Thursday, November 17, 2016


TRĂNG TRÒN THÁNG CHÍN (VAP FULL MOON POYA DAY).

Trăng tròn tháng Chín âm lịch (tháng Assayuja) theo truyền thống Phật giáo Nam truyền là ngày chư Tăng kết thúc ba tháng an cư mùa mưa. Và vào ngày này, chư Tăng sẽ tụ họp lại nơi Sīmā để làm lễ Tự tứ (Pavāraṇā). Ý nghĩa chính thức và chủ yếu của Pavāraṇā có nghĩa là sự thỉnh cầu (pavāreti), sự yêu cầu hay nói cách khác là sự thỉnh tội, tức là thỉnh cầu chư Tăng chỉ lỗi, nhắc nhở, khuyên bảo bằng tâm từ do thấy, do nghe, do nghi để vị Tỳ khưu ấy thấy lỗi của mình mà sửa sai và hoàn thiện bản thân.
646675
Đặc biệt, một sự kiện duy nhất trong cuộc đời đức Phật xảy ra vào ngày này đó là sự kiện đức Thế Tôn thuyết Thắng pháp (Abhidhamma) trên cõi trời Tāvatiṃsa để tiếp độ mẫu thân khi ấy là một nam Thiên tử. Được biết, sau khi hạ sanh Thái tử bảy ngày, mẫu thân của Ngài thăng hà và tái sanh lên cõi trời Tusita làm một Thiên tử tên là Santusita. Vào năm thứ bảy sau khi thành đạo, tức là mùa mưa thứ bảy, Thế Tôn ngự lên cõi Tāvatiṃsa an cư ba tháng và thuyết về Thắng pháp để tế độ cho Thiên tử Santusita đắc được Thánh quả Dự lưu. Ngoài ra đó còn có hơn tám trăm triệu Thiên tử đắc được Thánh quả.[1]
life-of-buddha-44
Trong suốt ba tháng mùa mưa này, mỗi ngày, đức Phật dùng thần thông hóa hiện ra một vị Phật nữa để thuyết pháp, còn Ngài đi khất thực tại Bắc-cưu-lưu-châu, sau khi khất thực xong thì Ngài ngự đến rừng cây Candana ở khu vực rừng Tuyết sơn, gần hồ Anotatta độ vật thực và có Tôn giả Sāriputta phục vụ mỗi ngày. Sau khi thọ thực xong, Thế Tôn tóm tắt lại những gì Ngài đã thuyết cho Tôn giả Sāriputta nghe. Rồi sau đó Ngài trở lại cõi trời Tāvatiṃsa để tiếp tục thuyết pháp.
Vào ngày kết thúc mùa an cư, đức Thế Tôn từ cõi trời trở về địa cầu bằng chiếc thang ngọc do Thiên chủ Sakka hóa hiện ra, bên phải có chiếc thang bằng vàng cho chư thiên và bên trái có chiếc thang bạc cho chư đại phạm thiên. Từ cõi trời bước xuống, nơi đầu tiên đặt chân ở địa cầu là cổng thành Saṅkassa. Vì lý do đặc biệt này, cổng thành Saṅkassa là một trong số những địa điểm sẽ không bao giờ thay đổi của thế gian này, và tất cả chư Phật đều giáng trần tại đây sau khi thuyết Abhidhamma.[2] Đây là một sự kiện vô cùng đặc biệt chỉ duy nhất một lần và xảy ra vào đúng ngày trăng tròn tháng Chín, tức là ngày kết thúc ba tháng an cư mùa mưa theo Luật định.
%e0%b9%80%e0%b8%97%e0%b9%82%e0%b8%a7%e0%b9%82%e0%b8%a3%e0%b8%ab%e0%b8%b0%e0%b8%99%e0%b8%b0
Một sự kiện khác, theo truyền thống Phật giáo Sri Lanka, ngày trăng tròn tháng Chín còn đánh dấu sự kiện Trưởng lão Ni Saṅghamittā thỉnh nhánh Bồ-đề từ Ấn Độ sang Sri Lanka vào năm thứ mười hai của triều đại Asoka.
Lịch sử ghi lại rằng: vào ngày trăng tròn tháng Poson (tháng Năm âm lịch), năm Phật lịch 236, phái đoàn do các trưởng lão Mahinda, Iṭṭhiya, Uttiya, Sambala, Bhaddasāla và Sa-di Sumana đặt chân lên đảo và từ đó Phật giáo chính thức được công nhận tại xứ này. Về sau Xá-lợi Phật được cung thỉnh từ vua Asoka về Sri Lanka và được tôn trí tại bảo tháp Thūpārāma Dāgaba. Nhiều tháp, nhiều đền thờ và tự viện được tạo dựng trong thành phố Anuradhapura và nhiều thánh địa khác. Sự kiện nhà vua dâng cúng công viên Mahā Meghavana đến Tăng đoàn là một diễn biến quan trọng, bởi vì chính tại nơi đây mà ngôi Đại tự viện Mahāvihāra được thành lập và trở thành một trung tâm văn hóa Phật giáo lớn nhất lúc bấy giờ.[3]
Ngài Mahinda thuyết giảng nhiều nơi tạo niềm vui cho vua và cho người dân thường. Từ đó, được đông đảo quần chúng nhân dân xin quy y Tam Bảo và những người trong hoàng cung cũng lấy làm hoan hỉ lắng nghe những lời dạy của Ngài mà từ trước đến này chưa từng được nghe, được biết về giáo lý của đức Phật. Trưởng lão Mahinda đến Tích Lan đánh dấu trang sử mới cho nền văn hóa tích lan. Với chương trình truyền bá sâu rộng, tổ chức chặt chẽ, cùng với sự hưởng ứng tích cực của triều đình, hoàng tộc và giáo lý Phật đã chinh phục tâm hồn và tình cảm của dân chúng Tích Lan. Mặc dầu trên hòn đảo này có nhiều giáo phái nhưng không có một tổ chức nào đủ uy tín và đem lại cho họ một nếp sống mới mà từ trước tới giờ họ chưa từng có. Một nếp sống giản dị, thuần lương, đạo hạnh của chư tăng là sức hấp dẫn, là niềm rung cảm lớn đối với vua chúa, quan quyền, thứ dân. Nếp sống đạo đức có tín ngưỡng đem lại hạnh phúc, an bình mà bấy lâu người dân Tích Lan mong đợi.
Vua Devanampiya Tissa mở rộng tối đa sự bảo trợ của mình để ngài Mahinda xây dựng một Phật giáo vững chắc ở Sri Lanka. Sau khi nghe Trưởng lão Mahinda thuyết giảng, Hoàng hậu Anulā, vợ của Phó vương Mahānāga, phát tâm tín thành nơi lời dạy của đức Phật và ngỏ ý muốn xuất gia để trở thành một vị Tỳ-khưu-ni. Khi biết được ý định này, ngài Mahinda nói với vua rằng theo đúng giới luật tu sĩ, Ngài không thể truyền giới cho phụ nữ. Ngài đề nghị nhà vua gửi văn thư đến vua Asoka yêu cầu vua Asoka gửi con gái của vua là Trưởng lão ni Saṅghamittā[4] sang đảo quốc và đem theo một nhánh của cây Bồ-đề tại Bồ-đề Đạo tràng, nơi đức Phật đã thành đạo.
Lúc bấy giờ, bang giao giữa hai triều đình rất tốt đẹp, nên vua Devanampiya Tissa không ngần ngại gửi một vị quan là ngài Arittha đến thành phố Pāṭaliputta (bây giờ là Patna) của xứ Ấn Độ để gặp vua Asoka, chuyển đạt lời thỉnh cầu ấy. Lúc đầu, vua Asoka ngần ngại không muốn gửi con gái mình ra đi truyền giáo ở nước ngoài, nhưng vì Trưởng lão ni Saṅghamittā cương quyết yêu cầu nhà vua cho phép bà xuất dương đi hoằng đạo, nên sau cùng, vua Asoka đồng ý.
sanghamitta1
Một đoàn Tỳ-khưu-ni cùng lên thuyền đi với bà Saṅghamittā, vượt biển sang đảo quốc, mang theo nhánh cây Bồ-đề với sự hướng dẫn của quan Arittha. Đây là một việc làm dũng cảm của bà Saṅghamittā, vì vào thời đó, khi người ta vẫn còn có thành kiến xem thường phụ nữ thì bà Saṅghamittā đã có đủ nghị lực và can đảm để thực hiện cuộc hành trình vượt biển đầy nguy hiểm, mà không có người trong hoàng tộc cùng đi để bảo vệ Bà. Tại cảng Jambukolapattana (nay là cảng Pedro, bán đảo Jaffna), vua của đảo quốc cùng với Trưởng lão Mahinda và rất đông các tín đồ Phật tử đã ra nghênh đón Trưởng lão ni cùng với Ni chúng từ Ấn Độ sang mang theo nhánh cây Bồ-đề.[5] Vua Devanampiya Tissa, ngài Mahinda và triều thần đã đến tận cảng để chào đón đoàn. Đức vua đã quỳ gối đi xuống tận bãi biển để tiếp nhận cái bát có chứa nhánh của cây Bồ-đề. Hai bên đường từ cảng Jumbukola Pattuna đến vườn Mahameghavana trong thành Anuradhapura đều được trang trí để chào mừng sự kiện này. Nhánh cây Bồ-đề thiêng và những người tùy tùng đã được đón rước theo nghi thức hoàng gia.
Nhà vua đã tổ chức buổi lễ tiếp rước rất long trọng và rất đông dân chúng đã tham gia cùng với phái đoàn truyền giáo đưa nhánh cây này về kinh đô Anuradhapura. Trên đường đi, một buổi lễ tiếp đón đã được tổ chức tại làng Bà la môn Tivakka. Từ đây đám rước tiến thẳng đến thành Anuradhapura. Cuộc hành trình kéo dài 14 ngày bằng đường bộ. Nhánh cây này được trồng trong vườn Mahāmeghavana tại một nơi tôn nghiêm.
Sau đó cây Bồ-đề thiêng sinh ra tám hạt. Ba người tham gia trong buổi lễ trồng cây Bồ-đề đã được tặng ba cây trong số đó. Tám cây Bồ-đề con đã được trồng ở những nơi sau đây: cảng Dambakolapattuna, làng Bà-la-môn Tivakka, Thūpārāma, Issaramaṇārāma, Pathamacotiya, lâm viên của Cetiya, Kājaragāma và Candanāgāma. Sau này có tất cả 32 cây giống của cây Bồ-đề thiêng đã được trồng ở các vùng khác nhau của Sri Lanka.[6] Người dân Sri Lanka đã chăm sóc cây Bồ-đề này không hề gián đoạn.
Từ ngày ấy cho đến nay, trong suốt 23 thế kỷ qua, vua chúa và dân chúng đảo quốc Sri Lanka tiếp tục gìn giữ, bảo vệ và tôn quý cây Bồ-đề này như là một bảo vật quốc gia. Lịch sử ghi lại rằng cây Bồ-đề thiêng tại Bồ-đề Đạo Tràng ở Ấn Độ đã bị phá hủy vào chính thời của Hoàng đế Asoka. Nhưng nhánh cây được trồng ở Sri Lanka vẫn đang nở rộ trong sân của ngôi đền Sri Maha Bodhi tại thành Anuradhapura. Trong số tất cả các cây trên thế giới được lịch sử ghi lại, cái cây đặc biệt này được cho là lâu đời nhất.
Sau đó, Hoàng hậu Anulā cùng với tùy tùng của nàng gồm 500 người được xuất gia Tỳ-khưu ni với sự chứng minh của hai phái Tăng-Ni. Sau đó, tất cả đều chứng đắc đạo quả A-la-hán. Hoàng tử Ariṭṭha cũng cùng với đám tùy tùng gồm năm trăm người sau khi thọ phép xuất gia từ trưởng lão Mahinda, rồi cũng chứng đắc đạo quả A-la-hán.[7]
Rañño pañcasatā kaññā aggajātā yasassinī,
pabbājiṃsu ca tā sabbā vītarāgā samāhitā.
Năm trăm công nương dòng dõi cao quý có danh tiếng đã xuất gia.
Và tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái và định tĩnh.
Kumārikā pañcasatā anulāparivāritā,
pabbajiṃsu ca tā sabbā vītarāgā ahū tadā.
Năm trăm cung nữ tùy tùng hoàng hậu Anulā đã xuất gia.
Và khi ấy, tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái.
Ariṭṭho khattiyo nāma nikkhanto ca bhayaddito,
pañcasataparivāro pabbaji jinasāsane.
Vị Sát-đế-lỵ tên Ariṭṭha đã được thoát khỏi nỗi dày vò vì sợ hãi cùng với đoàn tùy tùng năm trăm người đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Sabbevārahappattā sampuṇṇā jinasāsane,
hemante paṭhame māse pupphite dharaṇīruhe, 
āgato so mahābodhi patiṭṭho tambapaṇṇike’ti.
Tất cả đều thành tựu A-la-hán quả và được hoàn thiện trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Vào tháng thứ nhất của mùa lạnh lúc cây cối trên trái đất đã nở hoa, cội Đại Bồ-đề ấy đã ngự đến và đã được thiết lập ở xứ sở Tambapaṇṇi.[8]
Thời gian ấy, trưởng lão ni Saṅghamittā cùng với hội chúng Tỳ-khưu ni trú tại ni viện Upāsikāvihāra. Sau đó, đức vua cho kiến tạo thêm mười hai ni viện và cúng dường đến ni chúng. Tiếp theo, vua còn xây thêm một ni viện khác tên là Hatthāḷhakavihāra để cúng dường đến trưởng lão ni Saṅghamittā. Như vậy, sự có mặt của phái đoàn trưởng lão Ni Saṅghamittā đã thiết lập nên hội chúng ni ở Sri Lanka.
Như vậy, trăng tròn tháng Chín đánh dấu ba sự kiện. Thứ nhất là ngày kết thúc ba tháng an cư mùa mưa và thời gian một tháng cuối mùa mưa này chư Tăng được phép nhận y Kaṭhina theo Luật được chế định. Thứ hai là sự kiện đức Thế Tôn trở về trần gian từ cõi Tāvatiṃsa sau ba tháng ăn mùa mưa vào năm thứ bảy của sự nghiệp hoằng Pháp của đức Thế Tôn. Và sự kiện thứ ba xảy ra vào năm thứ mười hai của triều đại vua Asoka, phái đoàn của Trưởng lão Ni Saṅghamittā thỉnh nhánh Bồ-đề từ Ấn Độ sang Tích Lan và đặt nền mống cho sự hình thành hội chúng Tỳ-khưu-ni trên quốc đảo này.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

[3] Mahāvihāra trở thành nổi tiếng và đào tạo nhiều học giả uyên thâm lỗi lạc từ những lãnh thổ khác nhau. Ðược biết nhiều nhất là ngài Buddhaghosa và ngài Dhammapāla, đến từ Ấn Ðộ, là những nhà chú giải đã viết ra nhiều bộ chú giải quý giá về Kinh điển Phật Giáo, trong khi lưu ngụ tại ngôi tự viện Mahāvihāra.
[4] Trưởng lão ni Saṅghamittā là công chúa của Vua Asoka và là bào muội của Trưởng lão Mahinda. Bà sanh tại Ujjeni, đã thành hôn với Aggibrahmā (về sau cũng đi xuất gia), và có một con là Sa-di Sumana. Lúc lên 18, bà được truyền giới cùng lúc với ngài Mahinda; Trưởng lão ni Dhammapālā làm sư tế độ và Trưởng lão ni Āyupālā làm giáo thọ. Sau khi đắc quả A-la-hán, bà về trú trong Pāṭaliputta. (Mhv.v.190-208; Dpv.vi.17)
[5] Tàu của Trưởng lão ni Saṅghamittā cùng phái đoàn đã cập bến cảng Jambukolapattana tại Sri Lanka vào ngày trăng tròn tháng mười một âm lịch. Ngày nay, tại Sri Lanka, vào ngày này cả nước tổ chức lễ hội vui mừng để đánh dấu sự kiện thỉnh được nhánh Bồ-đề từ Ấn Độ sang Sri Lanka. Lễ hội này gọi là Unduvap Poya.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.18/11/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment