Friday, February 12, 2021

Cuộc đời Tôn giả Rāhula trong kinh tạng Nikaya[:] Tôn giả Rāhula được tôn xưng là Mật hạnh đệ nhất. Ngài là một trong mười vị đại đệ tử nổi tiếng của Đức Thế Tôn. Kinh điển cũng như tài liệu về Tôn giả Rāhula rất khan hiếm. Là một đệ tử Phật, chúng con luôn có nhiều sự quan tâm đối với lịch sử Phật giáo, đặc biệt là lịch sử về cuộc đời Đức Phật và các vị thánh đệ tử ưu tú của Ngài. Đó cũng chính là một trong những lý do thôi thúc chúng con tìm hiểu và viết về đề tài “Cuộc đời Tôn giả Rāhula trong kinh tạng Nikāya”. Phật thân theo quan điểm Thượng Tọa Bộ Đa dục vi khổ Trong bài khảo luận này, chúng con chủ yếu dựa vào phương pháp thu thập tư liệu từ tạng Nikāya, đây được xem là nguồn tư liệu chính thống của Phật giáo và từ đó đưa ra nhận định của riêng mình. Đồng thời, chúng con cũng sử dụng, tham khảo các tác phẩm, bài viết khác có liên quan đến Tôn giả Rahula để thực hiện bài viết này. Mong rằng bài viết của chúng con sẽ đem lại cái nhìn mới hơn, chính xác hơn về Tôn giả Rāhula qua kinh tạng Pāli. Bài viết của chúng con được chia làm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung được chia ra làm ba phần chính như sau: Thời niên thiếu và xuất gia tu học; Phẩm hạnh của Tôn giả; Tôn giả Rāhula nhập Niết-bàn. Rāhula là con trai duy nhất của Thái tử Siddhārtha và công chúa Yasodharā ở thành Kapilavatthu, phía bắc Ấn Độ. “Rāhula” được nhiều từ điển phiên dịch theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo Phật học từ điển, Rāhula được dịch là Phú Chướng, nghĩa là ngăn che và trói buộc1. Có thể hiểu, Ngài sanh ra đời là thêm một sự cản trở, ngăn ngại cho sự xuất thế của Thái tử – cha Ngài. Còn theo Phật Quang đại từ điển: Rāhula được dịch là La-hầu-la, La Vân. Hán dịch: Phú Chướng, Chướng Nguyệt, Chấp Nhật2. Theo từ điển này giải thích, Ngài sanh nhằm lúc La-hầu-la A-tu-la vương lấy tay che Mặt Trăng, nên được đặt tên là Chướng Nguyệt; lại vì ở trong thai mẹ sáu năm, bị thai mẹ che lấp, nên có tên là Phú Chướng. Trong Từ điển Phật học Hán Việt3 cũng có cách giải thích tương tự. Trong Dictionary of Pāli Proper Name chú thích: “Derives Rāhula from Rāhu; just as Rāhu obstructs the moon, so would the child be as obstruction to the Bodhisatta’s Renunciation”4, nghĩa là Rāhula có gốc từ chữ Rāhu; Rāhu gây chướng ngại cho Mặt Trăng vậy nên đứa trẻ là sự chướng ngại cho sự xuất thế của Bồ tát. Qua các tư liệu nêu trên, Rāhula được hiểu là sự ràng buộc, là chướng ngại cho con đường xuất thế của Thái tử. Còn các thuyết khác cho rằng, tên gọi Rāhula là do Ngài được sanh ra ngay vào ngày La-hầu-la A-tu-la vương lấy tay che Mặt Trăng, nên đặt tên là Chướng Nguyệt, hoặc do nghiệp mà ở trong thai mẹ sáu năm… mang một tính chất truyền thuyết hoặc thần thánh hóa sự ra đời của một vị vương tử mà sau này là một vị thánh đệ tử của Đức Phật, hoặc vì Ngài là con của một bậc Thánh tạo nên sự khác biệt so với những người bình thường. Thái tử Siddhārtha sống trong cuộc sống vương giả thế nhưng tâm tư lúc nào cũng mang một nỗi buồn sâu kín. Trong một lần xuất cung du hành dạo quanh bốn cổng thành, những cảnh tượng người già, người bệnh, người chết làm cho những suy tư lo lắng của Thái tử càng thêm nặng trĩu. Hình ảnh vị tu sĩ xuất gia với oai nghi đĩnh đạc, dung mạo từ hòa, phong cách trang nghiêm cao quý làm rung động tâm tư Thái tử. Cũng chính hình ảnh này đã làm cho ý chí xuất trần của Thái tử càng thêm mãnh liệt. Ngay trong lúc Thái tử quyết định xuất gia tìm chân lý giải thoát thì có tin báo rằng công chúa Yasodharā – vợ Ngài vừa hạ sinh một hoàng nam. Ngài không biểu lộ niềm vui thói thường mà thốt lên rằng: “Asura Rāhu, là người sẽ bắt giữ ta làm nô lệ, đã sanh ra rồi; Một trói buộc lớn đã ra đời”5. Cũng vì đó mà đức vua Śuddhodana đặt tên cho cháu nội là Rāhula. Không phải Thái tử không có tình thương đối với đứa con trai của mình, nhưng Thái tử hiểu rằng tình thương đó mới chính là sự trói buộc. Như vậy, nếu nhìn ở một góc độ khác có thể nói rằng chính sự ra đời của Rāhula càng thôi thúc sự ra đi của Thái tử. Ngay trong đêm hôm đó, Thái tử âm thầm vào nhìn vợ con lần cuối rồi vượt thành ra đi, thoát ly đời sống thế tục6. Rāhula trải qua tuổi thơ thiếu vắng tình thương của cha, nhưng bù lại Ngài được sự chăm sóc chu đáo, yêu thương hết mực của mẹ và ông bà nội. Thái tử đi xuất gia, Rāhula trở thành niềm vui, sự an ủi, bù đắp và hạnh phúc lớn lao cho dòng tộc Sakya. Thái tử Siddhārtha xuất gia trải qua sáu năm tu khổ hạnh trong rừng già. Dưới cội bồ-đề, Bồ tát chiến thắng nội ma, ngoại cảnh chứng ngộ được chân lý thành Phật với tôn hiệu là Sakyanmuni, Ngài được ba mươi lăm tuổi. Bằng tuệ giác của bậc chứng ngộ, Đức Thế Tôn đã đem niềm an lạc vô biên cho chư Thiên và nhân loại. Sau ngày thành đạo, Đức Phật trở về thăm quê hương Kapilavatthu lần đầu tiên theo lời thỉnh cầu của đức vua Śuddhodana. Khi trở về vương quốc của mình, Ngài trú ở tu viện Nigrodha7. Hay tin Phật về tới vương thành, người vui mừng hơn cả là công chúa Yasodharā. Nhưng công chúa hiểu rằng Thái tử giờ đã không còn là Thái tử Siddhārtha của ngày xưa nữa, Ngài bây giờ là bậc Giác ngộ, là Phật, là bậc thầy của Trời người. Công chúa từ trên lầu cao của cung điện nhìn xuống đường bảo Rāhula rằng: “Này Rāhula, người kia là cha con. Hãy đi và cầu xin phần kế thừa”8. Hoàng tử nghe lời mẹ chạy đến bên Phật, Rāhula hồn nhiên thưa với Thế Tôn rằng: “Này vị Sa-môn, bóng che của Ngài thật an lạc”9. Đức Thế Tôn nhìn thấy Rāhula biết là sợi dây ràng buộc của mình năm xưa. Sau buổi viếng thăm, Thế Tôn rời hoàng cung, hoàng tử Rāhula đi theo bên cạnh Ngài và thưa rằng: “Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế.” Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Đại đức Sāriputta rằng: “Này Sāriputta, như thế ngươi hãy cho hoàng tử Rāhula xuất gia.”10 Rāhula gia nhập Tăng đoàn năm bảy tuổi, trở thành vị Sa-di đầu tiên trong Giáo đoàn của Đức Phật, thọ học với Tôn giả Sāriputta. Rāhula thật may mắn khi có được hai thứ quý giá nhất đó là, vừa là thân quyến vừa là pháp quyến của Như Lai, kế thừa gia tài Chánh pháp, bước đi trên con đường của bậc Thánh. Được tin Rāhula xuất gia, đức vua Śuddhodana tộc Sākya rất đau buồn. Đức vua đã tự thân đến gặp Phật với thỉnh cầu từ đây về sau không nên cho người con trai xuất gia khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ. Đức Thế Tôn đồng ý và quy định thành điều luật: “Này các Tỳ-kheo, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia, nếu vị nào cho xuất gia sẽ phạm tội dukkaṭa.”11 Từ một vị hoàng tử trở thành một khất sĩ, Sa-di Rāhula phải thực tập đời sống của người xuất gia. Mỗi ngày, Rāhula cùng thầy là Tôn giả Sāriputta đắp y mang bát đi khất thực. Dù xa mẹ và hoàng tộc nhưng Sa-di Rāhula vẫn được sự quan tâm chăm sóc, hướng dẫn tu học của Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Ānanda và đặc biệt là sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn. Chân thật là nền tảng đạo đức căn bản của trẻ nhỏ, cũng vậy với Rāhula, Đức Thế Tôn cũng dạy Rāhula về hạnh chân thật, thông qua các hình ảnh ví dụ gần gũi, dễ liên tưởng theo nhận thức của trẻ thơ để Tôn giả có thể lãnh hội giáo pháp. Bài kinh Ambalaṭṭhikā Rāhulovāda là bài kinh đầu tiên Đức Phật thuyết giảng cho Rāhula: “… Thế Tôn sau khi rửa chân để lại một ít nước trong chậu, bảo Tôn giả Rāhula: Cũng ít vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý. … Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rāhula: Cũng đổ đi vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.12 … Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rāhula: Cũng lật úp vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý. … Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rāhula: Cũng trống không vậy, này Rāhula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.” Với ví dụ chậu nước; hình ảnh con voi với cái vòi khi lâm trận, nó phải bảo vệ cái vòi của nó như bảo vệ mạng sống của nó. Nếu con voi không bảo vệ vòi của nó thì không có việc gì mà nó không làm. “Cũng vậy, này Rāhula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rāhula, Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi, này Rāhula, ông phải học tập như vậy.”13 Tiếp theo, Đức Thế Tôn dùng hình ảnh cái gương để dạy Rāhula phải luôn giữ gìn ba nghiệp, phản tỉnh tự thân, hành vi này là thiện hay bất thiện: “Này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp. Như vậy, này Rāhula, ông cần phải tu học”14. Rāhula lắng nghe sự chỉ dạy của Thế Tôn và tin nhận thực hành. Rāhula chỉ mới bảy tuổi nên hành vi nói dối vui đùa là có thể xảy ra, nên bài pháp chỉ mang tính ngăn ngừa và giáo dục, khuyên bảo Rāhula không nên có những hành vi như thế. Thế nhưng không ít người viết đã cho rằng Rāhula nghịch ngợm, hay nói dối để gạt người khác mua vui. Vì Rāhula vừa là con Phật, vừa xuất thân từ dòng dõi cao quý nên không ai dám trách phạt Rāhula. Như tác giả Đồng Niệm đã nhận định: “Rāhula còn nhỏ nên tính tình chưa chững chạc, thường hay nói láo và tinh nghịch”15. Trong một bài viết khác của tác giả Thích Minh Tuệ có đoạn: “La-hầu-la thường bày các trò chơi nghịch ngợm, dối gạt người khác. Lúc ở rừng Ôn Tuyền, ngoài thành Vương Xá, có nhiều quan quyền, trưởng giả, cư sĩ đến hỏi nơi Đức Phật đang thuyết giáo để viếng thăm, La-hầu-la thường trêu chọc bằng cách chỉ không trúng chỗ. Nếu Phật ở Tinh xá Trúc Lâm, La-hầu-la bảo ở Kỳ Xà Quật, ngược lại nếu Phật ở Kỳ Xà Quật, La-hầu-la chỉ ở Trúc Lâm, hai nơi này cách nhau đến những năm dặm. Nhiều người không bằng lòng cách trêu chọc của La-hầu-la, nhưng La-hầu-la vừa là Sa-di, vừa là con của Phật lại thuộc dòng họ quyền quý, nên không ai dám chỉ trích hoặc trách cứ. Chuyện nghịch ngợm dối gạt để mua vui lâu ngày cũng đến tai Phật. Phật không vui chút nào, vì đã là một Sa-di mà tập khí vương giả, tính ỷ lại chưa tẩy trừ được, Đức Phật đích thân đến vườn Ôn Tuyền khiển trách La-hầu-la”16. Còn không ít những bài viết có nội dung tương tự cho rằng Sa-di Rāhula có những hạnh sai trái như thế. Trong tạng Nikāya ghi nhận rõ ràng về tánh hạnh của Rāhula trái ngược hoàn toàn với những gì mà các bài viết đã đề cập về Tôn giả. Ngài chăm ngoan ngay từ những ngày đầu vào sống trong Tăng đoàn. Dù là con của Phật lại là dòng dõi đế vương nhưng Rāhula không bao giờ tỏ ra mình là thân phận cao quý, ngã mạn tự cao, phóng túng buông lung. Ngược lại, Tôn giả rất khiêm cung lễ độ, nghe lời chỉ dạy của các bậc trưởng thượng, biết tôn trọng kỷ luật, khép mình trong giới luật, ham học hỏi, tinh cần tu học. Mỗi ngày, Rāhula thức dậy thật sớm, bốc lên một nắm cát trong tay và phát nguyện rằng: HET=NAM MO BON SU THCH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.13/2/2021.

No comments:

Post a Comment