PHÁ CÓ KHÔNG (Phẩm 15)
Phá CÓ KHÔNG
Phẩm 15
Hỏi: Các pháp nhất định CÓ vì mỗi cái đều có hình dáng và công dụng?
Đáp:
Trong các duyên có tánh
Điều ấy thì không đúng
Tánh xuất hiện từ duyên
Phải là pháp tạo tác (1)
Các pháp ở thế gian đều do nhân và duyên mà thành. Pháp nếu khẳng định là có, thì phải có tánh. Tánh này ắt xuất hiện từ duyên. Vậy tánh này do tạo tác mà thành.
Nếu tánh do tạo tác
Làm sao có nghĩa này?
Tánh không do tạo tác
Không lệ thuộc pháp khác (2)
Tánh do tạo tác thì mắc các lỗi:
- Duyên hợp thì tánh có, duyên tan thì tánh mất. Vậy tánh lệ thuộc vào duyên. Điều này không với tính chất của tánh là tự có. Như bình khi xuất hiện, có tánh của bình. Khi bình hoại, tánh của bình cũng mất.
- Duyên tan, tánh mất tức tánh bị vô thường chi phối. Nhưng tính chất của tánh là thường trụ.
Hỏi: Pháp không tự tánh thì có tha tánh chăng?
Đáp:
Pháp nếu không tự tánh
Làm sao có tha tánh
Tự tánh đối tha tánh
Cũng gọi là tha tánh (3)
Pháp không tự tánh thì cũng không tha tánh vì sao? Vì tha tánh của pháp này là tự tánh của pháp tha. Đặc tính của pháp là không tự tánh, nên pháp tha cũng không tự tánh, làm sao có tánh để cung cấp tánh cho pháp này.
Lìa tự tánh tha tánh
Làm sao có các pháp
Nếu có tự tha tánh
Các pháp mới được thành (4)
Các pháp không tự tánh, không tha tánh thì không thể khẳng định là có được. Như bóng trên tường tuy có hình có tướng, thậm chí có cả cử động, nhưng không thể nói là thực có, nhưng cũng không thể nói là không. Phần lớn chúng ta khi nói có, thì trong đầu đã sẵn có ý niệm thật, mà thật có thì phải có tự tánh. Đây là chỗ sai lầm của chúng ta khi nói có mà chấp có, nói không mà chấp không.
Thành phàm phu thì có hai thứ tưởng: Một là thế lưu bố tưởng (từ thông dụng ở thế gian) hai là trước tưởng (tưởng chấp trước). Còn thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng, tuy nói có nói không, nhưng biết thực tánh các pháp là không, không lấy không bỏ, tùy nghi mà giáo hóa chúng sanh.
Có nếu không thành tựu
Không làm sao được thành
Vì nhân có pháp Có
Có hoại gọi là Không (5)
Các pháp không thể khẳng định là có, nhưng cũng không thể khẳng định là không. Vì có nhân Không mà lập, không nhân có mà thành. Có đã không tồn tại thì không cũng chẳng thành. Như thấy trâu cósừng, mới nói heo không sừng. Hay nhân trước “có”, sau hoại gọi là “không”. Nếu trước không “có”, thì trước sau như nhau, không cần thêm “không” cho thêm chuyện. Có và Không do đối đãi mà thành, không tánh. Nếu cho “không” là thực không, thì pháp không này lại có tánh. Nhưng các pháp thật không tánh. Lại nữa, đã có “không” thì ắt phải ra “có”, có thương thì ắt có ghét, có xấu chắc chắn đã có niệm đẹp mới so sánh... chúng là các cặp bài trùng, không bao giờ rời nhau. Cho nên Đức Phật nói: “Bởi Có nên có Không/ Bởi Không nên có Có/ Nếu Không chẳng nên thọ/ Nếu có chẳng nên tưởng”.
Nếu người chấp có không
Chấp tự tánh tha tánh
Như thế tất không thấy
Nghĩa chân thật Phật pháp (6)
- Cho tất cả pháp sắc, tâm... thật có tự tánh là chấp có, thật không tự tánh là chấp không.
- Chấp 4 ngã kiến là chấp có. Chấp 4 tà kiến là chấp không.
- Bị ba độc trói buộc là chấp có. Bị vô minh che tâm là chấp không.
- Chẳng biết 5 ấm do duyên chứa nhóm sanh ra là chấp có. Chẳng biết tập sanh là chấp không.
- Mãi miết theo dòng sanh tử là chấp có. Nghịch dòng sanh tử giải thoát cho riêng mình là chấp không. (Luận Đại Trí Độ)
Nên biết:
- Người ái kiến nhiều thì chấp có.
- Người tà kiến nhiều thì chấp không.
(Tà kiến: Chấp ngoài tâm có pháp, đều gọi là tà kiến. Pháp Thanh văn đối với phàm phu là chánh kiến, nhưng đối với “đại sự nhân duyên của chư Phật”, thì vẫn bị xem là tà kiến, vì chưa thấy được thực tướng của các pháp.)
Có và không, tự tánh và tha tánh chỉ do phân biệt chấp trước mà có. Chính do các kiến chấp này mà sanh cạnh tranh, sanh ngôn thuyết vọng tưởng. Thực tướng các pháp lìa ngôn thuyết, vọng tưởng, hí luận.
Thiền sư Hoàng Bá nói: “Pháp vốn chẳng có, nhưng chớ cho là không. Pháp vốn chẳng không nhưng chớ cho là có. Nói không thành đoạn diệt, nói có phạm vào tà kiến”.
Phật hay diệt có không
Như được nói trong kinh
Giáo giới Ca Chiên Diên
Lìa có cũng lìa không (7)
Trong kinh San-đà-ca Chiên-diên, Phật nói “chánh kiến lìa có, không.” Chánh kiến ở đây muốn nói đến thực tướng của các pháp. Thực tướng các pháp “không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng thức mà biết được – Không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được” (kinh Duy-ma-cật)
Vì vậy phải lìa các sự chấp trước có, không… là chỗ nương của hí luận.
Lâm Tế ba lần đến hỏi Hoàng Bá về đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh, bèn đến Đại Ngu hỏi: “Có lỗi hay không lỗi?”
Đại Ngu nói: “Hoàng Bá lòng từ bi thống thiết, mà ông còn đến đây hỏi có lỗi hay không lỗi?”
Ngày lời nói này, Sư liền đại ngộ nói: “Té ra Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều”.
Lại nữa:
Nếu pháp thật có tánh
Sau ắt chẳng nên không
Tánh nếu có tướng dị
Điều ấy thì không đúng (8)
Nếu pháp thật có tánh, thì thường trụ. Đã thường trụ thì không thể có tướng biến dị, cũng không có hoại diệt.
Nếu pháp thật có tánh
Làm sao có thể khác
Nếu pháp thật không tánh
Làm sao có thể khác (9)
- Nếu pháp thật có tánh thì thường trụ, một tướng, không thay đổi. Nhưng hiện nay, trong một pháp đã thay đổi tướng trạng liên tục trên từng sát na, từ trẻ đến già, từ nhỏ đến lớn...
- Nếu pháp thật không tánh, thì không thể có sự thay đổi khác. Nếu không tánh thì tướng trạng trước diệt đi là diệt luôn, không thể làm nhân để tướng trạng tiếp sanh khởi.
Thật có là chấp thường
Thật không là chấp đoạn
Vì thế người có trí
Chẳng nên chấp có không (10)
- Cho pháp thật có thì các pháp phải thường trụ, tức chấp thường.
- Cho pháp thật không, thì các pháp lại đoạn diệt, tức chấp đoạn.
Ta thấy:
Ở thế gian, cho các pháp thật có hay thật không đều không đúng với thực tại. Nếu chấp có thì sanh tham trước, tạo nghiệp, luân chuyển trong tam giới. Nếu chấp không thì bài bác nhân quả, đọa địa ngục. Còn không thì bỏ công hạnh, trú vào chỗ tịch lặng, không nhận chân được thực tướng các pháp.
Hòa Thượng Chân Tịnh Văn nói: “Người đoạn kiến thì đoạn diệt mất tự tâm vốn là tự tánh sáng suốt nhiệm mầu, luôn luôn ngoài tâm chấp không, kẹt vào thiền tịch mặc. Người thường kiến thì chẳng ngộ hết thảy pháp không, chấp trước các pháp hữu vi thế gian cho là cứu cánh”.
Vì vậy người có trí không chấp có, chấp không.
Thế Tôn thường nói: “Nếu nói Có đó, người trí chẳng nên nhiễm. Nếu nói Không đó, tức là vọng ngữ. Nếu nói Có đó, chẳng nên lặng thinh, cũng chẳng nên hí luận, tranh tụng”.
Nếu pháp có định tánh
Phi không tức là thường
Trước có mà nay không
Ấy tức là đoạn diệt (11)
- Khi cho pháp có định tánh, tức cho pháp không hề có tướng không, thì pháp thường.
- Các pháp trước có mà nay lại không, thì rơi vào đoạn diệt.
@ Các pháp ở thế gian, do nhân do duyên mà có, không tánh cố định. Thiện ác, tốt xấu chỉ tùy duyên mà có, nhân đối đãi mà thành.
Như cho giết người là tánh ác, thì Đức Phật giết tên ăn cướp để cứu người không thể gọi là ác.
Ngay cả pháp Phật cũng chỉ là phương tiện, như vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh... đối với phàm phu là chánh kiến, nhưng chấp vào đó một ca1cg bất di bất dịch thì lại sai lầm. Chánh kiến này đối với thực tướng các pháp lại trở thành tà kiến.
Thiền Mặc chiếu nếu cho là cứu cánh thì bị chê, nhưng đối với tâm loạn động thì nó là một phương thuốc hay, đơn giản.
Đức Phật nói: “...Pháp còn nên bỏ huống là phi pháp”
Ta thấy, đối với pháp không thể khẳng định thêm một điều gì trên pháp. Chỉ tùy duyên mà có, tùy duyên mà không, tùy duyên mà thiện, tùy duyên mà ác... Khi gắn cho pháp một tánh cố định là ta đã tạo cho mình một niệm chấp trước về pháp đó. Và ta trở thành một đạo diễn kiêm luôn diễn viên của một loại hí luận, dòng tâm thức sẽ không dừng nghĩ, việc gần là ăn không ngon ngủ không yên, việc xa là càng xa rời thực tướng của các pháp, mở đường cho 6 nẻo luân hồi không biết bao giờ chấm dứt.
Biết vọng không theo, để ngay sanh tử nhận niết bàn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.
No comments:
Post a Comment