KINH ĐẠI ÁI ĐẠO.
Khi đức Thế Tôn tại tinh xá Thích Thị, nước Ca-tỳ-la-vệ cùng với chư Tỳ- kheo câu hội đầy đủ. Bấy giờ, ngài Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Di Mẫu, Kiều Đàm Di, Đại Ái Đạo-chú thích của ban biên tập) đi đến chỗ đức Thế Tôn, đầu đảnh lễ Phật và đứng qua một bên, chắp tay bạch Phật rằng: “Con nghe nếu người nữ tinh tấn tu hành sẽ chứng được tứ quả Sa- môn, xin đức Phật cho phép chúng con được lãnh thọ pháp luật của Ngài, xuất gia hành đạo, con tuy ở nhà nhưng có niềm tin và sự an lạc”. Đức Phật bảo: “Không được Kiều Đàm Di! Ta không vui khi có người nữ vào trong pháp luật và mặc pháp phục của ta, suốt đơi chính mình phải giữ cho được thanh tịnh, phạm hạnh tự tuân thủ, chưa từng khởi tưởng, điềm nhiên như đạo, không có dục niệm, lấy tâm không tịch tĩnh làm niềm an lạc”. Bấy giờ, Đại Ái Đạo hết sức bi cảm, bạch Phật: “Con thực hành như thế có được không, xin đức Thế Tôn hãy nhìn xem và độ chúng con đến bờ Niết bàn.” Qua mấy lần Ma-ha Ba-xà-ba-đề thưa thỉnh như thế, đức Phật không muốn nghe, bà liền đi đến trước đức Phật nhiễu xung quanh và cáo lui.
Sau đó không lâu, đức Phật cùng chư đại Tỳ- kheo đi vào tinh xá Thích Thị, tại nước Ca-tỳ-la-vệ. Bấy giờ, Đại Ái Đạo nghe tin đức Phật cùng chư đệ tử đi vào thành, tâm rất hoan hỉ, liền đi đến chỗ đức Phật, chắp tay đảnh lễ dưới chân Phật và ngồi qua một bên, bà chắp tay quỳ xuống trước Phật mà thưa rằng: “Con nghe nếu người nữ tinh tấn tu hành có thể chứng được tứ diệu quả, xin Ngài cho phép chúng con được vào trong pháp luật của Ngài, để đạt được chân đạo quả…..” Qua ba lần thưa thỉnh đều bị đức Phật từ chối, Di Mẫu trong lòng đau buồn hối hận, nước mắt tuôn trào, trong lòng tự nghĩ: Làm người nữ mang tâm trạng tội lỗi như thế ư! Nên bà phát đại nguyện: Nguyện cho hàng Bồ- tát, loài nhân, phi nhân, chớ mang tư tưởng trở lại làm người nữ, nay cần phải cầu thỉnh Phật, nguyện trọn đời không giải đãi.
Bấy giờ, đức Phật và đại chúng lưu lại Ca-tỳ-la-vệ, tránh mưa ba tháng mùa hạ, chờ khi các y bá nạp may xong, liền mang y bát ra khỏi nước. Đại Ái Đạo cùng chư nữ nhơn, liền lên đường đi theo Phật. Phật biết và chuyển hướng đến Phệ Xá Ly, dừng nghỉ bên dòng sông. Đại Ái Đạo cũng đến nơi đảnh lễ Thế Tôn và đứng qua một bên, chắp tay bạch Phật rằng: “Con nghe người nữ nếu tinh tấn tu hành sẽ chứng được Tứ quả, xin đức Thế Tôn cho chúng con được vào trong Pháp luật của Ngài, con ở trong gia đình có niềm tin và sự an lạc, biết đời là vô thường, nên muốn xuất gia hành đạo. Đức Phật bảo: Thôi đi Kiều Đàm Di! Ta không vui khi cho người nữ vào trong Pháp luật và mặc pháp phục của ta.
Lần này bị đức Thế Tôn từ chối, ngài Kiều Đàm Di đảnh lễ đức Thế Tôn rồi cáo lui, ra ngoài cổng với hình hài y rách nát, chân không mang dép, khóc như mưa, mặt mũi dơ bẩn cấu uế, y lấm đầy bụi bặm, thân thể mệt mỏi, khóc sụt sùi tiếng bi thảm, không thể tự kềm chế được nữa, trong lòng hối hận buồn tủi vì người nữ có 84 trạng thái bất thiện, tánh trượng phu bị mê muội làm mất hết đạo đức, đức Phật trong lòng biết rõ như thế, người nam có trí tuệ hơn người nữ. Thật khó, thật khó! Ta nay dùng tâm trạng thái tham dục như thế, tự chính mình phải thanh tịnh, không dám quyết đoán. Đức Phật trong lòng suy nghĩ: Con phải độ mẹ, cuối cùng không mất đi bổn nguyện của con. Hiền giả A Nan, thấy tâm trạng Đại Ái Đạo như thế trong lòng không vui, liền đi đến hỏi: “Này Kiều Đàm Di, tại sao y phục của người đầy bụi bặm, chân trầy xước cả, mặt mũi lấm lem, thân thể dơ bẩn. Đại Ái Đạo trả lời: Hiền giả A Nan, người nữ tôi nay muốn vào trong Phật pháp nhưng bị Phật từ chối, cho nên trong lòng rất đau buồn.
A Nan bảo: Thôi đi Kiều Đàm Di! Tự mình phải hóa giải, đừng có đau xót nữa, để ta đi vào bạch Thế Tôn xem thế nào. Câu nói này làm cho Kiều Đàm Di trong lòng an ổn trở lại, sinh tâm hoan hỷ.
Đại Ái Đạo nói: A Nan, chỉ có hiền giả mới thấy biết việc này, xin Ngài độ cho tôi được thành tựu sở nguyện. Hiền giả A Nan liền đi vào, chắp tay đảnh lễ, quỳ dưới chân Phật mà bạch ba lần: “Con nghe từ nơi Phật nói rằng, người nữ tinh tấn tu hành sẽ chứng được Tứ quả Sa- môn. Nay Đại Ái Đạo chí thành muốn được vào trong Phật pháp, bà ở trong gia đình có niềm tin và sự hoan lạc, nhưng thấy đời là vô thường, tự bà biết được sâu xa việc này, nhận được sự thật của cuộc đời, nay muốn xuất gia làm đạo, xin Phật hứa khả.
Đức Phật bảo: Thôi đi A Nan! Ta không vui khi cho phép mẹ ta và chư nữ nhơn được vào trong pháp luật của ta làm Sa- môn. Vì sao, vì điều ấy làm nguy hiểm cho kẻ sĩ thanh cao, làm cho đất thanh tịnh của Phật pháp không được trường tồn, cũng ví nhà có người nữ nhiều, người nam ít, nhà ấy tất sẽ bị suy vi, không cường thịnh được. Nay ta cho phép mẹ ta và chư nữ nhơn vào trong pháp luật của ta, làm cho cõi đất thanh tịnh Phật pháp phạm hạnh rộng lớn không được hưng thịnh, lại ví như đám ruộng lúa tốt sắp chín, bị một trận sương khí xấu, làm cho các hạt thóc tốt đều bị hư hoại. Vì sao vậy A Nan! Cũng ví như đám ruộng tốt, cầm loại cỏ tật lê[①] trồng xuống đó, thì đất ruộng kia sẽ bị hư hỏng. Nay ta cho mẹ ta và chư nữ nhơn vào trong pháp của ta thì cũng như thế; khi người nữ vào trong Pháp luật của ta, khi không thành tựu pháp của ta, dựa vào pháp của ta muốn phá hoại phạm hạnh thanh tịnh kia, khiến họ ở trong đó gieo trồng tội căn.
A Nan lại thưa: Nay Đại Ái Đạo, có nhiều duyên lành với Phật, khi Ngài mới sinh ra, chính bà đã nuôi dưỡng Ngài trưởng thành, niềm an lạc và công đức của Ngài đều do sự dưỡng dục của Bà.
Đức Phật bảo A Nan: Điều đó đúng, Đại Ái Đạo có nhiều công lao và thiện tâm đối với ta, ân đó đối với ta rất lớn, ta được sinh ra bảy ngày thì mẫu thân ta quá vãng, Đại Ái Đạo đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Nay ta là bậc tối tôn trong thiên hạ, và đã thành Phật, danh hiệu là Như Lai Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, ân đức của Bà đối với ta rất nhiều, ta nghĩ Đại Ái Đạo có trọng ân lớn đối với ta; như Đại Ái Đạo do nhờ ân này mà được quy y Tam bảo, lại có niềm tin đới với Tam bảo, không còn nghi hoặc đối với Tứ thánh đế, thành tựu niềm tín và chứng được thánh quả, thành tựu các giới cấm, viên mãn các pháp Lục độ: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ; tự mình có thể chế ngự được không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.
Này A Nan! Do chánh nhân như thế, nên người đó sau khi mạng chung, sẽ được cung cấp đầy đủ các thứ ẩm thực, y cụ, sàng tọa, thuốc thang, những thứ đó nhiều đến nghìn trăm vạn ức lần cũng không thể so với ân này.
Sau ba lần cầu thỉnh của A Nan, đức Phật bảo: A Nan! Giả sử mẹ ta và chư nữ nhơn muốn làm Sa- môn, thì có tám pháp họ không thể vượt qua và suốt đời cung kính thọ trì; tự chính mình có niềm tin và chuyên tâm thực hành, cũng như xây đắp đê cho tốt để đề phòng nạn thủy lụt, chớ để cho rò rỉ, mất mác, tự chính họ phải biết như thế, thì có thể vào trong pháp luật của ta. Tám điều đó là những gì?
1.Tỳ kheo ni dù 100 tuổi hạ, thấy vị Tỳ- kheo tăng mới thọ giới, cũng phải đứng lên tiếp đón lễ bái và trải tòa sạch sẽ mời ngồi.
2. Tỳ kheo ni không được chê bai mắng nhiếc Tỳ- kheo tăng.
3. Tỳ kheo ni không được cử tội, nói lỗi của Tỳ kheo tăng, ngược lại Tỳ- kheo tăng được quyền nói lỗi của Tỳ kheo ni.
4. Thức xoa ma na ( Sa di ni học pháp trước khi thọ giới Tỳ kheo ) học giới xong, nên theo chúng tăng cầu thọ đại giới.
5. Tỳ kheo ni phạm tội Tăng tàn, nên phải nửa tháng ở hai bộ tăng hành pháp Ma na đỏa.
6. Tỳ kheo ni nên trong nửa tháng theo Tỳ- kheo tăng cầu giáo thọ để học.
7. Tỳ kheo ni không được an cư ở nơi không có Tỳ- kheo tăng.
8. Tỳ kheo ni an cư kiết hạ xong, nên ở trong chúng Tỳ- kheo tăng cầu xin 3 việc ( Thấy- nghe- nghi) để tự tứ sám hối.
Đây là tám điều đức Thế Tôn dạy cho người nữ, phải thu thúc, tu trì không được sai phạm, suốt đời phải lãnh thọ. Giả sử con làm cho Đại Ái Đạo hiểu được có thể vâng giữ tám điều này, xin Thế Tôn cho phép họ được làm Sa Môn. Hiền giả A Nan nhận lãnh lời Phật xong, tâm nhiệt thành tư duy những điều quan trọng này, liền đảnh lễ cáo lui và đi đến chỗ Kiều Đàm Di thưa lại: Này Kiều Đàm Di! Chớ có ưu sầu nữa, đã xả nhà thế tục phải có niềm tin, bỏ nhà thế gian vào trong đạo tâm phải rất là an ổn. Đức Phật dạy: Ngươi nữ muốn xuất gia làm Sa môn, có tám pháp không được vượt qua, trọn đời học tập và thực hành, giữ gìn pháp ấy cũng như người giữ gìn đê điều không cho nước chảy mất. Bấy giờ ngài A Nan liền vì ngài Đại Ái Đạo và chư nữ nhơn mà thuật lại tám pháp ấy.
Bấy giờ Đại Ái Đạo nghe xong trong lòng hoan hỉ liền bạch hiền giả A Nan: Xin hãy nghe ta nói một lời: Ví như trong nhà người nữ có bốn họ, tắm rửa cho họ sạch sẽ xong, dùng y phục hoa hương trang nghiêm cho họ, mà người ấy lại muốn được lợi ích thêm nữa, như thế có được lợi ích an ổn không? A Nan trả lời: Không được an ổn. Lại dùng các loại trân châu ngọc báu kết thành tràng hoa, cầm trao cho những người nữ đó. Nay Phật dạy tám pháp ấy xong, tâm ta rất hoan hỉ, xin dùng đỉnh đầu mà thọ nhận, bằng lòng với niềm vui của các nghiệp vĩnh viễn không hối hận, trong lòng không có niềm vui nào hơn.
Bấy giờ, đức Phật liền cho Đại Ái Đạo thọ giới Sa di ni, thọ trì 10 giới cấm: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cướp; 3. Không dâm dục; 4. Không vọng ngữ; 5. Không uống rượu; 6. Không đeo tràng hoa thơm, không dùng dầu thơm xoa thân; 7. Không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không cố ý đến xem nghe; 8. Không ngồi nằm giường lớn cao rộng; 9. Không ăn phi thời; 10. Không cầm giữ sanh tượng, vàng bạc, vật báu.
Bấy giờ Sa–di- ni Kiều Đàm Di, thọ trì 10 giới rất tinh tấn, không phạm một giới nào, thường gần gũi bên đức Phật thời gian 3 năm, trí tuệ thông minh xuất chúng, tâm hoan hỉ kiên định như núi Tu di, tâm luôn đoan chánh không tà niệm, thường khởi lòng bi mẫn thương khắp chúng sanh, cho đến các loài phi trùng đều thương xót, khuyến hóa mọi người dùng thiện pháp để xa lìa khổ não, thời gian 3 năm không sai phạm một lỗi lầm nào cả, lại đi đến chỗ đức Phật trần tình, đê đầu đảnh lễ sám hối những lỗi nho nhỏ, bạch rằng: “ Đức Phật có tâm từ bi thương xót xin nói cho con biết các tội lỗi của con, dùng các kiến giải để giải thoát các nghiệp khiên, quyết không oán hận, xin Ngài vì con mà nói một lời, mười giới đủ rồi, lại có sự tổn hại 10 giới khác, vi tế không đủ để kiến tạo tâm, xin khai thị giới đạo làm cho tâm chúng con từ bi thương xót mọi loài, phải tinh học tập không giải đãi, như pháp luật mà hành trì hạnh Bồ- tát.”
Đức Phật dạy Sa- di- ni Kiều Đàm Di: “Ngươi thực hành 10 giới đúng như pháp, có thể thọ Cụ túc Đại giới, nhanh thực hành chân đế để được làm Phật; phàm có 500 việc, nếu thực hành 10 việc thì có thể đắc đạo, nếu người không thể thực hành thì không thể đạt đến đó, suốt đời không được thọ Cụ túc giới.” Bây giờ Kiều Đàm Di nghe Phật nói xong liền ngộ, trong lòng phát khởi tâm đại hoan hỉ, đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay bạch Phật: Thọ nhận ân của Phật được trí tuệ thọ 10 giới. Phật bảo Sa- di- ni, đã làm qua Sa- di- ni rồi, y theo pháp luật đó mà tu hành, phụng hành 10 việc, thì có thể nhanh được vào đạo. Mười việc là:
1. Thường có tâm từ bi, trong ngoài phải thanh khiết không có ý hại người.
2. Phải có tâm bố thí không tiếc, không cất chứa vật quý và không có ý trộm cắp.
3. Giữ tâm thanh tịnh, thủ chí không dâm dục cấu uế.
4. Thường có lòng chí thành, miệng không nói lời khác lạ.
5. Thường tự thanh tịnh, suốt đời không uống rượu say, làm loạn tâm ý.
6. Thường tự thủ chí, miệng không nói lời ác mắng nhiếc người.
7. Phải khiêm cung, tâm không cống cao, mà tham ngồi tòa cao đẹp.
8. Tiết chế trong ăn uống, ngày ăn một bữa.
9. Phải giữ tâm bình đẳng, không sinh tâm tật đố.
10. Xem chư Bồ tát và các bậc thầy như Phật.
11. Đó là 10 việc Sa- di- ni phải giữ, khiến Sa di ni tâm không tham- sân- si. Lại nữa, Sa- di- ni có 10 pháp, đó là:
1. Tâm kính Phật không tà vạy, đầu não sát đất, thường hối hận các ác nghiệp trong quá khứ.
2. Thường kính pháp, tâm giữ hiếu kính với kinh điển.
3. Thường kính tăng, giữ tâm bình đẳng, lòng chí thành.
4. Ngày đêm phải tinh tấn, đối với Thầy cũng như đối với Phật.
5. Xem tất cả chúng sinh bình đẳng như xem Thầy của mình.
6. Xem các Sa di ni, phải thương yêu cung kính như yêu kính cha mẹ.
7. Quán tất cả đều bình đẳng, cũng như anh chị em ruột.
8. Đối với các loại súc sanh phải khởi tâm từ mẫn.
9. Đối với các loài cỏ cây thảo mộc, không có tâm nhàm chán, xem chúng như tự thân.
10. Phải thương tưởng đến mười phương thiên hạ và các loài chúng sanh đang trong khổ não.
Đấy là mười pháp mà Sa- di- ni phải thực hành. Lại còn mười việc khác nữa của Sa- di- ni, đó là:
1. Thường gần gũi và làm các việc đối với Thầy đúng như pháp.
2. Phải thuận theo những lời dạy của Thầy.
3. Phải thức dậy sớm trước Thầy.
4. Tâm phải thành kính thật thà đối với Thầy.
5. Phải có lòng hiếu thuận đối với Thầy.
6. Nếu đi trong nước thấy có bậc hành đạo phải thưa hỏi đạo lý.
7. Học kinh từ chư sư, tâm phải đoan chánh, thân – khẩu – ý không giải đãi.
8. Thầy sai đi công việc phải đi nhanh về nhanh.
9. Đã làm các điều ác, phải thành thật thưa với Thầy sám hối
10. Phải có tâm tin tưởng Thầy, nghe người nói xấu Thầy thì phải tỏ ra không vui.
Đó là 10 việc của Sa- di- ni, thực hành thì mới đắc đạo. Phật dạy: Đã nói xong 10 giới Sa- di- ni, lại nói 10 hạng cụ túc, không thiếu một sợi lông tóc, không tăng không giảm, nhất tâm thọ trì. Bấy giờ Sa- di- ni Kiều Đàm Di liền đê đầu đảnh lễ mà lui ra.
Bấy giờ Kiều Đàm Di, tự chính mình kiểm tra lại 10 việc đã thọ trì, không thiếu sót một hạnh nào, nhất tâm phụng hành như trong luật dạy, không sai một điều nào, ý không thối chuyển, tinh thần thành cảm ứng. Đức Phật biết Sa di ni lòng chí thành nên bảo A Nan: Ông thấy Sa- di- ni đoan chánh cảm ứng được hàng trăm con chim hầu không? A Nan thưa: Nhờ ân của Phật. Bấy giờ Sa di ni Kiều Đàm Di lại đến chỗ của Phật, đảnh lễ rồi đứng qua một bên, chắp tay đầu đảnh lễ chân Phật. Phật lại bảo: Ân từ của Phật nhiều hơn đạo, trước nên thọ 10 giới làm Sa di ni, thứ đến thực hành hoàn tất 10 việc của Cụ túc, không suy xét kỷ cũng như không hành. Phật bảo: Đại Ái Đạo ! Ngươi nên tự biết như thế là rất tốt. Đại Ái Đạo lại bạch Phật: Mạng người vô thường thời gian trôi qua rất nhanh, như cuộc đời Đại Ái Đạo, ngày ngày đi qua, sợ không kịp Phật còn tại thế, xin Ngài từ mẫn, truyền đại giới cho con, làm cho đến được vô thượng giác, tất cả đều nhờ ơn tế độ.
Đức Phật bảo Sa- di- ni Đại Ái Đạo : Người muốn thọ Cụ túc giới là tốt. Bấy giờ, Đại Ái Đạo liền chuẩn bị y phục trang nghiêm, đến chỗ đức Phật đi nhiễu 10 vòng và đứng qua một bên, đức Phật liền truyền giới Cụ túc cho Đại Ái Đạo, làm Tỳ- kheo ni phụng hành pháp luật. Ngay đó, ngài Đại Ái Đạo liền đắc được chân đạo, thấy được nguồn gốc của sinh tử, tự thấy được chân đế, mắt có thể quán triệt tất cả, tai nghe thông tất cả tiếng, mũi có thể ngửi thiền vị, tâm biết được ý niệm của người khác, thân có thể bay. Sau đó Tỳ- kheo ni Đạo Ái Đạo cùng với chư Tỳ- kheo ni vân tập đầy đủ, đi đến chỗ hiền giả A Nan, và hỏi rằng: A Nan ! Chư trưởng lão Tỳ- kheo ni thọ đại giới đã lâu, tinh cần tu phạm hạnh, thấy được chân đế, tại sao buộc tôi phải đảnh lễ vị Tỳ- kheo trẻ mới thọ giới. A Nan đáp: Tôi chỉ là vị thị giả nhỏ, để tôi đi hỏi Phật. A Nan liền đi đến chỗ đức Phật thưa: Tỳ kheo ni Đại Ái Đạo hỏi: Chư trưởng lão Tỳ- kheo ni tu phạm hạnh đã lâu, thấy được chân đế, tại sao lại phải đảnh lễ vị Tỳ- kheo trẻ mới thọ giới.
Đức Phật bảo: Thôi đi A Nan, phải cẩn thận lời nói này, chớ được nói thế, như ông biết, thế nào là mỏng ít, ông chưa biết được một thì làm sao biết được hai, những gì ông biết cũng như ông không biết, ta đều biết chân thật. Nếu người nữ không phải ở trong giáo pháp của ta làm Sa - môn, thì ngoại đạo phạm chí và hàng cư sĩ đều đắp y trì bát để được bố thí, đầu đảnh lễ sát đất để cầu thỉnh Sa- môn. Phải nói là: Hành giả có ý chí hành trì tịnh giới, xin đáng thọ nhận y trên để dùng, làm cho con ngày đêm được phúc đức, không được gọi là số lượng mà là do tâm tính toán, xin tất cả đều được chứng minh.
Nếu người nữ không ở nơi ta làm Sa môn, thì thiên hạ nhân dân đều phát tâm bố thí khắp nơi, dùng đầu lễ sát đất, thành khẩn cầu Sa môn, đều nói rằng: Hiền giả! Hành giả có tịnh giới nên nghe được các hạnh của tuệ, xin dùng đầy đủ các hạnh để phát các điều nguyện trên, làm cho tôi đêm dài được phước đức an ổn, vô lượng. Nếu người nữ không ở nơi ta làm Sa môn, thiên hạ nhân dân dùng phòng bị y cụ, cơm áo, giường chõng, thuốc trị các thứ bệnh cung cấp cho tất cả, xin Sa môn tự đến đây nhận, làm cho nhân dân sĩ nông không có tiếng khóc. Nếu người nữ không ở nơi ta làm Sa môn, thì nhân dân đều phụng sự Sa môn, như là công việc của ngày tháng, như là công việc của thiên thần, vượt qua các học giả ngoại đạo, Sa môn cũng thanh tịnh không thể ô uế, giống như ma ni châu. Nếu trong nước có Sa môn, thì nước đó được an ổn, vượt hơn các quốc độ khác; nếu không cho phép người nữ ở trong giáo pháp của ta làm Sa môn, thì chánh pháp được lưu bố thịnh hành một nghìn năm, tất cả các loài đều được độ thoát.
Nay để cho người nữ ở trong giáo pháp ta xuất gia làm Sa môn, thì tuổi thọ chánh pháp bị mất đi năm trăm năm. Vì sao? Này A Nan ngươi nữ có năm điều: 1.Người nữ không được làm Như Lai cho đến bậc Chánh đẳng giác;2. Người nữ không được làm chuyển luân thánh vương; 3. Người nữ không được làm Thất phạm thiên vương; 4. Ngưỡi nữ không được làm Phi hành hoàng đế; 5. Ngưỡi nữ không được làm Ma thiên vương. Năm điều này đều là việc làm tôn kính của đại trượng phu được: trượng phu có thể làm Phật, có thể làm Chuyển luân thánh vương, có thể làm Thiên đế thích, có thể làm Ma thiên vương, có thể làm Phạm thiên vương, được làm vua trong loài người…. Như thế A Nan! Người nữ được ví như độc xà, con người có thể bắt giết chúng, làm hư hoại thân chúng cho xuất não; như thế loài rắn đó bị chết, nếu có người thấy nó, trong lòng khiếp sợ. Như thế người nữ tuy được làm Sa môn, con đường ác vẫn còn tồn tại, tất cả sự luân chuyển để làm nam tử là như thế, làm cho tất cả người đều không đắc đạo. Đức Phật dạy: Như thế người nữ, chánh thức làm Sa môn thọ Cụ túc giới, tuy 100 tuổi cho đến đắc quả A la hán, thấy Sa- di 8 tuổi đều phải đảnh lễ. Vì sao? Vì Sa di Cụ túc cũng đắc quả A la hán, trong thân có thể xuất ra nước lửa, đủ dùng ngón tay đè đỉnh núi Tu di, ba nghìn đại thiên quốc độ đều bị sáu lần chấn động. Như thế người nữ tuy đắc A la hán, không thể làm lay động một cây kim lớn như lông tóc. Tại sao thế này A Nan! Vì người nữ bị dính ở chỗ tâm cống cao, bất tịnh, để làm mê hoặc người nam, cho nên không đắc đạo.
Phật dạy: Do vốn mê muội, mắt không thấy tất cả, hễ hành động là tội lỗi, uyển chuyển lợi ích thâm sâu tự thể không có, cũng khổ cực mà đi không thể trở lại, tội đi vào trong ngục núi Thái, thật là khổ, lúc sinh thời không chịu học, khi chết thì phải đi vào trong đó, đến tuổi già không dừng dâm dục nên bị lửa thế gian thiêu đốt, hít thở đến chỗ tận cùng làm sao đủ biết tự trân quý nó, có thể tự ăn năn hối hận giữ thân cho trinh khiết, thì đời nay tội được tiêu diệt và đời sau được rõ ràng, có của mà không có lòng bố thì thì đời đời vẫn nghèo khó, thường bị nhiều bệnh tật, diện mạo bị tàn tạ, đi đứng phải nhờ người giúp, nằm không yên, vừa mới hối hận các tội lỗi xưa….Nay vào trong pháp luật của ta, được thân người đầy đủ, vô số cấu uế cũng tự nhiên hết.
Bấy giờ, Tỳ kheo ni Đại Ái Đạo cùng chư Tỳ-kheo ni nghe Phật nói xong như thế, trong lòng họ đều không vui, nước mắt ràn rụa như mưa, ở trước Phật đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật, bạch Phật rằng: Như thế ngưỡi nữ không thể được độ. Phật đáp: Nếu người nữ làm Sa môn, tinh tấn tu tập, giữ giới Tỳ- kheo trọn vẹn thanh tịnh, không phạm giới nhỏ như lông tóc, hiện đời được hóa thân nam tử, sẽ được đầy đủ, được làm Phật, tất cả các chướng ngại tự ăn năn hối cải, nếu có sở cầu tất sẽ được. Tỳ- kheo ni Đại Ái Đạo lại bạch Phật rằng: Thật có những điều này không? Phật đáp: Có, như chư Phật trong quá khứ, có người nữ cầm hoa vàng rải cúng dường Phật, Phật liền thọ ký, tất cả hằng sa cấu uế đều tiêu trừ, liền thành Phật, danh hiệu là Kim Hoa Phật; người nữ đó tên là Hằng Kiệt Ưu Bà Di, trong lòng rất hoan hỉ, bay đi trong không trung, hóa thành nam tử, bấy giờ ở trên đầu ta, Phật hóa thành năm vị, cũng thọ ký cho ta, vô số kiếp sau, sẽ làm Phật hiệu là Thích Ca Văn. Nay thân ta cũng như thế, khi làm Phật Thích Ca Văn, thì lúc đó Hằng Kiệt Ưu Bà Di lại sinh vào trong quốc độ ta, làm thân người nữ, hiệu là Tu Di Đề, không trí tuệ của ai có thể sánh bằng đó là Văn Thù Sư Lợi, hóa thành nam tử, làm vị Sa di tám tuổi, rất tinh cần và đắc vô thượng chánh chân đạo vô thượng.
Đức Phật dạy: Lại có vị trí tuệ không ai sánh bằng đó là Phật Ca Diếp trong quá khứ, vị vua này trong nhà có bảy người con gái, từ khi sinh ra đến trưởng thành không thích các món đồ trang sức, lục tình đoạn tận không còn cấu uế, thực hành quán tử thi, thân đi vào đường ác, ưu sầu không vui, thấu suốt cõi Phạm thiên thứ bảy. Bấy giờ Thích Đề Hoàn Nhơn xuống hỏi: Muốn cầu điều gì? Ta đều có thể giúp được. Bấy giờ bảy người nữ đều nói lên tâm nguyện: Nguyện pháp tạng sâu xa không thể nghĩ bàn của mười phương ba đời chư Phật, vì người lợi căn đại công đức mà nói.
Bấy giờ, Thích Đề Hoàn Nhơn không thể đáp ứng được tâm các vị như nguyện. Thiên thần nói: Phật Ca Diếp gần ở đây, có thể đến đó để hỏi. Bảy vị nữ nhơn cùng chư nữ nhơn liền đến chỗ Phật, đầu đảnh lễ dưới chân Phật, Thích Đề Hoàn Nhơn lại chắp tay bạch Phật rằng: Bảy người nữ này xin như thế tôi không thể được đáp ứng được, xin Phật mở lòng từ khai thị làm cho họ được an ổn. Đức Phật dạy: Bảy ngưỡi nữ này trong thời Phật ở quá khứ, đời đời làm công đức, nay được sinh trong nhà quốc vương, các điều nguyện nhất định đạt được, A la hán, Bích chi Phật còn không thể biết hà huống chư Thiên Thích Phạm. Bấy giờ bảy người nữ trong lòng hoan hỉ bay tự tại trong không trung, tất cả đều biến thành thân nam tử, kiếp sau cũng được thọ ký làm Phật. Nay trưởng bối Đại Ái Đạo thực hành tâm đại từ bi, nguyện kiếp sau được thành nam tử và được thọ ký thành Phật.
Đại Ái Đạo nghe Phật nói xong, cúi đầu đảnh lễ đức Phật mà cáo lui.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,NEWCASTLE,SYDNEY.18/8/2015.
No comments:
Post a Comment