Thursday, September 3, 2020

 

Hộ niệm là gì, hộ niệm như thế nào cho đúng cách ?

 Hai chữ hộ niệm có nghĩa là giúp cho người sắp chết có được chánh niệm. Chữ niệm nầy, có nghĩa là chánh niệm. Nói cách khác là mình giúp (hộ) cho họ nhớ (niệm) Phật, tức đồng với tâm niệm Phật, vì tâm niệm Phật là chánh nhân thành Phật.


Hỏi: Con nghe nói hộ niệm vãng sanh, nhứt là cho người hấp hối sắp chết, nhưng con không hiểu phải hộ niệm như thế nào mới đúng cách? và phải làm sao cho người chết được lợi lạc vãng sanh? Kính xin Thầy hoan hỷ chỉ dạy cho chúng con được hiểu rõ.

Đáp: Đây là một vấn đề rất hệ trọng đối với những người tu theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sanh. Những người mà tịnh nghiệp của họ đã thuần thục, hiện đời họ đã niệm Phật chứng được niệm Phật Tam Muội, tức được nhất tâm bất loạn, Thánh cảnh hiện tiền rồi, thì việc hộ niệm không cần thiết nữa. Vì họ đã vãng sanh ngay trong hiện đời rồi. Thật ra, trong thời mạt pháp nầy, đối với hạng người nầy thật không phải dễ có. Đó phải là bậc thượng căn thượng trí mới có được.

Ngoài ra, nếu chưa được như thế, thì giờ phút sắp lâm chung, đối với việc hộ niệm hay trợ niệm là điều tối thiết yếu, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên tìm hiểu thật kỹ về vấn đề nầy.

Trong khuôn khổ giới hạn của trang giấy phạm vi vấn đáp, chúng tôi không thể nào trình bày cho tận tường chi tiết hết được. Ở đây, chúng tôi chỉ xin được trình bày một cách khái yếu vấn đề mà thôi.  

Đời người, khi sắp mất, hay cuối nẻo đường trần có 3 lối rẽ để đi. Một là tiến thẳng lên Thánh đạo, vãng sanh Cực Lạc tức thời, lối đi nầy chỉ dành cho những người cực thiện. Hai là lối đi vào thiện đạo và ba là lối đi vào ác đạo. Lối đi vào thiện đạo dù có được tốt đẹp ít khổ, nhưng vẫn còn quanh quẩn luân chuyển vào nhơn đạo hoặc thiên đạo. Thứ ba là lối đi vào ác đạo, đây là con đường trầm luân thọ khổ muôn kiếp, mà không một ai muốn bước chân vào. Tuy không muốn, nhưng nghiệp ác hiện đời đã gây tạo, thì phải tránh như thế nào đây? Cho nên đối với hai hạng người sau nầy, thì việc hộ niệm trong giờ phút sắp lâm chung thật vô cùng quan yếu. Nhưng phải hộ niệm như thế nào để cho người sắp lâm chung mới được lợi lạc vãng sanh? Đó là điều mà người đóng vai trò hộ niệm giúp cho những người sắp chết, thiết nghĩ, cũng cần nên  biết qua. 

Hai chữ hộ niệm có nghĩa là giúp cho người sắp chết có được chánh niệm. Chữ niệm nầy, có nghĩa là chánh niệm. Nói cách khác là mình giúp (hộ) cho họ nhớ (niệm) Phật, tức đồng với tâm niệm Phật, vì tâm niệm Phật là chánh nhân thành Phật. Vì muốn nhắc nhở người bệnh luôn nhớ đến Phật, mà không nhớ đến duyên trần, vì nhớ đến duyên trần là mất chánh niệm hay tịnh niệm, thì rất trở ngại cho việc vãng sanh. Do đó, mà người hộ niệm là chiếc phao nổi để người bệnh sắp chết nương vào.Vì sao? Vì lúc nầy, người bệnh tứ chi đau nhức rã rời, nếu là người bị mang chứng bệnh nan y, như ung thư chẳng hạn, thì sự hành hạ xác thân, bởi cơn đau nhức hoành hành thật là khó tả. Do đó, tâm thần của họ dễ bị tán loạn, dù cho bình thường, họ có công phu niệm Phật, nhưng vì chưa đạt đến chỗ thuần thục, nên dễ bị tán tâm. Bởi thế, nên họ rất cần người khác hộ niệm. Lúc nầy, người bệnh hoàn toàn mất hết tự chủ, tinh thần rối loạn, nghĩ nhớ lung tung, thật khó tập trung vào câu hiệu Phật. Nên người hộ niệm phải giúp cho họ tập trung tinh thần về với chánh niệm bằng cách chí thành tha thiết niệm Phật.

Điều ta nên nhớ, người bệnh vừa dứt hơi thở, nhưng chưa thật chết hẳn, thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi thể xác, ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ, nên giờ phút nầy, vẫn còn rất cần thiết cho việc hộ niệm, niệm Phật. 

Người bệnh được vãng sanh hay không, ngoài phần chánh nhân tu niệm bình nhật của họ ra, phần lớn là nhờ vào giờ phút hộ niệm nầy. Do đó, những người thân quyến hay con cháu trong gia đình, là những nhân tố chánh giúp cho người thân của mình không bị đọa lạc vào cảnh khổ. Nếu giờ phút quan trọng nầy, mà thân nhân hay bạn bè, không biết cách hộ niệm, chẳng những không niệm Phật giúp cho người thân mình có thêm chánh niệm, trái lại, còn gây thêm cho họ nhiều rối loạn, lo âu, buồn bực v.v… thì thật là tai hại nguy hiểm vô cùng. Cho nên, nếu mọi người thật sự thương thân nhân của mình, thì chỉ nên một lòng chắp tay tha thiết mà thành tâm niệm Phật
Ngoài ra, không nên có thái độ hay lời nói gây xúc phạm đến người bệnh sắp lâm chung. Vì lúc nầy hơn bao giờ hết, người bệnh dễ hay sanh bực tức giận hờn.

Cách hay nhất trong giờ phút nầy, nên cần có ít nhất là một người biết cách trợ niệm, để giúp đỡ  chỉ bảo mọi việc cho thân nhân và bạn bè. Người nầy rất là cần thiết. Vì thân nhân của người sắp chết, ai nấy đều tỏ ra rất bối rối lo buồn, nên không còn đủ bình tĩnh để lo trợ niệm giúp đỡ cho bệnh nhơn. 

Thế nên, theo kinh nghiệm của chúng tôi, thì phải có người thông hiểu mọi việc hộ niệm túc trực bên cạnh bệnh nhơn, vừa nhắc nhở bệnh nhơn niệm Phật, vừa khuyên nhủ thức nhắc bằng những lời pháp ngữ cảnh tỉnh, để bệnh nhơn tăng thêm đạo lực tín tâm và dễ được định tâm niệm Phật hơn. Bởi vậy, những người hộ niệm nầy, phải được thay phiên nhau niệm Phật liên tục, tùy hoàn cảnh mà khéo léo dùng chước phương tiện để giúp cho bệnh nhơn và trong thân quyến.  Điều nầy, thật rất là cần thiết quan trọng. Người hộ niệm phải có tấm lòng bi cảm và hòa ái nhẫn nại đối với bệnh nhơn. Đó là thể hiện lòng từ bi vị tha nhân ái cao cả của Bồ tát Quán Thế Âm. 
Tóm lại, muốn cho việc hộ niệm vãng sanh đạt được kết quả cao, theo thiển nghĩ của chúng tôi, cần phải hội đủ những điều kiện cần thiết để thực hiện qua 3 yếu tố quan trọng như sau:

I. Người hộ niệm 
II. Bệnh nhơn.
III. Thân bằng quyến thuộc.

I. Người hộ niệm.

Đối với người hộ niệm đóng một vai trò chủ chốt rất quan trọng trong việc hộ niệm, nên cần phải thông hiểu về việc hộ niệm nầy. Sau đây là những điều mà người hộ niệm cần biết:

  1. Nên khuyên bảo thân quyến và sắp xếp mọi việc cần thiết trong lúc hộ niệm cho người bệnh hấp hối sắp lâm chung. Tối kỵ nhứt là gây xáo trộn khóc than trong giờ phút nầy. Những ai không dằn lòng được xúc động, thì tốt hơn hết là nên mời họ bước ra ngoài, đừng để bệnh nhơn nghe tiếng khóc than.
  2. Thái độ và cung cách, nhứt là lời nói đối với người bệnh phải hiền hòa dịu ngọt, nên khuyến nhắc người bệnh nhớ niệm Phật và cần gợi lại những công hạnh mà người bệnh đã thực hiện.
  3. Ngoài việc niệm Phật và khuyến nhắc bệnh nhơn ra, tuyệt đối không được nói lời gì khác, mà gây cho bệnh nhơn không vui dễ mất tín tâm và tán loạn.
  4. Tùy trường hợp, hoàn cảnh nơi bệnh nhơn nằm, mà linh động niệm Phật to tiếng hoặc nhỏ tiếng, tốt hơn hết là chỉ niệm Phật cho bệnh nhơn vừa đủ nghe, không nhỏ quá và cũng không nên lớn tiếng quá. Theo kinh nghiệm cho biết, lúc nầy, càng niệm lớn tiếng, bệnh nhơn càng không nghe rõ. Tốt hơn hết, là nên niệm vừa đủ cho bệnh nhơn nghe thôi. Và khi niệm, phải niệm đủ 6 chữ : Nam Mô A Di Đà Phật. Phải niệm chậm rãi và từng chữ cho thật rõ ràng.
  5. Phải thay phiên nhau niệm Phật liên tục không cho gián đoạn, cần khuyến khích thân nhân cùng thay phiên nhau niệm Phật. Trong phòng bệnh, ngoài tiếng niệm Phật ra, tuyệt đối phải giữ yên lặng, không được nói chuyện ồn ào làm loạn tâm bệnh nhơn vô ích.
  6. Khi người bệnh đã thật sự tắt thở, cứ để như vậy mà chí thành niệm Phật liên tục, không nên sửa làm động đậy bệnh nhơn, ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ. Điều nầy rất quan trọng, chúng ta cần phải lưu ý. Vì khi bệnh nhơn mới tắt thở, thần thức chưa rời khỏi xác thân. Nên rất cẩn trọng quan tâm về vấn đề nầy. Còn nhiều chi tiết khác, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra 6 điều quan trọng mà người hộ niệm cần ghi nhớ trong khi hộ niệm mà thôi.

II. Bệnh nhân.

Người bệnh là yếu nhân chính trong việc quyết định cuộc đời mình. Đây là giờ phút quan trọng để mình quyết định cho sự chọn lựa. Nếu là một liên hữu đã phát nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, thì trong lúc bệnh nặng, nên buông bỏ tất cả duyên trần, không bận tâm với bất cứ vấn đề gì, nhứt là đối với việc gia đình nhà cửa con cháu v.v… Không ai thương mình bằng chính mình thương mình. Trước giờ phút phân ly đôi ngã, dù đó là người thân yêu nhứt đời mình, họ cũng không thể nào thay thế được gì cho mình. 

Trong nỗi niềm cô đơn tuyệt vọng, cái chết gần kề với mình, thì thử hỏi mình còn tham đắm luyến tiếc thứ gì nữa chớ! Nghĩ thế, mình nên dốc hết tâm lực còn chút hơi tàn mà quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tây phương, theo bản nguyện sanh tiền của mình đã phát nguyện. Nên nhớ đến lời khuyên dạy chí tình chí thiết của Hòa Thượng Thiện Đạo, vị Tổ thứ hai của Liên Tông. Ngài thường khuyên dạy cho những người tu Tịnh độ, niệm Phật như sau: “Người niệm Phật khi sắp mãn phần, muốn được sanh về Tịnh độ, thì điểm cần yếu là đừng sợ chết. Phải thường nghĩ thân nầy nhơ nhớp, biết bao điều khổ lụy trói vây! Nếu bỏ được thân huyễn hôi nhơ, sanh về Cực Lạc thọ thân kim cương thanh tịnh, sẽ thoát khỏi luân hồi khổ thú, hưởng vô sự an vui. Ví như bỏ chiếc áo cũ rách đổi lấy đồ trân phục, còn điều chi đáng thích ý bằng! Nghĩ như thế, buông hẳn thân tâm không còn lo buồn tham luyến. Lúc vừa có bệnh, liền tưởng đến sự vô thường, một lòng niệm Phật chờ chết. Nên dặn thân thuộc chớ lộ vẻ bi thương, cùng bàn việc hay dở trong nhà. Nếu có ai đến thăm, chỉ khuyên nên vì mình niệm Phật, đừng hỏi thăm chi khác…”. 

Đó là chúng tôi trích dẫn một đoạn khuyến nhắc của Ngài, để chúng ta nhớ đến mà hết lòng niệm Phật. Nên biết, Tổ Thiện Đạo là hóa thân của đức Phật A Di Đà. Lời Ngài dạy thật là thiết tha bi mẫn. Đây là lời khuyên chung của Tổ, không nhứt thiết là chỉ có liên hữu không thôi. Nếu ai nghe theo lời khuyên dạy nầy của Ngài, mà thật tâm tha thiết hành trì, dốc lòng niệm Phật, thì cũng được lợi lạc vãng sanh về Cực Lạc. 

Xin tất cả hãy nghĩ đến tương lai sướng hay khổ của đời mình mà tự mình phải cố gắng buông bỏ tất cả, chỉ có một con đường trước mắt là niệm Phật cầu vãng sanh về Cực Lạc mà thôi. Hãy nhớ đến bản nguyện của đức Từ Phụ A Di Đà lúc nào Ngài cũng sẵn sàng chờ đón chúng ta.  Đó là trọng tâm chính yếu mà người bệnh sắp lâm chung cần ghi nhớ thực hành để được lợi lạc cho chính mình.

III. Thân bằng quyến thuộc.

Việc hộ niệm người bệnh được vãng sanh hay không, những người trong thân quyến đóng vai trò không kém phần quan trọng. Nếu thật sự thương thân nhân của mình trong giờ phút quyết định cuộc đời vui hay khổ nầy, y cứ theo lời chư Phật Tổ chỉ dạy, chúng tôi xin thành thật có đôi lời khuyến nhắc chung qua một vài điều thiết yếu sau đây:

  1. Phải tỏ thái độ có lòng thương kính từ ái và tuyệt đối không được dùng lời nói mất hòa khí trong gia đình. Tuyệt đối, không nên đem việc nhà ra bàn luận. Nếu để cho người bệnh biết được những sự việc không hay xảy ra, thì sẽ gây tác hại lớn cho việc vãng sanh, vì người bệnh sẽ phiền muộn, tham, sân, si nổi lên dễ sa vào ác đạo như tên bắn.
  2. Phải làm và nghe theo sự thức nhắc, sắp xếp của người có trách nhiệm hộ niệm cho thân nhân của mình. Những người nầy, họ vì thân nhân của mình mà hết lòng hộ niệm, nên chúng ta cần tôn trọng những lời chỉ bảo của họ.
  3. Không nên kêu khóc lớn tiếng và kể lễ bất cứ điều gì, chỉ một bề niệm Phật. Phải gắng dằn lòng xúc động trong giờ phút nầy. Nên nhớ đây là yếu tố quan trọng mà người mới lâm chung có được vãng sanh hay không, đều tùy thuộc vào thân quyến.
  4. Tất cả nên vì người mất mà phải thành tâm niệm Phật, tụng kinh cầu siêu suốt trong thời gian từ khi mất cho đến trải qua 49 ngày.
  5. Trong thời gian cư tang, nên tu tạo nhiều phước lành để hồi hướng cho người quá cố sớm được siêu sanh thoát hóa.

Riêng đối với thân hữu bạn bè, chúng ta cũng nên quan tâm lưu ý. Tục ngữ ta có câu: “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Hay “nhứt gia hữu sự bá gia ưu”. Nghĩa là: một nhà có việc trăm nhà đều quan tâm lo lắng giúp đỡ. Vì thế, nên khi hay tin người bạn thân của mình bệnh nặng, thì bạn bè thường hay đến thăm. Đến thăm là vì nghĩ tình thương bạn. Do đó, nếu thật thương người bạn mình trong giờ phút quan trọng nầy, thì chỉ nên hiệp lực cùng với những người khác mà đồng tâm niệm Phật. Nếu không quen niệm, thì chúng ta cũng không nên nói những chuyện gì khác. Vì như thế, chỉ làm cho người bạn của mình đang nằm chờ chết càng thêm rối loạn tinh thần mà thôi, chớ không có ích lợi gì. 
Thế nên, nếu thật sự thương bạn mình, thì chúng ta chỉ nên giữ yên lặng là tốt lắm rồi. Được thế, thì chẳng những người bệnh được lợi ích mà những thân quyến của người bệnh cũng mang ơn chúng ta rất nhiều. Xin tất cả hãy quan tâm cho vấn đề nầy. Đừng vì thói quen tình cảm của mình mà gây tác hại cho người bệnh, đang cần đến sự trợ niệm thiết thực của chúng ta. Nếu không như thế, thì rất tội nghiệp cho người bạn của chúng ta lắm! Họ đang khao khát cần sự giúp đỡ của chúng ta, như người sắp chết đuối mong chúng ta cứu vớt họ vậy. Mong lắm thay!
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/9/2020.

  Meaning Of Birth.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.


In the "Birth of the story" we see that there are many people who meticulously recite the Buddha's name to be born very freely, knowing before the time of departure, without a bit of sickness, their face is more beautiful than usual.


Many people do not understand, saying: “Reciting Buddha's name, having passed away three years ago, must die, hey da! I'm scared, stop it, don't tell me to recite Buddha's name anymore. ”


Those who have such thoughts, because they do not understand the meaning, the noble value of the rebirth, should be afraid of death, fearful of death, and nostalgic for the world to suffer forever in the six paths. recovery.


The method of reciting the Buddha's name does not have samsara, rebirth is not death, and death is life but passing away. Still death is unable to die. So this method is also called the method of not arising, not passing. Because during the time of birth you are very alert and see the Buddha come to pick you up and then follow the Buddha away. At that time the temporary corpse of this world was no longer in use. After reaching the Western realm of Dewachen you will have a beautiful and dignified body just like Buddha Amitabha. So absolutely not dead.


So I often tell you: This dharma is a method that is not old, not sick, or dead. Please rest assured, stop step, calm down in one direction, but meditate. I say this is the truth, not deceiving you for anything, as long as you focus on reciting the Buddha's name, until the mind is purified, all suffering will be gone, your face is always happy. laugh, because he is happy, so he is not old. There is an old saying that "worrying makes people get old quickly", sadness makes you easy to age.


Right now we are still carrying this karma of body karma, life and death without any freedom. During times of suffering, life is not over yet, if we want to die but still have to live, until we have many merits, we want to live a few more years to enjoy but life is over, so we still have to die.


Therefore, when you send the mind to recite Buddha's name or recite the Buddha's path to recite the Buddha's path, body, mind, world, and external conditions, all let go down, only the name Amitabha Buddha is left with virtuous joy. filled in the heart, that is called full happiness. With diligent diligence to the point of meticulous work, you will no longer be attached to the suffering of old and death diseases, as much as samsara is free, want to leave at any time, want to stay in the world to live more. a few years is fine. At this time, your life is completely beautiful and you know what you will have to do.


The one who attains the self-born samsara level is the one who has qualified to go to the Western world of Ultimate Bliss to enjoy. They did not leave but volunteered to stay because they found that there are many predestined people.


Such a justifiable reason is absolutely not because of the desire to live and fear death or to enjoy in this world. How enjoyment in the world actually compares to the Western Ultimate Bliss World! The house that we consider to be the most beautiful and luxurious, for the Western people of the Great Bliss they do not care about, because their house is in the palace, the floor is full of glass (marble), The path is covered with gold, food just needs to think about it, everything appears by thought.


Due to the practice of qi in the world, there are times when we start eating and drinking until enlightenment, food immediately disappears. So the house in the Western realm of Great Bliss is empty, extremely clean and does not require a kitchen. Do you find life like that happy? And here we are, the furniture is piled up in the house, wanting to clean it up takes a lot of time and hassle. So people recite the Buddha's name until they are meticulously accomplished, if they find that they are not enough to condition sentient beings in this world, they all hope to soon go to the West of Great Bliss to enjoy blessings.


After reaching the world of Dewachen, every day seeing the Buddha, he is offered ten thousand Buddha images. In the Amitabha Sutra says ten thousand Buddha images, in fact you can offer an infinite number of Buddhas. The reason he said less than that was because Buddha was very compassionate, he knew that the awakening of sentient beings was still very limited, up to that point, but sometimes even started thinking about the old house and the relatives still in the world. time. Therefore he, the new means, said that offering less number than reality and told us that we can return to visit the world any time is possible.


The Western world of Polar Bliss is so solemn and beautiful. Wherever you go, there are such good achievements. Why don't we take advantage of leaving early?


Such a method can be accomplished so easily. For Bodhisattvas who have attained other disciplines, if they do not enter this realm, they are considered to be an unbelievable and difficult method to understand.


It is just like we tell people that reciting the Buddha's Path is a very good, very victorious place to practice. They heard it easily to believe it. But after a few days of coming here to recite the Buddha's name, they would believe. A little thing in this world that people cannot even understand, let alone the victorious, complete realm in the Western world of Great Bliss.


From small things to big stories. We can realize a little bit to further increase our beliefs and good roots to bring most of our wishes to recite the Buddha's name for the Pure Land birth. Surely there will be achievements.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/9/2020.

 Ý Nghĩa Của Vãng Sanh.


Trong “Vãng sanh truyện” chúng ta thấy có rất nhiều người do công phu niệm Phật được vãng sanh rất tự tại, biết trước giờ giấc ra đi, không một chút bệnh hoạn, gương mặt lại tươi đẹp hơn lúc bình thường.


Nhiều người không hiểu lại cho rằng: “Niệm Phật mới ba năm đã vãng sanh, là phải chết, ây da! Tôi sợ lắm, thôi thôi, đừng bảo tôi niệm Phật nữa.”


Những người có ý nghĩ như vậy, vì họ không hiểu được ý nghĩa, giá trị cao đẹp của sự vãng sanh, nên mới bị những suy nghĩ tham sống sợ chết, luyến tiếc trần cảnh để phải chịu trôi lăn mãi trong lục đạo luân hồi.


Pháp môn niệm Phật không có sinh tử, vãng sanh không phải là chết, vãng sanh là sống mà ra đi. Còn chết là không thể vãng sanh. Cho nên pháp môn này còn gọi là pháp môn không sanh, không diệt. Vì trong lúc vãng sanh quý vị rất tỉnh táo và thấy Phật tới rước rồi theo Phật ra đi. Lúc đó cái xác tạm bợ của thế gian này không còn dùng nữa. Sau khi lên đến cõi Tây Phương Cực Lạc quý vị sẽ được một thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ y như đức Phật A Di Đà. Như vậy tuyệt đối không phải chết.


Cho nên tôi thường nói với quý vị rằng: Pháp môn này là pháp môn không già, không bệnh, không chết. Quý vị hãy yên tâm, dừng bước, lắng lòng nhất hướng mà chuyên niệm. Tôi nói đây là sự thật, chẳng phải dối gạt quý vị để làm gì, chỉ cần quý vị chuyên tâm niệm Phật, tới lúc tâm được thanh tịnh thì tất cả chuyện khổ đều không còn nữa, gương mặt lúc nào cũng tự tại vui cười, vì vui tươi nên không già. Người xưa có câu “ưu tư khiến cho người mau già”, lo buồn khiến quý vị rất dễ lão hóa.


Hiện giờ chúng ta còn đang mang cái nghiệp báo thân này, sống chết không một chút tự do. Những lúc khổ quá, thọ mạng chưa hết, muốn chết mà vẫn phải sống, đến khi có phước báu nhiều rồi, muốn sống thêm vài năm để hưởng thụ nhưng thọ mạng đã dứt, chừng đó muốn sống vẫn phải chết.


Do đó, khi quý vị phát tâm niệm Phật hoặc vào niệm Phật đường niệm Phật, thân tâm, thế giới, vạn duyên bên ngoài, tất cả đều buông xuống hết, chỉ còn câu hồng danh A Di Đà Phật với niềm vui đạo hạnh tràn ngập trong lòng, đó gọi là pháp hỷ sung mãn. Sự chuyên cần tu tập đến lúc công phu thành khối, quý vị sẽ không còn ràng buộc bởi cái khổ của bệnh già và chết, chừng đó sanh tử tự tại, muốn ra đi lúc nào tùy ý, muốn ở lại thế gian sống thêm vài ba năm cũng được. Lúc này cái sống của quý vị hoàn toàn mang ý nghĩa cao đẹp và tự biết mình sẽ phải làm những điều gì.


Người đạt mức sanh tử tự tại là người hội đủ phước báu lên thế giới Tây Phương Cực Lạc để hưởng thụ. Họ không ra đi mà tình nguyện ở lại vì xét thấy còn rất nhiều người có duyên với mình, mình phải giúp đỡ họ, phải độ cho họ, hi vọng có thể dẫn dắt thêm nhiều người cùng nhau về Tây Phương.


Lý do sống chính đáng như thế tuyệt đối không phải vì tham sống sợ chết hay để hưởng thụ ở thế gian này. Thực ra sự hưởng thụ trên thế gian làm sao sánh bằng Thế giới Cực Lạc ở Tây Phương! Cái nhà mà chúng ta cho là đẹp và sang trọng nhất, đối với người cõi Tây phương Cực Lạc họ không màng đến, bởi vì nhà cửa của họ ờ là thất bảo cung điện, sàn nhà toàn bằng lưu ly (cẩm thạch), đường đi trải bằng vàng, thức ăn chỉ cần nghĩ đến liền hiện ra, đồ vật mọi thứ đều do tâm nghĩ tưởng mà hiện hình.


Do tập khí ở thế gian nên có lúc khởi niệm ăn uống đến khi giác ngộ lại thức ăn liền biến mất. Cho nên nhà ở cõi Tây Phương Cực Lạc trống không, sạch sẽ vô cùng và không cần có nhà bếp. Quý vị thấy cuộc sống như vậy có sung sướng không? Còn chúng ta đây, đồ đạc chất chứa đầy nhà, muốn dọn dẹp cho gọn gàng sạch sẽ cũng phải mất nhiều thời giờ và phiền phức vô cùng. Cho nên người niệm Phật đến khi công phu thành tựu rồi, nếu xét thấy mình không đủ duyên hóa độ chúng sanh ở thế gian này họ đều mong sớm được lên Tây Phương Cực Lạc để hưởng phước.


Sau khi lên đến thế giới Cực Lạc rồi, mỗi ngày được thấy Phật, được cúng dường mười vạn ức Phật. Trong Kinh Di Đà nói mười vạn ức Phật, thực tế quý vị có thể cúng dường vô lượng hằng hà sa số Phật. Sở dĩ ngài nói ít hơn như vậy vì Phật rất từ bi, ngài biết sự tỉnh thức của chúng sanh còn rất hạn chế, lên đến đó rồi mà đôi lúc còn khởi tâm nghĩ nhớ về ngôi nhà cũ và những người thân còn ở thế gian. Do đó ngài, mới phương tiện, mà nói cúng dường con số ít hơn thực tế như vậy và bảo chúng ta còn thể trở lại thăm thế gian bất cứ lúc nào đều có thể được.


Thế giới Tây Phương Cực Lạc trang nghiêm đẹp đẽ như thế. Đi đến đâu cũng có những thành tựu tốt đẹp như thế. Vì sao chúng ta không tranh thủ đi sớm?


Một pháp môn có thể thành tựu dễ dàng như vậy. Đối với các vị Bồ tát thành tựu ở những pháp môn khác, nếu không nhập vào cảnh giới này, đều cho là một pháp môn khó tin, khó hiểu.


Cũng giống như chúng ta nói với mọi người rằng niệm Phật đường là nơi rất tốt, rất thù thắng để tu tập. Họ nghe qua dễ gì tin ngay. Nhưng sau vài ngày đến đây niệm Phật rồi họ mới chịu tin. Một việc nhỏ ở thế gian này mà người đời còn không hiểu không tin được, nói gì đến cảnh giới thù thắng, viên mãn ở thế giới Tây Phương Cực Lạc.


Từ chuyện nhỏ suy rộng đến chuyện lớn. Chúng ta có thể nhận thức được phần nào để tăng trưởng thêm niềm tin và thiện căn của mình hầu đem hết tâm nguyện của mình ra niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chắc chắn sẽ được thành tựu.
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/9/2020.

Tuesday, September 1, 2020

 

Muc Lien Lien in the Vu Lan Sutra.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.

Every year approaching the full moon of the seventh lunar month, Buddhas all over the country have the same wish to welcome Vu Lan's return. A great day brings joy to both the monastic and the home. Especially, the Buddhists at home are always eager to welcome this great day; so that the children and grandchildren will have the opportunity to repay the merit of nurturing the deceased birth, as well as fulfill the filial piety towards the present parents. Indeed, the full moon day of the seventh month is a day of many meanings: the day when the monks are self-sacrificing, congratulate them on the monkhood, so it is also called the Buddha's Day of Joy. According to Vietnamese folklore, that day is also called the day of amnesty for the dead; Because his deceased ancestors were super-demanded, based on the old tale through the filial piety of the false Religious Muc-kien-related.

Vu Lan is a familiar image in the mind of all Vietnamese people in particular and many Asian communities around the world in general. Vu Lan, a noun transcribed from the Sanskrit word "Ullambana", is also transcribed as O-lam-ba-noa, which translates as "reverse hypotenuse", which means to rescue people who are suspended. In other words, Ullambana means to rescue the souls who suffer a lot of suffering in hell, especially the Nine Commentaries that are quickly released. This event is presented in the Mahayana Buddhist scriptures through the good example of Muc Lien Lien with a child's filial piety towards his mother, creating an exemplary virtue from which generations of descendants. then follow.

Section Kien Lien (written in Sanskrit: Maudgalyāyana; Pali: Moggalāna, Chinese transcribed: Muc Lien, abbreviated as Muc Lien) is a historical figure living in the Buddha's time. This Brahmin of wisdom was famous for a while in the Magadha land of India at that time. Because he was not satisfied with the liberating knowledge source of the tradition he was following, he and the majority of his disciples came to the audience and asked to take refuge at the feet of Buddha Da; was accepted by the Buddha and considered the most divine disciple, along with the Venerable Xa Loi Phap who replaced the Buddha as all Buddha. If Sāriputta has the merit of leading them to enter the Dharma lineage, then Muc Khalien Lien is the one who fosters the wisdom of the Noble Truth, or in other words, the ultimate attainment of virtue. In the Nikāyas, the story of Lady Tsingtao saved by Muc Lien is not mentioned. His life and career teaching Dharma presented through the discourses in Nikaya is very realistic and vivid. Then the Muc Kien Lien in the Vu Lan Sutra, here, is presented and understood?

As often as we know, Venerable Muc Kien Lien after being ordained, practiced and attained enlightenment and became one of the few outstanding disciples of the Buddha. He has infinite divine powers, but not so that he forgets the filial piety of a son to his parents. One time, using insight into the four directions and eight directions, the fake Sun Muc Kien Lien found his mother (as Mrs. Thanh De) suffering in A-Pi prison, the body was thin, pale, only skin was left. bone wrap, excruciating pain. It is the result of greed, cruelty, and lies from the birth of the mother. Using his supernatural powers, the fake Religious Muc Kien Lien brought rice to his mother. But, because the karma is too big, the rice bowl Ms. Thanh De holds in her hand suddenly turns into red charcoal. Witnessing that scene, he was very heartbroken, returned to Buddha, hoping the Buddha would save him so that his mother would be saved. Touched by the filial piety of Venerable Muc Lien Lien, Buddha showed how he could save his mother from exile. The Buddha taught that, although he was immeasurable, he was more filial than anyone else. His heart moved the whole world, but his mother's crimes were too heavy, he could not save her alone. By the full moon day of the seventh month, the Buddhas rejoice, the self-sacrificing monks prepare their offerings, sincerely request the monks to take their vows so that your mother can transcend.

According to the Buddha's teaching, on the full moon day of the seventh month, Venerable Muc Kien Lien set up Vu Lan Association, inviting monks to come and pray. Thanks to that, Mrs. Thanh De was able to escape. The other spirits also gained through the blessings of the monks' aspirations, which were transcended.

Here, through the view of the Founder Master in the Dai Thai Thuc compiled in Chon Ly, he interpreted the meaning that the Vu Lan Sutras wanted to convey: Muc Kien Lien translated as Dai Thai Thuc and Muc Lien Represent the vast intellectuals.

So, the image of seeing the mother born in the way of the hungry ghost "is to see beings living in lust, in a hungry soul, ... beings like merchants, the ambition of hunger and thirst, which is not extreme, living by body, dying spiritually, bringing the soul deeply buried in the material underground of the four great hells, to suffer hunger, thirst, love to punish, in illusory and illusionary realm, impermanence changing slyly. " For sentient beings with such a lot of karma, the person who ordained with a spirit of compassion and compassion wants to share the happiness for human beings. So he immediately brought a bowl of rice to feed, "that is, bringing the Dharma of the Noble Eightfold Path to almsgiving, to end the hunger and suffering. Thanks to eating, you can use the precious ethics, but you can feel satisfied. Dhamma says that rice, Eightfold Path is like a bowl. "It is food as a medicine with nourishing value that has the ability to heal heart wounds that have been flooded with toxins for so long. If practiced, it will quickly be released from such suffering. He continued: “Then the mother accepted the rice bowl with her hand, her left hand covered the devil, her face picked up the rice and ate, she was content to listen to the dharma, held onions, while trying to prevent adversity, while frying food. practice, to let the mind be satisfied with results. But the rice turns into coal fire, which is the dharma that is very difficult to eat, cannot follow, because greed and evil are used to it, so watch out for almsgiving, patience, morality, meditation, like coal fire. , unable to be quiet, to preserve, to endure, not to regret it, so it is difficult to eat and use, it is difficult to practice according to the Buddha's teachings ... clinging, narrow selfishness, Having not studied and listened to the magic of the dharma, as a result, it is difficult to create a small human being in the spiritual field, it is difficult to open up to the stream of dharma water. But according to the view of the Jizō Sutra: "As long as there are sentient beings in hell, I vow not to become a Buddha" to express the spirit of taking "happiness for sentient beings for the purpose".

Muc Lien Lien saw that crying out loud means feeling compassion for the suffering of beings. There is no other way, so go back to the Buddha like that, which means that Dai Thai Thuc has been practicing for a long time, taking care of himself just finished and attaining Arahantship, then contemplating the suffering of sentient beings, which generate the Bodhisattva's mind to educate the world. Seeing sentient beings being used to suffering for a long time, it is difficult to practice spiritual practice, to enjoy the joy of religion, so he is very compassionate towards the white Buddha.

A detail for us to see that a person, after going home, finds a source of true happiness for himself; and not so selfish, bo bo. Then fulfill your mighty aspiration to enter life, selfless sacrifice with the aim of bringing a source of happiness to all share. Since then, he returned to the white Buddha, after receiving the instructions, the yogi practice, so invited the monks to gather and offer five-color fruit, hundred-food food, that is, he gave his mind to the monks, bring the ability to attain through their own learning experiences to share the teachings to all of them to increase after three months of pure harmony, practice of precepts, meditation, and wisdom all gathered, to examine and verify. The points for each other eliminate all the sin of each other. Every year the festival takes a shower, The ashram church is like a pond, the dharma is nectar. On that congress day, he gave the sermon to all monks, with five fruits, which is the sermon for all attained the five results: that is, Enter Save Results, Unrealistic Fruition, Immutable Fruit, Arhat Fruit and Bich Chi Dependent Origination. And after that, there were hundreds of dishes with all kinds of delicious flavors to offer, that is, after increasing them, they attained the Holy East results, that much more he gave more teachings, with all the wonderful methods, teachings, and means. All kinds of flavors, to encourage the request to increase them should generate the Bodhisattva mind, take another step up to practice the great contentment of all eternity. Thanks to the majesty of the majority increased, divided everywhere, using all kinds of wisdom methods, each person has the ability to skillfully use all kinds of wisdom so that sentient beings run out of greed, end suffering, liberation step by step to high, then in their hearts, they will enjoy the Dharma fullness and happiness again and again. Indeed, with that in mind, he helped the Buddha to create an Indian land more people who knew about taking refuge in the Three Jewels, namely Buddha, Dharma, and Sangha; Achieved pure results, turned society at that time as a present western paradise. That deed, that good example, is like a dharma, like an eloquent proclamation, like a beautiful path to later, if a practitioner raises the mind of great intellectual enthusiasm to study, attaining "the Dharma ", Achieving liberation mind and liberation wisdom; having wide eyes seeing sentient beings as mothers, living in the suffering of the three realms of suffering, prison, burning under the insecurity of suffering, giving them compassion to save them. That person must first practice ordained, cultivate to attain holy results, and have a clean mind. Next, you must educate the monks to attain the same attainment as you, then later will they practice the Bodhisattva, universalizing all beings. Thus, many merits will be attained, quickly attaining Tathagata into Buddha.

Like, the practice has not been completed, the virtue has not been reached, the wisdom has not yet been understood, the results have not yet been achieved, but it is shallow to develop a self-centeredness. Not cleverly leads to deceiving oneself, deceiving oneself, and bringing with them the sin of ignorance, wildness, confusion; and then do things for nothing. Being blind but demanding to be a guide is very dangerous and easily makes people lost in the pit. Therefore, Buddhism, despite the nature of showing compassion, must go from understanding, insight, not blindness, but aggressively do mess. Krishnamurti once said: "wherever there is love, there is compassion; and compassion has to have its wise side. That is the transcendent form of wisdom, but not private understanding of ideas, cunning wisdom, lies, deception and the like; but there is complete love and compassion and an intellectual transcendence which is not mechanical knowledge. " This angle shows that wisdom is the decisive challenge factor that needs to be achieved for every monastic practitioner who wants to make many great happiness in life.

The Guru is very focused on benefiting sentient beings. He relentlessly used all means to spread the Dharma: such as recording and recording, where he and his disciples encouraged all his relatives to gather for hearing ... He also practiced for his disciples to practice. Dhamma teaching. It shows that he pays great attention to propagating the dharma of beneficial birth. But the conditions of the lecture are set, the first lecturer must take the purpose of the theory is to transform suffering for sentient beings, to help them eliminate negativity, greed, anger and delusion. Meaning of the lecture must be full in terms of "the" and "reason" that two sides must be content. Do not place heavy on the side that "the" needs to show and "reason" needs to be explicit. This shows that the image of Muc Lien Lien depicted from the front and back of a dharma, bringing us from the simplicity to the magical depth, to absolute truth, truly of happiness. And this has followed the path of transformation to be paramount, the constant deft skill that leads them from evil to great evil; from small evil to small good; Small charity up to great good, then must know take refuge, take the five precepts, it is better to go high to the ordination, diligently cultivate the attainment of results and results for sentient beings. He does not have to focus on "the" but forget the unique inner meaning. The purpose is to make beings clearly see the way, so as not to cling to the "thing" that easily arises superstitious minds, and then frantically misunderstands; I only know to pray, plead, day and night just wait, do not know to self-reliant according to their designated method to find happy results for you. If Buddhists only consider them as appointed gods, revelation to earth for them; so unjustly for three generations of Buddhas According to the Buddhist Sutras presented Buddhism was born with the purpose of "enlightening sentient beings, enlightening the Buddha's knowledge", transferring the passion of enlightenment and bringing true happiness to them is the core matter. Buddhism is a religion with eyes, not a religion with closed eyes. Come to see but not believe it. Therefore, the thing is that the first monk must seriously cultivate to attain wisdom, the result of the enlightenment, grasp the magical wisdom that the Buddha has seen, each witness; and then bring it to convey the knowledge to all. As the old fervent vow of the Buddha taught his disciples: "Hey, monks, go away for happiness, for peace for life, for happiness and for bliss for gods and for mankind". Buddhism is a religion with eyes, not a religion with closed eyes. Come to see but not believe it. Therefore, the thing is that the first monk must seriously cultivate to attain wisdom, the result of the enlightenment, grasp the magical wisdom that the Buddha has seen, each witness; Then bring it to convey the knowledge to all. As the old fervent vow of the Buddha taught his disciples: "Hey, monks, go away for happiness, for the happiness of life, for happiness and happiness for gods and humans". Buddhism is a religion with eyes, not a religion with closed eyes. Come to see but not believe it. Therefore, the thing is that the first monk must seriously cultivate to attain wisdom, the results of the enlightenment, grasp the magical wisdom that the Buddha has ever seen, each witness; Then bring it to convey the knowledge to all. As the old fervent vow of the Buddha taught his disciples: "Hey, monks, go away for happiness, for the happiness of life, for happiness and happiness for gods and humans".

In a nutshell, through the Yulanpen Sutra, the Master gave us a more mature and correct view, a true view of Muc Lien Lien; until the teachings in the sutras too. For a long time, the Vu Lan Bon Sutra embodies the image of a child who is respectful to his mother, expressing the spirit of gratitude and gratitude to the one who gives birth to a unique example of filial filial piety, worthy of being an example. light for generations and descendants to follow. But in terms of liberation, it is a sign for the monk to see that: the monk lives the life of renouncing the family without a family and integrates into the Sangha community, into the realm of the West. Pole Lac, in peace and rest, is first to know to live alone; Forging myself to be a person who knows myself as true with true true knowledge. Once successful, you will be able to provide all with a loving and understanding mind. With those vivid, luminous images, mingled with the noble act of merit from the Sutra Yu Lan has manipulated very magical energy; has the function of guiding the way for many post-graduate studies, following which walking, following on the heels, creating a peaceful and prosperous world.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIME ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2020.

 

Mục Kiền Liên trong Kinh Vu Lan .

Mỗi năm sắp đến rằm tháng bảy âm lịch, người con Phật khắp mọi miền đất nước đều có chung một niềm mong ước đón ngày Vu Lan trở về. Một ngày trọng đại mang lại niềm vui cho người xuất gia lẫn tại gia. Đặc biệt hàng Phật tử tại gia luôn náo nức, hân hoan chào đón ngày đại lễ này; để những người con, người cháu có cơ hội báo đáp công ơn dưỡng dục đấng sanh thành khi đã quá vãng, cũng như làm tròn hiếu hạnh đối với cha mẹ hiện tiền. Quả thật, ngày rằm tháng bảy là ngày mang lại nhiều ý nghĩa: ngày chư Tăng tự tứ, mừng chúc khánh tuế của chúng tăng, nên còn gọi là ngày Phật hoan hỷ. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, ngày ấy còn gọi là ngày xá tội vong nhân; vì tiền nhân quá cố của mình được cầu siêu độ, dựa theo tích xưa qua hiếu hạnh của Tôn giả Mục-kiền-liên. Hình ảnh này được trình bày rất sinh động trong Kinh Vu Lan Bồn do ngài Pháp Hộ (Dharmarakṣa) dịch từ chữ Sanskrit ra chữ Hán vào thế kỷ thứ ba.

Vu Lan là hình ảnh quen thuộc trong tâm thức của mọi người dân Việt Nam nói riêng và nhiều cộng đồng dân tộc châu Á trên khắp thế giới nói chung. Vu Lan, một danh từ được phiên âm từ chữ Sanskrit “Ullambana”, còn được phiên âm là Ô-lam-ba-noa, dịch là “giải đảo huyền”, nghĩa là cứu vớt kẻ bị treo ngược. Nói cách khác, Ullambana nghĩa là cứu giải cho những hương linh chịu nhiều nỗi thống khổ dưới địa ngục, đặc biệt Cửu Huyền Thất Tổ mau được siêu thoát. Sự kiện này được trình bày trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa qua gương lành ngài Mục Kiền Liên với hiếu hạnh của một người con đối với thân mẫu của mình, làm nên một đức hạnh mẫu mực mà từ đó bao thế hệ con cháu về sau noi theo.

Mục Kiền Liên (viết theo Sanskrit: Maudgalyāyana; Pali: Moggalāna, tiếng Hán phiên âm: Mục Kiền Liên, đọc tắt là Mục Liên) là một nhân vật lịch sử sống vào thời Đức Phật. Vị Bà-la-môn tri thức thông thái này đã lừng danh một thời ở xứ Magadha thuộc Ấn Độ thời bấy giờ. Vì không thỏa mãn nguồn tri thức giải thoát của truyền thống mình đang theo, Ngài cùng số đông đệ tử đến yết kiến và xin quy y dưới chân Phật Đà; được Đức Phật thâu nhận và xem là vị đại đệ tử thần thông bậc nhất, cùng với tôn giả Xá Lợi Phất thay Phật làm mọi Phật sự. Nếu ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta) có công dẫn dắt chúng Tăng nhập vào dòng pháp, thì ngài Mục Kiền Liên chính là người trưởng dưỡng huệ căn thánh quả, hay nói cách khác là thành tựu rốt ráo phạm hạnh. Trong kinh tạng Nikāya, câu chuyện bà Thanh Đề được Mục Liên cứu độ không được đề cập tới. Cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp của Ngài được trình bày ngang qua các bài kinh trong Nikàya hết sức hiện thực và sống động. Vậy thì Mục Kiền Liên trong Kinh Vu Lan, ở đây, được trình bày và hiểu như thế nào?

Theo thông thường chúng ta được biết, Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi xuất gia, tu tập và chứng đắc lục thông và trở thànhh một trong số ít đệ tử xuất chúng của Ðức Phật. Ngài có thần thông vô biên, nhưng không vì thế mà Ngài quên đi hiếu nghĩa của một người con đối với cha mẹ. Một lần, dùng tuệ nhãn quan sát khắp bốn phương tám hướng, Tôn giả Mục Kiền Liên thấy mẹ mình (là bà Thanh Ðề) đang chịu cảnh khổ đau trong ngục A-tỳ, thân thể gầy héo, xanh xao, chỉ còn da bọc xương, khổ đau khôn xiết. Đó là do kết quả của thói tham lam, độc ác, sự dối trá từ thuở sinh thời mẹ đã gây nên. Dùng thần thông của mình, Tôn giả Mục Kiền Liên mang cơm dâng mẹ. Nhưng, do nghiệp quá lớn nên bát cơm bà Thanh Ðề cầm trên tay bỗng hoá thành than đỏ. Chứng kiến cảnh tượng ấy, Ngài rất đau lòng, về bạch lại với Phật, mong Ðức Phật cứu vớt để mẹ mình được siêu thoát. Cảm động trước tấm lòng hiếu nghĩa của Tôn giả Mục Kiền Liên, Ðức Phật đã chỉ cách để Ngài có thể cứu vớt được mẹ ra khỏi cảnh đọa đày. Ðức Phật dạy, Ông tuy thần thông vô biên, lại hiếu thảo hơn người, tấm lòng của ông làm cảm động cả trời đất nhưng tội ác của mẹ ông quá nặng, một mình ông không thể cứu được mẹ. Ðến ngày rằm tháng bảy, chư Phật hoan hỉ, chư Tăng tự tứ, hãy sửa soạn lễ vật cúng dường, thành tâm thỉnh cầu chư Tăng chú nguyện thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được.

Theo lời Phật dạy, nhằm ngày Rằm tháng Bảy, Tôn giả Mục Kiền Liên lập hội Vu Lan, thỉnh mời chư Tăng đến chú nguyện. Nhờ đó bà Thanh Ðề mới được siêu thoát. Các vong linh khác cũng nhờ phúc lành chú nguyện của chư Tăng mà được siêu thoát.

Ở đây, qua cái nhìn của Tổ Sư trong bài Đại Thái Thức được kiết tập trong Chơn Lý, Ngài đã diễn giải ẩn ý mà Kinh Vu Lan muốn gởi gắm: Mục Kiền Liên tàu dịch là Đại Thái Thức và Mục Kiền Liên ấy là đại diện cho những bậc trí thức rộng lớn.

Cho nên, hình ảnh thấy vong mẫu sanh trong đường ngạ quỷ “là thấy chúng sanh sống trong sự tham lam dục vọng, tâm hồn đói khát, …chúng sanh ví như người buôn bán, sự tham vọng đói khát vốn không cùng tột, sống bằng thân xác, chết bỏ tinh thần, đem tâm hồn chôn sâu dưới hầm vật chất tứ đại địa ngục, để chịu sự đói khát, thích ham hành phạt, trong cõi vọng ảo huyễn ma, vô thường thay đổi quỷ quyệt.” Đối với chúng sanh nhiều nghiệp chướng như vậy, người xuất gia với tinh thần từ bi, cảm thương muốn chia sẻ phần hạnh phúc đến cho nhân sinh. Nên Ngài liền đem bát cơm cho ăn, “nghĩa là đem pháp bảo của đạo Bát Chánh đến bố thí giáo hoá, để cho dứt sự đói tham khổ não. Nhờ ăn dùng được đạo lý quý báu mà no lòng mát dạ. Pháp bảo là cơm, Bát Chánh Đạo là như chén bát.” Đó là thức ăn như liều thuốc mang giá trị bổ dưỡng có công năng chữa lành những vết thương lòng đã tràn ngập những độc tố bấy lâu. Nếu được thực tập sẽ mau chóng phóng thích khỏi những nỗi khổ ấy. Ngài nói tiếp: “Bấy giờ bà mẹ lấy tay nhận lấy bát cơm, tay trái che quỉ sứ, tay mặt bốc cơm mà ăn, là ưng lòng nghe pháp, nắm giữ hành theo, vừa cố ngăn che ý nghịch, vừa rán thực hành tu tập, để cho tâm được sự no vui kết quả. Nhưng cơm lại hóa thành than lửa, là pháp bảo ấy rất khó ăn dùng, không hành theo được, bởi tánh tham ác đã quen, nên xem ra sự bố thí, nhẫn nhục, trì giới, thiền định, khác nào như than lửa, không thể yên lặng, giữ gìn, nhịn nhường, không tiếc của, nên ăn dùng không được, khó nỗi tu theo pháp Phật…” Chúng sanh thì nghiệp chướng đê mê, nặng nề, tâm địa quen chứa toàn là tham ái và chấp chặt, lòng chỉ ích kỷ nhỏ hẹp, chưa học tập và lắng nghe diệu pháp nên hệ quả là tạo ra cho mình một con người bé nhỏ trong lĩnh vực tâm linh, khó mà mở lòng đón nhận dòng suối pháp tưới vào. Nhưng theo quan điểm Kinh Địa Tạng: “hễ còn chúng sanh vào địa ngục, ta nguyện chưa thành Phật”để nói lên tinh thần lấy “hạnh phúc cho chúng sanh vì mục đích” vậy.

Mục Kiền Liên thấy vậy khóc òa lên tức là thấy thương xót cảm động về nỗi khổ của chúng sanh. Không còn cách nào khác, bèn về bạch Đức Phật như vậy, nghĩa là ông Đại Thái Thức bấy lâu còn tu tự độ, lo cho mình mới vừa xong rồi đắc quả A-la-hán, sau đó quán xét đến việc khổ của chúng sanh, mà phát tâm Bồ Tát đi giáo hóa tế độ. Thấy chúng sanh bị quen tội nghiệp lâu đời, khó nổi tu hành, để hưởng được sự an vui theo đạo, nên Ngài rất thương xót về bạch Phật việc ấy.

Một chi tiết để chúng ta thấy rằng một người sau khi đi xuất gia, tìm được nguồn hạnh phúc thật sự cho chính mình; và không vì thế mà ích kỷ, bo bo. Bấy giờ thực hiện đại nguyện dõng mãnh của mình dấn thân vào đời, hy sinh vị tha với mục đích đem nguồn hạnh phúc đến chia sẻ cùng tất cả. Từ đó ngài về bạch Phật, sau khi thọ nhận lời chỉ dạy, ngài y giáo phụng hành, bèn thỉnh chư tăng tựu hội và cúng dường trái cây năm màu, thức ăn trăm món, tức là ngài phát tâm đối trước chư tăng, đem khả năng chứng đắc qua kinh nghiệm tu học của mình chia sẻ giảng thuyết đến cho tất cả chúng tăng sau ba tháng thanh tịnh hoà hiệp, tu hành trì giới, thiền định, trí huệ đều gom về đầy đủ, để xem xét kiểm điểm cho nhau xoá bỏ hết tội lỗi chấp phiền nhau, bằng sự thuyết pháp cho nhau, pháp lý là nước mát trong sạch tắm rửa. Mỗi năm hội lại tắm rửa một lần, giáo hội đạo tràng như ao, pháp bảo là nước cam lồ. Vào ngày đại hội đó, ngài thuyết pháp cho tất cả chư tăng, bằng năm thứ trái cây, là thuyết pháp cho tất cả đắc được ngũ quả: tức là Nhập Lưu Quả, Nhứt Vãng Lai Quả, Bất Lai Quả, A La Hán Quả và Bích Chi Duyên Giác Quả. Và sau nữa là trăm món đồ ăn đủ mùi vị ngon lành đem cúng dường, nghĩa là sau khi tăng chúng đắc quả Thánh đông rồi, là chừng đó Ngài thuyết pháp thêm, bằng tất cả pháp bảo, giáo lý hay ho, phương tiện đủ cả vị mùi, để khuyến khích yêu cầu tăng chúng hãy nên phát tâm Bồ Tát, bước lên cao một bước nữa thực hành đại nguyện độ đời cả thảy. Nhờ oai thần của số đông tăng, chia ra khắp nơi, dùng đủ phương pháp trí huệ, mỗi người khả năng khéo léo dùng đủ mọi pháp trí huệ để độ chúng sanh hết tham, dứt khổ, giải thoát bước dần lên cao, thì trong tâm họ mới hưởng được pháp bảo no đủ an vui lần lần. Quả thật vậy, với tâm lượng đó ngài đã phụ tá Phật làm nên một xứ Ấn Độ thêm nhiều người biết quy y Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng; thành tựu quả đạo trong lành, biến xã hội thời bấy giờ như một cõi thiên đường tây phương hiện tại. Công hạnh ấy, gương lành ấy, như một pháp bảo, như một lời tuyên ngôn hùng hồn, như một lối mòn đẹp để về sau, nếu một hành giả nào khởi tâm đại trí thức nhiệt tâm tu học, chứng đạt “chánh pháp”, thành tựu tâm giải thoát và tuệ giải thoát; có con mắt rộng thấy chúng sanh là người mẹ, đang sống trong sự đau khổ của tam giới khổ não, ngục tù, cháy ngầm trong những nỗi khổ bất an mà sanh lòng từ bi cứu độ họ. Người ấy trước phải thân hành xuất gia, tu cho đắc quả thánh, tâm trong sạch đã. Kế đó phải giáo hoá chư tăng cho đắc đạo y như mình, thì sau lại mới sẽ hành đạo Bồ Tát, phổ hoá khắp chúng sanh. Như thế sẽ thành tựu được nhiều công đức mau đắc quả Như Lai thành Phật.

Bằng như, tu học chưa xong, đạo hạnh chưa đạt, trí tuệ chưa thông, quả vị chưa thành, mà lại nông nỗi phát tâm tự đại. Không khéo đưa đến lừa tự thân, dối gạt tâm mình, mang theo cái tội của sự dốt nát, ngông cuồng, mê muội; rồi làm nên những việc không ra chi. Mù mà lại đòi dành làm kẻ dẫn đường thì rất nguy hại dễ khiến người lạc hố sa hầm. Do đó, đạo Phật tuy tính chất thể hiện đức từ bi nhưng phải đi từ sự hiểu biết, sáng suốt chớ không phải mù mờ mà xông pha làm chuyện xằng bậy. Krishnamurti đã từng có lời chia sẻ: “bất cứ ở đâu có thương yêu, ở đấy có từ bi; và từ bi phải có khía cạnh trí huệ của nó. Đó là hình thái siêu việt của trí huệ, nhưng không phải là sự hiểu biết riêng về các ý tưởng, sự khôn ngoan gian xảo, dối trá, lừa bịp và những thứ tương tự như thế; mà ở đó là sự thương yêu và lòng từ bi trọn vẹn và một sự siêu việt về trí tuệ vốn không phải là hiểu biết máy móc.” Góc độ này cho thấy trí tuệ là yếu tố thách thức quyết định tối cần đạt được đối với mỗi hành giả xuất gia muốn làm nên nhiều hạnh phúc lớn cho đời.

Đức Tôn Sư rất chú trọng đến việc làm lợí ích cho chúng sanh. Ngài không ngừng dùng mọi phương tiện để truyền bá chánh pháp: như ghi âm thu dĩa, khi trụ chân nơi nào Ngài và chư đệ tử khuyến khích tất cả bà con tựu hội để thính pháp… Ngài còn tập cho các đệ tử tập thuyết giảng kinh pháp. Chứng tỏ ngài rất chú trọng đến hoằng pháp lợi sanh. Nhưng điều kiện thuyết giảng được đặt ra, người giảng trước phải lấy mục đích thuyết là để chuyển hoá khổ đau cho chúng sanh, giúp họ dứt trừ bớt phiền não tham, sân, si. Ý nghĩa giảng thuyết lại phải đầy đủ về phương diện “sự” và “lý” tức hai mặt phải viên dung. Không đặt nặng bên nào mà “sự” cần phải tỏ và “lý” cần phải tường. Điều đó cho thấy hình ảnh Mục Kiền Liên đã lột tả từ mặt trước và mặt sau của một pháp, đưa chúng ta hiểu rõ từ cái đơn giản đến cái thâm sâu huyền diệu, đi đến cái chơn lý tuyệt đối, thật sự của an vui. Và điều này đã theo con đường chuyển hoá là thuận thứ, khéo léo tuỳ duyên bất biến đưa họ đi từ cái ác lớn lên ác nhỏ; từ ác nhỏ lên thiện nhỏ; từ thiện nhỏ lên thiện lớn, rồi phải biết quy y, thọ ngũ giới, tốt hơn là tiến cao đến xuất gia, chuyên tâm tu học thành tựu đạo quả, độ lại cho chúng sanh. Ngài không phải chú trọng “sự” mà lại quên đi cái ý nghĩa độc đáo bên trong. Mục đích là làm cho chúng sanh thấy tỏ rõ con đường, để không trụ bám vào “sự” mà dễ sanh tâm mê tín, rồi điên đảo lầm tưởng; chỉ biết cầu nguyện, van xin, ngày đêm chỉ biết chờ đợi, chớ không biết tự lực nương theo phương pháp chỉ định của các Ngài tìm ra kết quả hạnh phúc cho mình. Nếu Phật tử chỉ xem các Ngài là những thần linh chỉ định, mặc khải xuống trần gian phò hộ cho họ; thế thì oan cho ba đời chư Phật lắm. Theo Kinh Pháp Hoa trình bày đạo Phật ra đời với mục đích là “khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến”, chuyển mê khai ngộ và mang hạnh phúc chân thật đến cho họ là vấn đề cốt lõi. Đạo Phật là đạo có mắt chớ không phải đạo nhắm mắt. Đến để mà thấy chớ không phải tin suông. Do vậy, điều đặt ra là người xuất gia trước phải nghiêm túc tu học cho đạt được trí tuệ, cái quả vị đạo chứng, nắm rõ cái uyên thâm huyền diệu mà Phật từng thấy, từng chứng; rồi mang đi truyền đạt cho cả thảy được am tường. Như lời nguyện thiết tha xưa kia Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ-kheo, hãy ra đi vì hạnh phúc, vì an lạc cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư thiên và loài người” vậy.

Tóm lại, ngang qua Kinh Vu Lan, Tôn Sư đã cho chúng ta có một cái nhìn chín chắn, đúng đắn hơn, một cái nhìn như thật về ngài Mục Kiền Liên; cho đến những lời dạy trong kinh cũng vậy. Từ lâu, kinh Vu Lan Bồn là hiện thân hình ảnh một người con biết hiếu kính với thân mẫu, thể hiện tinh thần nhớ ơn, biết ơn đối với đấng sinh thành một gương hạnh đặc sắc về hiếu hạnh, đáng để làm tấm gương sáng cho bao thế hệ con cháu về sau noi theo. Nhưng đứng về mặt giải thoát, thì đó là dấu hiệu cho người xuất gia thấy rằng: hành giả xuất gia sống đời sống từ bỏ gia đình sống không gia đình hoà nhập vào cộng đồng giáo hội Tăng Già, vào cõi của xứ Tây Phương Cực Lạc, yên vui ngơi nghỉ là trước phải biết sống một mình; tôi luyện cho mình thành con người biết chính mình như thật bằng tri kiến chơn chánh. Một khi công thành quả mãn đem trang trải đến cho tất cả bằng một tâm lượng đầy tình thương và hiểu biết. Bằng những hình ảnh sinh động, sáng chói hào quang đó, quyện lẫn hành trạng công đức cao thượng từ Kinh Vu Lan ấy đã chế tác ra năng lượng rất mầu nhiệm; có công năng dẫn đường cho muôn vàn hậu học về sau theo đó mà bước đi, tiếp nối theo gót chân mà tạo nên một thế giới an lành thịnh trị. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2020.