Saturday, September 11, 2021
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, Đức A-ra-hán, Đức-Phật-Chánh-Đẳng-Giác.
Bài Kinh Chuyển-Pháp-Luân
(Dhammacakkappavattanasutta)
Ý Nghĩa Kệ Khai Kinh Chuyển-Pháp-Luân
“Bhikkhūnaṃ pañcavaggīnaṃ…”
Vị Đại-Phạm-thiên Sa-ham-pa-ti,
Thỉnh cầu Đức-Phật, thuyết pháp độ sinh,
Đức-Phật đại bi nhận lời cầu thỉnh
Thuyết pháp giảng giải pháp tứ Thánh-đế,
Chánh pháp cao thượng chứng ngộ Niết-bàn
Tế độ chúng sinh, nhóm năm tỳ-khưu
Tại khu rừng rậm, nơi phóng sinh nai
Tên gọi là I-si-pa-ta-na,
Mong sự lợi ích cho toàn chúng-sinh,
Lắng nghe bài kinh Chuyển-Pháp-Luân này,
Thành tựu kết quả cõi người, cõi trời,
Niết-bàn tịch tịnh an lạc tuyệt đối
Chúng tôi tụng kinh Chuyển-Pháp-Luân ấy.
[1] Samyuttanikāya, Mahāvaggasamyutta, Dhammacakkappavattanasutta
Ý Nghĩa Bài Kinh Chuyển-Pháp-Luân
Lời Ngài Đại Đức Ānanda bạch với Ngài Đại Trưởng-Lão Mahākassapa rằng:
– “Evaṃ me sutaṃ…”
– Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão Mahā-kassapa khả kính, Con là Ānanda được nghe bài kinh Chuyển-Pháp-Luân từ Đức-Thế-Tôn như vầy:
Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại khu rừng phóng sinh nai, gọi là Isipatana, trước kia chư Phật-Độc-Giác thường ngự xuống. Tại đây, Đức-Thế-Tôn gọi nhóm 5 tỳ-khưu là Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña, Ngài Đại-đức Vappa, Ngài Đại-đức Bhaddiya, Ngài Đại-đức Mahā-nāma và Ngài Đại-đức Assaji mà dạy rằng:
Hai Pháp Thấp Hèn (Dve antā)
– Này chư Tỳ-khưu! Có 2 pháp cực đoan thuộc về hai biên kiến mà người xuất gia không nên hành.
Hai pháp ấy như thế nào?
* Một là việc thường thụ hưởng khoái lạc trong ngũ-dục do tâm tham-ái hợp với thường-kiến, là pháp thấp hèn của hạng phàm-nhân trong đời, không phải là pháp-hành của bậc Thánh-nhân, không đem lại lợi ích an lạc,
* Hai là việc thường tự ép xác hành khổ mình do tâm sân và có đoạn-kiến, thuộc pháp-hành-khổ-hạnh của ngoại đạo, không phải là pháp-hành của bậc Thánh-nhân, không đem lại lợi ích an lạc.
Pháp-Hành-Trung-Đạo (Majjhimapaṭipadā)
– Này chư Tỳ-khưu! Không thiên về hai biên kiến ấy, Như-Lai đã hành theo pháp-hành-trung-đạo, nên đã chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế bằng trí-tuệ siêu-tam-giới, làm cho tuệ nhãn phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới phát sinh, để làm vắng lặng mọi phiền não, làm cho trí-tuệ siêu-tam-giới phát sinh chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
– Này chư Tỳ-khưu! Thế nào gọi là pháp-hành-trung-đạo mà Như-Lai đã chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế bằng trí-tuệ siêu-tam-giới, làm cho tuệ nhãn phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới phát sinh, để làm vắng lặng mọi phiền não, làm cho trí-tuệ siêu-tam-giới phát sinh chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
– Này chư Tỳ-khưu! Pháp-hành-trung-đạo đó chính là Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh cao thượng là chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh-niệm, chánh-định.
– Này chư Tỳ-khưu! Pháp-hành-trung-đạo là Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh cao thượng này, mà Như-Lai đã chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế với trí-tuệ siêu-tam-giới, làm cho tuệ nhãn phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới phát sinh, đã làm vắng lặng mọi phiền não, làm cho trí-tuệ siêu-tam-giới phát sinh chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
Tứ Thánh-Đế
1- Khổ-Thánh-Đế (Dukkha ariyasacca)
– Này chư Tỳ-khưu! Khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là:
* Tái sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.
* Phải gần gũi, thân cận với người không thương yêu là khổ.
* Phải xa lìa người thương yêu là khổ.
* Mong muốn đừng có sinh, đừng có già, đừng có bệnh, đừng có chết… mà không thể nào được như ý là khổ.
Tóm lại, chấp thủ trong ngũ-uẩn do tâm tham-ái và tà-kiến là khổ.
2- Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế (Dukkhasamudaya ariyasacca)
– Này chư Tỳ-khưu! Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là tham-ái là nhân dắt dẫn tái sinh, hợp với tham muốn, hài lòng, say mê trong các đối tượng,
đắm say trong kiếp sống.
Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế ấy là:
* Dục-ái (kāmataṇhā: Tham-ái trong 6 đối tượng ái: (sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái).
* Hữu-ái (bhavataṇhā): Tham-ái trong 6 đối tượng ái hợp với thường-kiến, hoặc tham-ái trong 3 cõi (dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới).
* Phi-hữu-ái (vibhavataṇhā): Tham-ái trong 6 đối tượng ái hợp với đoạn-kiến.
3- Diệt-Khổ-Thánh-Đế (Dukkhanirodha ariyasacca)
– Này chư Tỳ-khưu! Diệt-Khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Niết-bàn là pháp diệt-đoạn-tuyệt mọi dục vọng do tâm tham-ái ấy không còn dư sót bằng 4 Thánh-đạo-tuệ, xả ly, từ bỏ chấp thủ trong ngũ-uẩn, giải thoát khổ, không còn luyến ái, không còn dính mắc.
4- Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt-Khổ-Thánh-Đế
(Dukkhanirodhagaminī paṭipadā ariyasacca)
– Này chư Tỳ-khưu! Pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh là chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh-niệm, chánh-định.
Tam-Tuệ-Luân Trong Tứ Thánh-Đế
1- Tam-Tuệ-Luân Trong Khổ-Thánh-Đế
1.1- Trí-Tuệ-Học Biết Khổ-Thánh-Đế (Saccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn (cakkhu) thấy rõ Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ (ñāṇa) thấy rõ thật-tánh Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ sáng suốt (paññā) thấy rõ khổ sinh, khổ già… đã phát sinh, tuệ-minh (vijjā) thấy rõ, thấu suốt hoàn toàn Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, ánh sáng trí-tuệ (āloka) diệt màn vô-minh che án Khổ-Thánh-đế đã phát sinh đến với Như-Lai trong mọi pháp Khổ-Thánh-đế, mà trước đây, khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh tất cả các pháp, sắc-pháp, danh-pháptrong tam-giới, ngoại trừ tâm tham-ái ra (vì tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế), đều là Khổ-Thánh-đế”.
1.2- Trí-Tuệ Hành Phận Sự Biết Khổ-Thánh-Đế (Kiccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ…, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ- minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh các pháp(danh-pháp, sắc-pháp)Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên biết rõ bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới”.
1.3- Trí-Tuệ Thành Hoàn Thành Xong Phận Sự Biết Khổ-Thánh-Đế (Katañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ…, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh tất cả các pháp(danh-pháp, sắc-pháp)Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên biết, thì đã biết rõ bằng 4 Thánh-đạo-tuệ rồi”.
2- Tam-Tuệ-Luân Trong Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế
2.1- Trí-Tuệ Học Biết Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế (Saccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn thấy rõ tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ thật-tánh ba loại tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ sáng suốt thấy rõ 108 loại tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, tuệ-minh thấy rõ, thấu suốt Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, ánh sáng trí-tuệ diệt màn vô-minh che án Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh 3 loại tham-ái ấy là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế”.
2.2- Trí-Tuệ Hành Phận Sự Diệt Nhân-Sinh Khổ-Thánh-Đế(Kiccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ…, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh ba loại tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên diệt bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới”.
2.3- Trí-Tuệ Thành Hoàn Thành Phận Sự Diệt Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế(Katañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ …, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ- minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh ba loại tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên diệt,thì đã diệt-đoạn-tuyệt bằng 4 Thánh-đạo-tuệ rồi”.
3- Tam-Tuệ-Luân Trong Diệt-Khổ-Thánh-Đế
3.1- Trí-Tuệ Học Biết Diệt-Khổ-Thánh-Đế (Saccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn thấy rõ Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ sáng suốt thấy rõ thật-tánh Niết-bàn đã phát sinh, tuệ minh thấy rõ, thấu suốt Diệt-Khổ- Thánh-đế đã phát sinh, ánh sáng trí-tuệ diệt màn vô-minh che án Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Diệt-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh Niết-bàn là pháp Diệt- Khổ-Thánh-đế.”
3.2- Trí-Tuệ Hành Phận Sự Chứng Ngộ Diệt-Khổ-Thánh-Đế (Kiccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ …, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ- minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như Lai trong mọi pháp Diệt-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh Niết-bàn là Diệt-Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên chứng ngộ bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới”.
3.3- Trí-Tuệ Thành Hòan Thành Phận Sự Chứng Ngộ Diệt-Khổ-Thánh-Đế (Katañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ…, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi pháp Diệt-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh Niết-bàn là Diệt-Khổ-Thánh-đế ấy là phápnên chứng ngộ, thì đã chứng ngộ Niết-bàn bằng 4 Thánh-đạo-tuệ rồi”.
4- Tam-Tuệ-Luân Trong Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt-Khổ-Thánh-Đế
4.1- Trí-Tuệ-Học Biết Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt- Khổ-Thánh-Đế (Saccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn thấy rõ Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, trí-tuệ sáng suốt thấy rõ thật-tánh của chánh-kiến, chánh-tư-duy… đã phát sinh, tuệ-minh thấy rõ, thấu suốt Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh, ánh sáng trí-tuệ diệt màn vô-minh che án Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh là pháp-hành-bát-chánh-đạo dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế.”
4.2- Trí-Tuệ Hành Phận Sự Tiến Hành Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt-Khổ-Thánh-Đế (Kiccañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu, tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ …, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ- minh,… ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng: “Thật-tánh Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên tiến hành để chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới”.
4.3- Trí-Tuệ Thành Hoàn Thành Xong Phận Sự Tiến Hành Pháp-Hành Dẫn Đến Pháp-Hành-Diệt-Khổ Thánh-Đế (Katañāṇa)
– Này chư Tỳ-khưu! Tuệ nhãn… đã phát sinh, trí-tuệ-thiền-tuệ…, trí-tuệ sáng suốt…, tuệ- minh…, ánh sáng trí-tuệ… đã phát sinh đến với Như-Lai, trong mọi Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế, mà từ trước khi chưa thành Phật, Như-Lai chưa từng được nghe, chưa từng được biết rằng:
“Thật-tánh Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế ấy là pháp nên tiến hành, thì đã tiến hành chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế bằng 4 Thánh-đạo-tuệ rồi”.
Vai Trò Quan Trọng Của Tam-Tuệ-Luân
– Này chư Tỳ-khưu! Khi nào trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của tứ Thánh-đếtheo tam-tuệ-luân (trí-tuệ-học, trí-tuệ-hành, trí-tuệ-thành), thành 12 loại trí-tuệ hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh chưa phát sinh đến với Như-Lai,
– Này chư Tỳ-khưu! Khi ấy Như-Lai chưa truyền dạy rằng: “Như-Lai chứng đắc thành Đức-Phật-Chánh-Đẳng-Giác vô thượng trong toàn cõi thế giới chúng-sinh: nhân-loại, Vua chúa, Sa-môn, Bà-la-môn, chư-thiên, ma-vương và phạm-thiên cả thảy”.
– Này chư Tỳ-khưu! Khi nào trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ biết rõ thật-tánh của tứ Thánh-đếtheo tam-tuệ-luân, (trí-tuệ-học, trí-tuệ-hành, trí-tuệ-thành), thành 12 loại trí-tuệ hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh đã phát sinh đến với Như-Lai.
– Này chư Tỳ-khưu! Khi ấy, Như-Lai dõng dạc khẳng định truyền dạy rằng: “Như-Lai đã chứng đắc thành Đức-Phật-Chánh-Đẳng-Giác vô thượng trong toàn cõi thế giới chúng-sinh: nhân-loại, Vua chúa, Sa-môn, Bà-la-môn, chư-thiên, ma-vương và phạm-thiên cả thảy”.
Trí-Tuệ-Quán-Triệt (Paccavekkhaṇañāṇa)
Trí-tuệ quán-triệt đã phát sinh đến với Như-Lai, biết rõ rằng: “A-ra-hán-Thánh-quả-tuệ giải thoát của Như-Lai không bao giờ bị hư hoại, kiếp này là kiếp chót, sau kiếp này, chắc chắn không còn tái sinh kiếp nào nữa”.
Trưởng Lão Koṇḍañña Chứng Ngộ Chân-Lý Tứ Thánh-Đế
Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân này xong, nhóm 5 tỳ-khưu phát sinh thiện-tâm vô cùng hoan hỷ với lời giáo huấn của Đức-Phật.
Trong khi Đức-Thế-Tôn thuyết bài kinh văn xuôi này xong, thì Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña đã phát sinh pháp-nhãn chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế đầu tiên, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo-tuệ, tâm không còn ô nhiễm bởi phiền não, tà-kiến, hoài-nghi nữa, nên Ngài biết rõ ràng, chắc chắn rằng: “Tất cả các pháp nào trong tam-giới có trạng-thái-sinh, thì tất cả pháp ấy đều có trạng-thái-diệt”.
Khi Đức-Thế-Tôn thuyết giảng kinh Chuyển-Pháp-Luân vừa xong, chư-thiên trên địa cầuđồng thanh tán dương ca tụng rằng:
Toàn Thể Chư-Thiên, Phạm-Thiên Tán-Dương Ca-Tụng
“Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân vô thượng tại khu rừng phóng sinh nai gọi là Isipatana, gần thành Bārāṇasī, chưa từng có Sa-môn, Bà-la-môn, chư-thiên, ma-vương, phạm-thiên hay bất cứ một ai trong đời này có thể thuyết giảng như vậy được.”
* Chư-thiên cõi tứ Đại-Thiên-vương nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên địa cầu, cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: “Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân vô thượng… ”
* Chư-thiên cõi Tam-thập-Tam–thiên nghe lời
tán dương ca tụng của chư-thiên cõi tứ Đại-Thiên-vương cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: “Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân …”
* Chư-thiên cõi Dạ-Ma-thiên nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên cõi Tam-thập-Tam-thiên cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: “Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân …”
* Chư-thiên cõi Đâu-suất-đà-thiên nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên cõi Dạ-ma-thiên cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân …”
* Chư-thiên cõi Hóa-lạc-thiên nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên cõi Đâu-suất-đà-thiên cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: “Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân …”
* Chư-thiên cõi Tha-hóa-tự-tại-thiên nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên cõi Hóa-lạc-thiên cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân …”
* Chư phạm-thiên cõi trời sắc-giới nghe lời tán dương ca tụng của chư-thiên cõi Tha-hóa-tự-tại-thiên cũng đồng thanh tán dương ca tụng rằng: “Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân vô thượng tại khu rừng phóng sinh nai gọi là Isipatana, gần thành Bārāṇasī, chưa từng có Sa-môn, Bà-la-môn, chư-thiên, ma-vương, phạm-thiên hay bất cứ một ai trong đời này có thể thuyết giảng như vậy được.”
Ngay khi ấy, ngay lúc ấy, ngay sát-na ấy, lời tán dương ca tụng lên đến cõi sắc-giới phạm-thiên tột đỉnh là “Sắc-cứu-cánh-thiên” (Akaniṭṭhā), mười ngàn thế giới này đều rung chuyển, rung động, ánh sáng hào quang của Đức-Phật-Chánh-Đẳng-Giác tỏa rộng vô biên khắp cùng toàn thế giới, hơn hẳn oai lực chư-thiên, phạm-thiên cả thảy.
Ngài Đại-Trưởng-Lão Koṇḍañna Tên Là Aññāsikoṇḍañña
Khi Ngài Đại-Trưởng-Lão Koṇḍañña chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả, trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu, Đức-Thế-Tôn hoan hỷ tự thốt lên cho toàn thế giới biết rằng:
– Này chư vị! Quả thật Koṇḍañña đã chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế rồi!
– Này chư vị! Quả thật Koṇḍañña đã chứng ngộ chân lý tứ Thánh-đế rồi!
Cho nên, Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña được gọi tên là Aññāsikoṇḍañña (Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña đã chứng ngộ).
Ngài Đại-Trưởng-Lão Aññāsikoṇḍañña Xin Thọ Tỳ-Khưu
Khi ấy, Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña đã phát sinh trí-tuệ-thiền-tuệ chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế đầu tiên y theo Đức-Phật, đã chứng đạt đến chân-lý tứ Thánh-đế, đã biết rõ thật-tánh đúng theo chân-lý tứ Thánh-đế, đã thấu rõ, thông suốt chân-lý tứ Thánh-đế, nên đã diệt- đoạn-tuyệt hoàn toàn mọi điều hoài-nghi nơi Đức-Phật, Đức-Pháp,… không còn hoài-nghi nào nữa với trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới của mình, đã chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế đúng theo lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn, nên không còn tin nơi người nào khác nữa. Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña thành kính đảnh lễ Đức-Thế-Tôn rồi bạch rằng:
– Kính bạch Đức-Thế-Tôn cao thượng! Con xin nương nhờ nơi Đức-Thế-Tôn, kính xin Ngài cho phép con được thọ Sa-di và Tỳ-khưu.
Đức-Thế-Tôn từ bi đưa ngón tay trỏ chỉ và truyền dạy rằng:
-“Ehi bhikkhu! Svākkhāto dhammo cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāya.”
– Này Koṇḍañña! Con hãy đến với Như-Lai. Con trở thành Tỳ-khưu theo ý nguyện. Chánh-pháp mà Như-Lai đã thuyết giảng, hoàn hảo ở phần đầu, phần giữa, phần cuối. Con hãy nên cố gắng tinh tấn hành phạm hạnh cao thượng để chứng đắc A-ra-hán-Thánh-đạo, A-ra-hán-Thánh- quả và Niết-bàn, cuối cùng giải thoát khổ tử sinh luân hồi.
Đức-Thế-Tôn chỉ truyền dạy như vậy, Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña đã trở thành tỳ-khưu.
(Xong bài kinh Chuyển-Pháp-Luân)
Tam-Bảo Xuất Hiện Trên Thế Gian
Đức-Phật Gotama thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân này xong, trong nhóm 5 tỳ-khưu chỉ có Ngài Đại-Trưởng-lão Aññasi- koṇḍañña chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế đầu tiên y theo Đức-Phật, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu đầu tiên trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama, cùng với 180 triệu chư-thiên, phạm-thiên cũng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Đức-Phật Gotama chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn tùy theo các pháp-hạnh Ba-la-mật và năng lực 5 pháp-chủ: tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi vị.
Sau khi trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu, Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña được Đức-Phật cho phép xuất gia tỳ-khưu theo cách Ehi bhikkhūpasampadā.
Đức-Phật đưa bàn tay phải, chỉ bằng ngón trỏ về phía Ngài Đại Trưởng-lãoAññāsikoṇḍañña truyền dạy rằng:
“Ehi Bhikkhu! Svākkhāto dhammo cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāya.”
Thật kỳ diệu thay! Khi Đức-Phật vừa chấm dứt câu, ngay khi ấy, hình tướng cũ của Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña biến mất, thay vào tăng tướng mới, đạo mạo là một vị tỳ-khưu có đầy đủ 8 thứ vật dụng của tỳ-khưu được thành tựu do quả phước thần thông. Vị Tỳ-khưu có tăng tướng trang nghiêm, lục căn thanh tịnh như một vị tỳ-khưu có 60 hạ.
Đức-Phật Gotama thuyết giảng bài kinh Chuyển-Pháp-Luân lần đầu tiên vào ngày rằm tháng sáu (âm-lịch). Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu đầu tiên trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama. Đức-Phật cho phép Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña xuất gia trở thành vị tỳ-khưu đầu tiên.
Ngay khi ấy, Tam-Bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo trọn vẹn 3 ngôi Tam-Bảo đầu tiên xuất hiện trên thế gian vào ngày rằm tháng 6 âm-lịch.
Đức-Phật Tiếp Tục Dạy 4 Vị Tỳ-Khưu
Trong nhóm 5 tỳ-khưu, Ngài Đại-Trưởng-lão Aññasikoṇḍañña trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu đầu tiên và cũng trở thành vị tỳ-khưu đầu tiên trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama, còn lại 4 vị tỳ-khưu khác, Đức-Phật còn phải chỉ dạy.
* Sáng ngày 16 tháng 6, Đức-Phật không ngự đi khất thực, ở lại tại khu rừng, để chỉ dạy Ngài Vappa và Ngài Bhaddiya, còn 3 vị Tỳ-khưu: Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña, Ngài Mahānāma và Ngài Assaji đi khất thực, đem về dâng vật thực đến Đức-Phật, phần vật thực còn lại phân chia đều cho 5 Tỳ-khưu độ trong ngày.
Ngày hôm ấy, Ngài Vappa chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu và được Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu cũng theo cách Ehibhikkhūpasampadā.
* Ngày 17 tháng 6, Đức-Phật chỉ dạy Ngài Bhaddiya và Ngài Mahānāma, còn Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña, Ngài Đại-đức Vappa và Ngài Assaji đi khất thực, đem về dâng vật thực đến Đức-Phật, phần vật thực còn lại chia đều cho 5 Tỳ-khưu.
Ngày hôm ấy, Ngài Bhaddiya chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả, trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu và được Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu cũng theo cách Ehibhikkhūpasampadā.
* Ngày 18 tháng 6, Đức-Phật chỉ dạy Ngài Mahānāma và Ngài Assaji, còn Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña, Ngài Đại-đức Vappa và Ngài Đại-đức Bhaddiya đi khất thực, đem về dâng vật thực đến Đức-Phật, phần vật thực còn lại chia đều cho 5 vị Tỳ-khưu.
Ngày hôm ấy, Ngài Mahānāma chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả, trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu và được Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu cũng theo cách Ehibhikkhūpasampadā.
* Ngày 19 tháng 6, Đức-Phật chỉ dạy Ngài Assaji, còn 4 vị Tỳ-khưu đi khất thực, đem về dâng vật thực đến Đức-Phật, phần còn lại chia đều đến 5 vị Tỳ-khưu.
Ngày hôm ấy, Ngài Assaji chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu và được Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu cũng theo cách Ehibhikkhū-pasampadā.
Như vậy, nhóm 5 tỳ-khưu đều trở thành 5 bậc Thánh-Nhập-lưu trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama.
Để nâng đỡ nhóm 5 tỳ-khưu Thánh-Nhập-lưu lên bậc Thánh A-ra-hán,
* Ngày 20 tháng 6, Đức-Phật thuyết giảng bài kinh Anattalakkhaṇasutta: Kinh Trạng-Thái- Vô-Ngã.
Thật vậy, sau khi nghe Đức-Phật thuyết giảng bài kinh Trạng-Thái-Vô-Ngã xong, nhóm 5 tỳ-khưu đều chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc từ Nhất-lai-Thánh-đạo, Nhất-lai-Thánh-quả, trở thành bậc Thánh-Nhất-lai; chứng đắc Bất-lai-Thánh-đạo, Bất-lai-Thánh-quảtrở thành bậc Thánh-Bất-lai; cho đến chứng đắc A-ra-hán-Thánh-đạo, A-ra-hán-Thánh-quả, diệt-đoạn-tuyệt mọi phiền-não, mọi tham-ái không còn dư sót, trở thành bậc Thánh-A-ra-hán cao thượng trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama.
Như vậy, ngoài Đức-Phật ra, còn có 5 vị Thánh A-ra-hán đã xuất hiện trên thế gian này.
Tìm Hiểu Thật-Tánh Của Tứ Thánh-Đế
Trong bộ Visuddhimagga: Thanh-Tịnh-Đạo([1])giảng giải 16 thật-tánh của tứ Thánh-đế như sau:
1- Khổ-Thánh-đế (Dukkha ariyasacca) đó là ngũ-uẩn-chấp-thủ, hoặc sắc-pháp, danh-pháp trong tam giới, có 4 thật-tánh là:
1.1- Thật-tánh khổ là luôn luôn hành hạ,
1.2- Thật-tánh khổ là do nhân-duyên cấu tạo,
1.3- Thật-tánh khổ làm nóng nảy,
1.4- Thật-tánh khổ là do luôn luôn biến đổi.
2- Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế (Dukkhasamudaya- ariyasacca) đó là 3 loại tham-ái là Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế, có 4 thật-tánh là:
2.1- Thật-tánh làm nhân sinh Khổ-đế,
2.2- Thật-tánh làm cho phát sinh Khổ-đế
2.3- Thật-tánh ràng buộc trong Khổ-đế,
2.4- Thật-tánh dính mắc trong Khổ-đế.
3- Diệt-Khổ-Thánh-đế (Dukkhanirodha ariya-sacca) đó là Niết-bàn là Pháp-Diệt-Khổ-Thánh-đế, có 4 thật-tánh là:
3.1- Thật-tánh giải thoát Khổ-Thánh-đế,
3.2- Thật-tánh không bị ràng buộc trong Khổ-Thánh-đế,
3.3- Thật-tánh không bị nhân-duyên nào cấu tạo,
3.4- Thật-tánh không còn tử sinh luân hồi.
4- Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế (Dukkhanirodhagaminī paṭipadā ariyasacca) đólà pháp-hành bát-chánh-đạo: Chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh-niệm, chánh-định, có 4 thật-tánh là:
4.1- Thật-tánh là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn,
4.2- Thật-tánh là pháp-hành chứng ngộ chân- lý tứ Thánh-đế,
4.3- Thật-tánh là pháp-hành giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.
4.4- Thật-tánh là pháp-hành dẫn đầu làm phận-sự: biết Khổ-Thánh-đế, diệt Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế, chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế.
Tất cả 16 thực-tánh của tứ Thánh-đế này đồng thành tựu cũng một lúc trong 4 Thánh-đạo-tâm.
[1] Bộ Visuddhimagga, phần Pariññādikiccakathā
Tam-Tuệ-Luân (Tiparivaṭṭa)
Đức-Phật dạy rằng:
Yato ca kho me bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi, athā’haṃ bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrahmaṇiyā pajāya sadevamanussāya “anuttaraṃ sammā-sambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ…”
“- Này chư Tỳ-khưu! Khi nào trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của tứ Thánh-đế theo tam-tuệ-luân (trí-tuệ-học, trí-tuệ-hành, trí-tuệ-thành) thành 12 loại trí-tuệ hoàn toàn trong sáng thanh tịnh đã phát sinh đến với Như-Lai…”
– Này chư Tỳ-khưu! Khi ấy, Như-Lai dõng dạc khẳng định truyền dạy rằng: “Như-Lai đã chứng đắc thành Đức-Phật-Chánh-Đẳng-Giác vô thượng trong toàn cõi thế giới chúng-sinh nhân-loại, vua chúa, Sa-môn, Bà-la-môn, chư-thiên, Ma-vương, Phạm thiên cả thảy”.
Tứ Thánh-đế theo Tam-tuệ-luân là thế nào?
Tam-tuệ-luân đólà 3 loại trí-tuệ luân chuyển theo tuần tự trong tứ Thánh-đế là:
1- Saccañāṇa: Trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế,
2- Kiccañāṇa: Trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế,
3- Katañāṇa: Trí-tuệ-thành hoàn thành xong phận sự trong tứ Thánh-đế.
Giảng Giải
1- Saccañāṇa: Trí-Tuệ-Học Trong Tứ Thánh-Đế
Hành giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ, điều trước tiên cần phải học về phần pháp-họccủa tứ Thánh-đế, đó là 4 trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế cho hiểu rõ các chi pháp của mỗi Thánh-đế như sau:
1.1- Trí-Tuệ-Học Trong Khổ-Thánh-Đế
Trí-tuệ-học trong Khổ-Thánh-đế là học về ngũ-uẩn-chấp-thủ (pañcupadānakkhandha)nghĩa là ngũ-uẩn là đối-tượng của 4 pháp-chấp-thủ (tham-dục-chấp-thủ, tà-kiến-chấp-thủ, pháp-thường-hành-chấp-thủ,ngã-kiến-chấp-thủ).
Ngũ-uẩn-chấp-thủ có 5 uẩn là:
1- Sắc-uẩn-chấp-thủ đó là 28 sắc-pháp, là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
2- Thọ-uẩn-chấp-thủ đó là thọ tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới–tâm, là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
3- Tưởng-uẩn-chấp-thủ đó là tưởng tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới-tâm, là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
4- Hành-uẩn-chấp-thủ đó là 50 tâm-sở (trừ thọ và tưởng tâm-sở) đồng sinh với 81 tam-giới–tâm, là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
5- Thức-uẩn-chấp-thủ đó là 81 tam-giới–tâm, là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
* Mỗi tâm phát sinh chắc chắn có một số tâm-sở đồng sinh với tâm ấy, nên có 4 uẩn phát sinh:
– Tâm ấy thuộc về thức-uẩn,
– Thọ tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về thọ-uẩn,
– Tưởng tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về tưởng-uẩn,
– Số tâm-sở còn lại đồng sinh với tâm ấy thuộc về hành-uẩn.
– Và vatthurūpa là nơi nương nhờ của tâm với tâm-sở ấy phát sinh thuộc về sắc-uẩn.
* Đối với tất cả chúng-sinh trú trong 11 cõi dục-giới và chư phạm-thiên trú trong 15 cõi sắc-giới (trừ cõi trời Vô-tưởng-thiên) đều có đủ ngũ-uẩn.
* Đối với tất cả chư phạm-thiên trú trong 4 cõi vô-sắc-giới chỉ có 4 danh-uẩn mà thôi, không có sắc-uẩn.
* Đối với tất cả phạm-thiên trú trong cõi sắc-giới Vô-tưởng-thiên chỉ có 1 uẩn là sắc-uẩn.
Trong ngũ-uẩn-chấp-thủ này:
* Sắc-uẩn-chấp-thủ thuộc về sắc-pháp,
* Thọ-uẩn-chấp-thủ, tưởng-uẩn-chấp-thủ, hành-uẩn-chấp-thủ, thức-uẩn-chấp-thủ thuộc về danh-pháp.
Như vậy, ngũ-uẩn-chấp-thủ hoặc sắc-pháp, danh-pháp trong tam-giới là Khổ-Thánh-đế mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ.
1.2-Trí-Tuệ-Học Trong Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế
Trí-tuệ-học trong Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đó là học về các loại tham-ái.
Tham-ái có 3 loại, 6 loại, 18 loại, 54 loại,108 loại
* Tham-áicó 3 loại là:
1- Kāmataṇhā: Dục-ái là tham-ái trong 6 đối-tượng: sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái.
2- Bhavataṇhā: Hữu-ái là tham-ái trong 6 đối-tượng (sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái) hợp với thường-kiến, và tham-ái trong thiền sắc-giới-tâm, thiền vô-sắc-giới-tâm, trong cõi trời sắc-giới, cõi trời-vô-sắc-giới.
3- Vibhavataṇhā: Phi-hữu-ái là tham-ái trong 6 đối-tượng (sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái) hợp với đoạn-kiến.
* Tham-ái có 6 loại là:
1- Rūpataṇhā: Sắc-ái là tham-ái trong đối-tượng sắc-dục
2- Saddataṇhā: Thanh-ái là tham-ái trong đối-tượng thanh-dục,
3- Gandhataṇhā: Hương-ái là tham-ái trong đối-tượng hương-dục,
4- Rasataṇhā: Vị-ái là tham-ái trong đối-tượng vị-dục,
5- Phoṭṭhabbataṇhā: Xúc-ái là tham-ái trong đối-tượng xúc-dục,
6- Dhammataṇhā: Pháp-ái là tham-ái trong đối-tượng pháp-dục,
* Tham-ái có 18 loại là 3 loại tham-ái nhân với 6 đối-tượng thành 18 loại tham-ái.
* Tham-ái có 54 loại là 18 loại tham-ái nhân với 3 thời:
– Thời quá-khứ có 18 loại tham-ái,
– Thời hiện-tại có 18 loại tham-ái,
– Thời vị-lai có 18 loại tham-ái,
Trong 3 thời gồm có 54 loại tham-ái.
* Tham-ái có 108 loại là 54 loại tham-ái nhân với 2 bên:
– Bên trong của mình có 54 loại tham-ái,
– Bên ngoài mình, của người khác, vật khác có 54 loại tham-ái.
Trong 2 bên gồm có 108 loại tham-ái.
Các loại tham-ái đều thuộc về Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ.
1.3- Trí-Tuệ-Học Trong Diệt-Khổ-Thánh-Đế
Trí-tuệ-học trong Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là học về các loại Niết-bàn.
* Niết-bàn có 2 loại:
1- Sa upādisesanibbāna: Hữu-dư-Niết-bàn là Niết-bàn đối với chư bậc Thánh-A-ra-hánđã diệt-đoạn-tuyệt mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, còn gọi là phiền-não-Niết-bàn (kilesaparinibbāna), nhưng ngũ-uẩn vẫn còn tồn tại cho đến khi hết tuổi thọ.
2- Anupādisesanibbāna: Vô-dư-Niết-bàn là Niết-bàn đối với chư bậc Thánh-A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót; đến lúc hết tuổi thọ, bậc Thánh-A-ra-hán tịch diệt Niết-bàn, còn gọi là ngũ-uẩn-Niết-bàn (khandhaparinibbāna), giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
* Niết-bàn có 3 loại:
1-Animittanibbāna: Vô-hiện-tượng-Niết-bàn là Niết-bàn đối với hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của danh-pháp hoặcsắc-pháp, hiện rõ trạng-thái-vô-thường (aniccalakkhaṇa) hơn trạng-thái-khổ, trạng-thái-vô-ngã, do năng lực của tín-pháp-chủ (sadhindriya) hơn 4 pháp-chủ khác (tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ). Hoặc do năng lực của giới (sīla), dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn. Niết-bàn ấy gọi là Animittanibbāna: Vô-hiện-tượng-Niết-bàn là Niết-bàn không có hiện tượng của các pháp-hữu-vi.
2- Appaṇihitanibbāna: Vô-ái-Niết-bàn là Niết-bàn đối với hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của danh-pháp hoặc sắc-pháp, hiện rõ trạng-thái-khổ (dukkhalakkhaṇa) hơn trạng-thái-vô-thường, trạng-thái-vô-ngã, do năng lực của định-pháp-chủ (samādhindriya) hơn 4 pháp-chủ khác (tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ). Hoặc do năng lực của định (samādhi) dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn. Niết-bàn ấy gọi là Appaṇihita-nibbāna: Vô-ái-Niết-bàn là Niết-bàn không có tham-ái nương nhờ.
3- Suññatanibbāna: Chơn-không-Niết-bàn là Niết-bàn đối với hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của danh-pháp hoặc sắc-pháp, hiện rõ trạng-thái-vô-ngã (anattalakkhaṇa) hơn trạng- thái-vô-thường, trạng-thái-khổ, do năng lực của tuệ-pháp-chủ (paññindriya) hơn 4 pháp-chủ khác (tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ). Hoặc do năng lực của tuệ (paññā), dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn. Niết-bàn ấy gọi là Suññatanibbāna: Chơn-không-Niết-bàn là Niết-bàn hoàn toàn vô-ngã, không phải ta, không phải của ta.
Những Niết-bàn này đều thuộc về Diệt-Khổ-Thánh-đế mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ.
1.4- Trí-Tuệ-Học Trong Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt-Khổ-Thánh-Đế
Trí-tuệ-học trong Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là học về pháp-hành-Bát-chánh-đạo.
Bát-chánh-đạo có 8 chánh:
1- Sammādiṭṭhi: Chánh-kiến là trí-tuệ chân-chính, trí-tuệ-thiền-tuệ chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế,
2- Sammāsaṅkappa: Chánh-tư-duy là tư duy chân-chính, có 3 pháp:
– Tư duy thoát ra khỏi ngũ-dục (sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục).
– Tư duy không làm khổ mình, khổ người,
– Tư duy không làm hại mình, hại người.
3- Sammāvācā: Chánh-ngữ là lời nói chân-chính có 4 điều:
– Không nói dối,
– Không nói lời chia rẽ,
– Không nói lời thô tục,
– Không nói lời vô ích.
4- Sammākammanta: Chánh-nghiệp là nghề nghiệp chân-chính có 3 điều:
– Không sát sinh,
– Không trộm cắp,
– Không tà dâm.
5- Sammā-ājīva: Chánh-mạng là nuôi mạng chân-chính, tránh xa cách sống tà-mạng do thân hành ác-nghiệp, khẩu nói ác-nghiệp.
6- Sammāvāyāma: Chánh-tinh-tấn là tinh tấn chân chính có 4 pháp:
– Tinh tấn ngăn ác pháp không cho sinh,
– Tinh tấn diệt ác pháp đã phát sinh,
– Tinh tấn làm cho thiện pháp chưa sinh, được phát sinh,
– Tinh tấn làm tăng trưởng thiện pháp đã phát sinh.
7- Sammāsati: Chánh-niệm là niệm chân chính, có 4 pháp-hành tứ-niệm-xứ:
– Thân-niệm-xứ: Thân là đối-tượng của chánh- niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
– Thọ-niệm-xứ: Thọ là đối-tượng của chánh- niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
– Tâm-niệm-xứ: Tâm là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
– Pháp-niệm-xứ: Pháp là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác.
8- Sammāsamādhi: Chánh-định là định-tâm chân-chính trong 4 hoặc 20 Thánh-đạo-tâm và 4 hoặc 20 Thánh-quả-tâm thuộc về siêu-tam-giới-tâm, có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
Bát-chánh-đạo đó là 8 loại tâm-sở:
* Chánh-kiến đó là trí-tuệ tâm-sở ,
* Chánh-tư-duy đó là hướng-tâm tâm-sở,
* Chánh-ngữ đó là chánh-ngữ tâm-sở ,
* Chánh-nghiệp đó là chánh-nghiệp tâm-sở,
* Chánh-mạng đó là chánh-mạng tâm-sở,
* Chánh-tinh-tấn đó là tinh-tấn tâm-sở,
* Chánh-niệm đó là niệm tâm-sở,
* Chánh-định đó là nhất-tâm tâm-sở.
8 loại tâm-sở này gọi là bát-chánh-đạo chỉ cùng đồng sinh với 8 hoặc 40 siêu-tam-giới-tâm có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới mà thôi, bởi vì trong bát-chánh-đạo có 3 tiết-chếtâm-sở (viraticetasika): chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng thuộc về loại niyata ekatocetasika, 3 tâm-sở cố định chỉ cùng đồng sinh với 8 hoặc 40 siêu-tam-giới-tâm có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới mà thôi.
* Chánh-ngữ tâm-sở, chánh-nghiệp tâm-sở, chánh-mạng tâm-sở là 3 tiết-chế tâm-sởthuộc về loại aniyatayogīcetasika: bất-định tâm-sở còn thuộc loại nānākadāci: mỗi tâm-sở riêng rẽ đồng sinh với 8 dục-giới-đại-thiện-tâm, bởi vì mỗi tâm-sở này có mỗi đối tượng khác nhau.
Bát-Chánh-Đạo TheoTam-Giới Và Siêu-Tam-Giới
Bát-chánh-đạo có 8 chánh mà mỗi chánh có nhiều loại, phân biệt bát-chánh-đạo tam-giớivà bát-chánh-đạo siêu-tam-giới như sau:
* Chánh-kiến (Sammādiṭṭhi) là trí-tuệ chân chính thấy đúng, biết đúng có 5 loại:
1- Kammassatā sammādiṭṭhi: Chánh-kiến-sở-nghiệp là trí-tuệ thấy đúng, biết đúng thiện- nghiệp và ác-nghiệp mà ta đã tạo rồi là thuộc của riêng ta, chỉ có ta là người thừa hưởng quả an lạc của thiện-nghiệp và chịu quả khổ của ác- nghiệp ấy mà thôi.
2- Vipassanā sammādiṭṭhi: Chánh-kiến-thiền-tuệ là trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới (lokiyavipassanā)
thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của danh-pháp, sắc-pháp, nên hiện rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái-vô-thường, trạng-thái-khổ, trạng-thái-vô-ngã của danh-pháp, sắc-pháp.
3- Maggasammādiṭṭhi: Chánh-kiến-Thánh-đạo-tuệ là trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới (lokuttara- vipassanā) chứng đắc Thánh-đạo-tuệ có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
4- Phalasammādiṭṭhi: Chánh-kiến-Thánh-quả-tuệ là trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới (lokuttara-vipassanā) chứng đắc Thánh-quả-tuệ có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
5- Paccavekkhaṇā sammādiṭṭhi: Chánh-kiến-quán-triệt là trí-tuệ quán triệt Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn, phiền não nào đã bị diệt-đoạn-tuyệt và phiền não nào chưa bị diệt.
Trong 5 loại chánh-kiến này, chánh-kiến-sở-nghiệp, chánh-kiến-thiền-tuệ, và chánh-kiến-quán-triệt thuộc về tam-giới.
Chánh-kiến-Thánh-đạo-tuệ và chánh-kiến-Thánh-quả-tuệ thuộc về siêu-tam-giới.
Chánh-kiến đó là trí-tuệ tâm-sở (paññindriya-cetasika) đồng sinh với 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ, 4 đại-duy-tác-tâm hợp với trí-tuệ, 5 sắc-giới-thiện-tâm, 5 sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 vô-sắc-giới-thiện-tâm, 4 vô-sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-kiến thuộc về tam-giới.
* Nếu khi trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-kiến thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-tư-duy (Sammāsaṅkappa) là tư duy chân-chính có 3 điều:
1- Tư duy thoát ra khỏi ngũ-dục,
2- Tư duy không làm khổ mình, khổ người,
3- Tư duy không làm hại mình, hại người,
Chánh-tư-duy đó là hướng-tâm tâm-sở (vitakkacetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, đệ nhất thiền sắc-giới-thiện-tâm, đệ nhất thiền sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm.
*Nếu khi hướng-tâm tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-tư-duy thuộc về tam-giới.
* Nếu khi hướng-tâm tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-tư-duy thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-ngữ (Sammāvācā) là lời nói chân-chính, có 3 loại:
1- Kathā sammāvācā: Chánh-ngữ lời-nói là lời nói hay, nói thật, lời nói chân-chính đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc lâu dài đến cho người nghe.
2- Cetanā sammāvācā: Chánh-ngữ tác-ý là tác-ý thiện-tâm tránh xa 4 tà-ngữ:
– Tránh xa lời nói dối, mà nói lời chơn-thật,
– Tránh xa lời nói chia-rẽ, mà nói lời hoà-hợp,
– Tránh xa lời thô-tục, mà nói lời dịu dàng
– Tránh xa lời vô-ích, mà nói lời hữu-ích.
3- Virati sammāvācā: Chánh-ngữ tiết-chế là tiết-chế-tâm-sở tránh xa tà-ngữ, khi đang thực hành pháp-hành-thiền-tuệ.
Trong 3 loại chánh-ngữ này, chánh-ngữ lời-nói và chánh-ngữ tác-ý thuộc về tam-giới.
Chánh-ngữ tiết-chế đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thuộc về siêu-tam-giới.
Chánh-ngữ đó là chánh-ngữ tâm-sở (sammā-vācācetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi chánh-ngữ tâm-sở đồng sinh với tam-giới tâm ấy thì chánh-ngữ thuộc về tam-giới.
* Nếu khi chánh-ngữ tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-ngữ thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-nghiệp (Sammākammanta) là nghề nghiệp chân-chính có 3 loại:
1-Kriyā sammākammanta: Chánh-nghiệp hành- động là hành động thiện-nghiệp đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc lâu dài đến cho mọi người, mọi chúng-sinh.
2- Cetanā sammākammanta: Chánh-nghiệp tác-ý là tác-ý thiện-tâm tránh xa tà-nghiệp:
– Tránh xa sự sát-sinh,,
– Tránh xa sự trộm-cắp,
– Tránh xa sự tà-dâm.
3- Virati sammākammanta: Chánh-nghiệp tiết-chế là tiết-chế tâm-sở tránh xa tà-nghiệp, khi đang thực hành pháp-hành-thiền-tuệ.
Trong 3 loại chánh-nghiệp này, chánh-nghiệp hành-động và chánh-nghiệp tác-ý thuộc về tam giới.
* Chánh-nghiệp tiết-chế đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thuộc về siêu-tam-giới.
Chánh-nghiệp đó là chánh-nghiệp tâm-sở (sammākammantacetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi chánh-nghiệp tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-nghiệp thuộc về tam-giới.
* Nếu khi chánh-nghiệp tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-nghiệp thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-mạng (Sammā-ājīva) là nuôi mạng chân-chính có 2 loại:
1- Viriya sammā-ājīva: Chánh-mạng tinh-tấn là tinh tấn nuôi mạng chân-chính, từ bỏ cách sống tà-mạng do thân hành ác-nghiệp, khẩu nói ác-nghiệp.
2- Virati sammā-ājīva: Chánh-mạng tiết-chế là tiết-chế tâm-sở tránh xa cách sống tà-mạng, khi đang thực hành pháp-hành-thiền-tuệ.
Trong 2 loại chánh mạng này, chánh-mạng tinh-tấn thuộc về tam giới.
* Chánh-mạng tiết-chế đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thuộc về siêu-tam-giới.
Chánh-mạng đó là chánh-mạng tâm-sở (sammā-ājīvacetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi chánh-mạng tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-mạng thuộc về tam-giới.
* Nếu khi chánh-mạng tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-mạng thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-tinh-tấn (Sammāvāyāma) là tinh-tấn chân chính, có 4 điều:
– Tinh tấn ngăn ác pháp không cho sinh,
– Tinh tấn diệt ác pháp đã phát sinh,
– Tinh tấn làm cho thiện pháp chưa sinh, được phát sinh,
– Tinh tấn làm tăng trưởng thiện pháp đã phát sinh.
Chánh-tinh-tấn đó là tinh-tấn tâm-sở (viriya-cetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 5 sắc-giới-thiện-tâm, 5 sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 vô-sắc-giới-thiện-tâm, 4 vô-sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi tinh-tấn tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm thì chánh-tinh-tấn ấy thuộc về tam-giới.
* Nếu khi tinh-tấn tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-tinh-tấn thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-niệm (Sammāsati) là niệm chân-chính trong 4 pháp-hành tứ-niệm-xứ:
1- Thân-niệm-xứ: Thân là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
2- Thọ-niệm-xứ: Thọ là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
3- Tâm-niệm-xứ: Tâm là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác,
4- Pháp-niệm-xứ: Pháp là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ-tỉnh-giác.
Chánh-niệm đó là niệm tâm-sở (saticetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 5 sắc-giới-thiện-tâm, 5 sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 vô-sắc-giới-thiện-tâm, 4 vô-sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi niệm tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-niệm thuộc về tam-giới.
* Nếu khi niệm tâm-sở đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm và 4 Thánh-quả-tâm thì chánh-niệm thuộc về siêu-tam-giới.
* Chánh-định (Sammāsamādhi) là định chân-chính trong 4 hoặc 20 Thánh-đạo-tâm và 4 hoặc 20 Thánh-quả-tâm có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
Chánh-định đó là nhất-tâm tâm-sở (ekaggatā-cetasika) đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 5 sắc-giới-thiện-tâm, 5 sắc-giới-duy-tác-tâm, 4 vô-sắc-giới-thiện-tâm, 4 hoặc 20 Thánh-đạo-tâm, 4 hoặc 20 Thánh-quả-tâm.
* Nếu khi nhất-tâm tâm-sở đồng sinh với tam-giới-tâm ấy thì chánh-định thuộc về tam-giới.
* Nếu khi nhất-tâm tâm-sở đồng sinh với 4 hoặc 20 Thánh-đạo-tâm và 4 hoặc 20 Thánh-quả-tâm thì chánh-định thuộc về siêu-tam-giới.
Đó là 4 trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế thuộc về Pháp-học-Phật-giáo (Pariyattisāsana).
2- Kiccañāṇa:Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Tứ Thánh-Đế
Sau khi học hỏi, hiểu rõ trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đếxong thuộc về phần Pháp-học-Phật- giáo, luân chuyển sang trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế thuộc về phần Pháp-hành- Phật-giáo.
Hành-giả bắt đầu thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ là thực-hành theo trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế.
Trí-tuệ-hành phận-sự trong mỗi Thánh-đế khác nhau như sau:
– Trí-tuệ-hành phận-sự nên biết Khổ-Thánh-đế,
– Trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế
– Trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng-ngộ Diệt-Khổ-Thánh-đế,
– Trí-tuệ-hành phận-sự nên tiến-hành Pháp-hành-Diệt-Khổ-Thánh-đế.
2- Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Mỗi Thánh-Đế
2.1- Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Khổ-Thánh-Đế
Khổ-Thánh-đế (Dukkha ariyasacca) đó là ngũ-uẩn-chấp-thủ hoặc sắc-pháp, danh-pháp trong tam-giới là pháp mà hành giả có trí-tuệ-hành phận-sự nên biết (pariññeyyaṃ) khổ-đếvới trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới thấy rõ, biết rõ danh-pháp, sắc-pháp ấy là khổ-đế. (không phải nên diệt, nên chứng ngộ, nên tiến hành).
2.2- Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế
Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế (Dukkhasamudaya ariyasacca)đó là tham-ái là pháp mà hành-giả có trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt([1])(pahātabbaṃ) nhân-sinh-khổ-Thánh-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới diệt từng thời tham-ái. (không phải nên biết, nên chứng ngộ, nên tiến hành).
2.3- Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Diệt-Khổ-Thánh-Đế
Diệt-Khổ-Thánh-đế (Dukkhanirodha ariya-sacca) đó là Niết-bàn là pháp mà hành-giả có trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng ngộ (sacchi-kātabbaṃ) Diệt-Khổ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới chứng-ngộ-từng-thời Niết-bàn([2]) (không phải nên biết, nên diệt, nên tiến hành).
2.4- Trí-Tuệ-Hành Phận-Sự Trong Pháp-Hành Dẫn Đến Diệt-Khổ-Thánh-Đế
Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế (Dukkhanirodhagaminī paṭipadā ariyasacca) đó là pháp-hành bát-chánh-đạo là pháp mà hành-giả có trí-tuệ-hành phận-sự nên tiến hành (bhāvetabbaṃ) pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới đang tiến hành pháp-hành bát-chánh-đạo.(không phải nên biết, nên diệt, nên chứng ngộ)
Trong 4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế này, thì trí-tuệ-hành phận-sự nên biết Khổ-Thánh-đế là chính, đóng vai trò quan trọng trong pháp-hành-thiền-tuệ, như sau:
* Khi hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ, nếu có trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới thấy rõ, biết rõ danh-pháp hoặc sắc-pháp là khổ-đế thì đó là trí-tuệ-hành phận-sự nên biết khổ-đế.
* Khi trí-tuệ-hành phận-sự nên biết khổ-đế ấy,thì tham-ái không thể nương nhờ nơi danh-pháp hoặc sắc-pháp ấy mà phát sinh, nghĩa là diệt tham-ái, đó là trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt-từng-thời (tadaṅgappahāna) tham-ái, Nhân-sinh-Khổ-đế.
* Khi trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt-từng-thời (tadaṅgappahāna) tham-ái, Nhân-sinh-Khổ-đế, thì đó là trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng-ngộ-từng-thời (tadaṅganibbāna) Niết-bàn, Diệt-Khổ-đế.
* Khi trí-tuệ-hành phận-sự nên biết Khổ-đế, trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt-từng-thời tham-ái, Nhân-sinh-Khổ-đế, trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng-ngộ-từng-thời Niết-bàn, Diệt-Khổ-đế, đó là trí-tuệ-hành phận-sự nên tiến hành pháp-hành-Diệt-Khổ-đế.
Như vậy, 4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ đế này, thì trí-tuệ-hành phận-sự nên biết Khổ-đếlà chính, đồng thời trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt-từng-thời Nhân-sinh-Khổ-đế, trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng-ngộ-từng-thời Diệt-Khổ-đế, trí-tuệ-hành phận-sự nên tiến hành pháp-hành-Diệt-Khổ-đế cũng thành tựu cùng một lúc không trước không sau.
Bốn trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế này thuộc về Pháp-hành Phật-giáo (Paṭipatti-sāsana).
3- Katañāṇa: Trí-Tuệ-Thành Hoàn Thành Xong Phận-Sự Trong Tứ-Thánh-Đế
Hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ, khi có 4 trí-tuệ-hành phận-sự tứ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới đã hoàn thành xong phận-sự tứ-đế, thì được luân chuyển đến 4 trí-tuệ-thành phận-sự tứ Thánh-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới đã hoàn thành xong phận-sự tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
Khi ấy, Khổ-Thánh-đế đó là sắc-pháp, danh-pháp tam-giới là pháp mà trí-tuệ-hành phận-sự nên biết (pariññeyyaṃ) sắc-pháp danh-pháp tam-giới là khổ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới, rồi được luân chuyển đến trí-tuệ-thành phận-sự đã biết xong (pariññātaṃ)Khổ-Thánh-đế với Thánh-đạo-tuệ thuộc về trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
* Cũng đồng thời, Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đó là tham-ái là pháp mà trí-tuệ-hành phận-sự nên diệt (pahātabbaṃ) tham-ái, Nhân-sinh-Khổ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới, rồi được luân chuyển đến trí-tuệ-thành phận-sự đã diệt xong (pahīnaṃ) Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế với Thánh-đạo-tuệ thuộc về trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
* Cũng đồng thời, Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là Niết-bàn là pháp mà trí-tuệ-hành phận-sự nên chứng-ngộ(sacchikātabbaṃ) Niết-bàn-từng-thời là Diệt-Khổ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới, rồi được luân chuyển đến trí-tuệ-thành phận-sự đã chứng-ngộ xong (sacchikataṃ) Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế với Thánh-đạo-tuệ thuộc về trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
* Cũng đồng thời, pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là bát-chánh-đạo là pháp mà trí-tuệ-hành phận-sự nên tiến hành (bhāvetabbaṃ) bát-chánh-đạo, pháp-hành-Diệt-Khổ-đế, với trí-tuệ-thiền-tuệ-tam-giới, rồi được luân chuyển đến trí-tuệ-thành phận-sự đã tiến hành xong (bhāvitaṃ) pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế với Thánh-đạo-tuệthuộc về trí-tuệ-thiền-tuệ-siêu-tam-giới có đối-tượng Niết-bàn siêu tam-giới, đãhoàn thành 4 phận-sự là:
* Khổ-Thánh-đế là pháp nên biết, thì đã biết xong với Thánh-đạo-tuệ,
* Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế là pháp nên diệt, thì đã diệt xong với Thánh-đạo-tuệ,
* Diệt-Khổ-Thánh-đế là pháp nên chứng ngộ, thì đã chứng ngộ xong với Thánh-đạo-tuệ,
* Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế là pháp nên tiến hành, thì đã tiến hành xong với Thánh-đạo-tuệ.
Trong 4 trí-tuệ-thành đãhoàn thành xong 4 phận-sự trong tứ Thánh-đế, thì trí-tuệ-thành phận-sự đã tiến hành xong pháp-hành bát- chánh-đạo Diệt-Khổ-Thánh-đế là chính yếu, còn lại 3 trí-tuệ-thành phận-sự trong mỗi Thánh-đế kia cũng đã được hoàn thành xong mỗi phận-sự đồng thời cùng một lúc không trước, không sau.
4 trí-tuệ-thành hoàn thành xong 4 phận-sự trong tứ Thánh-đế thuộc về Pháp-thành-Phật-giáo (paṭivedhasāsana).
Ví dụ: Một đèn dầu thắp sáng trong đêm tối có 4 sự việc xảy ra cùng một lúc, không trước không sau:
* Ánh sáng toả ra,
* Bóng tối biến mất,
* Dầu hao dần,
* Tim cháy dần,
4 sự việc này xảy ra đồng thời cùng một lúc, không trước không sau.
Cũng như vậy, 4 trí-tuệ-hành phận-sự, và 4 trí-tuệ-thành đã hoàn thành xong phận-sự trong tứ Thánh-đế được hoàn thành xong đồng thời, cùng một lúc, không trước không sau.
Quan Hệ Nhân Quả Của Tam-Tuệ-Luân
Quan hệ từ quả đến nhân, từ nhân đến quả
4 trí-tuệ-thành trong tứ Thánh-đế chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, đó là kết quả của 4 trí-tuệ-hành phận-sự đã hoàn thành xong trong tứ Thánh-đế.
4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế đã thực-hành đúng theo phận-sự trong mỗi Thánh-đế, đó là kết quả của 4 trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế đã hiểu biết rõ mỗi chi pháp của mỗi Thánh-đế.
Như vậy, 4 trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế hiểu biết rõ các chi pháp của mỗi Thánh-đế làm nền tảng cơ bản, làm nhân phát sinh dẫn đến quả là 4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế đúngtheo phận-sự của mỗi Thánh-đế.
4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế đã hoàn thành xong làm nhân phát sinh dẫn đến quả là 4 trí-tuệ-thành trong tứ Thánh-đế chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt mọi tham-ái, mọi phiền não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, phạm hạnh cao thượng đã hoàn thành xong, kiếp này là kiếp chót, không còn tái sinh kiếp nào nữa, chắc chắn sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
Vai Trò 4 Trí-Tuệ-Hành Và 4 Trí-Tuệ-Thành
Trong 4 trí-tuệ-hành phận-sự trong tứ Thánh-đế ở giai đoạn đầu, thì trí-tuệ-hành phận-sự nên biết sắc-pháp, danh-pháp tam-giới là khổ-đế với trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới, đóng vai trò chính yếu, còn 3 trí-tuệ-hành phận-sự của mỗi Thánh-đế kia cũng được thành tựu đồng thời cùng một lúc, không trước không sau.
Trong 4 trí-tuệ-thành đã hoàn thành phận-sự trong tứ Thánh-đế ở giai đoạn cuối, thì trí-tuệ-thành đã hoàn thành xong phận-sự đã tiến hành pháp-hành bát-chánh-đạo Diệt-Khổ-Thánh-đế với 4 Thánh-đạo-tuệ thuộc về trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới, đóng vai trò chính yếu, còn 3 trí-tuệ-thành phận-sự của mỗi Thánh-đế kia cũng được thành tựu đồng thời cùng một lúc, không trước không sau.
Thánh-Đạo-Tuệ Diệt-Đoạn-Tuyệt 3 Loại Tham-Ái
1- Nhập-lưu-Thánh-đạo-tuệ có khả năng diệt-đoạn-tuyệt được 2 loại tham-ái: vibhava-taṇhā: tham-ái hợp với đoạn-kiến, và bhava-taṇhā: tham-ái hợp với thường-kiến, trong 4 tham-tâm hợp với tà-kiến. (cònlại 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến, thì chưa diệt được).
2- Nhất-lai-Thánh-đạo-tuệ có khả năng diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại tham-ái: kāmataṇhā: tham-ái trong 5 đối-tượng ngũ-dục (sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị- dục, xúc-dục) loại thô ở cõi dục-giới, trong 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến. (còn 5 đối-tượng ngũ-dục loại vi tế chưa diệt được).
3- Bất-lai-Thánh-đạo-tuệ có khả năng diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại tham-ái: kāmataṇhā: tham-ái trong 5 đối-tượng ngũ-dục vi tế ở cõi dục-giới, trong 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến. (còn tham-ái trong các bậc thiền sắc-giới-tâm, các bậc thiền vô-sắc-giới-tâm, cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới thì chưa diệt được).
4- A-ra-hán–Thánh-đạo-tuệ có khả năng diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại tham-ái: bhava-taṇhā: tham-ái trong các bậc thiền sắc-giới-tâm, các bậc thiền vô-sắc-giới-tâm, cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới, trong 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến không còn dư sót.
Như vậy, bậc Thánh-A-ra-hán có khả năng đặc biệt diệt-đoạn-tuyệt được hoàn toàn mọi tham-ái không còn dư sót nữa.
[1] Diệt tham-ái có 5 cách:
– Vikkhambhanappahāna: Diệt bằng cách chế ngự tham-ái do năng lực của bậc thiền.
– Tadaṅgappahāna: Diệt-từng-thời tham-ái do năng lực của trí-tuệ-thiền-tuệ tam giới .
– Samucchedappahāna: Diệt-đoạn-tuyệt tham-ái do năng lực của Thánh-đạo-tuệ.
– Paṭippassadhippahāna: Diệt bằng cách làm vắng-lặng tham-ái do năng lực của Thánh-quả-tuệ
– Nissaraṇappahāna: Diệt khỏi tham-ái do năng lực của đối-tượng Niết-bàn.
[2] Nirodho nibbānaṃ Niết-bàn có nghĩa là diệt, có 5 loại:
– Vikkhambhananibbāna: Diệt bằng cách chế ngự phiền não do năng lực của bậc thiền.
– Tadaṅganibbāna: Diệt-từng-thời phiền não do năng lực của trí-tuệ-thiền-tuệ tam giới.
– Samucchedanibbāna: Diệt-đoạn-tuyệt phiền não do năng lực của Thánh-đạo-tuệ.
– Paṭippassadhinibbāna: Diệt cách làm vắng lặng phiền não do năng lực của Thánh-quả tuệ.
– Nissaraṇanibbāna: Diệt khỏi phiền não do năng lực của đối-tượng Niết-bàn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN.KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.12/9/2021.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment