Friday, October 3, 2014

I CÁC BÀI TỤNG
1 TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN Bài kệ này gốm bốn đại thệ của một vị Bồ tát, được đọc tụng rộng rải nhất trong Phật giáo Ðại thừa: Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học Phật đạo vô thượng thệ nguyện hành. Nội dung của bài kệ này thường gây khó khăn cho các học viên phương Tây, họ đưa ra hai sự phản đối chính. Những người từng là tín đồ Cơ đốc giáo phàn nàn rằng họ đã rời bỏ Thiên chúa giáo và tinh thần truyền giáo của nó, điều cuối cùng họ muốn, trong Thiền, nhiều hơn những gì họ hiểu sai ở lời đầu của bài kệ như "độ " chẳng hạn. Nhiều người hỏi," Làm sao tôi có thể độ hết chúng sanh khi mà tôi chưa có thể tự độ mình? Và nếu tôi độ được mình, thì làm cách nào mà độ cho hết thảy chúng sinh?" Một người có tâm nguyện nghiêm túc viết về nó như sau trong thư: " Ðiều trở ngại cho tôi về bốn lời thề là tôi không thể thành thật tự cam kết. Theo tôi, phải thêm' chừng nào mà những giới hạn và sự yếu đuối của tôi cho phép', nhưng như vậy nó phá đi sự hữu ích của việc đọc bốn lời thề. Tôi muốn có thể khẳng định những lời thề, nhưng thật sự tôi không thể." Vấn đề đằng sau cả hai sự phản đối này là việc xem bốn lời thề như một công thức bên ngoài cần phải học và bằng cách nào đó, dù bất lợi và không chấp nhận, cũng phải cư xử theo nó. Câu đầu tiên theo truyền thống được dịch là " cứu" nhưng ở trung tâm Rochester được tụng là" độ". Sự khác nhau về lối diễn đạt này là để tránh cái hàm ý phi Phật giáo, tính đạo lý của sự chuộc tội và phản ánh chân thực hơn tinh thần nguyên thủy. Hiểu một cách đúng đắn, lời thề này là một tuyên ngôn về mục đích và phạm vi tu tập, một sự khẳng định, rằng người toạ thiền không chỉ vì chính mình mà còn vì tất cả chúng sinh. Ba lời thề còn lại phát thảo một tâm thái mà nhờ đó được trao quyền cứu độ chúng sinh trong vô số cỏi. Nói rằng cứu độ " tất cả chúng sinh" không phải là cường điệu hay ngoa ngữ. Ngộ trong thiền tiết lộ một cách không lầm lẫn là tất cả là một và một là tất cả. Vì bất cứ điều gì xãy ra với một người này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến mọi người khác. Vì vậy khi một người đắc ngộ, thì cái ngộ đó bao trùm lên trên cả thảy. Ðiều này được thiền sư Ðạo nguyên khẳng định, ," Không giác ngộ cho người khác thì làm gì có sự tự ngộ." Từ lòng đại từ bi của mình Bồ tát thệ không chấp nhận Niết bàn đến chừng nào mà chúng sinh còn trầm luân trong bể khổ. Ngài tự nhiên coi trọng hạnh phúc của người khác hơn chính mình. Tuy nhiên, Bồ tát tiếp tục tu luyện vì có người nào không tự giúp mình mà lại có thể thành thật giúp kẻ khác. Lời thề nhấn mạnh rằng đã tự hi sinh cho người khác thời sẽ không quay lưng lại khi gặp khó khăn. Bồ tát nguyện không chỉ là suy nghĩ tích cực mà còn nhiều hơn thế nữa. Cùng một ý nghĩa như vậy, hạt đào trở thành trái đào, quả đấu trở thành cây sồi, trẻ sơ sinh trở thành người lớn, chúng sinh thành Phật. Tứ hoằng thệ nguyện là sự tái khẳng định của lời thề bẩm sinh của chúng ta để trở thành cái mà chúng ta vốn là--tổng thể và trọn vẹn. Nhìn dưới ánh sáng này, các lời thệ nguyện hoàn toàn là tiếng gọi đến với ngộ, đến với giải thoát. 2 BÁT NHÃ TÂM KINH Kinh Bát Nhã được đọc tụng hàng ngày trong các tu viện, trung tâm Phật giáo trên toàn thế giới và được xem như công thức hiệu nghiệm nhất để xuyên thủng tâm mê. Nó là cốt lỏi của giáo pháp, thông điệp cô đọng tất cả những lời dạy của Ðức Phật. Gọi nó là Tâm kinh vì nó không được nắm bắt bằng cách thông qua tri thức mà bởi kinh nghiệm trực giác sâu nhất của riêng mình. Vì vậy "trí tuệ bát nhã" ở đây có nghĩa là trí siêu việt, và bát nhã cũng là con đường dẫn đến tuệ giác này. Và nội dung của lời dạy đưa đến sự hiểu thấu cặn kẻ về nó. Trong Tâm kinh, Phật thuyết giảng cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử nổi tiếng thông minh bậc nhất, về cách mà Quán Âm Bồ tát đã ngộ rằng con người, chỉ là sản phẩm của ngũ uẩn--sắc, thọ, tưởng, hành, thức--căn bản của nó là cái không của chân bản thể. Ngài cũng tiết lộ rằng tính ảo giác của mười tám xứ do lục căn, lục trần và lục thức, mười hai nhân duyên nối vào chuổi nhân quả, tứ đế và khái niệm nhị nguyên của Niết bàn và Luân hồi. Câu thần chú ở cuối bài kinh có thể được dịch là: Này Bồ đề, đi qua, đi qua, Qua bờ bên bên kia, qua đến bờ bên kia Ta-bà-ha Ta-bà-ha hay "swaha" rất khó dịch sang tiếng Anh, nhưng nó có nghĩa là " thành tựu như sở nguyện." BÁT NHÃ TÂM KINH Quán tự tại bồ tát Hành tham bát nhã ba la mật đa Thời chiếu kiến ngũ uẫn giai không Ðộ nhất thiết khổ ách Xá lợi tử! Sắc bất dị không Không bất dị sắc Sắc tức thị không Không tức thị sắc Thọ tưởng hành Thức diệc phục như thị Thị chư pháp không tướng Bất sanh bất diệt Bất cấu bất tịnh Bất tăng bất gỉam Thị cố không trung vô sắc Vô thọ ,tưởng, hành, thức Vô nhãn, nhĩ ,tỷ ,thiệt ,thân ,ý Vô sắc thanh, hương, vị , xúc, pháp Vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới Vô vô minh diệc Vô vô minh tận nãi chí vô lão Tử diệc vô lão tử tận Vô khổ, tập , diệt,đạo Vô trí diệc vô đắc Dĩ vô sở đắc cố bồ đề Tát đoả Ba la yết đế Ba la tăng yết đế Bồ đề tát bà ha. Y bát nhã Ba la mật đa Cố tâm vô quái ngại Vô quái ngại cố Vô hữu khủng bố Viễn ly điên đảo mộng tưởng Cứu cánh niết bàn Tam thế chư phật Y bát nhã ba la mật đa Cố đắc nậu đa la Tam miệu tam bồ đề Cố tri bát nhã ba la mật đa Ða thị đại thần chú Thị đại minh chú Thị vô thượng chú Thị vô đẳng đẳng chú Năng trừ nhứt thiết khổ Chân thật bất hư Cố thuyết bát nhã ba la mật chú Tức thuyết chú viết Yết đế, yết đế
 
  Khi Bồ Tát Quán Tự tại thực hành Bát Nhã Ba La Mật sâu xa, soi thấy rằng, có năm uẩn và năm uẩn đó không có tự tánh trong chúng. Này, Xá Lợi Phất, sắc ở đây là Không, Không là sắc, sắc không khác Không, Không không khác sắc, sắc tức thị Không, Không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Này, Xá Lợi Phất, hết thảy các pháp ở đây được biểu thị là Không: chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm, không tăng, không giảm. Vì vậy, này Xá Lợi Phất, trong Không không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới, không có minh, không có vô minh, không có minh diệt, không có vô minh diệt, cho đến không có tuổi già và sự chết, không có khổ, tận, diệt, đạo, không có trí, không có đắc và không có chứng…bởi vì không có đắc. Trong tâm của Bồ Tát an trụ trên Bát Nhã Ba La Mật không có những chướng ngại. Và bởi vì không có những chướng ngại trong tâm đó nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt đến niết bàn. Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, do y theo Bát Nhã Ba La Mật, mà chứng đắc giác ngộ viên mãn tối thượng. Vì vậy, nên biết Bát Nhã Ba La Mật là đại thần chú, là chú của đại minh huệ, là thần chú cao tuyệt, thần chú vô giá, có thể trừ tiệt hết mọi đau khổ, đó là chân lý vì không sai lầm. Ðây là thần chú được công bố trong kinh Ba la mật. Yết đế, Yết đế. Ba la yết đế. Ba la tăng yết đế . bồ đề tát bà ha. 3 BẠCH ẨN TOẠ THIỀN CA Một trong những thiền sư nổi tiếng nhất của Phật giáo Nhật bản là ngài Bạch ẩn (1686-1769). Mặc dù giáo lý của ngài đại diện cho truyền thống thiền của Trung hoa. Ngài cũng tu chỉnh lại cho phù hợp với nền văn hoá Nhật bản; tạo ra một loại thiền sống động có thể đến được đối với hàng cư sĩ, cho dù nó vốn bắt rễ trong di sản thuần tuý định hướng tu viện của chính ngài. Có lẽ thiền sư Bạch ẩn nổi tiếng nhất là vì ngài làm tăng sinh khí cho hệ thống công án, và vì các công án tự do ông chế ra mà ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy:" Âm thanh của một tay là gì?" Ngay khi còn sinh tiền, Bạch ẩn thiền sư rất được tôn kính và quí mến, đặc biệt là tầng lớp lao động nghèo khổ, họ đến ngài để tìm sự an lạc, khuây khỏa hầu quên đi nổi khổ và bất công trong xã hội phong kiến đầy áp bức của thuở ấy. Ngay cả các quan đại thần và giới quí tộc cũng đến thọ pháp với ngài hoặc họ viết thư nêu những thắc mắc thỉnh cầu ngài giải đáp những nghi tình về pháp. Trong những phúc thư cho họ, người ta thấy ngài công kích mạnh mẽ cái gọi là "thiền hổ lốn" thiền thu thập số đông tu không có chất lượng và lối toạ thiền " ngồi yên lặng như chết." Mối quan tâm chính của ngài là đào tạo tài tăng và trưởng dưỡng những nhân tố xuất chúng để kế thừa sư nghiệp hoằng pháp của ngài. Trong một bài tự bạch, ngài cho biết có khoảng ít nhất hơn năm trăm môn nhân cả tăng lẫn tục dưới sự huấn luyện của ngài. Là một con người đa tài đa năng, Bạch ẩn thiền sư còn là một nhà văn một nhà thơ, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, thư hoạ. Ngài là tác giả của bài tụng" Bạch Ẩn toạ thiền ca". Bài này được thường xuyên đọc tụng trong các thiền viện ở Nhật, ở trung tâm thiền Rochester và những nơi khác. Có lẽ chúng ta không tìm thấy ở nơi nào khác cái bằng chứng sinh động và sự quyến rủ của năng lực thiền.
 
 
 
  BẠCH ẨN TOẠ THIỀN CA Tất cả chúng sinh bổn lai là Phật Cũng như băng với nước Ngoài nước không đâu có băng Ngoài chúng sinh tìm đâu ra Phật? Ðạo gần bên mình mà không biết Bao người tìm kiếm xa vời--đáng thương Ðó cũng như người nằm trong nước Gào rát cổ xin cho đở khát Ðó cũng như con trai vị trưởng giả Lang thang sống với phường nghèo khó Nguyên do ta luân hồi trong sáu cỏi Vì tại ta chìm đắm trong hắc ám vô minh Mãi lạc xa, xa mãi trong u minh -- Biết bao giờ mới lià sinh tử? Pháp môn toạ thiền của Ðại thừa Ta không đủ lời để tán tụng Những pháp hạnh cao quí như bố thí, trì giới Như niệm hồng danh Phật, sám hối và khổ hạnh Và biết bao công đức khác Tất cả đều là kết quả của tọa thiền Thậm chí những người chỉ ngồi qua một lần Cũng diệt trừ được tất cả ác nghiệp Không đâu tìm thấy ác đạo nữa Mà tịnh độ vẫn sát kề bên Xin cung kính nghe nói cái Thực ấy Dầu chỉ một lần Hãy tán thán, hãy hoan hỷ ôm choàng lấy Và sẽ được muôn vàn phước huệ Ví như những người tự mình phản tỉnh Chứng vào cái Thực của Tự tánh Cái thực của Tự tánh là Vô tự tánh Người ấy thực đã thoát ngoài điên đảo vọng tưởng Ðã mở ra cánh cửa đồng nhất của nhân và quả Và thênh thang con đường pháp phi-nhị, phi-tam Trụ nơi Bất dị giữa những cái dị Ðầu tới, đầu lui vẫn không bao giờ động Nắm cái Vô niệm trong cái niệm Tất cả thanh âm đều là tiếng pháp Trời Tam muội lồng lộng vô biên Trăng Từ Trí sáng ngời viên mãn Ấy là lúc ta thiếu gì đâu? Ðạo bổn lai thanh tịnh hiện thành Thế giới này là vùng Tịnh độ Và thân này là Pháp thân Phật.
 
 
 
 
 
  4 TÍN TÂM MINH Tam tổ Tăng Sáng (--606) là một trong những thiền sư nổi tiếng mà thân phận của ngài ít ai biết đến, ngoài việc thừa nhận ngài chính là tác giả của bài" Tín Tâm Minh". Là một du tăng, thiền sư Tăng Sáng chu du khắp đất nước để hành đạo, ngài có tiếng là từ hoà và đạt đến sự cởi bỏ tất cả những ràng buộc và ảo vọng. Khi Phật giáo bị khủng bố, ông cùng hàng ngàn người của Thiền tông trốn vào chốn sơn lâm. Trong cảnh thiếu thốn đó, mọi người sống rất đạm bạc và đơn giản. Chính khả năng thích nghi này giúp thiền phục hồi nhanh chóng từ sau thời kỳ pháp nạn hơn là các tông phái khác. Trước khi tịch, Tổ đã truyền lại bát y cho vị tổ thứ tư là Ðạo Tín (580-651) Nhiều người tin rằng Tín Tâm Minh là Thiền thư đầu tiên của người Trung hoa. Nó là một trong những tác phẩm được hâm mộ nhất, từ thời xa xưa, các thiền sư đã tự do dẫn bài kệ này, ngay những dòng kệ đầu đã là cơ sở cho nhiều công án trong Bích nham lục. Tác phẩm này cũng nhanh chóng trở nên nổi tiếng ở đất nước này từ khi nó xuất hiện trong cuốn Cái Chào Của Thiền ( zen bow) do trung tâm thiền Rochester xuất bản. Bản gốc của bài này gồm có 584 từ, 146 dòng không vần điệu, được viết theo lối tứ cú thay vì ngũ cú hay thất cú trong cách hành văn thông hutờng của người Trung Hoa, tạo cho nó sự ngắn gọn-không văn chương hoa mỹ. Tín có nghĩa đức tin sâu mạnh. Không phải là sự tin tưởng thông thường, tín tâm là niềm xác tín lớn lên từ sự trực nhận tánh bất khả phân của tất cả các pháp, dù sự kiện đó chỉ xảy ra trong sát na ngắn ngủi. Tâm là nền móng của tất cả các hiện tượng, cái được coi là quyền thừa kế của mỗi chúng ta.
TÍN TÂM MINH
Chí đạo vô nan Ðại lớn chẳng gì khó
Duy hiềm giản trạch Cốt đừng chọn lựa thôi Ðản mạc tắng ái Quí hồ không thương ghét Ðỗng nhiên minh bạch Thì tự nhiên sáng ngời Hào li hữu sai Sai lạc nữa đường tơ Thiên điạ huyền cách Ðất trời liền phân cách Dục đắc hiện tiền Thì hiện tiền trước mắt Mạc tồn thuận nghịch Chớ nghĩ chuyện ngược xuôi Vi thuận tương tranh Ðem thuận nghịch chỏi nhau Thị vi tâm bệnh Ðó chính là tâm bệnh Bất thức huyền chỉ Chẳng năm được mối huyền Ðồ lao niệm tịnh Hoài công lo niệm tịnh Viên đồng thái hư Tròn đầy tợ thái hư Vô khiếm vô dư Không thiếu cũng không dư Lương do thủ xã Bởi mảng lo giữ bỏ Sở dĩ bất như Nên chẳng được như như Mạc trục hữu duyên Ngoài chớ đuổi duyên trần Vật trụ không nhẫn Trong đừng ghì không nhẫn Nhứt chủng bình hoài Cứ một mực bình tâm Dẫn nhiên tự tận Thì tự nhiên dứt tận Chỉ động qui chỉ Ngăn động mà cầu tịnh Chỉ cánh di động Hết ngăn lại động thêm Duy trệ lưỡng biên Càng trệ ở hai bên Ninh tri nhứt chủng Thà rõ đâu là mối Nhứt chủng bất thông Ðầu mối chẳng rõ thông Lưỡng xứ thất công Hai đầu luống uổng công Khiển hữu một hữu Ðuổi có liền mất có Tòng không bối không Theo không lại phụ không Ða ngôn đa lự Nói nhiều thêm lo quẩn Chuyển bất tương ưng Loanh quanh mãi chẳng xong Tuyệt ngôn tuyệt lự Dứt lời dứt lo quẩn Vô xứ bất thông Ðâu đâu chẳng suốt thông Qui căn đắc chỉ Trở về nguồn nắm mối Tuỳ chiếu thất tông Dõi theo ngọn mất tông Tu du phản chiếu Phút giây soi ngược lại Thắng khước tiền không Trước mắt vượt cảnh không Tiền không chuyển biến Cảnh không trò thiên diễn Giai do vọng kiến Thảy đều do vọng kiến Bất dụng cầu chơn Cứ gì phải cầu chơn Duy tu tức kiến Chỉ cần dứt sở kiến Nhị kiến bất trụ Hai bên đừng ghé mắt Thận vật truy tầm Cẩn thận chớ đuổi tầm Tài hữu thị phi Phải trái vừa vướng mắt Phấn nhiên thất tâm Là nghiền đốt mất tâm Nhị do nhất hữu Hai do một mà có Nhứt diệc mạc thủ Một rồi cũng buông tỏ Nhứt tâm bất sanh Một tâm ví chẳng sanh Vạn pháp vô cữu Muôn pháp tội gì đó Vô cữu vô pháp Không tội thì không pháp Bất sanh bất tâm Chẳng sanh thì chẳng tâm Năng tùy cảnh diệt Tâm theo cảnh mà bặt Cảnh trục năng trầm Cảnh theo tâm mà chìm Cảnh do năng cảnh Tâm là tâm của cảnh Năng do cảnh năng Cảnh là cảnh của tâm Dục tri lưỡng đoạn Vì biết hai đằng dứt Nguyên thị nhứt không Rốt cùng chỉ một không Nhứt không đồng lưỡng Một không, hai mà một Tề hàm vạn tượng Bao gồm hết muôn sai Bất kiến tinh thô Chẳng thấy trong thấy đục Ninh hữu thiên đảng Lấy gì mà lệch sai Ðại đạo thể khoan Ðạo lớn thể khoan dung Vô dị vô nan Không dễ mà chẳng khó Tiểu kiến hồ nghi Kẻ tiểu kiến lừng khừng Chuyển cấp chuyển trì Gấp theo mà bỏ chậm Chấp chi thất độ Chấp giữ là nghiêng lệch Tâm nhập tà lộ Dấn thân vào nẽo tà Phóng chi tự nhiên Cứ tự nhiên buông hết Thể vô khứ trụ Bổn thể chẳng lại qua Nhiệm tánh hiệp đạo Thuận tánh là hiệp đạo Tiêu dao tuyệt não Tiêu dao dứt phiền não Hệ niệm quai chơn Càng nghĩ càng trói thêm Trầm hôn bất hảo Lẽ đạo chìm mê ảo Bất hảo lao thần Mê ảo nhọc tinh thần Hà dụng sơ thân Tính gì việc sơ thân Dục thú nhứt thặng Muốn thẳng đường nhứt thặng Vật ố lục trần Ðừng chán ghét sáu trần Lục trần bất ác Sáu trần có xấu chi Hoàn đồng chánh giác Vẫn chung về giác ấy Trí giả vô vi Bậc trí giữ vô vi Ngu nhơn tự phược Người ngu tự buộc lấy Pháp vô dị pháp Pháp pháp chẳng khác pháp Vọng tự ái trước Do ái trước sanh lầm Tương tâm dụng tâm Há chẳng là quấy lắm Khởi phi đại thác Sai tâm đi bắt tâm Mê sanh tịch loạn Mê sanh động sanh yên Ngộ vô hảo ác Ngộ hết xấu hết tốt Nhứt thiết nhị biên Nhứt thiết việc hai bên Vọng tự châm chước Ðều do vọng châm chước Mộng huyễn không hoa Mơ mộng hão không hoa Hà lao bả tróc Khéo nhọc lòng đuổi bắt Ðắc thất thị phi Chuyện thua được thị phi Nhứt thời phóng khước Một lần buông bỏ quách Nhãn nhược bất thụy Mắt ví không mê ngủ Chư mộng tự trừ Mộng mộng đều tự trừ Tâm nhược bất dị Tâm tâm ví chẳng khác Vạn pháp nhứt như Thì muôn pháp nhứt như Nhứt như thể huyền Nhứt như vốn thể huyền Ngột nhĩ vọng duyên Bằn bặc không mảy duyên Vạn pháp tề quán Cần quán chung như vậy Qui phục tự nhiên Muôn pháp về tự nhiên Dẫn kì sở dĩ Ðừng nói vì sao vậy Bất khả phương tỉ Thì chuyện hết sai ngoa Chỉ động vô động Ngăn động chưa là tịnh Ðộng chỉ vô chỉ Ðộng ngăn khác tịnh xa Lưỡng kí bất thành Cái hai đà chẳng được Nhứt hà hữu nhĩ Cái một lấy chi mà… Cứu cánh cùng cực Rốt ráo đến cùng cực Bất tồn quĩ tắc Chẳng còn mảy quĩ tắc Khế tâm bình đẳng Bình đẳng hiệp đạo tâm Sở tác cấu tức Im bặt niềm tạo tác Hồ nghi tận định NIềm nghi hoặc lắng dứt Chánh tín điều trực Lòng tin hoà lẽ trực Nhất thiết bất lưu Mảy bụi cũng chẳng lưu Vô khả kí ức Lấy gì mà kí ức Hư minh tự nhiên Bổn thể vốn hư minh Bất lao tâm lực Tự nhiên nào nhọc sức Phi tư lượng xứ Trí nào suy lường được Thức tình nan trắc Thức nào cân nhắc ra Chơn như pháp giới Cảnh chơn như pháp giới Vô tha vô tự Không người cũng không ta Yếu cấp tương ưng Cần nhứt hãy tương ưng Duy ngôn bất nhị Cùng lẽ đạo bất nhị Bất nhị giai đồng Bất nhị thì hoá đồng Vô bất bao dong Không gì chẳng bao dong Thập phương tri giả Mười phương hàng trí giả Giai nhập thử tông Ðều chung nhập một tông Tông phi xúc diên Tông này vốn tự tại Nhứt niệm vạn niên Khoảnh khắc là vạn niên Vô tại bất tại Dầu có không không có Thập phương mục tiền Mười phương trước mắt liền Cực đại đồng tiểu Cực lớn là cực nhỏ Bất kiến biên biểu Ðồng thau chẳng giới biên Hữu tức thị vô Cái có là cái không Vô tức thị hữu Cái không là cái có Nhược bất như thị Nếu chẳng được như vậy Tất bất tu thủ Quyết không nên nấn ná Nhứt tức nhứt thiết Một tức là tất cả Nhứt thiết nhứt tức Tất cả tức là một Ðản năng như thị Quí hồ được vậy thôi Hà lự bất tất Lo gì chẳng xong tất Tín tâm bất nhị Tín tâm chẳng phải hai Bất nhị tín tâm Chẳng phải hai tín tâm Ngôn ngữ đoạn đạo Lời nói làm đạo dứt Phi cổ lai kim Chẳng kim cổ vị lai .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/.10/2014.

No comments:

Post a Comment