thời gian tăng lên. Theo
truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội,
dù tại gia hay xuất gia.
4)* Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy
thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng,
chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia
quyến, một cách trân trọng,tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao
người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho
quí Phật Tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần
hoằng pháp. Còn được gọi là Ưu bà tắc
(Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di
(Tín nữ, Cận sự nữ).
5)* Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của
tiếng xưng “con” trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của
đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp,
công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối
cùng đạt đượ cmục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của
đức Phật, nhờ diễm phúc được làm “con” của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm
gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất
luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng “con”
trong giáo pháp của đức Phật.
6)* Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã
lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ
giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi
một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị
trẻtuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ
ngữnày có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi
không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu
cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả
năng hoằng pháp, từng đảm nhận trọng trách, hay nghiên cứu tu tập trước khi vào
đạo.
7)* Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư Ông, Sư Cụ
thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình,hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao,
thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuấtgia. Một danh xưng nữa là Pháp Sư,
dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp
(pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy
cúng.
8)* Danh xưng Sư Tổ được dành cho chư tôn đức
lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danhxưng Tổ Sư được dành cho chư tôn đức
đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo.
Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo
thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh
hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.

9)* Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ
kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để
xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh. Các vị đệ tử lớn của đức Phật
cũng được gọi là Ðại Ðức. Trong các giới
đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức.
10)* Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên
thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Bồ tát Thường bất khinh, bất tùy phân
biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến
ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau,
vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. Cho
nên đơn giản nhất là: “xưng con gọi Thầy”.
Theo
các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.
*
* *
Tóm
lại, ngôn ngữ,danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong
đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên
cách xưng hôtrong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời
đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là
phần tu tướng.
Các
vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, đã coi thường mọi
thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn
thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau,
tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ,
nếu có, trong nhà đạo. Đồng quan điểm
hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng
quan tâm, tránh sự tranh cãi. Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người
không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia
cũng như xuất gia. Nhất niệm sân tâm
khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm,
chính là nghĩa như vậy.
Cách
xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc,
thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt,
thế thôi! Đó là phần tu tâm.

Trong
đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến,
không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng tu tâm
dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải
thoát, đối với Phật Tử tại gia cũng như xuất gia.
Đó
chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật
vậy.
Khó quá! Không biết nên tới hay
lui?
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/12/2014.
No comments:
Post a Comment