Sunday, August 2, 2020

Vô Minh.

1. - Này các Tỷ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rõ để có thể nói: "Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có." Như vậy, này các Tỷ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: "Do duyên này, vô minh (có mặt)". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng vô minh có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho vô minh? Năm triền cái, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm triền cái có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho năm triền cái? Ba ác hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ba ác hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho ba ác hành? Các căn không chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, các căn không chế ngự có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho các căn không chế ngự? Không chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng không chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không chánh niệm tỉnh giác? Phi như lý tác ý, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng phi như lý tác ý có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho phi như lý tác ý? Không có lòng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng không có lòng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không có lòng tin? Không nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, không nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không nghe diệu pháp? Không giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy. Tăng Chi Bộ Chương X - Mười Pháp VII. Phẩm Song Ðôi Phẩm 04-06

NĂM TRIỀN CÁI:

Tham dục (Kamacchanda)

Sân hận (Vyapada)

Hôn trầm (Thina-middha)

Trạo cử (Uddhacca-kukkucca)

Hoài nghi (Vicikiccha)


NĂM THIỀN CHI:

Người tu thiền, chứng được sơ thiền thì có được năm tâm trạng tốt đẹp gọi là năm thiền chi.

 

1. TẦM: tâm hướng tới đối tượng cần quan sát. Vd, người tu thiền, theo dõi hơi thở vào, ra, hướng vào hơi thở, cho nên tâm trở nên tỉnh táo, không mê muội, buồn ngủ (sách Phật gọi là hôn trầm, thụy MIÊN).

 

2. TỨ: tâm đi sâu, suy xét kỹ đối tượng. Nhờ đó, không còn nghi hoặc.

 

3. HỶ: tâm cảm thấy vui ve, không còn sân giận.

 

4. LẠC: tâm cảm thấy vui vẻ, không còn hối tiếc lăng xăng.

 

5. NHẤT TÂM: tâm chuyên chú vào một điểm, tức là đối tượng được lựa chọn để quan sát. Tâm không còn bị phân tán, tán loạn.


- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi (năm triền cái ), thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm (Năm thiền chi). Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần. Trung Bộ Kinh (43). Ðại kinh Phương quảng

¬

Năm hạ phần kiết sử (Olambhàgiyàsam yoyanà) là thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham dục và sân là những kiết sử trói buộc con người vào sanh tử luân hồi. Có thoát ly khỏi các hạ phần kiết sử, mới mong đạt được Thánh quả”.

 

NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ

 

Kiết sử là phiền não. Hạ phần là phần dưới, cấp dưới. Năm hạ phần kiết sử thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham và sân. Có đoạn trừ ba kiết sử thân kiến, nghi, giới cấm thủ mới chứng được Dự Lưu, nghĩa là được xếp vào hàng Thánh, chỉ còn trở lui đời này nhiều nhất là bảy lần rồi nhập vào Niết Bàn. Nếu làm cho nhẹ bớt tham, sân thời chứng được Nhất Lai, chỉ còn trở lại một lần nữa tại cõi đời này rồi nhập Niết Bàn. Sau khi đoạn tận tham sân, thời chứng được quả bất lai, không còn trởi lui lại cảnh giới này, được hóa sinh  lên thiên giới và từ đấy chứng Niết Bàn. Thân kiến: là tà kiến chấp thân năm uẩn này là thường còn, thường hằng. Nghi là nghi ngờ, phân vân, do sự. Giới cấm thủ là chấp giữ một số giới khổ hạnh, xem là phương tiện có thể đưa đến giải thoát. Tham: là tham ái, tham đắm. Sân: là sân hận, hiềm hận.


Con đường từ tứ thiền đến Vô sở hữu xứ đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử…

-- Bạch Thế Tôn, nếu đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thời do hành trì như thế nào mà một số vị Tỷ-kheo chứng tâm giải thoát, một số chứng tuệ giải thoát?

-- Ở đây, này Ananda, Ta nói rằng do sự sai khác về căn tánh(64) Ðại kinh Malunkyaputta

 ¬

NĂM THƯỢNG PHẦN KIẾT SỬ

 

Kiết sử là phiền não ràng buộc chi phối. Thượng phần là hạng trên, cấp trên. Vì năm loại phiền não này vi tế, nhỏ nhiệm khó thấy, cho nên cũng khó đoạn trừ (trái lại, hạ phần kiết sử là loại phiền não thô thiển, dễ thấy).

 

Năm thượng phần kiết sử, hay năm phiền não cấp trên là: tham Sắc (tham cõi Trời Sắc giới), tham Vô Sắc (tham cõi Trời Vô Sắc giới), kiêu mạn, nghi ngờ, vô minh.

 

Tuy cuộc sống ở các cõi Trời Sắc giới và Vô Sắc giới sung sướng hơn nhiều, và tuổi thọ lâu dài hơn nhiều so với cõi người, nhưng nếu tuổi thọ hết, thì vẫn tiếp tục luân hồi sinh tử trong các cõi. Chỉ có siêu thoát khỏi ba giới mới trở thành bất tử.

 ¬

THẬP KIẾT SỬ

 

Thập kiết sử là mười món sai khiến và ràng buộc chúng sanh. Nó có sức sai khiến chúng sanh toan tính, hành động sai quấy không đúng với chánh pháp và khiến chúng sanh luân hồi mãi trong ba cõi chịu nhiều sự thống khổ. Cũng kêu là Thập sử, Thập phiền não, Thập hoặc Thập tùy miên bao gồm:

 

Tham: sự tham muốn mọi sự.

 

Sân: sân giận, hung dữ, nóng nảy.

 

Si: là sự mê tối, không phân được chánh tà.

 

Man: kiêu ngạo, khinh người.

 

Nghi: nghi ngờ chánh pháp.

 

Thân kiến: thấy thân này là thật.

 

Biên kiến:thấy biết một bên.

 

Tà kiến: thất biết sai lầm.

 

Kiến thủ: chấp giữ sự thấy biết sai lầm cho là đúng.

 

Giới cấm thủ: chấp giữ những giới sai quấy.

 ¬

NGŨ ĐỘN SỬ

 

Ngũ độn sử là năm món phiền não, nặng nề, chậm chạp sanh khởi ngấm ngầm nhưng mãnh liệt, nó sai sử chúng sanh tạo bao lỗi lầm khó dứt trừ, khiến mãi chìm đắm trong sanh tử luân hồi nên gọi là Độn Sử. Ngũ độn sử bao gồm :

 

1. Tham : Là lòng tham lam của cải vật chất …. Là nguyên nhân gây nên phiền não sanh tử.

 

2. Sân : Là tâm trạng nóng giận, hung dữ là nguyên nhân gây nên phiền não khổ đau.

 

3. Si : Là tâm ngu tối không nhận thức chánh tà, nguyên nhân gây nên phiền não sanh tử.

 

4. Mạn : Tâm kiêu mạn khinh người, tự tôn tự đại là nguyên nhân gây nên phiền não sanh tử.

 

5. Nghi : Nghi ngờ chánh Pháp, thiếu lòng tin đối với Tam bảo, là nguyên nhân gây nên phiền não sanh tử.

 

NGŨ LỢI SỬ

 

Ngũ lợi sử còn gọi là Ngũ Kiến. Là năm món phiền não trói buộc. Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến thủ Kiến, GIỚI thủ Kiến và Tà Kiến. Nó có tính chất lanh lẹ, nhưng sanh khởi cạn cợt trên bề mặt ý thức và dễ dứt trừ hơn Ngũ độn sử. Ngũ lợi sử bao gồm:

 

1.Thân kiến : Tức mê chấp thân ngũ  uẩn ( ấm) là thường còn. Do đó sanh ra lắm chứng bệnh, như đam mê cái tôi( ngã ái) tự kiêu tự phụ( ngã mạn)

 

2. Biên Kiến : Biên là một bên. Thấy có một bên hoặc nhận thức lệch lạc như chấp có cái ta còn mãi mãi, tin có linh hồn bất diệt hoặc nhận thức sau khi chết là hết.


3. Kiến thủ Kiến : Đã có những nhận thức sai lầm nhưng không hối cải, cứ khư khư cố chấp. ( chữ kiến có hai nghĩa: sự nhận thức và thái độ chấp thủ kiến của bản thân mình là đúng).

4.GIỚI thủ Kiến : Không tin theo những giới luật chân chính của Đức Phật chế ra như 5 giới cho người tại gia, 10 giới cho người xuất gia….. mà tin theo những ta đạo, như bôi keo vào người, ăn phân…

5. Tà Kiến : Nhận thức sai lầm không đúng chánh pháp. Ví dụ: Không tin lý nhân quả, không có đời sau.

No comments:

Post a Comment