CÁI CHẾT KHÔNG THỂ TRÁNH ĐƯỢC .
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death .
XIII.1 GIỚI THIỆU
Nghiên cứu của tôi về các bản kinh nguyên thủy liên quan đến chủ đề về bệnh tật, trình bày trong mười hai chương trước, bây giờ chuyển sang chủ đề có liên quan chặt chẽ với bệnh tật là về cái chết, sẽ được trình bày trong mười hai chương còn lại.
Tình trạng khó khăn của cái chết được đưa ra rõ ràng trong sự thật đầu tiên của Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Thánh Đế) đã được trình bày trong Chương 1, như là một khuôn khổ nền tảng của Phật giáo về bệnh tật và cái chết. Sự thật đầu tiên này cho thấy cái chết cùng với sinh, già, và bệnh là một biểu hiện của Khổ (dukkha).
Sự thật thứ hai trong Tứ Thánh Đế xác định tham ái là nguồn gốc phát sinh Khổ. Trong trường hợp tử vong, khi người ta càng cố gắng nắm bắt, tham ái, và chấp trước thì sẽ càng thấy cái chết đe dọa nghiêm trọng. Do đó, sợ chết có thể được xem như là thước đo mức độ gắn bó của một người vào sự tồn tại của thân thể này.
Sự thật thứ ba có liên quan đến việc chấm dứt Khổ, ngụ ý rằng chúng ta có thể có thái độ tự do, không khổ lúc chết và lúc sắp chết. Buông bỏ tham ái và chấp trước làm gia tăng mức độ tự do khỏi nỗi sợ chết.
Sự thật thứ tư mô tả con đường thực tế cần được thực hiện để đạt đến tự do nội tâm thoát khỏi nỗi sợ chết. Con đường thực hành này kết hợp nền tảng đạo đức với hệ thống tu tập tâm ý. Theo cách ấy, mối đe dọa gây ra bởi cái chết và lúc sắp chết có thể trở thành một động lực mạnh mẽ để giúp chúng ta chú tâm sống đời đạo đức và tu tập tâm ý qua hành thiền.
Sự kiện cái chết đưa đến phát sinh Khổ có nhiều nguyên nhân, trong số đó có nỗi đau buồn do sự ra đi của những người thân yêu. Bài kinh dưới đây trình bày một trường hợp đau buồn như thế, liên quan đến vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) của xứ Kosala (Kiều-tất-la). Vua Pasenadi thường được đề cập trong các bài kinh như là một người rất ngưỡng mộ Đức Phật và thường xuyên đến thăm Ngài.
XII.2 THẢO LUẬN
Bài kinh được trình bày ở đây nhấn mạnh rằng cái chết là không thể tránh khỏi. Mặc dù ai cũng biết điều đó, nhưng khi nó xảy đến với những người gần gũi và thân yêu, người ta thường khó chấp nhận. Theo một số bài kinh tương đương khác, bà nội của vua Pasenadi đã 100 hoặc thậm chí 120 tuổi. Bà qua đời ở tuổi ấy không phải là điều bất ngờ. Mặc dù vậy, vua Pasenadi trải qua sự đau buồn sâu sắc đến nỗi nhà vua sẵn sàng cho đi tất cả những gì ông sở hữu nếu bà nội được sống trở lại.
Bài kinh tiếp tục cho thấy cùng một nguyên tắc áp dụng chung cho những người trong các gia đình nổi tiếng, liệt kê ba giai cấp cao hơn của xã hội Ấn Độ cổ đại: bà-la-môn, chiến sĩ, và thương gia. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho vị vua cai trị toàn thế giới, qua bốn lục địa trong quan điểm về vũ trụ của Ấn Độ cổ đại.
Cái chết cũng xảy đến cho chư thiên, và các vị A-la-hán, vốn là các đệ tử của Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ. Tư tưởng Phật giáo Sơ kỳ đề cập đến một hạng Phật gọi là Paccekabuddha, Độc Giác hay Duyên Giác Phật, là vị tự mình giác ngộ nhưng không truyền dạy người khác, không giống như vị Phật Chánh Đẳng Giác. Vị Phật Độc Giác và A-la-hán đều hoàn toàn giác ngộ, nhưng vị Phật Độc Giác vượt trội hơn, vì đã tự mình đạt được mục đích cuối cùng, không nhận được hướng dẫn từ một vị Phật nào cả. Dù vậy, tất cả các vị Phật Độc Giác và A-la-hán rồi cũng sẽ chết.
Điều tương tự cũng xảy ra với vị Phật Chánh Đẳng Giác, vị vì lòng từ bi truyền giảng các giáo lý giải thoát, vượt trội so với Phật Độc Giác. Theo truyền thống, một vị Phật Chánh Đẳng Giác có mười sức mạnh tinh thần đặc biệt (Như lai Thập lực), ngoài ra vị ấy còn có bốn vô ngại trí [1]. Với các trí lực như thế, Ngài có thể vững vàng tranh luận với bất cứ người nào với sự tự tin, và từ đó truyền giảng Giáo Pháp một cách không sợ hãi như tiếng rống sư tử. Với một bậc đại nhân có mười lực và bốn trí như thế, vị ấy rồi cũng sẽ qua đời – theo ý nghĩa thân xác tứ đại ngưng hoạt động.
Các ví dụ được đưa ra như thế trình bày một cách sinh động toàn diện sức mạnh của cái chết. Một thông điệp chính nằm bên dưới những ví dụ đó là sự cần thiết xem cái chết là một phần tích hợp trong kinh nghiệm của mỗi người, thay vì để nó chỉ là một lý thuyết được thừa nhận rồi nhanh chóng quên đi. Một cách áp dụng điều này vào thực tế trong các hoạt động hằng ngày là thỉnh thoảng lưu ý rằng những người mà ta mới vừa gặp gỡ rồi cũng sẽ chết: không ai được miễn trừ số phận đó.
Một biểu thức cô đọng có thể được sử dụng để phản ánh thường xuyên trên bản chất tử vong của tất cả chúng sinh ra có thể được tìm thấy ở một câu kệ trong tập kinh Udānavarga (Pháp Tập Yếu Tụng Kinh 1.22), trong các bản kinh Pháp Cú khác nhau (chẳng hạn: Dhp 148) và các kinh văn khác như Mahāvastu (Đại Sự) và Divyāvadāna (Thiên Nghiệp Thí Dụ). Câu nói ngắn gọn này như sau:
- Sự sống kết thúc trong cái chết (maraṇāntaṃ hi jīvitaṃ)
Một câu ngắn gọn như thế, nếu để nó thấm sâu trong tâm trí bằng cách hồi ức lặp đi lặp lại, có thể tạo ra một hiệu ứng biến đổi rất đáng kể. Tôi sẽ trở lại sự thực hành pháp quán tưởng về cái chết của mỗi hành giả trong Chương 24.
Một suy tư khác và toàn diện hơn của chính vua Pasenadi được tìm thấy trong một bài kinh của Tạp A-hàm (SĀ 1240) và bài kinh tương đương trong Tăng nhất A-hàm (EĀ 26.6) và Tương ưng bộ (SN 3.3). Trong bài kinh, nhà vua tự suy nghĩ về tầm quan trọng của tuổi già, bệnh tật và cái chết. Để bổ sung cho bài kinh vừa nêu ra ở trên, tôi trích dịch phần đầu của bài kinh như sau:
Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, thành Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) một mình ở nơi chỗ yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Có ba pháp mà tất cả thế gian không yêu, không mến. Đó là già, bệnh, chết. Nếu không có ba pháp này mà thế gian không yêu, không mến, thì chư Phật Thế Tôn không xuất hiện ở đời và thế gian cũng không biết có pháp mà chư Phật Như Lai đã giác ngộ rồi vì nhân loại mà diễn nói rộng rãi. Vì có ba pháp này mà tất cả thế gian không yêu, không mến là già, bệnh, chết nên chư Phật Như Lai mới xuất hiện ở đời và thế gian biết có pháp mà chư Phật Như Lai đã giác ngộ rồi vì nhân loại mà diễn nói rộng rãi.’
Bài kinh tiếp tục với việc vua Pasenadi trình bày suy tư của mình với Đức Phật và Ngài bày tỏ sự đồng ý. Ý tưởng tương tự cũng được tìm thấy trong Tăng chi bộ (AN 10.76) và các bài kinh tương đương trong Tạp A-hàm qua đó, sự có mặt của cái chết cùng với tuổi già và bệnh tật là những gì thúc đẩy một vị Phật xuất hiện và giảng dạy trong thế giới này.
kinh tương đương (Trung A-hàm, MĀ 204) xác nhận rằng cái chết là một trong những yếu tố nổi bật của Khổ (dukkha) thúc đẩy vị Phật tương lai bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm cho riêng mình để tiến đến giác ngộ.
… (Ngài Bồ-tát) quyết định xuất gia, thực hiện cuộc sống của một du sĩ là một nỗ lực để giải quyết vấn đề tồn tại của sự kiện “bị đưa dần đến cái chết”... mục tiêu của Ngài là chinh phục cái chết trong cuộc sống.
Sau khi giác ngộ và trước khi bắt đầu truyền giảng Giáo Pháp, theo kinh Thánh Cầu và bài kinh tương đương trong Trung A-hàm, Đức Phật tuyên bố ràng Ngài đã đạt đến trạng thái “bất tử”. Khi đã đạt được bất tử qua sự giác ngộ hoàn toàn, vị ấy không còn bị ảnh hưởng bởi cái chết của bản thân hay của các người khác.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.21/3/2020.


No comments:
Post a Comment