Khi Bồ Tát Quán Tự tại thực hành Bát Nhã Ba La Mật sâu xa, soi thấy rằng, có năm uẩn và năm uẩn đó không có tự tánh trong chúng. Này, Xá Lợi Phất, sắc ở đây là Không, Không là sắc, sắc không khác Không, Không không khác sắc, sắc tức thị Không, Không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Này, Xá Lợi Phất, hết thảy các pháp ở đây được biểu thị là Không: chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm, không tăng, không giảm. Vì vậy, này Xá Lợi Phất, trong Không không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới, không có minh, không có vô minh, không có minh diệt, không có vô minh diệt, cho đến không có tuổi già và sự chết, không có khổ, tận, diệt, đạo, không có trí, không có đắc và không có chứng…bởi vì không có đắc. Trong tâm của Bồ Tát an trụ trên Bát Nhã Ba La Mật không có những chướng ngại. Và bởi vì không có những chướng ngại trong tâm đó nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt đến niết bàn. Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, do y theo Bát Nhã Ba La Mật, mà chứng đắc giác ngộ viên mãn tối thượng. Vì vậy, nên biết Bát Nhã Ba La Mật là đại thần chú, là chú của đại minh huệ, là thần chú cao tuyệt, thần chú vô giá, có thể trừ tiệt hết mọi đau khổ, đó là chân lý vì không sai lầm. Ðây là thần chú được công bố trong kinh Ba la mật. Yết đế, Yết đế. Ba la yết đế. Ba la tăng yết đế . bồ đề tát bà ha. 3 BẠCH ẨN TOẠ THIỀN CA Một trong những thiền sư nổi tiếng nhất của Phật giáo Nhật bản là ngài Bạch ẩn (1686-1769). Mặc dù giáo lý của ngài đại diện cho truyền thống thiền của Trung hoa. Ngài cũng tu chỉnh lại cho phù hợp với nền văn hoá Nhật bản; tạo ra một loại thiền sống động có thể đến được đối với hàng cư sĩ, cho dù nó vốn bắt rễ trong di sản thuần tuý định hướng tu viện của chính ngài. Có lẽ thiền sư Bạch ẩn nổi tiếng nhất là vì ngài làm tăng sinh khí cho hệ thống công án, và vì các công án tự do ông chế ra mà ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy:" Âm thanh của một tay là gì?" Ngay khi còn sinh tiền, Bạch ẩn thiền sư rất được tôn kính và quí mến, đặc biệt là tầng lớp lao động nghèo khổ, họ đến ngài để tìm sự an lạc, khuây khỏa hầu quên đi nổi khổ và bất công trong xã hội phong kiến đầy áp bức của thuở ấy. Ngay cả các quan đại thần và giới quí tộc cũng đến thọ pháp với ngài hoặc họ viết thư nêu những thắc mắc thỉnh cầu ngài giải đáp những nghi tình về pháp. Trong những phúc thư cho họ, người ta thấy ngài công kích mạnh mẽ cái gọi là "thiền hổ lốn" thiền thu thập số đông tu không có chất lượng và lối toạ thiền " ngồi yên lặng như chết." Mối quan tâm chính của ngài là đào tạo tài tăng và trưởng dưỡng những nhân tố xuất chúng để kế thừa sư nghiệp hoằng pháp của ngài. Trong một bài tự bạch, ngài cho biết có khoảng ít nhất hơn năm trăm môn nhân cả tăng lẫn tục dưới sự huấn luyện của ngài. Là một con người đa tài đa năng, Bạch ẩn thiền sư còn là một nhà văn một nhà thơ, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, thư hoạ. Ngài là tác giả của bài tụng" Bạch Ẩn toạ thiền ca". Bài này được thường xuyên đọc tụng trong các thiền viện ở Nhật, ở trung tâm thiền Rochester và những nơi khác. Có lẽ chúng ta không tìm thấy ở nơi nào khác cái bằng chứng sinh động và sự quyến rủ của năng lực thiền.
BẠCH ẨN TOẠ THIỀN CA Tất cả chúng sinh bổn lai là Phật Cũng như băng với nước Ngoài nước không đâu có băng Ngoài chúng sinh tìm đâu ra Phật? Ðạo gần bên mình mà không biết Bao người tìm kiếm xa vời--đáng thương Ðó cũng như người nằm trong nước Gào rát cổ xin cho đở khát Ðó cũng như con trai vị trưởng giả Lang thang sống với phường nghèo khó Nguyên do ta luân hồi trong sáu cỏi Vì tại ta chìm đắm trong hắc ám vô minh Mãi lạc xa, xa mãi trong u minh -- Biết bao giờ mới lià sinh tử? Pháp môn toạ thiền của Ðại thừa Ta không đủ lời để tán tụng Những pháp hạnh cao quí như bố thí, trì giới Như niệm hồng danh Phật, sám hối và khổ hạnh Và biết bao công đức khác Tất cả đều là kết quả của tọa thiền Thậm chí những người chỉ ngồi qua một lần Cũng diệt trừ được tất cả ác nghiệp Không đâu tìm thấy ác đạo nữa Mà tịnh độ vẫn sát kề bên Xin cung kính nghe nói cái Thực ấy Dầu chỉ một lần Hãy tán thán, hãy hoan hỷ ôm choàng lấy Và sẽ được muôn vàn phước huệ Ví như những người tự mình phản tỉnh Chứng vào cái Thực của Tự tánh Cái thực của Tự tánh là Vô tự tánh Người ấy thực đã thoát ngoài điên đảo vọng tưởng Ðã mở ra cánh cửa đồng nhất của nhân và quả Và thênh thang con đường pháp phi-nhị, phi-tam Trụ nơi Bất dị giữa những cái dị Ðầu tới, đầu lui vẫn không bao giờ động Nắm cái Vô niệm trong cái niệm Tất cả thanh âm đều là tiếng pháp Trời Tam muội lồng lộng vô biên Trăng Từ Trí sáng ngời viên mãn Ấy là lúc ta thiếu gì đâu? Ðạo bổn lai thanh tịnh hiện thành Thế giới này là vùng Tịnh độ Và thân này là Pháp thân Phật.
4 TÍN TÂM MINH Tam tổ Tăng Sáng (--606) là một trong những thiền sư nổi tiếng mà thân phận của ngài ít ai biết đến, ngoài việc thừa nhận ngài chính là tác giả của bài" Tín Tâm Minh". Là một du tăng, thiền sư Tăng Sáng chu du khắp đất nước để hành đạo, ngài có tiếng là từ hoà và đạt đến sự cởi bỏ tất cả những ràng buộc và ảo vọng. Khi Phật giáo bị khủng bố, ông cùng hàng ngàn người của Thiền tông trốn vào chốn sơn lâm. Trong cảnh thiếu thốn đó, mọi người sống rất đạm bạc và đơn giản. Chính khả năng thích nghi này giúp thiền phục hồi nhanh chóng từ sau thời kỳ pháp nạn hơn là các tông phái khác. Trước khi tịch, Tổ đã truyền lại bát y cho vị tổ thứ tư là Ðạo Tín (580-651) Nhiều người tin rằng Tín Tâm Minh là Thiền thư đầu tiên của người Trung hoa. Nó là một trong những tác phẩm được hâm mộ nhất, từ thời xa xưa, các thiền sư đã tự do dẫn bài kệ này, ngay những dòng kệ đầu đã là cơ sở cho nhiều công án trong Bích nham lục. Tác phẩm này cũng nhanh chóng trở nên nổi tiếng ở đất nước này từ khi nó xuất hiện trong cuốn Cái Chào Của Thiền ( zen bow) do trung tâm thiền Rochester xuất bản. Bản gốc của bài này gồm có 584 từ, 146 dòng không vần điệu, được viết theo lối tứ cú thay vì ngũ cú hay thất cú trong cách hành văn thông hutờng của người Trung Hoa, tạo cho nó sự ngắn gọn-không văn chương hoa mỹ. Tín có nghĩa đức tin sâu mạnh. Không phải là sự tin tưởng thông thường, tín tâm là niềm xác tín lớn lên từ sự trực nhận tánh bất khả phân của tất cả các pháp, dù sự kiện đó chỉ xảy ra trong sát na ngắn ngủi. Tâm là nền móng của tất cả các hiện tượng, cái được coi là quyền thừa kế của mỗi chúng ta.
Chí đạo vô nan Ðại lớn chẳng gì khóTÍN TÂM MINH
Duy hiềm giản trạch Cốt đừng chọn lựa thôi Ðản mạc tắng ái Quí hồ không thương ghét Ðỗng nhiên minh bạch Thì tự nhiên sáng ngời Hào li hữu sai Sai lạc nữa đường tơ Thiên điạ huyền cách Ðất trời liền phân cách Dục đắc hiện tiền Thì hiện tiền trước mắt Mạc tồn thuận nghịch Chớ nghĩ chuyện ngược xuôi Vi thuận tương tranh Ðem thuận nghịch chỏi nhau Thị vi tâm bệnh Ðó chính là tâm bệnh Bất thức huyền chỉ Chẳng năm được mối huyền Ðồ lao niệm tịnh Hoài công lo niệm tịnh Viên đồng thái hư Tròn đầy tợ thái hư Vô khiếm vô dư Không thiếu cũng không dư Lương do thủ xã Bởi mảng lo giữ bỏ Sở dĩ bất như Nên chẳng được như như Mạc trục hữu duyên Ngoài chớ đuổi duyên trần Vật trụ không nhẫn Trong đừng ghì không nhẫn Nhứt chủng bình hoài Cứ một mực bình tâm Dẫn nhiên tự tận Thì tự nhiên dứt tận Chỉ động qui chỉ Ngăn động mà cầu tịnh Chỉ cánh di động Hết ngăn lại động thêm Duy trệ lưỡng biên Càng trệ ở hai bên Ninh tri nhứt chủng Thà rõ đâu là mối Nhứt chủng bất thông Ðầu mối chẳng rõ thông Lưỡng xứ thất công Hai đầu luống uổng công Khiển hữu một hữu Ðuổi có liền mất có Tòng không bối không Theo không lại phụ không Ða ngôn đa lự Nói nhiều thêm lo quẩn Chuyển bất tương ưng Loanh quanh mãi chẳng xong Tuyệt ngôn tuyệt lự Dứt lời dứt lo quẩn Vô xứ bất thông Ðâu đâu chẳng suốt thông Qui căn đắc chỉ Trở về nguồn nắm mối Tuỳ chiếu thất tông Dõi theo ngọn mất tông Tu du phản chiếu Phút giây soi ngược lại Thắng khước tiền không Trước mắt vượt cảnh không Tiền không chuyển biến Cảnh không trò thiên diễn Giai do vọng kiến Thảy đều do vọng kiến Bất dụng cầu chơn Cứ gì phải cầu chơn Duy tu tức kiến Chỉ cần dứt sở kiến Nhị kiến bất trụ Hai bên đừng ghé mắt Thận vật truy tầm Cẩn thận chớ đuổi tầm Tài hữu thị phi Phải trái vừa vướng mắt Phấn nhiên thất tâm Là nghiền đốt mất tâm Nhị do nhất hữu Hai do một mà có Nhứt diệc mạc thủ Một rồi cũng buông tỏ Nhứt tâm bất sanh Một tâm ví chẳng sanh Vạn pháp vô cữu Muôn pháp tội gì đó Vô cữu vô pháp Không tội thì không pháp Bất sanh bất tâm Chẳng sanh thì chẳng tâm Năng tùy cảnh diệt Tâm theo cảnh mà bặt Cảnh trục năng trầm Cảnh theo tâm mà chìm Cảnh do năng cảnh Tâm là tâm của cảnh Năng do cảnh năng Cảnh là cảnh của tâm Dục tri lưỡng đoạn Vì biết hai đằng dứt Nguyên thị nhứt không Rốt cùng chỉ một không Nhứt không đồng lưỡng Một không, hai mà một Tề hàm vạn tượng Bao gồm hết muôn sai Bất kiến tinh thô Chẳng thấy trong thấy đục Ninh hữu thiên đảng Lấy gì mà lệch sai Ðại đạo thể khoan Ðạo lớn thể khoan dung Vô dị vô nan Không dễ mà chẳng khó Tiểu kiến hồ nghi Kẻ tiểu kiến lừng khừng Chuyển cấp chuyển trì Gấp theo mà bỏ chậm Chấp chi thất độ Chấp giữ là nghiêng lệch Tâm nhập tà lộ Dấn thân vào nẽo tà Phóng chi tự nhiên Cứ tự nhiên buông hết Thể vô khứ trụ Bổn thể chẳng lại qua Nhiệm tánh hiệp đạo Thuận tánh là hiệp đạo Tiêu dao tuyệt não Tiêu dao dứt phiền não Hệ niệm quai chơn Càng nghĩ càng trói thêm Trầm hôn bất hảo Lẽ đạo chìm mê ảo Bất hảo lao thần Mê ảo nhọc tinh thần Hà dụng sơ thân Tính gì việc sơ thân Dục thú nhứt thặng Muốn thẳng đường nhứt thặng Vật ố lục trần Ðừng chán ghét sáu trần Lục trần bất ác Sáu trần có xấu chi Hoàn đồng chánh giác Vẫn chung về giác ấy Trí giả vô vi Bậc trí giữ vô vi Ngu nhơn tự phược Người ngu tự buộc lấy Pháp vô dị pháp Pháp pháp chẳng khác pháp Vọng tự ái trước Do ái trước sanh lầm Tương tâm dụng tâm Há chẳng là quấy lắm Khởi phi đại thác Sai tâm đi bắt tâm Mê sanh tịch loạn Mê sanh động sanh yên Ngộ vô hảo ác Ngộ hết xấu hết tốt Nhứt thiết nhị biên Nhứt thiết việc hai bên Vọng tự châm chước Ðều do vọng châm chước Mộng huyễn không hoa Mơ mộng hão không hoa Hà lao bả tróc Khéo nhọc lòng đuổi bắt Ðắc thất thị phi Chuyện thua được thị phi Nhứt thời phóng khước Một lần buông bỏ quách Nhãn nhược bất thụy Mắt ví không mê ngủ Chư mộng tự trừ Mộng mộng đều tự trừ Tâm nhược bất dị Tâm tâm ví chẳng khác Vạn pháp nhứt như Thì muôn pháp nhứt như Nhứt như thể huyền Nhứt như vốn thể huyền Ngột nhĩ vọng duyên Bằn bặc không mảy duyên Vạn pháp tề quán Cần quán chung như vậy Qui phục tự nhiên Muôn pháp về tự nhiên Dẫn kì sở dĩ Ðừng nói vì sao vậy Bất khả phương tỉ Thì chuyện hết sai ngoa Chỉ động vô động Ngăn động chưa là tịnh Ðộng chỉ vô chỉ Ðộng ngăn khác tịnh xa Lưỡng kí bất thành Cái hai đà chẳng được Nhứt hà hữu nhĩ Cái một lấy chi mà… Cứu cánh cùng cực Rốt ráo đến cùng cực Bất tồn quĩ tắc Chẳng còn mảy quĩ tắc Khế tâm bình đẳng Bình đẳng hiệp đạo tâm Sở tác cấu tức Im bặt niềm tạo tác Hồ nghi tận định NIềm nghi hoặc lắng dứt Chánh tín điều trực Lòng tin hoà lẽ trực Nhất thiết bất lưu Mảy bụi cũng chẳng lưu Vô khả kí ức Lấy gì mà kí ức Hư minh tự nhiên Bổn thể vốn hư minh Bất lao tâm lực Tự nhiên nào nhọc sức Phi tư lượng xứ Trí nào suy lường được Thức tình nan trắc Thức nào cân nhắc ra Chơn như pháp giới Cảnh chơn như pháp giới Vô tha vô tự Không người cũng không ta Yếu cấp tương ưng Cần nhứt hãy tương ưng Duy ngôn bất nhị Cùng lẽ đạo bất nhị Bất nhị giai đồng Bất nhị thì hoá đồng Vô bất bao dong Không gì chẳng bao dong Thập phương tri giả Mười phương hàng trí giả Giai nhập thử tông Ðều chung nhập một tông Tông phi xúc diên Tông này vốn tự tại Nhứt niệm vạn niên Khoảnh khắc là vạn niên Vô tại bất tại Dầu có không không có Thập phương mục tiền Mười phương trước mắt liền Cực đại đồng tiểu Cực lớn là cực nhỏ Bất kiến biên biểu Ðồng thau chẳng giới biên Hữu tức thị vô Cái có là cái không Vô tức thị hữu Cái không là cái có Nhược bất như thị Nếu chẳng được như vậy Tất bất tu thủ Quyết không nên nấn ná Nhứt tức nhứt thiết Một tức là tất cả Nhứt thiết nhứt tức Tất cả tức là một Ðản năng như thị Quí hồ được vậy thôi Hà lự bất tất Lo gì chẳng xong tất Tín tâm bất nhị Tín tâm chẳng phải hai Bất nhị tín tâm Chẳng phải hai tín tâm Ngôn ngữ đoạn đạo Lời nói làm đạo dứt Phi cổ lai kim Chẳng kim cổ vị lai .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/.10/2014.
No comments:
Post a Comment