Wednesday, March 7, 2018

BÀI TỔNG KẾT



 TỔNG KẾT

TRUNG LUẬN VÀ VẤN ĐỀ THỰC LÝ
Một luận thuyết nếu chỉ dẫn đến những kết luận không phù hợp với thực tế, hoặc chỉ đem lại cho chúng ta những nhận thức mơ hồ về thực tế, thì không được xem là có giá trị.
Một lý thuyết, nếu phù hợp với mặt này mà không phù hợp với mặt kia của thực tế thì chỉ là một thiên kiến.
Gọi là thực lý thì lý này phải luôn luôn phù hợp với tất cả mọi hiện tượng – từ vật chất đến tinh thần – có trong cuộc sống, phù hợp với mọi nơi, mọi thời. Thực lý phải lý giải được nguồn gốc, vai trò, vị trí tất cả mọi học thuyết có trên thế gian.
Một trong những mục tiêu của Trung Luận là hiển bày thực lý của vạn pháp. Vì thế luận lý trong Trung Luận rất chi ly, không chấp nhận một khe hở nào giữa nhận thức và thực tại.
Hỏi: Có một cái lý như thế sao?
Đáp: Chẳng thể nói là không. Đó chính là lý Duyên khởi của nhà Phật.
MỤC ĐÍCH CỦA PHẬT PHÁP
Mục đích của Phật pháp là giúp chúng sanh tự giác ngộ. Giác ngộ là nhận ra thực tánh của các pháp. Nói cách khác là nhận ra được thực chất của cuộc sống. Nhận được thực tánh thì rõ được thực lý và không còn mê lầm nữa. (Chính vì có những mê lầm mà cuộc sống của chúng ta luôn bị trói buộc trong phiền não khổ đau). Rõ được thực lý thì chúng ta sẽ sống được với Đại trí Như Lai (thay vì sống với tâm thức hạn hẹp đầy sai lầm hiện có ở mỗi chúng ta). Có hai cách chính để đạt được giác ngộ.
1/ DÙNG LÒNG TIN vào Phật pháp. Học hỏi kinh luận để có được chánh kiến, y cứ vào chánh kiến mà tu tập và đạt được kết quả giác ngộ.
2/ DÙNG LÝ LUẬN truy tìm những sai lầm có trong tâm thức của chúng ta. Tu tập để loại trừ các kiến chấp sai lầm ấy và đạt được giác ngộ.
Trung Luận là bộ luận vận dụng phương cách thứ hai. Trung Luận đưa chúng ta đi đến tột cùng của lý luận và nhờ đó chúng ta có cơ may được giác ngộ (cùng lý tận tánh). Chính vì thế mà Trung Luận không chấp nhận bất kỳ một sai sót, mâu thuẫn nào dù rất nhỏ giữa luận lý và thực tế.
THỰC TÁNH CỦA CÁC PHÁP
Trung Luận đã chứng minh rằng: Bản chất của tất cả pháp là không sanh, không diệt, không thường, không đoạn...(bát bất). Nó ở bên ngoài các phạm trù phân biệt nhị biên. Trên thực tế chúng ta lại đang sống với các nhận thức nhị biên, nên không thể nhận ra thực tánh được. Nếu một lúc nào đó, tâm thức của chúng ta đột nhiên thoát khỏi cấc kiến chấp nhị biên, thì chúng ta sẽ nhận ra được thực tánh của các pháp, mà danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là NGỘ.
Lìa khỏi các khái niệm nhị biên, thì ngôn từ không còn tác dụng. Vì thế ngôn từ không thể diễn tả được thực tánh. Cách duy nhất để nhận ra được thực tánh là mỗi chúng ta phải tự ngộ - tức phải tự mình nhận ra, không thể nương nhờ vào cái gì khác mà hiểu được. Đây chính là ý nghĩa của câu “giáo ngoại biệt truyền”. Giáo là phương tiện không thể thiếu, nhưng cái mà hành giả nhận ra lại ở biên ngoài giáo lý (giáo ngoại). và cái đó phải do riêng mình tự ngộ (biệt truyền).
Giáo lý như ngón tay chỉ mặt trăng. Nương vào ngón tay, là giáo, để nhận ra mặt trăng, chứ đừng lầm ngón tay là mặt trăng (kinh Lăng Nghiêm).
Hỏi: Nếu thực tánh là cái không thể chỉ bày được, với một người chưa ngộ, phải hiểu như thế nào để không trái với thực tánh?
Đáp: Phải hiểu thực tánh là không tánh.
Hỏi: Nghĩa của không tánh là gì?
Đáp: Nên hiểu không tánh trên hai mặt:
1/ Không thể nào tìm thấy được tự tánh của pháp: Trong cuộc sống, chúng ta phân biệt pháp nàyvới pháp khác nhờ vào các đặc tính riêng của mỗi pháp. Từ đó chúng ta có cảm tưởng rằng: Mỗi pháp đều có một cá tánh riêng, rồi cho cá tánh này là thực tánh của pháp hay còn gọi là tự tánh. Trung Luận đã chứng minh rằng: Không bao giờ xác định được tự tánh của bất cứ một pháp nào.
2/ Dù không tìm thấy tự tánh của pháp, nhưng không có nghĩa thực tánh đồng với ngoan không (triệt để là không). Nếu thực tánh đồng với ngoan không, thì các pháp không thể xuất hiện và xuất hiện một cách có trật tự, có quy tắc như thế giới chung quanh ta (thế giới chung quanh ta được xây dựng trên nền tảng của thực tánh).
Tóm lại, phàm trù có – không là quá chật hẹp. Thực tánh ở bên ngoài có – không.
LÝ DUYÊN KHỞI
Trung Luận đã chứng minh, tất cả các pháp từ hữu vi đến vô vi, từ vật chất đến tinh thần, không một pháp nào có tự tánh. Vì không tự tánh nên pháp không có tự tướng (không có một tướng riêng cố định để tự xác định). Do phải nhờ vào duyên – tức nhờ vào các điều kiện thích hợp hỗ trợ - pháp mới hiện thành tướng, vì thế mà gọi là Duyên Khởi.
Một số điểm cần lưu ý:
1/ Pháp phải không tánh mới “duyên khởi” được. Nếu pháp có tự tánh thì không cần duyên pháp vẫn xuất hiện (tức duyên thành vô dụng). Lại nữa, pháp nếu có tự tánh thì tướng sẽ thường hằng, nên cũng không có sự sanh khởi.
2/ Pháp phải chờ duyên mới sanh thì pháp đó phải là pháp duyên khởi và không tánh (không thể xác định được tánh của pháp đó). Tất cả các pháp trên thế gian đều phải có duyên, có điều kiện mới thành, nên đều là pháp duyên khởi không tánh.
3/ Luật vô thường: Với một pháp không tánh thì tướng của nó luôn chuyển biến tức vô thơngf. Vì nếu một lúc nào đó, pháp có một tướng xác định được thì pháp không còn “không tánh” nữa. Điều này lý giải cho việc tại sao các pháp trên thế gian này luôn chuyển biến, không dừng trụ ở bất kỳ một thời điểm nào.
TRIỂN KHAI LÝ DUYÊN KHỞI TỪ GÓC ĐỘ CỦA NGHĨA “TÁNH”
Tâm là đất, tánh là vua” – Pháp Bảo Đàn kinh.
Tánh là bản thể, nội dung. Tánh là nguyên tắc điều khiển sự xuất hiện và vận hành của tướng.
Trong trường hợp có nhiều tướng cùng xuất hiện, thì tánh là nguyên lý điều khiển sự vận hành của các tướng, sao cho tất cả tạo thành một hệ thống thống nhất. Các tướng dù tạp đa nhưng vẫn hài hòa không rối loạn.
Tướng là sự thị hiện của tánh. Tướng là hình thức, tánh là nội dung. Tánh vốn không đổi nhưng tướng luôn thay đổi. Sự thay đổi của tướng là do điều kiện mà tánh thị hiện có khác, không phải bản thân của tánh có sự thay đổi.
Ví dụ: Đường lộ là nơi có nhiều người đi lại. Sự lưu thông trên đường được thông suốt, là nhờ có luật đi đường làm nguyên tắc điều khiển chung.
Xem trường hợp hai người đi trên hai đoạn đường khác nhau, và cùng đến một ngã tư có đèn báo. Người thứ nhất tiếp tục vượt qua vì anh ta gặp đèn xanh. Người thứ hai dừng lại vì anh ta gặp đèn đỏ.
Luật đi đường tượng trưng cho tánh của sự lưu thông. Đối với người thứ nhất tánh ấy thị hiện thành tướng vượt qua. Đối với người thứ hai tánh ấy thị hiện thành tướng dừng lại. Đến đây chúng ta có những nhận xét sau:
1/ Hai tướng vượt qua và dừng lại là hai tướng trái nhau, nhưng chúng đều là sự thị hiện của cùng một tánh là luật đi đường. Hai tướng đối kháng vẫn có thể là hai tướng của cùng một tánh.
2/ Tánh của sự lưu thông vốn không đổi, nhưng tướng thì có thay đổi. Sự thay đổi của tướng là do điều kiện để tánh thị hiện có thay đổi. Với người thứ nhất tướng là vượt qua, ứng với điều kiện đèn xanh. Với người thứ hai tướng là dừng lại, vì ứng với đèn đỏ.
3/ Tướng là sự thị hiện của tánh, nhưng tướng không phải là tánh, tánh không phải tướng. Ở thí dụ trên ta thấy:
- Nếu tánh là dừng lại thì sự lưu thông không còn nữa.
- Nếu tánh là vượt qua, thì đèn xanh hay đèn đỏ cũng như nhau (duyên không còn tác dụng nữa).
- Nếu tánh là vừa vượt qua, vừa dừng lại thì không có luật đi đường (vì ai muốn đi như thế nào cũng được).
Lý Duyên Khởi được phát biểu như sau: “Nhân A mà biết B, nhân B mà biết A”
Giải thích:
1/ A là nguyên nhân và điều kiện để biết được B, và ngược lại B là nguyên nhân và điều kiện để biết được A.
2/ Phải nhờ vào A mới biết được B vì bản thân B không có tự tánh. A cũng vậy.
Ví dụ: B gọi là ngắn, khi có A để so sánh và A có kích thước dài hơn B. Nếu không có A thì B không thể biết là dài hay ngắn, vì không có cái để làm chuẩn so sánh, định mức.
3/ Khi nhận thức được một tướng của B thì chúng ta phải hiểu rằng đó là một tướng tương ưng với một điều kiện (duyên) là A. Nếu duyên A thay đổi thì B cũng thay đổi.
Ví dụ: B gọi là ngắn, vì có A dài hơn B. Nếu A ngắn hơn thì B lúc đó phải gọi là dài.
4/ Vì không tánh nên không A thì cũng không B, và ngược lại. Các pháp nếu xuất hiện thì phải hiện ra ít nhất là một cặp để làm nhân đối đãi cho nhau. Nếu phát hiện ra pháp này thì cũng đồng thời phát hiện ra pháp kia.
5/ Vì không tánh nên tướng của A và B phải luôn thay đổi, nhưng luôn tạo thành một hệ thống thống nhất được điều khiển bởi “Tánh không”. A và B dù sai biệt nhưng luôn đồng thể là “tánh không".
DUYÊN KHỞI CỦA CÁC CẶP ĐỐI ĐÃI VÀ TƯƠNG ĐÃI
1/ Các cặp đối đãi: Thường được gọi là các nhị biên phân biệt như dài –ngắn, tốt – xấu, sanh – từ....gọi là đối đãi vì chúng không bao giờ đồng xuất hiện trên cùng một pháp. Thông thường chúng ta cho rằng đây là những phần tử đối kháng, tiêu diệt lẫn nhau. Với Lý Duyên Khởi, chúng đồng hiện trong quan hệ nhân duyên, và đều là sự thị hiện của “Tánh không” (sẽ nói chi tiết ở phần
Như B gọi là dài, vì có A ngắn làm đối đãi. Trên bình diện ý thức, khi nhận ra B là dài – dù không có mặt A – thì ý niệm dài này hình thành chính do trong vô thức đã sẵn có ý niệm ngắn làm nền tảng cho ý thức “cái dài” được hiện hành.
2/ Các cặp tương đãi: Là các cặp hình thành nên như người đi – sự đi, tâm – vật, không gian – thời gian, nhân – quả...v...v...
Như trên đã nói: Do không tánh, nên các pháp khi xuất hiện phải đồng hiện thành từng cặp để hỗ tương cho nhau. Trong các cặp này, không một yếu tố nào là thực có hay thực không. Ở đây nếu cho yếu tố này là thực có, thì yếu tố kia sẽ bị phủ định. Yếu tố kia bị phủ định thì yếu tố này cũng bị phủ định luôn... như “Đang đi – Sự đi”, “Người đi – Sự đi” ở phẩm “Phá khứ lai”. Một khi đã “khẳng định” thì sẽ dẫn đến “phủ định”. Chỉ với một nhận thức không rơi vào “có – không mới phù hợp với thực tại.
Ở nghành Vật lý Lượng tử, chúng ta cũng gặp những cặp đối đãi như thế. Như vận tốc và vị trí của một hạt cơ bản, năng lượng và thời gian của một biến cố nguyên tử. Ở các cặp này, nếu yếu tố này được xác định một cách chíng xác thì yếu tố kia lại hoàn toàn bất định, mà yếu tố kia nếu bất định, thì việc xác định yếu tố này trở thành vô nghĩa.
PHÁP GIỚI DUYÊN KHỞI
1/ Thế giới Hoa nghiêm sự sự vô ngại: Thực tấnh các pháp vốn không lớn không nhỏ, không dài không ngắn....vượt ngoài các nhị biên phân biệt.
Từ tánh không tịch trong sáng ấy, các pháp trùng trùng duyên khởi như những lớp sóng nối tiếp nhau, trùng trùng vô tận nhưng lại rất mạch lạc. Tất cả đều là sự thị hiện của thức tánh nên “một cũng là tất cả, tất cả là một” dung thông, dung nhiếp mà vẫn vô ngại. Đây là cảnh giới tâm chứng của chư Phật. Cảnh giới này hoàn toàn không thể miêu tả hay nói năng gì được.
2/ Thế giới Hoa nghiêm lý sự vô ngại: Tất cả ngôn từ khai triển đều từ thế giới này mà có. Do không nhận ra được thực tánh – chơn như, chỉ còn thấy vô vàn pháp sai biệt cùng nhau tạo thành thế giới. Các pháp dù rất đa thù đa dạng và luôn chuyển biến nhưng bao giờ cũng hài hòa trong một hệ thống thống nhất. Điều này có được là nhờ tất cả được điều khiển bởi một nguyên lý. Nguyên lý này trong nhà Phật gọi là “không tánh”. (Trong thế giới “Sự sự vô ngại” thì đó là thực tánh, Chơn như, Pháp tánh... Trong thế giới này thì đó là “không tánh”). Nhờ có sự điều khiển của không tánh, mà các pháp dù đa dạng vẫn vô ngại, lý sự viên dung.
Xét một pháp bất kỳ, vì thể của nó là “không”, nên nó phải nương nhờ vào các pháp của phần thế giới còn lại mà hiện tướng. Nói cách khác phần thế giới còn lại là nhân duyên của một pháp bất kỳ. Bất kỳ một pháp nào cũng có sự tương quan liên đới với tất cả các pháp khác, mà mỗi pháp là một dòng chuyển biến. Do đó thế giới “lý sự vô ngại” giống như một tấm màn của các sự kiện. Một đổi thay bất kỳ ở một sự kiện nào đó, chúng ta không thể phân lập riêng từng pháp mà có thể tìm hiểu chính xác về nó được. Muốn tìm hiểu một pháp, chúng ta phải biết đến tất cả pháp còn lại.
Tóm lại, không có một sự phân tích chia chẻ nào phù hợp với thực tại cả. Trong thế giới này “không sắc cũng không không”, “không thời gian cũng không không gian”, “không đến cũng không đi”....Không có vật cá thể.
Hỏi: Tại sao hiện nay thế giới lại hiện ra trước mắt chúng ta với vô vàn pháp sai biệt, tách rời nhau được, phân biệt được, chia chẻ được?
Đáp: Chúng ta nhận thức được được các pháp nhờ vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân....Y cứ vào kết quả ghi nhận từ các căn, mà chúng ta có sự nhận thức về trần cảnh. Tuy vậy các căn lại có sự hạn chế của nó.
Hãy xem trường hợp của con mắt: Với những vật cho một độ phân giải nhỏ hơn mức tối thiểu, mắt sẽ không ghi nhận được vật đó. Với những sự kiện mà thời gian xuất hiện của nó ngắn hơn một mức tối thiểu, mắt cũng không ghi nhận được. Do các hạn chế trên, thay vì ghi nhận được pháp là một tiến trình liên tục, mắt lại chỉ ghi nhận một phần đoạn của tiến trình này.
- Về mặt không gian: Do những phần nhỏ hơn độ nhạy của mắt bị loại trừ, do các tương quan ràng rịt với thế giới chung quanh quá vi tế, các căn không ghi nhận được, các phần đoạn đó hiện ra thành một hình thể có ranh giới với thế giới chung quanh và chúng ta gọi đó là một vật.
- Về mặt thời gian: Bản chất của vật là một tiến trình nên nó luôn luôn chuyển biến. Do sự ghi nhận và nhận thức của chúng ta quá thô thiển, nên phải sau một thời gian nào đó, chúng ta mới nhận ra được sự thay đổi nơi vật. Trong khoảng thời gian ở giữa, vật có vẻ bất biến đối với ta.
Từ cảm giác có một ranh giới trong không gian và dường như bất biến trong một khoảng thời gian, chúng ta cho rằng đó là một vật có thật, một cá thể. Tập hợp tất cả các “vật cá thể” và các khoảng không tạo thành thế giới chung quanh ta. Thế giới chung quanh ta là kết quả của sự nhận thức thô thiển về mặt không gian và cả về mặt thời gian đối với thực tại.
Ví dụ: Khi nhìn một cục sắt, chúng ta tưởng rằng đó là một vật cố định. Một vật riêng lẻ với một hình tướng nhất định.
Nếu nhìn với độ tinh tế đến cỡ nguyên tử, chúng ta sẽ thấy cục sắt là một mạng lưới gồm nhiều cấu trúc phân tử. Các cấu trúc phân tử này luôn luôn dao động làm cho bề mặt của nó giống như một mặt biển đầy sóng, không có một hình thể nhất định nào cả.
Nếu nhìn với độ tinh tế đến cỡ hạt tử, và có thể ghi nhận được các sự kiện ngắn hơn đời sống của các hạt tử, thì thế giới sẽ giống như một “tấm màn của các biến cố” không còn ranh giới giữa cục sắt và thế giới chung quanh nó. Ý niệm về một vật đến đây hoàn toàn bị phá vỡ.
Sắc - Không
Vật là một phần đoạn của tiến trình. Phần đoạn này chiếm một khoảng trong không gian. Trong phạm vị của phần đoạn đó, chúng ta gọi là sắc. Ngoài phạm vi của phần đoạn đó chúng ta gọi là không.
Sắc chẳng phải là sắc vì bản thân nó là một tiến trình không thể nắm bắt, không thể xác định. Khôngchẳng phải là không vì nó chứa đựng những phần tử vi tế và các mối quan hệ chằng chịt giữa sắc này và các sắc khác.
Sắc nhờ không mà hiển, không nhờ sắc mà hiển. Cả hai đều không tánh, nương vào nhau mà kập. Thực tại thì “không sắc cũng không không”.
Không gian – Thời gian
Một khi sắc và không đã được lập thì sẽ tìm thấy không gian và thời gian.
- Do vật chiếm một thể tích và có một vị trí tương đối với chủ thể nhận thức, nên ý niệm về không gian được lập thành. (Thực tại vốn “không sắc cũng không không”, vì vó một sự nhận thức thô thiển về thực tại mà “sắc – không” mới được thành lập. Do vậy khi nói đến vật thì phải nói cùng với chủ thể nhận thức về nó).
- Do vật là một tiến trình nên nó có sự dời đổi chuyển biến, và ý niệm thời gian được lập thành.
Sau khi không gian và thời gian được lập và tổng quát hóa, nhìn lại vật là một phần đoạn của tiến trình, chiếm một phần trong không gian, kéo dài một đoạn trong thời gian và vẫn luôn chuyển biến trong không gian, thời gian.
Dưới cái nhìn phân tích của ý thức, vật có hai mặt:
- Mặt không gian: Vật biểu thị thành hình thể và vị trí tương đối, đối với chủ thể nhận thức.
- Mặt thời gian: Vật biểu thị bằng sự thay đổi ở trong bản thân của nó và bằng việc thay đổi ở trong bản thân của nó và bằng việc thay đổi vị trí tương đối của nó đối với chủ thể nhận thức.
Việc phân chia thành hai mặt là việc làm của tâm thức. Thực tế hai mặt đó không thể phân chia, tách lìa khỏi nhau được.
Sự phân chia thành nhiều mặt chỉ có giá trị khi vật là một cái gì bất biến. Lúc đó, chúng ta có thể nhìn riêng từng phần rồi ráp lại với nhau. Ở đây, vật vốn là một dòng chuyển biến, nên khi nhình riêng rồi ráp lại, thì chúng ta chỉ có thể thấy hai phần ở hai thời điểm khác nhau, nên không thể ráp lại để thành sự vật như chính nó nữa.
Muốn nhân thức đúng với bản chất của vật, chúng ta phải nhìn thấy một cách tức thời cả hai mặt không gian và thời gian của vật (tương tức, tương nhập). Nếu chỉ nhìn thấy mặt này hay mặt kia của vật, thì đó chỉ là một thiên kiến.
Trên thực tế, phần Ý thức hiện có của chúng ta không còn cái gọi là khả năng tương tức tương nhập không gian và thời gian nữa. Thông thường chúng ta chỉ nhìn thấy vật ở khía cạnh không gian. Muốn nhận ra sự thay đổi của vật, chúng ta phải so sánh vật hiện thấy với hình ảnh của nó trong quá khứ, tức chúng ta chỉ thấy hai phần không gian của vật ở hai thời điểm khác nhau. Việc này tạo cho chúng ta cái cảm tưởng không gian và thời gian là hai thực thể độc lập, tách biệt nhau. Đây là điều đang tác động sâu sắc lên sự nhận thức của hầu hết chúng ta về thế giới.
Để dễ hiểu hơn chúng ta có thể nói rằng: Vật đang hiện bày trước mắt chúng ta chỉ là hình chiếu của phần đoạn ở trong không – thời gian lên không gian của ý thức (theo cách nói của thuyết Tương đối, là hình chiếu của một vật ở trong “cõi liên diễn thời – không bốn chiều” lên không gian ba chiều). Nói một cách tổng quát, thế giới mà chúng ta đang nhận thức được chỉ là cái bóng của thực tại.
Giống như một hình thể trong không gian ba chiều, khi chiếu lên một mặt phẳng hai chiều, chúng ta có một cái bóng. Tùy theo góc độ chiếu mà bóng có lớn, nhỏ, dài, ngắn....nhưng chúng ta không nên nói cái bóng là có hay là không, là ngắn hay là dài....vì các điều này quả thật là vô nghĩa. Cũng vậy, chúng ta đang sống với những pháp sai biệt mà thực chất chỉ là những cái bóng của thực tại bất khả phân. Do đó chúng ta không được nói các pháp là có là không, là sanh hay là diệt, là một hay là khác......
Đây là lý do tại sao Trung Luận có thể chứng minh cho ta thấy các quan niệm về những cặp phân biệt nhị biên, chỉ là những thiên kiến sai lầm khi đối chiếu với thực tại.
Ngành Vật lý cổ điển với mô hình “không gian độc lập với thời gain”, chỉ có vẻ phù hợp với cái “thế giới trung bình” – Cái thế giới được lập ra từ những nhận thức thô thiển của chúng ta về thực tại – Mô hình đó dẫn đến những kết quả có sai lệch với thực tế, nhưng do nhận thức của chúng ta quá thô thiển nên không nhận ra....hay có nhận ra thì cũng là những sai số chấp nhận được trong thế giới thô thiển này.
Khi nghiên cứu đến phần cực đại của thế giới (các thiên hà xa xăm) hay phần cực vi (các hạt cơ bản, các hạt tử), thì mô hình của vật lý cổ điển không còn phù hợp nữa. Vì sao? Do vật thể ở trong hai phần này có một vận tốc tương đối rất lớn đối với chủ thể nhận thức là chúng ta, nên khía cạnh thời gian của nó được hiển bay cùng lúc với khía cạnh không gian. Điều này lý giải cho việc tại sao “thuyết tương đối” với mô hình “cõi liên diễn thời – không bốn chiều” lại chiếm một vị trí quan trọng như thế, trong ngành Vật lý và Thiên văn hiện đại.
Rõ ràng, một khi nhận thức của chúng ta trở nên tổng quát và tinh tế hơn thì sẽ dẫn đến việc thống nhất các khái  niệm mà chúng ta đã lầm tưởng là những thực thể tách biệt. Không gian và thời gian được lập từ “thực tại bất khả phân”, nên muốn nhận thức của chúng ta phù hợp với thực tại thì bắt buộc phải “tương tức tương nhập” hai khái niệm trên lại.
Rốt ráo không gian và thời gian là hai mặt của thực tại, nên chúng không thể tách lìa nhau được. Cả hai đều nương nhau mà lập, không một cái nào có thực tánh. Thực tại thì “không không gian cũng không thời gian”. Nhở vào khía cạnh không gian (sắc) mà chúng ta biết được có sự dời đổi, chuyển biến (thời gian). Nhờ thấy có sự dời đổi chuyển biến mà ta biết về một sắc. Qui nạp lại chúng ta có thể nói “nhân không gian mà biết thời gian, nhân thời gian mà biết không gian”. Tột cùng mọi nghĩa lý của không gian và thời gian chỉ là thế!
- Nếu sắc hoàn toàn xác định được tức thật có thì nó phải bất biến. Trường hợp này không thể có sự chuyển biến dời đổi, tức không có khía cạnh thời gian. Điều này không phù hợp với thực tế....
- Nếu sắc đó di chuyển bằng vận tốc ánh sáng, tức khía cạnh thời gian được biểu thị đến cùng cực, thì sắc biến mất hoàn toàn (thuyết Tương đối)>
Rõ ràng, không gian và thời giang là một cặp tương đãi duyên khởi và không tánh.
Sự thành lập các cặp tương đãi và đối đãi khác
Sắc – không, thời gian – không gian đã được lập, thì các cặp đối đãi và tương đãi khác theo đó mà xuất hiện.
* Sanh – diệt: Ở một nơi nào đó trong không gian, trước chưa có nay có pháp xuất hiện chúng ta gọi là sanh. Trước có nay thấy không thì gọi là diệt.
* Thường – đoạn: Thấy đang hiện hữu và không có vẻ gì mất đi thì ta nói là “thường”. Thấy mất đi mà không có hiện tượng xuất hiện lại thì gọi là “đoạn”.
* Một – khác: Vì tưởng rằng các pháp tồn tại độc lập với nhau nên lập ra “một – khác”.
* Đến – đi: Thấy pháp từ xa gần lại thì gọi là đến, pháp xa lần ra thì gọi là đi.
Cứ thế do so sanh đối đãi, mà xuất hiện vô vàn các cặp đối đãi và tương đãi như lớn – nhỏ, thơm – hôi...v...v... Các cặp này đều lấy sắc – không làm căn bản mà lập, nên tất cả cũng chỉ là duyên hợp và không tánh.
Khi đã có vô vàn các cặp đối đãi hay tương đãi được lập ra, thì “thực tại” được hiện bày trong tâm thức của chúng ta thành nhiều khía cạnh khác nhau, tùy theo sự vận dụng các cặp tương đãi, đối đãi này.
Ví dụ: Với một trái cam chúng ta có thể quan sát nó theo nhiều khía cạnh khác nhau như: lớn – nhỏ, chua – ngọt, ngon – dỡ...v...v...
Từ “thực tại bất khả phân”, giờ bày hiện thành vô vàn các khía cạnh sai biệt. Từ đó qui lập thành nhiều pháp sai biệt. Các cặp tương đãi, đối đãi chỉ là sản phẩm của tâm thức chúng ta, nên không thực có; lại y cứ từ thực tại mà lập, nên chẳng phải không. Các pháp lại y cứ trên các cặp tương đãi đối đãi này mà lập, nên cũng vậy. Thực tại ở bên ngoài các cặp tương đãi, đối đãi; ở bên ngoài sự có – không của pháp.
Do “sắc – không” làm căn bản mà các pháp được dựng lập, nên bài kinh Bát Nhã đã khởi đầu: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” rồi mới đến lục căn, lục trần...v...v...

Nghiệp thức
Như đã nói, nhận thức chỉ phù hợp với thực tại khi chúng ta “tương tức, tương nhập” các cặp đối đãi tương đãi. Hiện tại chúng ta đang sống với những nhận thức thiên lệch về bên này hay bên kia của các nhị biên. Sống trong thiên kiến là sống với những cái bóng của thực tại. Vì vậy mà kinh thường nói “ Thế gian như mộng huyễn...”.
Thói quen nhận thức một cách thiên lệch gọi là nghiệp thức. Nghiệp thức được huân tập từ vô thủy, và đến đời này vẫn được tiếp tục huân tập thêm. Mỗi người có một nghiệp thức khác nhau, nên trên thế gian không ai giống ai.
Ví dụ: Đưa nhiều người cùng đến quan sát một cảnh vật. Khi yêu cầu tả lại thì không ai tả giống ai.
Vật trong nhận thức của mỗi người, là hình chiếu của thực tại lên bề mặt những tâm thức bị chi phối bởi các nghiệp thức khác nhau, nên không thể giống nhau. Tuy vậy thực tại không phải là cái nhiều (nhiều cái bóng chứ thực tại vốn không hai). Vì thế chúng ta không nên chấp thủ vào những cái bóng.
(Sự hình thành nghiệp thức của mỗi chúng sanh được trình bày tổng quát trong bài kinh Thập Nhị Nhân Duyên, được triển khai một cách rõ ràng và chi tiết trong bộ kinh Lăng Già, Lăng Nghiêm và trong các bộ luận Duy thức).

Vô vàn thế giới
- Với cái nhìn cổ điền, thế giới của chúng ta là duy nhất, thời gian và không gian là như nhau trong toàn thể vũ trụ.
- Với thuyết Tương Đối, trong vũ trụ tồn tại nhiều thế giới khác nhau tùy thuộc vào lực trọng trường hay vào vận tốc di chuyển giữa hệ thống được quan sát và chủ thể quan sát.
- Với thuyết Lượng tử tồn tại nhiều thế giới song song, trong đó một hạt cơ bản đồng thời có mặt trong nhiều thế giới mà các thế giới này vẫn độc lập với nhau.
- Với lý Duyên Khởi, có vô vàn thế giới đan chéo nhau, lồng trong nhau, dung thông dung nhiếp mà vẫn vô ngại với nhau, vì tất cả chỉ là những cái bóng của thực tại mà thôi!!!
Thế giới là thực tại được nhận thức theo cách riêng của nghiệp thức của mỗi chúng sanh. Tất cả mọi chúng sanh đều cho rằng nhận thức của “ta” về thực tại là đúng, dó cái “ngã kiến” này mà thế giới xuất hiện. Đây là thế giới vật ngã (thế giới của các sự vật lập ra từ ngã kiến của mỗi chúng sanh).
Thực tại chính là cái thức tánh không tánh, nó cho phép vô vàn thế giới hữu tánh được hiện ra nhưng chỉ giống như những cái bóng trong gương. Cũng có thể nói rằng, thế giới mà chúng ta đang nhận thức là phóng ảnh tâm thức của mỗi chúng ta lên bề mặt thực tại.
Nhân quả
Vì lầm tưởng thế giới là thực có, nên tâm thức của chúng ta mắc kẹt trong thế giới do chính chúng ta tạo ra. Tâm thức ấy chỉ nhận ra được thế giới cuảnó, mà không thấy được các thế giới khác. (***)[1]
Do chấp ngã, mà chúng ta thấy có Ta là một thực thể trong thế giới. Thế giới là ảnh tượng do tâm thức của Ta tạo ra nên không thể tách rời khỏi Ta được. Mọi sự tạo tác, mọi tác động của Ta vào thế giới đều phản hồi trở lại vào chính Ta một kết quả nào đó. Đây là cơ sở để lập nên lý nhân quả.
Lý nhân quả được trình bày rất nhiều trong các bộ kinh Nguyên thủy. Ở đây chỉ nói sơ lược: Thế giới chung quanh ta, không tách lìa khỏi ra. Giống như cái nhà của ta, nếu thường được tu bổ chăm sóc, làm những việc tốt đẹp cho thế giới thì chúng ta sẽ có những cảnh giới tốt (làm lành gặp lành). Nếu chúng ta xem thế giới chung quanh là đối kháng, và chỉ lo cấu xé gom góp về ta, thì vô tình chúng ta đang phá hoại thế giới của ta và tất yếu sẽ gặp các cảnh giới dữ (làm ác gặp ác). Kinh khuyên bỏ ác làm lành, vì tâm lý chúng ta ai cũng thích sống trong những cảnh giới tốt đẹp.
Các thế giới vật – ngã do mỗi chúng ta tự tạo ra, nhưng trong đó nghiệp làm chủ, còn chính Ta lại chỉ có một sự tự do rất hạn chế. Chính nghiệp qui định trong mỗi trường hợp Ta phải nghĩ, phải hành theo cách của nó, chứ không phải Ta muốn là được.
Ví dụ 1: Gặp cảnh mà nghiệp qui định Ta sân, thì niệm sân nổi lên chiếm lấy tâm thức, điều khiển sự suy nghĩ, tình cảm, hành động của ta, muốn cưỡng lại không phải dễ. Thông thường chúng ta lại cho rằng cần phải sân như vậy mới đúng, nên vô tình lệ thuộc hoàn toàn vào nghiệp, bị nghiệp dẫn.
Ví dụ 2: Gặp cảnh buồn, dù muốn quên đi cảm giác đau buồn, khó chịu, chúng ta cũng không dễ gì quên được.
Chỉ còn cách vứt bỏ mọi kiến chấp, mọi ngã kiến có sẵn trong tâm thức, chúng ta mí thoát khỏi thế giới vật – ngã của chính mình, thoát khỏi nhân quả, và được giải thoát hoàn toàn.
LÝ NHÂN DUYÊN
Như đã biết, thế giới là một tổng thể trong đó không có một pháp nào tồn tại một cách tách biệt, độc lập cả. Các pháp vốn tồn tại trong sự tương quan, liên đới với nhau và bao giờ chúng ta cũng tìm thấy được những quan hệ nhân duyên, nhân quả giữa các pháp. Đây là cơ sở của lý nhân duyên.
Lý Nhân duyên chỉ ra rằng: Các pháp không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, bao giờ chúng ta cũng tìm thấy được nguyên nhân và điều kiện để cho một pháp xuất hiện.
Sự tồn tại của pháp, thực chất là quá trình vận hành của pháp, luôn bị chi phói bởi duyên (điều kiện xung quanh pháp). Nếu duyên thay đổi thì sự tồn tại của pháp cũng đổi thay theo.
Ví dụ: Trái cây để ở chỗ mát sẽ lâu hư hơn để chỗ nóng ẩm. Cục vàng đang hiện diện trước mặt chúng ta với một hình thể nhất định bền vững chắc chắn, thật ra chỉ là một dạng thức của vàng, trong điều kiện bình thường. Nếu bỏ cục vàng vào một nơi có nhiệt độ cực cao, thì hình thể và độ bền vững của nó sẽ không còn nữa.
Điều này chứng minh rằng, mối quan hệ giữa pháp và thế giới xung quanh chưa bao giờ mất đi cả. Pháp không hề tồn tại một cách độc lập như chúng ta vẫn lầm tưởng. Những đặc tính, tính chất nào đó của pháp đểu là những kết quả ghi nhận được trong một duyên nên cái gọi là đặc tính riêng của mỗi pháp là một từ không chuẩn xác, vì luôn luôn có sự tham dự của duyên, chứ không phải đó chỉ là những đặc tính của riêng nơi pháp. Mọi đặc tính, mọi dạng thức sẽ thay đổi nếu duyên thay đổi.
Lý Nhân duyên là nền tảng của các ngành khoa học. Chúng ta luôn tìm thấy được sự tương quan, tương tác giữa các pháp vì chúng vẫn làm duyên cho nhau để sanh khởi.
LÝ DUYÊN KHỞI VỚI TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
Với sự bao là, rộng lớn, với vô vàn pháp (sự ,vật) sai biệt, thế giới mang đầy vẻ huyền bí. Làm sao để hiểu được cái thế giới phức tạp và bí hiểm này?
Muốn hiểu được thế giới chung quanh, trước tiên chúng phải hình dung được tổng thể của nó. Đây là lý do để triết học ra đời. Nhiệm vụ của triết học là đưa ra một mô hình tổng quát về thế giới, lý giải được sự xuất hiện, sự tồn tại và sự hủy diệt của các pháp.
Nhờ có triết học làm nền tảng, khoa học đi sâu vào từng mặt cụ thể, nghiên cứu tìm hiểu các quy luật, tính chất của các pháp. Lấy triết học làm đường lối, khoa học vạch ra những phương cách nghiên cứu về thế giới một cách có hệ thống, có hiệu quả.
Những học thuyết triết học được sử dụng làm nền tảng cho khoa học xuất phát từ những kinh nghiệm cảm quan, nghĩa là dựa trên thông tin mà các căn ghi nhận được, rồi quy lập thành các tiền đề phổ quát cho nó. Những tiền đề này ẩn chứa nhiều sơ sót, vì thế khi khoa học tiến triển đến môt jmức nào đó, nó sẽ phá vỡ cái mô hình thế giới mà triết học đã lập ra, dựng lên một mô hình triết học khác. Với mô hình này, khoa học lại phát triển lên một mức mới, đem lại cho chúng ta một nhận thức vừa bao quát, vừa tinh tế và phù hợp với thực tại hơn.
Đến đây có một câu hỏi được mọi người quan tâm: Phải chăng, với sự tiến triển một cách biện chứng giữa khoa học vả triết học, chúng ta sẽ tìm thấy được “thực tánh của các pháp” hay còn gọi là “thực tại tối hậu”?
Lý Duyên khởi sẽ trả lời rằngL Không!
Lý Duyên khởi chỉ ra rằng, tất cả các pháp do nương tựa vào nhau mà lập, làm duyên cho nhau để cùng sanh khởi nên chúng ta luôn tìm thấy được sự tương quan, tương tác, nhân quả giữa các pháp, nhưng chẳng bao giờ tìm thấy được thực tánh hay thực tại tối hậu vì các pháp vốn 
“không tánh” (Chính vì “không tánh” nên mới có duyên khởi).
Tất cả mọi học thuyết (trong đó có triết học và khoa học) đều phải có ít nhất là một tiền đề. Dựa vào tiền đề, vận dụng các phương pháp luận lý mới tạo ra một hệ thống lý thuyết cho học thuyết được.
Tiền đề của học thuyết là gì?
Nó chính là điều kiện không thể thiếu để thành lập học thuyết. Nói theo lý Duyên khởi, nó là nhân duyên sanh ra học thuyết.
Thí dụ:
- Định đề Euclide là tiền đề để xây dựng nên không gian hình học Euclide.
- C = 300.000 km/s là tiền đề căn bản của thuyết Tương đối.
- Có học thuyết lấy Thượng đế làm tiền đề, để thành lập ra học thuyết triết học Duy tâm.
Thực tế được nhận thức qua một tiền để là một thức tế đã bị điều kiện hóa (đã có một điều kiện ban đầu). Vì các pháp được điều khiển bởi “tánh không” nghĩa là, không bị ràng buộc bởi một điều kiện ban đầu nào cả, nên trên thực tế, bao giờ chúng ta cũng sẽ tìm thấy những sự, những vật ở bên ngoài phạm vi mà tiền đề đã lập định. Nói cách khác, thực tế qua lăng kính của tiền đề chỉ là một phần của thực tế, do đó mọi lý thuyết có tiền đề vẫn chỉ là một thiên kiến chứ chẳng phải là thực lý.
Tóm lại…
- Nếu có một tiền đề thì học thuyết đó chỉ là một thiên kiến (dù tiền đề đó có tinh tế và bao quát đến đâu đi chăng nữa).
- Nếu không có tiền đề thì không có học thuyết, không có triết học, không có khoa học.
Lại nữa, xét về bản chất, mọi học thuyết đều là những sản phẩm của tri thức, mà tri thức lại phài dựa trên những khái niệm. Bất kỳ một khái niệm nào cũng phải dựa vào các khái niệm khác mới trở nên có ý nghĩa (nếu không tin, các bạn thử nêu ra một khái niệm, không dựa vào khái niệm mà vẫn có một ý nghĩa). Do đó, tri thức nói chung, các học thuyết nói riêng, đều là những nhận thức có điều kiện nên không thể nhân ra thực tánh. Tri thức của chúng ta không thể là phương tiện đưa đến thực tại tối hậu được. Thực tánh ở bên ngoài mọi điều kiện, mọi ràng buộc, mọi giả định của tâm thức. Nó tuyệt đối tự do, tự tại.
Kết luận như thế, không có nghĩa là chúng ta phủ định mọi giá trị của khoa học và triết học. Khoa học và triết học đã đóng một vai trò tích cực trong việc cải thiện đời sống, nâng cao tri thức của nhân loại. Nhờ đó đại chúng có điều kiện đến gần với chánh pháp. Nói cách khác, dù khoa học và triết học không thể dẫn đến cứu cánh tối hậu, nhưng chúng vẫn có tác động rất tích cực đối với đời sống của nhân loại về cả tinh thần lẫn vật chất, nếu chúng ta biết cách ứng dụng.
Sự xuất hiện của triết học Mác-Lê, đã làm sáng tỏ sự tương quan biện chứng giữa quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất. Dựa vào đó, các dân tộc dù nhược tiểu, vẫn vạch ra được những phương cách đấu tranh có hiệu quả để thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập tự do. Nếu không, thế gian chỉ còn lại hai hạng người: Một số ít là những kẻ thống trị và số đông đại chúng là những người bị thống trị. Trong một xã hội như thế các tư tưởng cao đẹp của đạo Phật như từ - bi, bác – ái, công - bình, bình – đẳng.....sẽ không có chỗ đứng, vì không phù hợp với lợi ích của kẻ thống trị. Nếu có, thì cũng bị xuyên tạc, bóp méo trở thành sáo rỗng....Với đại chúng, do bị áp bức bốc lột nặng nề, nên chỉ biết cầu xin vào tha lực, đánh mất sự tự tin của bản thân. Trong hoàn cảnh như vậy, Chánh pháp chẳng thể nào xuất hiện một cách đầy đủ, và người tu cũng khó mà đạt được cứu cánh.
Sự tiến triển của khoa học, đã nâng cao đời sống và tri thức nhân loại. Tạo mọi điều kiện để đại chúng có thể hiểu được nhiều hơn về giáo lý của nhà Phật, vốn đã quá thâm sâu và khó hiểu đối với đại chúng.
Các thuyết tiêu biểu của khoa học như thuyết Tương đối, thuyết Lượng tử giúp cho đại chúng dễ dàng hiểu được lý Duyên khởi hơn. Lý Duyên khởi – phần chính yếu của giáo lý nhà Phật – đã có đủ điều kiện để trình bày trước đại chúng, vì khoa học đã dần dần làm sáng tỏ các kết quả, mà từ xưa là cả một bí ẩn, khi Đức Phật và các vị Bồ Tát đề cập đến.
Để minh chứng, xin dẫn ra một câu nói của nhà Vật lý học lừng danh của thế kỷ 20 là Robert Oppenheimer:
“Nếu ta hỏi, chẳng hạn, vị trí của hạt điện tử có ở nguyên một chỗ không, ta phải nói rằng không. Nếu ta hỏi vị trí của hạt có thay đổi với thời gian không, ta phải nói rằng không. Nếu ta hỏi hạt điện tử có đứng yên không, ta phải nói rằng không. Nếu ta hỏi nó có chuyển động không, ta phải nói rằng không”. (*)[2]
Các bạn thử liên tưởng đoạn văn trên với bài kinh Bát Nhã đã được nói ra cách đây hơn hai ngàn năm.
Đến đây, để dễ hiểu hơn chúng tối xin nói thêm về thực tánh.
Như trên đã nói, thực tánh vốn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, không thể suy nghĩ mà hiểu được (bất khả tư nghì). Tuy vậy, thực tánh không phải là một cái gì mơ hồ, huyền bí muốn hiểu sao thì hiểu. Nó đóng vai trò điều khiển vạn pháp, nên chúng ta sẽ tìm thấy dấu ấn của nó nơi vạn pháp.
Trong phạm vi ngôn từ, chúng ta có thể nói rằng, thực tánh là tánh “không tánh”. Xin nói ngay rằng, đây không phải là trò chơi chữ. Chúng ta đã gặp trường hợp như vậy trong toán học (là môn học mà chúng ta cho là cực kỳ rõ ràng và chính xác).
Chúng ta đã biết, mỗi con số tượng trưng cho một “lượng” (số lượng). “Con số không” (zéro) là một con số rất đặc biệt, nó là một “lượng không lượng” (một lượng không chứa một lượng nào trong nó cả). Vì quen nhận thức một cách rạch ròi hoặc có hoặc không, nên sự khám phá ra “con số không” thoạt tiên làm nhiều người ngạc nhiên. Tác dụng của con số không thật là to lớn. Nhờ có nó làm tâm điểm, mà hệ thông số mới được hoàn chỉnh – cao nhất là hệ thống số thực. Có hệ thống số hoàn chỉnh, toán học mới pháp triển đến mức cao như hiện nay; vì thế sự khám phá ra con số không được xem là một khám phá vĩ đại của toán học.
Trở lại với vấn đề của chúng ta, các pháp hiện bày trước mắt chúng ta với vô vàn tính cách sai biệt như dài – ngắn, lớn – nhỏ..... Một khẳng định về một pháp nào đó trong thực tế thì cũng sẽ tìm thấy được một pháp có tính cách trái ngược lại.
Ví dụ:
- Nếu cho là có hạt (cơ bản) thì cũng tìm thấy được phản hạt.
- Nếu cho là có vật chất thì cũng tìm thấy phản vật chất.
- Nếu cho rằng năng lượng có tính chất phát tán trong không gian thì cũng tìm thấy những nơi mà năng lượng thay vì phát tán lại qui tụ lại như ở lỗ đen, ở nhân của các nguyên tử, hay ở nơi vật chất (vật chất được xem là dạng “cô đặc” của năng lượng).
- Nếu cho rằng vật chất là nơi ngưng đọng của năng lượng thì lại tìm thấy được những nơi mà vật chất lại phát tán ra năng lượng như trong các phản ứng hạt nhân.
- Nếu có hình học Euclide thì cũng có hình học phi Euclide.
.....    .....    ......v.....v   .....   .....    .....    .....     .....    .....
Tóm lại, bất kỳ một tánh nào chúng ta cho là có thì sớm muộn gì cũng tìm thấy một tánh trái lại trong thực tế. Chúng ta đã biết rằng với hai tánh trái nhau thì không thể cùng ở chung một chỗ - nghĩa là, chúng không dung chứa nhau được.
Đến đây nếu đặt ra câu hỏi: Nguyên lý nào điều khiển sự vận hành của các pháp, với vô vàn tành tướng trái ngược, để tạo ra một hệ thống thống nhất, không tạp loạn, như thế giới chung quanh ta?
Rõ ràng cái nguyên lý ấy phải là “không tánh” vì nếu nó có một tánh nào đó thì nó không thể dung chứa được những tánh trái với nó, (trong trường hợp này, tánh ấy không còn là nguyên lý nữa, không phải là thực tại tối hậu nữa).
Chúng ta hãy nhìn vấn đề từ góc độ khác.
Nếu trong tự nhiên con số không (zéro) là số nhỏ nhất thì quản lý (điều khiển) bằng một cái không (tánh) là cách quản lý rộng rãi nhất.
Ví dụ: Một người nhân viên được giao một nhiệm vụ với nhiều chỉ thị đi kèm thì anh ta sẽ không có tự do như khi không có các chỉ thị đi kèm. Trong trường hợp thứ hai, anh ta sẽ có nhiều phương cách để lựa chọn hơn, khi thực thi nhiệm vụ của mình.
Cũng thế, Thực tánh quản lý thế giới bằng cái “không tánh” nghĩa là không có kèm theo một điều kiện ban đầu nào cả. Các pháp trong thực tế, khi xuất hiện không bị buộc phải tùy thuận theo một tính cách nào cả.
Với một tiền đề, chúng ta chỉ cho phép các pháp phù hợp với tiền đề đó mới được xuất hiện. Trong trường hợp này, số trường hợp xuất hiện của pháp tất yếu phải ít hơn so với sự quản lý bằng “tánh không”. Do đó mọi học thuyết, không một cái nào diễn tả hết thực tế được (nên chỉ là thiên kiến).
Giải thích thêm về “tánh không tánh”
Tánh: Tất cả mọi thứ tánh do tâm thức sáng tạo sẽ co chỗ đứng trong thực tế, nhưng nó chỉ được hiện thành tướng ở những nơi có quy định, sao cho tất cả luôn được hài hòa, không phá vỡ trật tự chung của thế giới. Đây là nghĩa tánh (điều khiển) của thực tánh. (Đến đây quí vị có thể hiểu phần nào về câu nói của Lục Tổ Huệ Năng: “Tâm là đất, tánh là vua”).
Không tánh: Tất cả mọi thứ tánh đều có thể hiện thành tướng trong thực tế, nhưng thực tánh lại không thuộc về bất kỳ một tánh tướng nào cả, nó vẫn ở bên ngoài mọi tánh, tướng do tâm thức dựng lập. Đây là nghĩa không tánh của thực tánh.
Ý thức phân biệt hiện có trong mỗi chúng ta chỉ có thể nhận ra phần “không tánh” chứ không thể nhận ra phần “tánh” của thực tánh được (vì thế để tu hành chúng ta thường dùng pháp quán không, quán huyễn....). Vì lý do này, khi lý giải chúng ta chỉ nói “không tánh” chứ không dùng “thực tánh”, vì khả năng của ngôn từ chỉ đến đấy là cao nhất. Thực tánh phải do mỗi người tự ngộ (nhận ra căn bản trí) rồi sau đó mới có thể nhận ra sự điều khiển của nó đối với vạn pháp (hậu đắc trí).
- Thực tánh chỉ huy, điều khiển vạn pháp nên còn có tên gọi là pháp vương.
- Thực tánh dung chứa được mọi tánh, làm chủ mọi tánh mà không một tánh, tướng nào làm chủ được nó, nên còn được gọi là chân ngã.
- Thực tánh quy định một pháp nào đó, khi vận hành phải đi theo những con đường có quy định để hài hòa với các pháp khác nên còn có tên là đạo.
Thực tánh mới là “thực tại tối hậu”. Những gì học hiểu được, những gì do tâm thức sáng tạo ra chỉ là những cái bóng của thực tánh. Vì lý do này, dù khoa học hay triết học có phát triền tới đâu cũng không bao giờ dẫn đến thực tại tối hậu cả.
Thực tánh chỉ được nhận thức ra khi tâm thức không còn nương tựa vào đâu cả (nương vào một tiền đề, một khái niệm) mà vẫn liễu biệt được thực tế (chữ thừa có nghĩa là nương. Vì lý do trên mà kinh nói không thừa là Phật thừa, là Tối thượng thừa).

Cùng lý....
Nếu chịu khó suy gẫm, chúng ta sẽ thấy “tánh không” in dấu của nó khắp nơi trong thực thế nơi các cặp đối đãi như hạt – phản hạt, vật chất – phản vật chất, sự phát tán – sự hội tụ.
“Tánh không” còn in dấu của nó một cách tế nhị hơn ở nơi các cặp tương đãi mà Trung Luận đã dẫn ra. Nơi các cặp tương đãi, chúng ta vẫn không thể khẳng định hay phủ định gì cả.
Nhìn lại quá trình tiến hóa tri thức của nhân loại, chúng ta đã từng có nhiều ảo tưởng về tri thức của chính mình. Đã có thời chúng ta tin rằng, triết học sẽ dẫn đến cứu cánh. Khi triết học đi đến chỗ bế tắc, chúng ta lại hy vọng ràng chính khoa học sẽ dẫn đến cứu cánh. Khi có một quan điểm mới ra đời như Trường, Thuyết Tương đối, Thuyết Lượng tử...v...v...Chúng ta lại tưởng rằng, mình đã nắm được cái chỏm tóc của thực tại và có thể lý giải được mọi hiện tượng có trong cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, chúng ta lại thấy những khiếm khuyết của học thuyết mới, mà vẫn không thể hiểu tại sao thực tế lại trớ trêu như vậy. Lý Duyên khởi đã cho chúng ta thấy rằng, chính tiền đề đã tạo ra học thuyết hoặc là ngược lại, chính học thuyết đã tạo ra tiền đề.
Ví dụ:
- Vì C = 300.000 km/s mà có được thuyết Tương đối.
- Vì có lý thuyết Trường mà có tầm lớn của điện tích hạt điện tử.
Nếu gọi tiền để là A và hệ thống lý thuyết của học thuyết là B thì chúng ta sẽ có: Nhân A mà biết B và nhân B mà biết A.
Rốt ráo, mọi học thuyết sẽ tương ưng với một thực tại, đã bị điều kiện hóa bởi tiền đề của học thuyết đó. Mọi tiền đề sẽ dẫn đến một mô hình lý thuyết của thực tại. Không một cái nào là thực tại như chính nó cả. Cả hai – tiền đề và mô hình lý thuyết – chỉ là những sản phẩm duyên khởi và không tánh. Tột cùng của tri thức, của luận lý chỉ là thế mà thôi. Vì thế Trung Luận thường lặp đị lặp lại “nhân A mà biết B, nhân B mà biết A chẳng có nghĩa gì hơn”.

....... Tận tánh, Phật tánh
Hỏi: Các căn thì bị hạn chế, mọi tri thức, suy tư, luận giải chỉ lòng vòng trong danh tướng. Vậy bằng cách nào chúng ta ngộ nhập Phật tánh?
Đáp: Từ chân như thực tánh, các pháp trùng trùng duyên khởi, mỗi mỗi đều là sự thị hiện của thực tánh. Thực tánh vốn sẵn đủ trong từng pháp. Nhờ thế, dù các pháp xuất hiện trùng trùng vẫn không hề tạp loạn.
Thực tánh là tánh thiên chơn. Có thế giới hay không, Phật xuất thế hay chưa xuất thế, tánh ấy vẫn như thế. Tánh này trùm khắp pháp giới nên gọi là pháp giới tánh. Ở nơi người thì gọi là Phật tánh. Tánh này vốn bình đẳng trong mọi loài chúng sanh (hữu tình cũng như vô tình), ở phàm cũng không kém, ở thánh cũng không hơn.
Từ vô thỉ đến nay, chúng ta chưa bao giờ tách rời khỏi Phật tánh của chính mình. Vậy cái gì ngăn trở không cho chúng ta ngộ, nhập Phật tánh?
Thật ra các căn dù có hạn chế vẫn không có lỗi gì cả. Điều ngăn trở không cho chúng ta ngộ nhập thực tánh là do thái độ nhận thức của chúng ta đối với các pháp. Các pháp vốn là sự thị hiện của thực tánh, nhưng thực tánh không phải là các pháp. Nếu chúng ta không khởi lên các phân biệt “có – không”, không để nhận thức rơi vào phân biệt, thì đây là cách nhận thức phù hợp với thực tánh. Nếu làm ngược lại thì chúng ta đang xa cách dần với thực tánh.
Trung Luận đã chứng minh rằng mọi phân biệt nhị biên đều không phù hợp với thực tế. Chính do những phân biệt sai lầm này mà Phật tánh, dù luôn hiện diện, chúng ta vẫn không nhận ra nó. Lìa được mọi kiến chấp, phân biệt thì ngay đó là Phật tánh.
Các kiến chấp, phân biệt đã có từ vô thỉ đến nay, nên khi tiếp duyên xúc cảnh, tâm chúng ta liền bất giác khởi lên các phân biệt che lấp Phật tánh. Vì lý do này, dù Phật tánh đang hiện diện ở nơi từng sự từng vật, chúng ta vẫn không thể nào nhận ra nó. Chỉ còn một cách là phải phản quan tự kỷ, chiếu soi vào trong tâm thức của chính mình, hầu nhận ra và loại trừ được các phân biệt sai lầm hiện có trong tâm thức. Đây chính là điều kiện để Phật tánh tự hiển lộ.

Đại trí Như Lai
Chúng ta đang sống với các nhận thức nhị biên. Chúng ta phân biệt pháp này với pháp khác dựa trên sự so sánh, đối đãi giữa các pháp (y tha khởi). Nói cách khác, chúng ta dựa vảo tướng để biết về tướng. Cách nhận thức như vậy chỉ đem lại những tri kiến hạn hẹp và đầy sai lầm. Nếu đứng từ tánh để nhận thức về tướng, thì đây là nhận thức như thật đối với các pháp. Vì tánh vốn không đổi, vốn “như” nên cách nhận thức như vậy gọi là Như Lai (như pháp tướng mà hiểu – Luận Đại Trí Độ).
Tất cả các pháp, tất cả mọi thế giới đều là sự thị hiện của thực tánh, vì thế đứng từ tánh để biết tướng sẽ không bị ngăn ngại bởi tướng. Do đó “trong một niệm thấy tâm tất cả mọi chúng sanh, trong một niệm biết hết quá khứ, vị lai” (kinh Hoa Nghiêm). Trí này trùm khắp pháp giới, xuyên suốt ba thời. Trí tuệ bao la, sâu thẩm ấy gọi là Đại Trí Như Lai.
Nếu xem đại trí là biển cả thì các tri thức hiện có trong mỗi chúng ta chỉ giống như một hòn bọt trên mặt biển mà thôi. “Lạ thay tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai, vì vọng tưởng chấp trước mà không tự giải thoát được” (lời của đức Phật khi ngài mới thành đạo). Chúng ta ai cũng cho rằng sự hiểu biết của mình là đúng đắn, vì chấp thủ vào tri kiến nên chúng ta đánh mất đại trí “thí như bỏ đi trăm ngàn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một hòn bọt nổi cho là nước toàn bể cả...Như Lai nói là đáng thương xót” (Kinh Lăng Nghiêm). Lỗi lầm là do bất giác khởi lên các phân biệt, rồi y cứ vào đó mà luận lý, lý giải. Thực pháp, thực tánh không có chỗ để phân biệt. Mọi lý luận chỉ là hí luận, nói cho vui, không có ích gì, lại làm che lấp Phật tánh của chính mình. Thế nên “không hí luận là đại trí huệ (Sau Cửa vào Động Thiếu Thất – Tổ Bồ Đề Đạt Ma).
Vô vàn thế giới sai biệt là kết quả của những nhận thức sai khác về thế giới Hoa Nghiêm sự sự vô ngại, tất cả đều do quên tánh mà sinh ra cái nhiều. Nếu không quên tánh (không mê tánh) thì đó là thế giới sự sự vô ngại. Vì thế, ngay tại đây là niết bàn, ngay tại đây là tịnh độ, ngay tại đây là cực lạc.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.

No comments:

Post a Comment