Sunday, March 31, 2019

KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM.

  1. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM
(Bhayabherava Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Bà-la-môn Janussoni đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni bạch Thế Tôn:
— Tôn giả Gotama, có những Thiện nam tử, vì lòng tin Tôn giả Gotama, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị lãnh đạo. Ðối với những vị này, Tôn giả
Gotama giúp ích rất nhiều. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị khích lệ sách tấn. Các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Tôn giả Gotama.
— Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, có những Thiện nam tử, vì lòng tin nơi Ta, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta là vị lãnh đạo của họ. Ta đã giúp ích rất nhiều cho họ. Ta là vị khích lệ sách tấn cho họ. Và các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Ta.
— Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị
Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.
— Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.
Này Bà-la-môn, xưa kia khi Ta chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi còn là Bồ-tát, Ta nghĩ như sau:
“Thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly!
Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định!”
Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào, có khẩu nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có ý nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có mạng sống không thanh tịnh sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có mạng sống không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tham dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham dục, ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta không có tham dục, Ta là một trong những bậc Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có tham dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tâm sân hận ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ý, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một trong những bậc Thánh có từ tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”.
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta có từ tâm như vậy, Ta cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy miên chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có hôn trầm thụy miên. Ta là một trong những bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào dao động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm không phải không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có dao động, tâm được an tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh không có dao động, tâm được an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”.
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta là một trong những bậc Thánh diệt trừ được nghi hoặc, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khen mình, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen mình, chê người, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có khen mình, chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu.
Ta không có khen mình, không có chê người, Ta là một trong những bậc Thánh không có khen mình, không có chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta không có khen mình, không có chê người như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào run rẩy, sợ hãi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hãi, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có run rẩy, sợ hãi, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng ngược, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc dựng ngược, Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta là người ít dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh tấn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta siêng năng, tinh tấn. Ta là một trong những bậc Thánh siêng năng, tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh tấn như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không phải không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là một trong những bậc Thánh an trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh, tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh, tâm không bị tán loạn sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu định tâm như vậy, từ cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên.
Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ.
Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãyđến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm ấy”. Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong những đêm như vậy, Ta đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược như vậy, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: “Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!”. Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy”.
Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang đứng. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang ngồi mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không nằm, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang nằm.
Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau:
“Vị hữu tình nào không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ nói như sau: “Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.
Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có loạn, thân được khinh an, không có dao động, tâm được định tĩnh, chuyên nhất.
Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.
Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.
Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri:
“Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.
Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư tưởng như sau: “Nay Sa-môn Gotama chưa diệt trừ tham, chưa diệt trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu.
Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai.
— Chúng sanh trong tương lai được Tôn giả Gotama thương tưởng, vì Tôn giả là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!… Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng Kinh Trung Bộ chung, con trọn đời quy ngưỡng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.31/3/2019.

Friday, March 22, 2019

The meaning of the day is the Avalokiteshvara.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.


Quan The Am To Tibet, China, Korea and Vietnam, the Bodhisattva is worshiped mostly in the form of a female body, mother Sage Quan The Am. Because according to the Dharma, the Bodhisattva has the ability to display boundless bodies, depending on the circumstances and conditions that correspond to the salvation
Business TLN 8 24
Business TLN 8 24
"If you need to show yourself what to save, then Guan Yin appears like that: the body of the king, the body of the prime minister, the body of the child, the female body, etc." (Priest of the subject). The fairy tale of Quan Am Thi Kinh and Quan Am Nam Hai (Dieu Thien) in Vietnam is formed based on this process of cultural transformation and "market".
The accumulation of Yin and Yang is circulated popularly in Vietnamese folk from the past through the singing and singing art, and most recently, prose stories. According to author Nguyen Lang, the Vietnamese book of Buddhist history, volume II, "The poem Quan Am Thi Kinh (Nôm version) is not yet known to compose in any time. The Vietnamese version was published by Nguyen Van Vinh in 1911, consisting of 788 verses and a devotional letter written to parents in random writing. "
Depending on the contents of Quan Am Thi Kinh story, this may be a version of Cao Ly Buddhism (Korea): "Thi Kinh is the daughter of the Muong family, Lung Tai district, Dai Bang, Cao Ly country. ". However, the context of the story of Quan Am Thi Kinh is closely related to an ancient temple in the north of our country, Phap Van tu (Dau pagoda, Bac Ninh). And the Grandmother of the Strawberry Temple is considered the Guan Yin of the Buddha, "See in the land of South Vietnam / Yun Temple has Buddha Guanyin". Photos Quan Am Thi Kinh hold the child in hand, through many versions of the very close and similar to the stories of Quan Am pupil and Quan Am escaped. According to the researchers, the statue of Quan Am, a pupil with a pupil, appeared for the first time in the history of religious beliefs in Vietnam in the 17th century and became famous in the XVIII century, now still said saved at many temples.
Quan Am Nam Hai poetry story consists of 1,426 sentences, handed down in the folk before the Quan Am Thi Kinh story. According to Nguyen Lang (ibid.), Quan Am Nam Hai story which originated from a monk Nguyen Dynasty in China. This relic was circulated on Vietnamese soil since the end of the fourteenth century or XV and was Vietnameseized. The oldest Nôm version of the Quan Am Nam Hải story is still unknown. The first Vietnamese version of Quan Am singing by Huynh Tinh Cua, published in 1897.
According to the Vietnamese version, Quan Am Nam Hai was originally Dieu Thien, the third princess (later called the Third Lady) of King Dieu Trang (Subhavyùha) in Hung Lam (possibly in India). She renounced the luxury life of the royal court, surpassed all obstacles of her father's king, determined to cross the sea to Huong Tich cave (Huong pagoda today) to practice and witness results here. Legend has it that, after gaining enlightenment, Princess Dieu Thien turned into Quan Am thousand eyes of thousands of hands to save the royal family and the people.
According to researcher Tran Lam Bien, the statue of Quan Am Nam Hai appeared in Vietnam around the sixteenth century. “In an epitaph of the Mac dynasty in 1578, famous contemporary scholar Nguyen Binh Khiem said that Dieu Thien statue was worshiped at Cao Duong pagoda. The epitaph also states that Dieu Thien is a very specific symbol of compassionate teachings in Buddhism. Guan Yin, a thousand hands of thousands of eyes, is closely related to the practice of practicing the Great Compassion, gradually becoming a huge symbol of Buddhist temples. ” END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.GOLDEN AMITABHA MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.23/3/2019.

Ý Nghĩa nhân ngày vía Đức Quán Thế Âm.


Quan Thế Âm (Avalokitesvara) là vị Bồ tát với hạnh nguyện luôn lắng nghe tiếng kêu khổ đau của cuộc đời rồi tìm cách cứu giúp... Hình tượng ngài được mô tả trong kinh Pháp Hoa là một người nam nhưng khi Phật giáo truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam, Bồ tát được tôn thờ hầu hết dưới dạng nữ thân, mẹ hiền Quan Thế Âm. Bởi theo kinh Pháp Hoa, Bồ tát có khả năng thị hiện vô biên thân, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà hiện thân tương ứng để cứu độ
Kinh TLN ky 24 8
Kinh TLN ky 24 8
“Nếu cần hiện ra thân gì để cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó như: thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ v.v...” (phẩm Phổ môn). Truyện tích về Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải (Diệu Thiện) ở Việt Nam được hình thành dựa trên quá trình tiếp biến văn hóa và cơ sở “thị hiện” này.
Sự tích Quan Âm Thị Kính được lưu truyền phổ biến trong dân gian Việt Nam từ xưa qua nghệ thuật hát chèo, truyện thơ và gần đây nhất là truyện văn xuôi. Theo tác giả Nguyễn Lang, sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập II, “Truyện thơ Quan Âm Thị Kính (bản Nôm) hiện chưa biết được sáng tác trong thời gian nào. Bản Việt ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911, gồm 788 câu lục bát và một lá thư Kính Tâm viết cho cha mẹ bằng văn biền ngẫu”.
Cứ vào nội dung của truyện Quan Âm Thị Kính thì có thể đây là một dị bản của Phật giáo Cao Ly (Triều Tiên): “Thị Kính là con gái của nhà họ Mãng, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly”. Tuy vậy, bối cảnh của câu chuyện Quan Âm Thị Kính liên quan mật thiết đến một ngôi chùa cổ ở miền Bắc nước ta, Pháp Vân tự (chùa Dâu, Bắc Ninh). Và Phật Bà chùa Dâu được xem là Phật Bà Quan Âm Thị Kính, “Xem trong cõi nước Nam ta/Chùa Vân có Đức Phật Bà Quan Âm”. Hình ảnh Quan Âm Thị Kính bồng con trên tay, qua nhiều dị bản rất gần gũi và tương đồng với những câu chuyện về Quan Âm đồng tử và Quan Âm tống tử. Theo các nhà nghiên cứu, tượng Quan Âm tay ôm đồng tử lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử tín ngưỡng tượng hình tại Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII và đã trở nên nổi tiếng vào thế kỷ thứ XVIII, hiện nay vẫn còn bảo lưu tại nhiều chùa.
Truyện thơ Quan Âm Nam Hải gồm 1.426 câu, được lưu truyền trong dân gian trước cả truyện Quan Âm Thị Kính. Theo Nguyễn Lang (sđd), truyện Quan Âm Nam Hải vốn xuất phát từ một vị Tăng đời Nguyên bên Trung Hoa. Tích này được lưu truyền trên đất Việt kể từ khoảng cuối thế kỷ XIV hay XV và được Việt hóa. Bản Nôm cổ nhất của truyện Quan Âm Nam Hải vẫn chưa biết được khắc vào thời đại nào. Bản Việt ngữ đầu tiên Quan Âm diễn ca của Huỳnh Tịnh Của, ấn hành năm 1897.
Theo dị bản Việt hóa thì Quan Âm Nam Hải vốn là Diệu Thiện, công chúa thứ ba (về sau gọi bà Chúa Ba) con vua Diệu Trang (Subhavyùha) ở nước Hưng Lâm (có thể thuộc Ấn Độ). Nàng từ bỏ cuộc sống xa hoa của cung đình, vượt qua mọi ngăn trở của vua cha, cương quyết vượt biển đến động Hương Tích (chùa Hương ngày nay) tu hành và chứng quả tại đây. Truyền thuyết cho rằng, sau khi đắc đạo, công chúa Diệu Thiện biến thành Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cứu độ hoàng tộc và muôn dân.
Theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, tượng thờ Quan Âm Nam Hải xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVI. “Trong một văn bia đời nhà Mạc năm 1578, học giả nổi tiếng đương thời là Nguyễn Bỉnh Khiêm cho biết tượng Diệu Thiện được tôn thờ tại chùa Cao Dương. Văn bia còn ghi rõ Diệu Thiện là một biểu tượng rất đặc thù của giáo lý từ bi trong đạo Phật. Quan Thế Âm nghìn tay nghìn mắt trước hết có liên hệ mật thiết với sự thực tập trì chú Đại bi, dần dần đã trở nên một biểu tượng rất lớn trong các chùa viện Phật giáo” .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/3/2019.

Thursday, March 21, 2019

Princess Dieu Thien is not only a great beauty but also a heart of goodwill, calm and gentle personality. However, she was determined to let go of all the glory and richness of the palace.
Not only in Southeast Asia, but in Western countries and many other places in the world, there are many believers of Bodhisattva Avalokiteshvara. Folk people believe that the Bodhisattva Avalokiteshvara is the reincarnation of compassion, who always saves the tribulations of good men and women.
Therefore, when referring to Avalokitesvara Bodhisattva, people are always revered by the name "Quan The Bodhisattva to save and save".
Princess Dieu Thien determined to practice, Dieu Trang Vuong intentionally made it difficult
How does Princess Dieu Thien and Quan Am Bodhisattva have a relationship? Some people say that the Princess Dieu Thien was born by Quan The Bo Tat Bodhisattva, and someone said that Princess Dieu Thien went through a hard cultivation process, eventually attaining the result of becoming the Bodhisattva Avalokiteshvara.
What is the story behind that? First, let's go back to the history of the North and South dynasties a thousand years ago, to learn about the traces as well as the status of this famous princess.
Legend has it that, during the Southern and Northern dynasties (420-589), King Dieu Trang Vuong had three daughters such as pearl like Dieu Nhan, Dieu Am and Dieu Thien, respectively. The third princess Dieu Thien was very intelligent and loved the most by her father. She is not only a great beauty, but also a heart of goodwill, calm and gentle personality and quick and smart.
When the princess reached the age of marriage, Dieu Trang Vuong personally chose for her great talent, but the princess was over and over again. Because Dieu Thien does not care about the glory and happiness in the mundane world, but only one heart of faith and the desire to cultivate to save sentient beings. Therefore, she resolutely refused to marry.
Princess Dieu Thien does not care about the glory and happiness in the mundane world, she is only one heart of faith and faith in spiritual practice. 
The princess's decision caused Dieu Trang Vuong, a fierce and arrogant king. He did not believe that his little daughter, who lived in the silk, could really suffer in the world, so he challenged: "It is December, if you can grow fresh flowers. all over the mountain, I will allow you to practice. ”
In December with bone-chilling weather, snow covered the ground, it was also a time when people were eager to welcome the new year. And Princess Dieu Thien has to go to the mountain alone, where the snow is covered with white, and she has planted every young tree to become a Buddha. And don't know when, all the young trees were covered on the snowy mountain.
When she turned her head to look back, the princess found all blooming flowers. From then on, people around the region called the mountain where the princess planted flowers by the name of Thap Hoa Linh and handed down until today.
Dieu Trang Vuong angrily burned the pagoda, the tiger saved Dieu Thien
So the princess Dieu Thien was satisfied, she left the palace, went to practice at Bach Tu pagoda, located at the foot of the eastern mountain of the "Dai Huong Son" temple in Dieu Chau, Shaanxi. She never stepped out of the door, a sincere devotion to Buddha. However, those who are reverent and determined to practice spirituality must go through trial and error, and so will the princess.
Dieu Thien is pure and pure, but still smeared by malicious rumors of some hoodlums. Rumors circulated throughout the four directions that Dieu Trang Vuong felt lost. The King was extremely indignant and thought that it was a crime of no tolerance, so he ordered the people to burn Bach Tu Pagoda where the princess practices.
The White Tu Pagoda is immersed in the smoke of the sky and sky, only a pile of ashes remains, but strangely, the Dieu Thien princess still chants and chants Buddha's prayers peacefully. The indignation that caused Dieu Trang Vuong to lose his mind, he did not feel the dignity of the Dharma.
While angry, he again ordered the torture with Dieu Thien. But when the executioner just raised his hand, the blade suddenly broke in half. King Dieu Trang Vuong ordered the use of the hanging form to condemn him, at the same time a large tiger jumped into the rescue of the princess.
After being rescued from the school, Princess Dieu Thien went to Tinh Thuy Lake to clean up the dust, fix it again. Later, the lake where the bleached princess was named Phuong Hoang Lake, where she edited her dress was later built into Sister Trang Lau.
The Bodhisattva Avalokitesvara brings salvation to the soul
Princess Dieu Thien continued to go into the mountain, on the way she met horizontal barriers. The princess thought, if only the spring water were flowing under the stones, the pedestrians would walk more easily. The princess had just closed her eyes and chanted, within three miles of the foot of the Great Perfume Mountain, the streams were flowing through the rocks, continuously ceaselessly ...
The sky was pitch black, it was difficult to see the way, the princess came to a rock and told herself: "How good is this stone that can be as bright as the moon to help us look at the road?" . So the stone immediately emitted blue light that helped her see the way.
Today the stone is called Nguyet Quang Nham, in the night, if seen from a distance, blue light rays can be seen, but in the day it is not different from ordinary stones.
Finally, Princess Dieu Thien came to practice in a cave on Dai Huong Son. As time passed, the princess finally cultivated the results. After attaining the righteous result, Dieu Thien embodied the stately statues of the solemn Bodhisattva Avalokitesvara, the god of wisdom, showing the good faith of men and women, including his father and sisters.
The royal prince liked the poor people because of the attainment of the enlightenment of the princess and devotion to Buddha. After Dieu Thien coordinates, the humiliation of her thousand years is not decaying, increasing the faith for spiritual practitioners.
Dai Huong Son Pagoda in Dieu Chau becomes the most famous ancient Quan Yin Amphitheater in China.
Avalokitesvara Bodhisattva 
Those who practice Dharma are believed that the Dieu Thien princess is transformed by Quan The Bodhisattva. He must experience countless hardships in humanity to obtain the Bodhisattva fruit.
The purpose of the Bodhisattva upon arriving in this world is not only to save sentient beings but also to save their cultivation process for posterity. People who hope humanity can preserve morality, waiting for the Holy King's Transition to be reborn to save the world.
If you have the opportunity to visit the horse statue in Shaanxi, remember to visit the Great Perfume Mountain in Dieu Chau - the ashram of the Bodhisattva Avalokiteshvara. Even if you do not believe in the Buddha, but a daughter because to save sentient beings' tribulations but forget the rich and precious glory of the world, it is worth it to respect ... END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.GOLDEN AMITABHA MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.21/3/2019.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.
Công chúa Diệu Thiện không những là tuyệt sắc giai nhân mà còn có tấm lòng thiện lương, tính cách điềm tĩnh nhẹ nhàng và thông minh sắc sảo. Tuy nhiên, nàng đã quyết tâm buông bỏ mọi vinh hoa phú quý chốn cung thành…
Không chỉ ở Đông Nam Á, mà tại các nước phương Tây và nhiều nơi khác trên thế giới đều có rất nhiều người tín phụng Quán Thế Âm Bồ Tát. Dân gian tin rằng Quán Thế Âm Bồ Tát là hóa thân của sự từ bi, là người luôn cứu vớt cuộc sống khổ nạn của những thiện nam tín nữ.
Bởi vậy, khi nhắc tới Quán Thế Âm Bồ Tát, người ta luôn tôn kính gọi bằng cái tên “Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn”.
Công chúa Diệu Thiện quyết tâm tu hành, Diệu Trang Vương cố ý gây khó dễ
Công chúa Diệu Thiện và Quán Thế Âm Bồ Tát có mối quan hệ như thế nào? Có người nói rằng công chúa Diệu Thiện là do Quán Thế Âm Bồ Tát chuyển sinh, lại có người nói công chúa Diệu Thiện trải qua quá trình tu luyện gian nan, cuối cùng đắc chính quả trở thành Quán Thế Âm Bồ Tát.
Câu chuyện đằng sau đó là gì? Trước tiên, chúng ta hãy cùng ngược dòng lịch sử trở về thời kỳ Nam Bắc triều cách đây một nghìn năm trăm năm, để tìm hiểu về những dấu tích cũng như thân thế của người công chúa nổi tiếng này.
Tương truyền, vào thời Nam Bắc triều (420-589), vua Diệu Trang Vương có ba người con gái như hoa như ngọc lần lượt là Diệu Nhan, Diệu Âm và Diệu Thiện. Công chúa thứ ba Diệu Thiện vốn rất thông minh và được vua cha yêu thương nhất mực. Nàng không những là tuyệt sắc giai nhân mà còn có tấm lòng thiện lương, tính cách điềm tĩnh nhẹ nhàng và thông minh nhanh nhẹn.
Khi công chúa đến độ tuổi kết hôn, Diệu Trang Vương đích thân lựa chọn cho nàng những bậc anh tài tuấn tú, nhưng công chúa hết lần này tới lần khác đều một mực chối từ. Bởi Diệu Thiện không màng vinh hoa và hạnh phúc nơi thế gian trần tục, mà chỉ một lòng nhất tâm tín Phật và mong muốn tu luyện để cứu độ chúng sinh. Bởi vậy, nàng kiên quyết không chịu kết hôn.
Công chúa Diệu Thiện không màng vinh hoa và hạnh phúc nơi thế gian trần tục, nàng chỉ một lòng nhất tâm tín Phật và mong muốn tu hành. 
Quyết định của công chúa khiến Diệu Trang Vương, một vị vua thô bạo và ngạo mạn vô cùng phẫn nộ. Ông không tin rằng cô con gái bé bỏng vốn sống trong nhung lụa có thể thật sự chịu khổ giữa chốn trần gian, thế nên ông đã đưa ra lời thách đố: “Bây giờ đang là tháng Chạp, nếu con có thể trồng hoa tươi nở khắp trên núi, ta sẽ cho phép con tu hành”.
Tháng Chạp với thời tiết giá lạnh thấu xương, tuyết rơi phủ kín mặt đất, đó cũng là khoảng thời gian người người đều háo hức chào đón năm mới. Còn công chúa Diệu Thiện phải một mình lên núi nơi tuyết trắng phủ đầy, vừa trồng từng cây non vừa thành tâm niệm Phật. Và không biết từ lúc nào, tất cả những cây non đã được phủ đầy trên ngọn núi tuyết.
Khi quay đầu nhìn lại, công chúa phát hiện tất cả đang nở rộ những đoá hoa rực rỡ. Từ đó về sau, người dân quanh vùng gọi ngọn núi nơi công chúa trồng hoa bằng cái tên Tháp Hoa Lĩnh và lưu truyền mãi cho tới ngày nay.
Diệu Trang Vương tức giận đốt chùa, mãnh hổ cứu nguy cho Diệu Thiện
Thế là công chúa Diệu Thiện đã được toại nguyện, nàng rời khỏi cung vua, tới tu hành tại chùa Bạch Tước, nằm dưới chân núi phía Đông của  chùa “Đại Hương Sơn” tại Diệu Châu, Thiểm Tây. Nàng không hề bước chân ra khỏi cửa, một lòng thành tâm lễ Phật. Thế nhưng, những người thành kính và quyết tâm tu hành đều phải trải qua ma nạn thử thách, và công chúa cũng vậy.
Diệu Thiện thuần khiết trong sáng là vậy, nhưng vẫn bị bôi nhọ bởi những lời đồn thổi ác ý của một số tên lưu manh vô lại. Lời đồn lưu truyền khắp bốn phương khiến Diệu Trang Vương cảm thấy mất mặt. Vua vô cùng phẫn nộ và cho rằng đó là tội không thể dung thứ, nên đã hạ lệnh cho người tới đốt chùa Bạch Tước nơi công chúa tu hành.
Chùa Bạch Tước chìm trong khói lửa ngút trời, cuối cùng chỉ còn lại một đống tro tàn, nhưng lạ thay công chúa Diệu Thiện vẫn ngồi tụng kinh niệm Phật bình an vô sự. Cơn phẫn nộ đã làm Diệu Trang Vương mất đi lý trí, ông không hề cảm nhận được sự thần thánh trang nghiêm của Phật Pháp.
Trong lúc tức giận, ông lại hạ lệnh dùng cực hình với Diệu Thiện. Thế nhưng khi đao phủ vừa vung tay lên thì cây đao bỗng gãy làm đôi. Vua Diệu Trang Vương lại hạ lệnh dùng hình thức treo cổ để xử tội, đúng lúc ấy xuất hiện một con hổ lớn nhảy vào pháp trường giải cứu cho công chúa.
Sau khi được cứu khỏi pháp trường, công chúa Diệu Thiện tới hồ Tĩnh Thủy để gột sạch bụi trần, chỉnh sửa lại xiêm y. Sau này, hồ nước nơi công chúa tẩy trần được đặt tên là hồ Phượng Hoàng, nơi cô chỉnh sửa xiêm y sau này được xây dựng thành Sơ Trang Lầu.
Quán Thế Âm Bồ Tát mang đến sự cứu độ linh hồn
Công chúa Diệu Thiện tiếp tục đi vào trong núi, trên đường nàng gặp các khe suối chắn ngang. Công chúa thầm nghĩ, giá như nước suối kia chảy dưới những hòn đá thì khách bộ hành sẽ đi lại dễ dàng hơn. Công chúa vừa nhắm mắt tụng kinh, trong phạm vi ba dặm ở chân núi Đại Hương Sơn, các khe suối đều chảy ngầm qua những hòn đá, nối tiếp nhau không ngừng…
Bầu trời dần tối đen như mực, rất khó để nhìn thấy đường đi, công chúa liền tới bên một tảng đá và tự nói với mình: “Hòn đá này có thể sáng như ánh trăng để giúp ta soi đường thì tốt biết mấy”. Thế là hòn đá liền phát ra những tia sáng xanh giúp nàng nhìn thấy đường đi.
Ngày nay người ta gọi loại đá đó là Nguyệt Quang Nham, trong đêm nếu nhìn từ xa, có thể thấy những tia sáng xanh phát ra, tuy nhiên ban ngày thì nó không có gì khác biệt với những hòn đá thông thường.
Cuối cùng, công chúa Diệu Thiện tới tu hành trong một hang đá trên Đại Hương Sơn. Thời gian qua đi, cuối cùng công chúa cũng đã tu thành chính quả. Sau khi đắc chính quả, Diệu Thiện hiện thân thành Pháp tượng Quán Thế Âm Bồ Tát thần thánh trang nghiêm, thần thông đại hiển cứu độ thiện nam tín nữ, bao gồm cả cha và các chị gái của mình.
Những hoàng thân quốc thích cùng người dân nghèo khó đều vì sự tu thành đắc đạo của công chúa mà thành tâm lễ Phật. Sau khi Diệu Thiện tọa hóa, nhục thân của nàng nghìn năm không bị mục nát, càng tăng thêm tín tâm cho những tín đồ tu hành.
Chùa Đại Hương Sơn ở Diệu Châu trở thành đạo tràng Quán Thế Âm lâu đời nổi tiếng nhất ở Trung Quốc.
Quán Thế Âm Bồ Tát. 
Những người tu luyện Phật Pháp đều tin rằng, công chúa Diệu Thiện là do Quán Thế Âm Bồ Tát chuyển thế. Người phải trải qua vô vàn khổ nạn khó khăn ở nhân gian để đắc được quả vị Bồ Tát.
Mục đích của Bồ Tát khi tới thế gian này không chỉ là cứu độ chúng sinh mà còn để lưu lại quá trình tu luyện của mình cho hậu thế. Người hy vọng nhân loại có thể gìn giữ đạo đức, chờ đợi Chuyển Luân Thánh Vương chuyển sinh xuống cứu độ thế gian.
Nếu bạn có cơ hội đến thăm tượng binh mã ở Thiểm Tây, hãy nhớ tới thăm Đại Hương Sơn ở Diệu Châu – đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát. Cho dù bạn không tin Thần Phật, nhưng một người con gái vì để cứu vớt khổ nạn của chúng sinh mà quên đi những vinh hoa phú quý nơi thế tục, thật đáng để chúng ta kính ngưỡng…HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.21/3/2019.

12 PRAYER AND 3-DAY MEANING OF THE WORLD.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.

1014421_424502531001879_1293794260_n
* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *
1. Nam Model of Vien-Thong, the name of Self-In, Quan-Amitai Lai, who spreads the vows. (Pray) 
To be conferred as "Full understanding", "Fully informed", He brought the practice and advised all around.
First Vow: 
When operating the Bodhisattva 
My title: Self in Quan Am 
Vien Thong, purity of the ceiling 
Where suffering, the bar of rescue immediately
2. Nam-tissue mindfulness of mindless, mind-sounding As Lai often resident South Hai voluntary. (Pray) 
In a mind that is free to mind, He vows often in the South Sea (Nam Hai) to save sentient beings.
Second Prayer: 
Do not ask for hardship and 
resolve a sentimental salvation 
Always appear in the East Sea to be 
sunk, when there is a lot of wind.
3. Nam-model stay Ta-Ba U-Minh about Quan Am Nhu-Lai range to save the suffering of Praying (prostrate) 
Always Always in the realms of She and the U-Minh, He saves those who call upon Him.
Third Voluntary: 
I apply for the current 
U Minh many suffering stories 
Oan family is reported to harm each other 
Hear the lament, quickly save immediately.
4. South-model goods ma ma, except Quan Yin As-Lai monsters except dangerous vow. (Oh) 
Except for the evil and demonic species, He can save people in danger.
Pray Wednesday: 
Or except for demons 
How many horrible demons 
give them all to stop 
Dying out of danger, without interference.
5. Male-pure tissue vase Yang lobe, Quan Am Nhu-Lai orange-revealing the mind. (Good Lord) 
He took the branch of the willow tree gently immersed in cool fresh water in the pure vase to sprinkle off the fire of sentient beings.
Voluntary Thursday: 
Handles Duong Lieu 
Nectar water to cool people Thien 
crazy island, crazy island 
An amusing, troublesome dissipation.
6. Nam-Dai Dai-compassion energy flushing, Guan Yin As-Lai regular equality of prayer. (Pray) 
Merciful to the hungry and willing to forgive, He does not distinguish between resentment of relatives, all consider the same.
Friday Voluntary: 
Regularly Equal 
Compassion Mercy of 
all beings Discharge of all faults 
No longer distinguishes from all species.
7. Nam-model stay in the week of infestation, Quan Am Nhu-Lai vowed to kill three disciples. (Pray) 
Here and there all night to help sentient beings out of harm, He vows to save sentient beings from the three evil paths: hell, hungry ghosts, and animal beings.
Seventh Prayer: 
Ending the three lines of the 
hellish image, hungry ghosts, 
tiger animals , wild animals surrounding 
Quan Yin appear, sentient beings escape.
8. Nam-tissue hope Nam to pray for worshiping, Guan Yin As-Lai, aging to escape the vow. (Pray) 
If anyone comes back to the south mountain and prays wholeheartedly, the oil that is shackled by the chains is also released.
Eighth Prayer: The 
sinner is tied up 
Being executed and then investigating 
Thanh Tam worshiping 
Quan Yin to be happy, escape gently
9. Nam-model created French-boat du sea, Guan Yin As-Lai degrees of beings being voluntary. (Proverbs) 
Using a spiritual practice to build a boat, He travels in the sea of ​​misery to end all beings.
Ninth Prayer: 
Making a boat to save 
Helping people to overcome the difficulties of the 
four sea levels of suffering from 
Quan Am degrees, an alms nirvana
10. Nam-tissue money colon Phan, post-protection, Quan Am Nhu-Lai lead Western prayer. (Pray) 
If anyone prayed and practiced according to His instructions, when leaving this body, there would be a long way to go ahead, to cherish preciously, to receive the West.
Tenth Chapel: The 
West leads the 
Fragrant Flower, the music, the Burial 
Phang, tells the salvation of the Royal Quan Yin page 
, takes it to the West.
11. Male-tissue Amitayus Buddha scene, Quan Yin As-Lai Di Da life prayer. (Pray) 
In the realm of Amitabha Buddha (ie Amitabha Buddha), the Day has been foreseen that he will replace Amitabha Buddha in that person later.
Eleventh Prayer: 
Amitabha recounts the 
Western Scenery, the life expectancy of sentient 
beings wants to live in the 
Quan Yin memorial, the West quickly.
12. Male-model strictly unremarkable camp, Guan Yin As-Lai results in the second prayer. (Goodbye) 
No one can compare with Him seriously, it is the result of following twelve great vows.
Twelfth Vow: 
Practicing the news of tons 
Although this body is shattered, it must have the 
heart of effort to practice the 
Twelve prayers of eternal birth.
Nam Mo Great From Great Compassion Save the Savior of the Prayers of Great Feelings Bach Y Avalokiteshvara Bodhisattva. 
Nam Mo Great From Great Compassion Save the Savior of the Prayers of Great Feelings Bach Y Avalokiteshvara Bodhisattva. 
Nam Mo Great From Great Compassion Save the Savior of the Prayers of Great Feelings Bach Y Avalokiteshvara Bodhisattva.
* * * * * * * * *  
3-DAY MEANING OF THE PEOPLE'S CONCEPT __ (()) __
Every year Buddhists all over the world often worship the Bodhisattva Avalokitesvara very solemnly on the following days: February 19, June 19 and September 19 all follow the lunar calendar. But most of them just know that is the ceremony of Quan The Amen. In fact, in ancient Zen practice, it was clearly stated:
February 19 is the Avalokitesvara Bodhisattva. 
June 19 is the Avalokitesvara Bodhisattva. 
September 19 is the Avalokitesvara Bodhisattva.
I hope that this article will give readers the true belief and sincerity, always commemorate the title of Avalokitesvara Bodhisattva to be sympathetic to the Bodhisattva, even if the disaster is right. Application.
Be faithful, the words of the Buddhas never lie. END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.GOLDEN AMITABHA MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.21/3/2019.