Kinh A Di Đà thuộc Tiểu bản, là bản kinh được trì tụng hằng ngày của Tăng già cũng như Phật tử thuộc Tông Tịnh Độ ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Còn Đại bản kinh A Di Đà là kinh Vô lượng thọ, với 48 lời nguyện của tỳ kheo Pháp Tạng. Kinh A Di Đà thuộc hệ kinh thời kỳ Phật Giáo Phát triển mà thường gọi là kinh Đại thừa. Nhưng theo tôi, thì cả hai hệ kinh: Nguyên thủy (Nikāya-Agama) và Phát triển đều tải cả hai nội dung là Nhị thừa và Đại thừa. Vì vậy cho nên, kinh Trường A Hàm dịch nghĩa là Vô tỷ pháp nghĩa là pháp tối thượng. A Hàm cũng là tên gọi chung về kinh của Phật, nên trong Pháp Hoa luận sớ, ngài Cát tạng nói: A Hàm là tên gọi chung cả kinh điển Nhị thừa và Đại thừa. Bốn bộ A Hàm phần lớn trình bày về giáo nghĩa Nhị thừa, kinh Niết bàn là Phương đẳng A Hàm phần lớn nói về giáo nghĩa Đại thừa; chỉ có một điều mà chúng ta cần lưu ý là:
1.Kinh Phật được ghi xuống bằng chữ viết không có từ thời Phật còn ở đời, mà bất luận kinh điển thuộc thừa nào, bộ nào cũng đều do đệ tử của đức Phật thuật lại sau khi Ngài nhập diệt. Kinh Phật được kết tập sớm nhất là sau khi Phật diệt độ vài ba tháng, và muộn nhất là từ Phật diệt độ 500 năm về sau.
2.Về việc thuật lại kinh Phật có hai hướng: Một là do đoàn thể công khai kết tập, hai là do cá nhân trước thuật. Hướng thứ nhất thì có lịch sử để khảo chứng, còn hướng thứ hai thì không làm sao khảo chứng được.
3.Kinh Phật sử dụng cả hai hình thức đơn hành bản (1) và tùng thư. Mười mấy bộ kinh lớn hiện còn lưu hành đều là tùng thư. Nhưng theo tính chất thì loại tùng thư này lại chia làm hai: Có loại biên soạn cùng một lúc hoàn thành, có loại phải trải qua nhiều năm bổ sung mới hoàn thành.
4.Đầu tiên kinh Phật không có bản chữ viết mà chỉ dựa vào đọc thuộc lòng, bản chữ viết sau Phật diệt độ mấy trăm năm mới có. Phật giáo truyền đến đâu thì tùy theo tiếng nước đó mà biên chép. Do đó có thể nói kinh Phật đều là văn học phiên dịch.
Kinh A Di Đà (tiểu bản Sukhāvatī - vyūha) là một bản toát yếu của kinh Đại Vô Lượng Thọ (đại phẩm Sukhāvatī - vyūha), và đây là một trong ba bộ kinh (Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A Di Đà) nói về Tịnh Độ (Pure Land sect). Bản kinh mà chúng ta đang nghiên cứu ở đây là do ngài Cưu Ma La Thập, đời Diêu Tần (383-416 hậu Tần) dịch từ văn Phạn sang văn Trung Hoa vào năm 402, tại chùa Thảo Đường, và ngài là người dịch ý của kinh; không như những dịch giả khác dịch bằng chánh văn Phạn sang văn Trung Hoa, như ngài Huyền Trang chẳng hạn. Bản dịch chữ Hán của ngài Cưu Ma La Thập đã được dùng làm kinh tụng hàng ngày cho các thời khóa công phu Tịnh độ, và được xem là định bản để dùng cho các bộ A Di Đà chú giải, cũng như đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác. Pháp sư Cưu Ma La Thập, người xứ Thiên Trúc (Ấn Độ), là vị Pháp sư đã phiên dịch trên 380 quyển kinh Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa.
Tập kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayur - dhyāna Sutra) cho chúng ta biết giáo lý Tịnh độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy. Nguyên do là thái tử A Xà Thế ở thành Vương Xá, nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và bắt vua cha giam vào ngục bỏ đói cho chết. Nhưng nhà vua nhờ hoàng hậu Vi Đề Hy (mẹ của A Xà Thế) hàng ngày tắm rửa sạch sẽ rồi trộn bột hòa với mật trát vào mình rồi đem vào trong ngục cho vua Tần Bà Sa La dùng. Khi phát hiện ra sự việc này, thái tử A Xà Thế liền bắt mẹ mình giam vào một nơi. Hoàng hậu Vi Đề Hy đau khổ tột độ, nên lén sai lính đến thỉnh cầu đức Phật chỉ cho bà một cõi nước nào mà không có những sự khổ như cõi Ta Bà này. Đức Thế Tôn liền chỉ cho bà Vi Đề Hy về cõi Tịnh của Phật A Di Đà. Đó chính là duyên khởi để đức Phật dạy bà Vi Đề Hy nói riêng, và chúng ta nói chung về pháp niệm Phật A Di Đà, hay chính là niệm tự tánh đến nhất tâm bất loạn, để vượt ra khỏi sinh tử.
Đời Tấn bên Trung Hoa, ngài Huệ Viễn căn cứ vào lời dạy của đức Phật trong các kinh, khởi xướng Tông Tịnh độ tại núi Khuôn Lư tỉnh Chiết Giang.
Bảy bộ kinh phần lớn nói về Tịnh độ là:
1.Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (hai cuốn).
2.Đại A Di Đà Kinh (hai cuốn).
3.Vô Lượng Thọ Kinh (hai cuốn).
4.Quán Vô Lượng Thọ Kinh (một cuốn).
5.A Di Đà Kinh (một cuốn).
6.Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh (một cuốn).
7.Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni (một cuốn).
Kinh A Di Đà này trình bày về giáo lý viên đốn, thuộc Đại thừa Bồ tát tạng, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả chư Phật hộ niệm. Kinh này dùng lời rất kỳ đặc, để chuyển tải nội dung rất sâu xa vi diệu, không có đương cơ thưa hỏi, mà do đức Phật Thích Ca Mâu Ni tự giảng nói, nhằm khai thị về pháp môn niệm Phật tam muội, hay niệm tự tánh Di Đà, tức đưa tâm ra khỏi mọi sở niệm. Nhận ra ý này nên Hòa Thượng Thích Trí Quảng (2) nói: “Niệm Phật không phải là kêu Phật. Đa số người lầm tưởng kêu tên Phật là niệm Phật. Niệm Phật hoàn toàn khác với kêu tên Phật. Suốt ngày chúng ta đọc Nam-mô A Di Đà Phật là kêu tên Phật để vãng sanh thì không thể nào vãng sanh được.”
Pháp niệm danh tự tánh A Di Đà là pháp trực chỉ nơi tâm mà hành trì, chứ không qua trung gian phương tiện, nhằm giúp hành giả đạt đến nhất tâm bất loạn. Cõi tịnh độ của Phật A Di Đà được ẩn dụ cho tánh giác mà ai cũng có. Vì chỉ cho tánh giác vô thủy vô chung, nên gọi là vô lượng thọ, vô lượng quang, hay pháp giới tạng thân. Để nhận rõ mục đích và tôn chỉ của kinh này, chúng ta lần lượt tìm hiểu thật nghĩa của từng đoạn qua kinh văn. Mong sao, hành giả “Được ý quên lời” hạ thủ công phu hàm nhiếp miên mật, nhằm sống lại với “Tự tánh là Di Đà, tâm mình là Tịnh độ”, ngỏ hầu vượt qua sinh tử vậy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.11/5/2019.


No comments:
Post a Comment