Monday, May 3, 2021
NHỮNG SỰ KIỆN TRONG ĐỜI ĐỨC PHẬT – INCIDENTS FROM THE LIFE OF THE BUDDHA.
Nội Dung Chính [Hiện]
Incidents from the Life of the Buddha – Những sự kiện trong Đời Đức Phật
Những Sự Tích Từ Cuộc Đời Đức Phật : Hai Chậu Đất | Brahman-không phải do sinh ra mà là do hành động | Không phân biệt giai cấp | Sự khôn ngoan bên ngoài không khiến người ta trở thành người ẩn dật | Sự đi lên và đi xuống đích thực | Những hành động lành mạnh Nguyên nhân Sinh ra trong Trạng thái Hạnh phúc | Lòng Từ Bi Vô Biên của Đức Phật | Đưa ra câu trả lời thích hợp và cũng như trừng phạt khi cần thiết | Đức Phật: Phân phối của Hạnh phúc | The Peacemaker | Đức Phật: Vị Thầy Thiền Định | The Taste of Dhamma |
Two Earthen Pots / Hai chiếc bình đất
Có một sự cố trong cuộc đời của Đức Phật. Một ngày nọ, một người đàn ông trẻ tuổi đến gặp ông, rất khó chịu. 'Chuyện gì đã xảy ra?' Đức Phật hỏi. Người thanh niên nói: 'Thưa ông, hôm qua bố tôi mất. Tôi đã đến với bạn với một yêu cầu đặc biệt. Xin hãy làm điều gì đó cho người cha đã khuất của tôi. Khi các linh mục bình thường thực hiện một số nghi thức hoặc nghi lễ, anh ta sẽ được vào thiên đàng. Thưa ông, nếu một người vĩ đại như ông thực hiện bất kỳ nghi thức hay nghi thức nào cho cha tôi, ông ấy sẽ không chỉ được vào cửa mà còn được cư trú lâu dài trên thiên đàng. Làm ơn hãy làm gì đó cho cha tôi! '
Có một sự kiện xảy ra trong đời của Đức Phật. Một ngày nọ một thanh niên đến gặp ngài, anh ta rất buồn bã. ‘Chuyện gì xảy ra với anh vậy?’ Đức Phật hỏi. Người thanh niên đáp:
‘Thưa ngài, hôm qua cha của con mới mất. Con đến để gặp ngài xin một thỉnh cầu đặc biệt. Xin ngài vui lòng làm gì đó cho người cha đã mất của con. Khi một tu sĩ bình thường cử hành một nghi lễ hay nghi thức nào đó, ông ấy có thể tiếp cận đến thiên đàng. Thưa ngài, nếu một người thầy vĩ đại như ngài có thể cử hành một nghi lễ hay nghi thức gì đó cho cha của con, ông ấy sẽ không chỉ được vào cổng mà còn là một cư dân ở thiên đàng. Xin ngài, hãy làm gì đó cho cha con!’
Anh ấy quá mất cân bằng, quá xúc động. Đức Phật biết rằng bất kỳ loại lập luận hợp lý nào sẽ không có tác dụng trong giai đoạn này nhưng Ngài có cách giải thích sự việc của riêng mình. Anh ta rủ người thanh niên đi chợ mua hai cái niêu đất.
Anh ta quá mất bình tĩnh, quá xúc động. Đức Phật biết rằng bất kỳ loại tranh luận lý trí sẽ không hữu hiệu vào giai đoạn này nhưng ngài cũng có cách riêng để giải thích. Ngài yêu cầu người thanh niên ra chợ và mua hai cái bình bằng đất.
Người thanh niên vui vẻ đi mua chúng, vì nghĩ rằng đây là để chuẩn bị cho một nghi lễ nào đó. Đức Phật yêu cầu anh ta đổ đầy một cái bằng bơ và cái kia bằng đá và sỏi. Anh ấy đã làm tất cả những điều này. Đức Phật bảo anh ta phải đóng và niêm phong chúng cho đúng cách, và đưa cả hai vào một cái ao gần đó. Anh ta làm như vậy và cả hai cái bình chìm xuống đáy. Lúc này Đức Phật bảo anh ta mang một cây gậy cứng, đánh vào chúng, và bẻ chúng ra. Anh ta làm như vậy vì nghĩ rằng bây giờ Đức Phật sẽ thực hiện một nghi lễ tuyệt vời cho cha anh ta.
Anh thanh niên vui mừng và mua chúng về, nghĩ rằng việc này để chuẩn bị cho vài nghi lễ. Đức Phật yêu cầu anh cho đầy bơ vào một bình và bình kia chứa toàn là đá và sỏi. Anh chàng đã làm thế. Đức Phật bảo anh ta lại gần và niêm phong hai chiếc bình thật cẩn thận, và thả chúng trong một cái hồ gần đó. Anh ta đã làm thế và hai chiếc bình chìm xuống đáy. Đức Phật bây giờ bảo anh ta mang một cây gậy cứng, đập bể chúng, và phá vỡ chúng ra. Anh ta cũng làm y như vậy, nghĩ bụng bây giờ Đức Phật sẽ cử hành một nghi thức tuyệt vời giúp cha anh ta.
Ấn Độ là một vùng đất rộng lớn và cổ kính, hội tụ đầy đủ sự đa dạng và phong phú. Có những người đã đạt được giác ngộ hoàn toàn như Đức Phật, và mặt khác, có những người trong vô minh sâu sắc, đắm chìm trong niềm tin, niềm tin và giáo điều mù quáng. Một tín ngưỡng cho rằng khi cha mẹ qua đời, người con trai phải đưa thi hài, đưa lên giàn hỏa táng và đốt; Khi nó bị cháy một nửa, anh ta phải lấy một cây gậy mạnh, và phá vỡ hộp sọ. Người ta tin rằng, như hộp sọ bị vỡ trên trái đất, vì vậy cửa ngõ của thiên đường bị phá vỡ ở trên, và cha mẹ vào thiên đàng.
Ấn Độ là một vùng đất rộng lớn và cổ xưa, đầy sự đa dạng và cực đoan. Có những người đã chứng ngộ như Đức Phật, và trái lại, cũng có những người chìm sâu trong vô minh, đắm chìm vào đức tin, niềm tin mù quáng và giáo điều. Người ta tin rằng khi cha mẹ mất đi, đứa con trai phải đem thi thể, đặt lên giàn hỏa và đốt nó; khi thi thể cháy được một nửa, anh ta phải dùng một cây gậy cứng, đập bể sọ ra. Niềm tin này là, khi sọ người bị bể ra trên mặt đất, thì cổng thiên đàng bên trên sẽ mở, và cha mẹ có thể bước vào thiên đàng.
Chàng trai trẻ nghĩ rằng, vì cha anh đã chết và được hỏa táng ngày hôm qua, Đức Phật đã yêu cầu anh mở những chiếc bình đất này để thay thế. Khi anh ta làm như vậy, bơ thoát ra khỏi phần đầu tiên và nổi lên bề mặt; những viên sỏi thoát ra khỏi chậu thứ hai và lắng xuống dưới đáy.
Người thanh niên nghĩ thế, khi người cha của anh đã chết và đã hỏa thiêu vào ngày hôm qua, Đức Phật đang yêu cầu anh ta đập vỡ những bình đất này như là sự thay thế. Khi anh ta làm thế, bơ thoát ra từ cái bình đầu tiên và nổi lên trên mặt nước; sỏi thoát ra từ cái bình thứ hai và nằm ở dưới đáy.
“Bây giờ,” Đức Phật nói, “tôi đã làm được nhiều điều này. Bây giờ hãy gọi tất cả các linh mục của bạn. Hãy để họ đến đây và cầu nguyện: 'Hỡi những viên sỏi, hãy trồi lên mặt đất! Ôi bơ, chìm xuống đáy rồi! ''
‘Bây giờ’ Đức Phật nói,” đây là điều nhiều nhất ta đã làm. Bây giờ anh hãy gọi tất cả các tu sĩ của anh đến. Hãy để họ đến và cầu nguyện: “Ồ sỏi ơi, hãy nổi lên khỏi mặt nước! Ồ bơ ơi, hãy chìm xuống dưới đáy!”.
'Ông đang nói đùa phải không, thưa ông? Sao có thể như thế được? Nó trái với quy luật của tự nhiên anh ạ. Những viên sỏi nặng hơn nước; họ nhất định phải ở lại, họ không thể nổi. Bơ nhẹ hơn nước, nó liên kết nổi; nó không thể đi xuống. '
‘Thưa ngài, ngài đang đùa với con ư? Làm thế nào thế được? Điều này chống lại luật của tự nhiên, thưa ngài. Sỏi nặng hơn nước; nên nó chìm xuống, chúng không thể nổi lên. Bơ thì nhẹ hơn nước, nên nó chắc chắn nổi lên; nó không thể bị chìm.’
'Chàng trai trẻ, bạn biết rất nhiều về quy luật tự nhiên, nhưng bạn lại không muốn hiểu quy luật áp dụng cho tất cả mọi người. Nếu bố bạn cứ tiếp tục thực hiện những hành động như hòn sỏi và hòn đá, ông ấy nhất định phải đi xuống. Ai có thể kéo anh ta lên? Nếu anh ta tiếp tục thực hiện những hành động nhẹ như bơ, anh ta nhất định phải đi lên. Ai có thể đẩy anh ta xuống? '
‘Anh bạn trẻ, anh biết thật nhiều về luật của tự nhiên, tuy nhiên anh không muốn hiểu luật của tự nhiên cũng áp dụng với một và tất cả. Nếu cha anh đã cứ làm những hành động nặng như sỏi đá, ông ấy chắc chắn phải chìm xuống. Ai có thể kéo ông ấy lên được? Nếu ông ấy làm những hành động nhẹ như bơ, ông ấy chắc chắn nổi lên. Ai có thể đè ông ấy xuống được?
Khó khăn của chúng ta là chúng ta nghĩ rằng một sức mạnh vô hình nào đó sẽ ưu ái chúng ta một cách nào đó, mặc dù chúng ta không làm gì để thay đổi khuôn mẫu hành vi của chính mình, hành động của chính mình. Khi chúng ta hiểu được quy luật vĩnh cửu này của tự nhiên - rằng thành quả phụ thuộc vào hành động của chúng ta - chúng ta sẽ cẩn thận về hành động của mình.
Điều khó khăn của chúng ta là chúng ta nghĩ có một thế lực vô hình sẽ nâng đỡ chúng ta, thậm chí chúng ta không chịu thay đổi khuôn mẫu hành vi của bản thân, hành động của chính mình. Khi chúng ta hiểu được luật tự nhiên vĩnh hằng này- quả của nó tùy thuộc vào hành động của chúng ta- Chúng ta sẽ phải cẩn thận hành động của mình.
Bài pháp này được Đức Phật thuyết cho Mahānāma the Sakyan.
Pháp thoại này được thuyết bởi Đức Phật cho Mahānāma thuộc tộc Sakyan.
(Bài kinh Pathama Māhānāma)
Brahman-not by birth, but by action / Bà La Môn-không do sinh ra, mà do hành động
Đức Phật đã từng sống trong khu rừng gần Icchhānangala. Vào thời điểm đó, nhiều người Bà la môn nổi tiếng và giàu có cũng đang ở tại đó. Trong số họ, có hai thầy brahman nổi tiếng tên là Poskarasāti và Tārukṣa. Mỗi người trong số họ có một đệ tử. Đệ tử của Poskarasāti được gọi là Vāśisṭa và của Tāruksa được gọi là Bhāradvāja. Một cuộc thảo luận về chủ đề, "làm thế nào để một người trở thành một brahman?" nảy sinh giữa hai người.
Đức Phật một lần sống tại khu rừng gần Icchhānangala. Thời đó có nhiều vị bà la môn nổi tiếng và giàu có cũng ở đây. Trong số họ, có hai vị thầy bà la môn nổi tiếng hơn cả tên là Poskarasāti và Tārukṣa. Mỗi vị đó có một đệ tử. Đệ tử của Poskarasāti là Vāśisṭa và đệ tử của Tāruksa là Bhāradvāja. Một cuộc thảo luận về đề tài, “làm thế nào để một người trở thành một bà la môn?” nảy sinh giữa hai bên.
Bhāradvāja quan điểm rằng một người là brahman nếu một người được sinh ra từ cha mẹ có dòng dõi từ bảy đời trở lại đây là thuần khiết. Nhờ điều này, người ta trở thành một kẻ bạo gan. Trái lại, chàng trai trẻ Vāśisṭa lại nói rằng nếu một người có đạo đức và đạo đức, anh ta là một brahman. Khi cả hai không thể đi đến kết luận, họ đến gặp Đức Phật, tự giới thiệu mình với Ngài và yêu cầu Ngài giải thích xem một người là một brahman do bẩm sinh hay do hành động.
Bhāradvāja theo quan điểm, một người là một bà la môn nếu người đó sinh ra có cha mẹ người có dòng dõi bảy đời trước trong sạch. Bằng đức hạnh này, người đó trở thành một bà la môn.Chàng trai Vāśisṭa trẻ tuổi, trái lại, nói nếu người đó có đức hạnh và đạo đức, thì anh ta là một bà la môn. Khi hai bên không thống nhất được kết luận, họ đến gặp Đức Phật, giới thiệu mình với ngài và yêu cầu ngài giải thích liệu một người là bà la môn là do sinh ra hay do hành động.
Đức Thế Tôn đã giải thích cặn kẽ cho họ lý do của sự khác biệt giữa tất cả chúng sinh. Sự ra đời của họ là một dấu ấn đặc biệt của họ. Tất cả các loài sinh vật đều khác biệt với nhau là do chúng được sinh ra. Các loại cây cối, cỏ cây cũng khác nhau. Côn trùng, ruồi và kiến có những dấu hiệu phân biệt khác nhau. Các loại rắn, sinh vật sống dưới nước, cá và chim có các dấu hiệu đặc biệt khác nhau. Mặt khác, con người không có những dấu hiệu đặc biệt như vậy. Mọi chi trên cơ thể của một sinh vật hoặc chúng sinh đều khác với các chi của các sinh vật khác. Nhưng đối với con người, tất cả các bộ phận trên cơ thể của tất cả đàn ông đều giống nhau.
Bậc Giác Ngộ giải thích cho họ chi tiết đưa ra lý do cho sự khác biệt giữa các chúng sinh. Sự sinh của muôn loài có dấu ấn riêng biệt. Tất cả các loài của chúng sinh khác nhau giữa loài này và loại kia do sự sinh. Nhiều loại cây, giống thực vật và cỏ cũng khác loại này hay loại kia. Côn trùng, ruồi và kiến cũng có dấu ấn riêng biệt. Nhiều loại rắn, động vật dưới nước, cá và chim cũng có dấu ấn riêng biệt. Con người, trái lại, không có những dấu ấn riêng biệt như vậy. Mỗi chi của cơ thể một sinh vật hoặc cá thể khác nhau với chi với các loại sinh vật khác. Nhưng xa hơn ở con người tất cả bộ phận cơ thể của con người là như nhau.
Sự khác biệt ở nam giới chỉ là bên ngoài. Một người kiếm kế sinh nhai bằng cách nuôi gia súc là một nông dân. Người gánh hàng hóa là người lao động. Những người kiếm sống bằng bất kỳ công việc thủ công, thủ công hay nghệ thuật nào, được gọi là thợ gốm, thợ rèn sắt, thợ mộc, v.v., tùy thuộc vào nghề nghiệp của họ. Người giao dịch để kiếm sống được gọi là thương nhân. Kẻ ăn trộm của người khác để kiếm sống được gọi là kẻ trộm. Một người sống bằng cách sử dụng vũ khí và trang bị được gọi là một người lính. Người sở hữu đất đai và làng mạc được gọi là Vua. Không ai trong số họ là một kẻ bạo gan.
Điều khác biệt trong con người chỉ là bên ngoài. Một người kiếm sống bằng việc chăn giữ gia súc là một người nông dân. Người chở hàng hóa là một người chở hàng. Người có tay nghề sinh sống bằng nghề thủ công, mỹ nghệ hoặc nghệ thuật, được gọi là thợ gốm, thợ rèn, thợ mộc v.v dựa vào nghề nghiệp của họ. Người lấy buôn bán làm kế sinh nhai được gọi là thương buôn. Người ăn cắp đồ của người khác để sống gọi là kẻ trộm. Người sống bằng đôi tay và cơ bắp để chiến đấu được gọi là binh sỹ. Người sở hữu đất và làng mạc gọi là Vua. Không ai trong số họ là một bà la môn.
Sau đó, Chúa đã nói, rằng không một con người nào trở thành một kẻ khốn nạn chỉ nhờ được sinh ra bởi một người mẹ cụ thể. Ông giải thích thêm về những phẩm chất mà một người có thể trở thành một brahman.
Khi đó, Ngài nói, không con người nào trở thành một bà la môn chỉ bằng phúc đức được sinh ra từ một bà mẹ riêng biệt. Ngài đã giải thích sâu hơn về phẩm tính, do đức hạnh của một người mà người đó trở thành một bà la môn.
Người không tích trữ, không dính mắc và tham lam, không sợ hãi đã phá vỡ mọi kiết sử trói buộc mình vào bánh xe sinh tử, người đã xua đuổi sân hận và tham ái ra khỏi tâm trí, người đã tự giải thoát khỏi tất cả. tà kiến (62 loại tà kiến phổ biến vào thời đó), người đã hoàn toàn giác ngộ, tôi gọi là brahman.
Anh ta, không tích trữ, người được giải thoát khỏi vướng mắc và tham lam, không sợ hãi đã phá vỡ mọi xiềng xích trói anh ta vào bánh xe sinh tử, đã thoát khỏi biết bao giận dữ và tham ái từ tâm, người đã phá vỡ mình để thoát khỏi tất cả cái nhìn sai lầm (62 loại quan điểm sai lầm thịnh hành thời đó), người đã chứng ngộ, anh ta gọi mình là một bà la môn.
Tôi gọi anh ta là brahman, một người chịu sỉ nhục và đau đớn mà không phản ứng, không tức giận tức là không làm ô uế tâm trí anh ta, người có sức mạnh là sự tha thứ, người không giận dữ, người có đạo đức, đạo đức, học thức và thông minh, và người này là lần sinh cuối cùng. Tôi gọi anh ta là kẻ háo sắc không bám víu vào những dục lạc như giọt nước trên lá sen, hay ghen tị, kiêu căng, thèm muốn và chán ghét không dính vào, như hạt cải trên đầu kim, người đã chấm dứt. phiền muộn trong cuộc sống này và đã trút bỏ mọi gánh nặng của mình, là người có trí tuệ sâu sắc, có học, biết đâu là con đường và đâu là con đường không phải là con đường, là người trung thực, không dính mắc với chủ nhà cũng như những người đã bỏ nhà ra đi. cuộc sống vô gia cư, người không giết bất kỳ sinh vật nào, cũng không xúi giục người khác giết, người hòa bình giữa những kẻ thù,
Ta gọi anh ta là một bà la môn, người chịu đựng sự lăng mạ và nỗi đau mà không phản ứng, không tức giận v.v không làm ô nhiễm tâm mình, người có sức mạnh tha thứ, người tự do khỏi giận dữ, người có đức hạnh, đạo đức, hiểu biết và tiết chế, và với họ đây là lần sinh cuối cùng. Ta gọi anh ta là một bà la môn nếu anh ta không vướng mắc vào các khoái cảm giống như một giọt nước rơi xuống chiếc lá sen, không có đố kỵ, kiêu hãnh, tham ái, và oán ghét bị mắc kẹt vào họ, giống như hạt mù tạt trên đầu cây kim, người đó dừng lại đau khổ trong cuộc đời này và vứt bỏ toàn bộ gánh nặng, người đó đầy trí tuệ sâu sắc, có hiểu biết, người đó biết con đường nào nên đi và con đường không nên bước vào, chân thành, người đó không vướng mắc vào đời sống tại gia hoặc rời bỏ gia đình vì đời sống lang bạt, không giết bất kỳ chúng sinh nào, không xúi giục người khác giết hại, người luôn an lạc giữa những kẻ thù, không đâm kẻ cầm gậy, một người không tích lũy giữa những kẻ tích lũy, người luôn đáng kính, và những lời của họ ngọt ngào và chân thật, lời nói không gây hại đến ai; người có phẩm chất đó ta gọi là một bà la môn.
Vì vậy, Đức Thế Tôn đã mô tả thêm những đức tính của một người bà la môn. Người không nhận lấy bất cứ thứ gì trên thế giới này không cho mình, người không còn khao khát cuộc sống này hay cuộc sống bên kia, người đã nhận ra chân lý tối thượng, người chỉ ra con đường giải thoát, người thoát khỏi phiền muộn, người không bị ô nhiễm và trong sạch, người không dính mắc vào tội lỗi cũng như đức hạnh, người đã bắt nguồn từ sự thèm muốn tất cả các sinh linh của mình, người đã từ bỏ sự vô minh gây ra vòng sinh tử, người đã trở thành người khổ hạnh từ bỏ mọi thú vui , người không bị ràng buộc bởi mọi ràng buộc thế gian và trên trời, và người đã vứt bỏ những điều thích và không thích đã trở nên bình tĩnh và mát mẻ và không bị ô nhiễm, một người chiến thắng phổ biến như vậy mà tôi gọi là brahman. Người biết rất rõ về sự diệt vong và sinh diệt của tất cả chúng sinh, người ít ham muốn hơn, thoát khỏi sự tái sinh, người được trời phú cho trí tuệ, anh ta mà tôi gọi là brahman. Không một Deva, hay Gandharva, hay một người đàn ông không biết đường đi nước bước của mình, người không bị tai biến, là một vị A-la-hán, người không có gì trước, sau hoặc ở giữa, người không có tài sản gì, người biết các kiếp trước của mình, nhìn thấy thiên đàng. và địa ngục, người sẽ không tái sinh, tất cả những gì người đó phải làm đã được thực hiện, và người là một nhà hiền triết đã giác ngộ, người đó mà tôi gọi là brahman. ”
Do vậy, Bậc Giác Ngộ miêu tả thêm những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của một bà la môn. Người đó không lấy điều gì mà thế giới này mà không cho họ, người đó thoát khỏi tham ái trong đời sống này hoặc vượt ra ngoài đời sống này, người đó nhận ra sự thật tối thượng, người đó thấy con đường giải thoát, người đó thoát khỏi lo lắng, người đó không ô nhiễm mà thanh tịnh, người đó không vướng vào tội lỗi hay đức hạnh, tham ái được sinh ra bị tận diệt, người đó từ bỏ vô minh gây ra vòng sinh tử, người đó trở thành người khất sĩ từ bỏ mọi niềm vui, người đó không bị gông xiềng bởi những ràng buộc trần thế hay thiên đường, và người đó cũng bỏ thích ghét để trở nên bình tĩnh và thanh lặng và thoát khỏi những bất tịnh, như một người chiến thắng toàn vẹn ta gọi đó là một bà la môn. Một người biết sự diệt đi và sinh ra của mọi chúng sinh rất rõ, người đó ít ham muốn, giải thoát khỏi tái sinh, người đó được phú cho trí tuệ, ta gọi là bà la môn. Không có Deva, hay Gandharva hay con người biết tiến trình của anh ta, người giải thoát khỏi vết bẩn, là một a la hán, người không có gì trước đó, sau đó hoặc giữa, người đó không sở hữu, người đó biết về lần sinh trước, thấy được thiên đàng và địa ngục, người đó sẽ không tái sinh lần nữa, tất cả đã được hoàn tất, và người đó là một thánh nhân đã chứng ngộ, ta gọi đó là bà la môn.
Một người không phải là brahman hoặc không phải brahman khi sinh ra. Một người là kẻ bạo lực hoặc không phải kẻ bạo lực bằng hành động. Nghề nghiệp của một người khiến một người trở thành nông dân, và một người khác trở thành nghệ nhân. Nghề nghiệp biến người này thành thương nhân và người khác trở thành người lao động. Các hành động biến một người trở thành kẻ trộm và người khác trở thành một người lính. Hành động khiến người ta trở thành kẻ ăn xin và chỉ hành động mới khiến người ta trở thành vua. Có như vậy, người khôn biết quả của nghiệp, biết rất rõ đời này. Thế giới chuyển động vì nghiệp (hành động), con người cũng chuyển động trong vòng sinh tử vì nghiệp. Tất cả chúng sinh đều bị ràng buộc vào hành động của họ giống như bánh xe chuyển động của một cỗ xe được buộc vào trục. Thiền, sống một cuộc sống thánh thiện, tiết chế những thú vui nhục dục và kiểm soát tâm trí - những điều này khiến người ta trở thành một kẻ háo sắc. Những người có những phẩm chất này là những người Bà la môn giỏi nhất.
Một người là bà la môn hoặc không là bà la môn không do sinh. Một người là một bà la môn hoặc không phải bà la môn do hành động. Nghề nghiệp của họ làm họ trở thành một người nông dân, và người khác trở thành thợ thủ công. Nghề nghiệp làm họ trở thành một người thương buôn và người khác làm người chở hàng. Hành động làm một người thành trộm cướp và người khác làm binh sỹ. Hành động làm một người là ăn xin và chính hành động thôi làm người khác trở thành vua. Theo cách đó, người thông thái biết kết quả của nghiệp, biết đời sống này rất rõ. Thế giới vận hành do luật của nghiệp (hành động), con người cũng vận hành trong vòng sinh tử do nghiệp. Tất cả chúng sinh bị buộc với hành động của họ giống như bánh xe kéo của chiếc xe ngựa buộc với trục bánh xe. Hành thiền, sống một cuộc đời cao quý, đoạn trừ thú vui nhục dục và kiểm soát tâm-làm người đó trở thành một bà la môn. Người có những phẩm chất đó là bậc bà la môn thiện toàn.
Mặc dù hai người đó còn trẻ, ngay cả những trưởng lão của cộng đồng Bà La Môn cũng thường xuyên thảo luận về chủ đề này.
Dù họ là người trẻ tuổi, thậm chí lớn tuổi của Cộng đồng Bà La Môn thường xuyên thảo luận về đề tài này.
Đây là một sự việc trong cuộc đời của Đức Phật. Một lần khi Đức Phật đang sống trong tu viện Jetavana của Anāthapindika, 500 người Bà la môn từ các nơi khác nhau tụ họp tại Srāvastī ;. Chủ đề thảo luận của họ là Gotama không phân biệt đẳng cấp cao và thấp. Ngài dạy Giáo pháp cho những người thuộc tầng lớp thấp nhất và khiến họ được tôn trọng và tôn kính. Chúng tôi không thể tranh luận với anh ấy về điểm này ”.
Đây là một sự kiện xảy ra trong đời của Đức Phật. Một lần khi Đức Phật sống ở tu viện Kỳ Đà của Anāthapindika, 500 Bà La Môn từ nhiều nơi khác nhau tụ tập lại ở Srāvastī; chủ đề tranh luận của họ là Đạo sư Gotama không giữ khoảng cách giữa đẳng cấp cao và đẳng cấp thấp. Ngài dạy Dhamma cho người ở đẳng cấp thấp nhất và làm họ trở nên đáng kính và cao quý. Chúng ta không thể tranh cãi với ông ta về điều này.”
Một trong những người Bà la môn đó là Ᾱśvalāyana. Mặc dù còn trẻ, ông đã là một chuyên gia về văn học Vệ Đà. Người ta tin rằng ông chính là Ᾱśvalāyana, người sau này trở thành một học giả trong thời đại Upaniṣadic. Do đó, nhóm Bà la môn cảm thấy rằng Ᾱśvalāyana có khả năng tranh luận với Đức Phật về chủ đề đó và giúp ngài sẵn sàng. Mặc dù anh ta nhiều lần nói rằng Đức Phật nói những lời của Giáo pháp, và rất khó để tranh luận với anh ta, nhưng vì áp lực của những người Bà la môn đó, Ᾱśvalāyana đã sẵn sàng tranh luận với Đức Phật.
Trong số Bà La Môn trên có Ᾱśvalāyana. Dù trẻ tuổi, anh ta là một bậc thầy về kinh điển Vệ Đà. Người ta tin rằng anh ta chính là Ᾱśvalāyana, người trước đó đã trở thành một học giả vào thời Upaniṣadic. Do đó nhóm Bà la môn này cảm thấy Ᾱśvalāyana có khả năng tranh luận với Đức Phật về chủ đề đó và giúp đỡ anh ta chuẩn bị. Dù anh ta cứ lặp lại rằng Đức Phật nói về Dhamma, và khó để tranh biện với ngài, nhưng vì áp lực của các bà la môn, Ᾱśvalāyana đã sẵn sàng tranh biện với Đức Phật.
Khi gặp Đức Phật, Ngài nói rằng những người Bà La Môn cho rằng họ là đẳng cấp cao nhất, những người khác đều thấp kém hơn. Họ công bằng, những người khác là đen tối, chỉ có người Bà la môn là thuần túy, còn những người khác thì không. Bà la môn được sinh ra bởi Brahmā, được sinh ra từ miệng của ông và họ là những người thừa kế thực sự của ông.
Khi anh ta gặp Đức Phật, anh ta nói Bà La Môn tuyên bố họ là đẳng cấp cao nhất, những người còn lại thấp kém hơn. Họ trắng trẻo, những người khác thì đen nhẻm, chỉ có Bà La Môn là thanh khiết, những người khác thì không. Bà La Môn do Brahmā sinh ra, kẻ được sinh ra từ miệng của ngài và họ là chân truyền của ngài.
Về điều này, Đức Phật trả lời: “Ᾱśvalāyana, những người phụ nữ brahman cũng có kinh nguyệt, mang thai, sinh con và cho con bú; vậy làm sao chúng ta có thể chấp nhận rằng chúng được sinh ra từ miệng của Brahmā? ”
Đến đây Đức Phật trả lời, “Này Ᾱśvalāyana, phụ nữ bà la môn cũng có chu kỳ kinh nguyệt, họ mang thai, sinh nở ra em bé và cho chúng bú; vậy làm thế nào chúng ta chấp nhận họ được sinh ra từ miệng của Brahmā?”.
Aśvalāyana vẫn im lặng. Anh không thể bác bỏ.
Aśvalāyana im bặt. Anh ta không thể chối cãi.
Đức Thế Tôn còn nói: “Nếu có vị Brahmā nào quy định loài người là cao và thấp, thì tại sao chỉ có hai hạng nhân loại ở các nước láng giềng và ở các quốc gia giáp ranh khác - quý tộc và nô lệ? Ở đó, nếu một người là quý tộc, anh ta có thể trở thành nô lệ và một nô lệ có thể trở thành quý tộc ”. Aśvalāyana chấp nhận rằng ở các tiểu bang và quốc gia này, mọi thứ là như vậy.
Bậc Giác Ngộ nói thêm, “Nếu bất kì Brahmā nào phân loại con người thành cao hay thấp, thì tại sao chỉ có hai loại người trong các quốc gia láng giềng và các bang khác ở biên giới- loại cao quý và nô lệ? Do vậy, nếu một người là cao quý, anh ta có thể trở thành nô lệ và một nô lệ có thể trở thành cao quý.” Aśvalāyana chấp nhận rằng những bang và quốc gia khác, có những việc như thế.
Sau đó, Đức Phật hỏi ông phẩm chất đặc biệt của những người Bà la môn vì họ coi họ là những người thừa kế của Brahmā.
Đức Phật bèn hỏi anh ta phẩm chất đặc biệt nào của những bà la môn của họ mà họ tự nghĩ mình là hậu duệ của Brahmā.
Aśvalāyana không có câu trả lời nào để đưa ra.
Aśvalāyana không có câu trả lời.
Đức Phật còn nói rằng nếu một Kṣatriya độc ác, nếu anh ta là một tên trộm, là vô đạo đức, nếu anh ta nói những lời thô bạo thì anh ta sẽ sinh vào địa ngục sau khi chết. Theo cách tương tự, Vaiśya (thương nhân) và Sūdra (lao động bình thường) cũng sẽ gặp chung số phận, tức là họ sẽ xuống địa ngục nếu giống như anh ta. Liệu một Bà-la-môn sẽ không bị sinh vào địa ngục nếu anh ta có những đặc điểm này?
Đức Phật nói thêm nếu một Sát Đế Lỵ là tàn bạo, nếu anh ta là kẻ cắp, vô đạo đức, nếu anh ta nói lời tục tĩu thì anh ta sẽ sinh ra trong địa ngục sau khi chết. Cùng một cách, một Vaisya (thương buôn) và Thủ Đà La (người lao động thấp kém) sẽ cùng một số phận, họ sẽ đến địa ngục như anh ta. Vậy một Bà La Môn không sinh ra trong địa ngục nếu anh ta có phẩm tính gì?
Aśvalāyana không có câu trả lời cho điều này.
Aśvalāyana không thể trả lời.
“Tương tự như vậy, nếu một người đàn ông có hạnh kiểm tốt, anh ta sẽ được lên thiên đàng khi chết, bất kể thuộc đẳng cấp nào của anh ta”.
“Tương tự, nếu một người có hành động thiện, anh ta sẽ đến thiên đàng sau khi chết, dù cho anh ta có thuộc đẳng cấp gì.”
Aśvalāyana vẫn im lặng.
Aśvalāyana vẫn im bặt.
Đức Thế Tôn nói: “Dù ai là người vô sỉ hay người không phải là người vô tội, người ấy đều có thể tẩy sạch chất bẩn của mình bằng cách thoa xà phòng lên người và đi tắm sông. Vậy tại sao một brahman lại đặc biệt? Tương tự như vậy, một người thuộc bất kỳ giai cấp nào, khi đến với tôi, có thể loại bỏ những phiền não trong tâm trí của anh ta và trở thành một người Pháp. Anh ta không cần thiết phải là một kẻ khoác lác. Mọi người đều có quyền là người có đạo đức và ngay thẳng. Và tất cả những ai trở nên đạo đức và ngay thẳng sẽ nhận được kết quả như nhau. Tôi gọi một người hành thiền như vậy là một người brahman thực sự. Bất kỳ thiền giả nào, không phân biệt đẳng cấp, đều có thể được gọi là brahman một cách chính đáng nếu anh ta thực hành thiền định, sống một cuộc sống thánh thiện, kiểm soát các cơ quan giác quan và tâm trí của mình. Một thiền giả như vậy, tôi gọi là một brahman siêu việt. Một người thuộc giai cấp thấp hơn cũng có thể đạt được sự trong sạch bằng những hành động lành mạnh và hạnh kiểm tốt của mình ”.
Bậc Giác Ngộ nói, “Dù anh ta là một bà la môn hay không phải bà la môn, anh ta có thể loại trừ sự dơ bẩn bằng dùng xà phòng trên cơ thể và tắm dưới dòng sông. Thì tại sao một bà la môn lại đặc biệt? Tương tự, một người thuộc bất kỳ đẳng cấp nào, đến với ta, trừ bỏ những bất tịnh trong tâm và trở thành một người thuận theo Dhamma. Không cần thiết để trở thành một bà la môn. Mọi người có quyền để trở nên đạo đức và hướng thượng. Và mọi người trở nên đạo đức và hướng thượng sẽ có chung một kết quả. Ta gọi đó là thiền nhân một bà la môn thật sự. Bất kì thiền nhân, thuộc bất kỳ đẳng cấp, có thể gọi là một bà la môn chân chánh nếu anh ta hành thiền, sống một cuộc đời cao quý, kiểm soát các giác quan và tâm. Một hành giả như vậy, tôi gọi là bà la môn siêu việt. Người đó thuộc về một đẳng cấp bị cho là thấp cũng có thể đạt được sự thanh tịnh bằng hành động toàn thiện và tốt lành của mình.
Aśvalāyana một lần nữa không tìm thấy câu trả lời nào thích hợp để đưa ra.
Aśvalāyana một lần nữa không tìm ra lời nào để đáp trả.
Đức Phật hỏi thêm: “Nếu một thanh niên Bà La Môn kết hôn với một phụ nữ trẻ không phải Bà La Môn, hoặc nếu một nam thanh niên không phải Bà La Môn kết hôn với một phụ nữ Bà La Môn trẻ, thì bạn sẽ gọi đứa con của một cặp vợ chồng như vậy là gì? Vượt trội hay thấp kém? Một brahman hay một sūdra? "
Đức Phật hỏi thêm, “Nếu một Bà la môn trẻ tuổi cưới một phụ nữ không phải là bà la môn, hoặc một người đàn ông trẻ không phải bà la môn cưới một người phụ nữ trẻ là Bà La môn, thì bạn sẽ gọi đứa trẻ của họ là gì ? Cao quý hơn hay thấp kém hơn? Bà La Môn hay thủ đà la.
Aśvalāyana vẫn im lặng.
Aśvalāyana vẫn giữ im lặng.
Đức Phật còn nói thêm rằng khi một con ngựa giao phối với một con lừa, con cái không được gọi là ngựa hay lừa. Đúng hơn, nó được gọi là con la. Nhưng bạn sẽ gọi đứa con của một người cha brahman và một người mẹ không brahman là gì? Anh ta sẽ được gọi là một brahman đẳng cấp cao hay một sūdra đẳng cấp thấp? Bạn sẽ phân biệt như thế nào?
Đức Phật nói thêm khi một con ngựa phối với một con lừa thì kết quả không gọi là ngựa hay lừa. Mà, gọi là con la. Nhưng bạn sẽ gọi đứa trẻ sinh ra có cha là một bà la môn và mẹ không phải là một bà la môn là gì? Sẽ gọi nó là đẳng cấp cao bà la môn hay đẳng cấp thấp thủ đà la? Làm thế nào bạn phân biệt được ?
Con người là con người. Không có sự khác biệt. Mọi người, dù thuộc giai cấp brahman hay bất kỳ giai cấp nào khác, đều có quyền sống đạo đức và ngay thẳng. Tất cả những ai có đạo đức và ngay thẳng đều nhận được kết quả như nhau.
Đàn ông là đàn ông. Không có gì khác biệt. Mọi người, dù người đó thuộc đẳng cấp bà la môn hay đẳng cấp nào đi chăng nữa, có quyền để sống đạo đức và hướng thượng. Tất cả người có đạo đức và hướng thượng có chung một kết quả.
Thật không may, hàng ngàn năm trước Đức Phật, đất nước đã trải qua những lâu đài cao thấp và không thể chạm tới. Có những thực hành xấu khác. Cảnh tượng của một Cāndāla được coi là không may mắn và là điềm xấu. Để yên cho sự đụng chạm của anh ấy, người ta cần tắm rửa, nếu ngay cả cái bóng của anh ấy đổ lên người anh ấy. Vì vậy, một Cāndāla, phải đến vỗ tay hoặc rung chuông từ xa để làm thân mật với nhóm người đang đến. Nhiều người sẽ rửa mắt bằng nước thơm, nếu mắt họ rơi vào Cāndāla. Thông thường, người ta sẽ đánh một Cāndāla, nếu bóng của anh ta đổ lên người họ. Cāndāla sẽ cúi gằm mặt khi họ vào làng.
Thật không may, hàng ngàn năm trước thời Đức Phật, đất nước đã điên cuồng với những đẳng cấp cao và thấp, đẳng cấp không chạm tới được. Có nhiều thực hành xấu xa khác. Nhìn thấy một Cāndāla là không may mắn và điềm xấu. Nếu lỡ chạm vào chân anh ta, người đó cần tắm, thậm chí nếu bóng của anh ta đổ lên người họ. Vì vậy, một Cāndāla, phải đi với một cái vòng treo có chuông hoặc chuông reo từ khoảng cách xa để báo hiệu cho đám đông biết anh ta đang đến. Nhiều người sẽ rửa mắt bằng nước thơm, nếu họ nhìn phải Cāndāla. Thường, họ sẽ đánh Cāndāla., nếu bóng anh ta đổ lên họ. Cāndāla sẽ cúi gầm mắt xuống nếu họ vào làng.
Có vẻ như ngay cả sau khi Đức Phật, Cāndāla vẫn mang xác và canh giữ khu hỏa táng. Họ sống trong những ngôi làng riêng biệt và có những khu hỏa táng riêng để đốt xác chết của họ.
Có vẻ thậm chí sau thời Đức Phật, Cāndāla/Chiên Đà La sẽ mang xác chết và bảo vệ khu thiêu xác. Họ sống ở khu làng riêng và có khu thiêu xác riêng dành cho họ.
Ngoài Cāndāla, còn có những người khác, những người được coi là rất thấp. Họ là những người Nesadas tức là những người làm ra những chiếc giỏ tre / gậy, những người Camārs, tức là những người làm những đồ vật từ da của động vật đã chết và Pukkusas, tức là những người quét dọn và dọn dẹp sẽ xử lý chất thải của con người.
Thấp hơn Cāndāla, có đẳng cấp khác, người được xem là rất thấp. Họ là Nesada người làm giông/rổ tre, Camār, người làm đồ vật từ da của thú chết và Pukkusa người quét dọn và rửa chất thải của con người.
Các thành viên của gia tộc Cāndāla bị coi là những người bị ruồng bỏ. Đức Phật mô tả ai thực sự là một kẻ háo sắc. “Người nóng nảy, ghen ghét và thù địch, là tội nhân, tà kiến, lừa đảo, độc ác, là kẻ hành hạ, ăn trộm, nói dối; người không chăm sóc cha mẹ già, gây phiền hà cho người khác, lừa dối bà la môn, nhà sư hoặc những người ăn xin khác; thốt ra những lời gây tổn hại; che giấu những hành vi trái đạo đức của mình; tự khen mình và chê bai người khác; người hay giận dữ, là kẻ háu ăn, người đầy dục vọng xấu xa; là kẻ keo kiệt, là kẻ gian ác; không xấu hổ và không sợ hãi về những việc làm sai trái; người tự gọi mình được giải phóng hoàn toàn mà không bị như vậy; một người đàn ông như vậy là một kẻ tàn bạo và đáng khinh bỉ. Một người không phải là một kẻ háo sắc khi sinh ra cũng không phải là một kẻ háo sắc khi sinh ra. Các hành động khiến một người trở nên khó chịu và một người khác trở thành kẻ bạo lực. Một brahman làm những hành động bất thiện là một Cāndāla.
Thành viên của tộc Cāndāla được xem không có đẳng cấp. Đức Phật miêu tả họ là người thật sự không có đẳng cấp. ‘Người luôn nóng tính, đố kỵ và thù địch, người gây ra tội lỗi, cái nhìn sai lệch, gian trá, tàn ác, rách rưới, một kẻ cắp, dâm loàn; người không chăm sóc cho cha mẹ già, gây rắc rối cho người khác, lừa dối bà la môn, tỳ kheo hoặc những kẻ ăn xin khác; thốt ra lời nói gây hại; che dấu hành vi vô đạo đức; tự tán dương mình và hạ thấp người khác; hay nóng giận; tham ăn, đầy ham muốn bệnh hoạn; khốn khổ, độc ác; không biết xấu hổ hay sợ làm sai; người gọi mình là hoàn toàn giải thoát mà họ không phải thế; người đó là một người không có đẳng cấp và hạ tiện. Người không là một đẳng cấp không phải do sinh hay một brahmand do sinh. Hành động làm người đó trở thành một người không có đẳng cấp hay một người là bà la môn. Một bà la môn làm việc bất thiện cũng là một Cāndāla.
Đức Phật nói, “Ta không gọi một người là brahman, bởi vì anh ta được sinh ra bởi một bà mẹ brahman. Tôi gọi anh ta là brahman, một người không sở hữu gì và không lấy gì cả. Không phải bởi mái tóc đã chín, cũng không phải bởi thị tộc hay gia đình (đẳng cấp) cũng như do sinh ra mà người ta trở thành một brahman, nhưng một người chân chính và công bình, trong sáng và đúng pháp mới là brahman. ”
Đức Phật nói, “Ta không gọi người khác là bà la môn, vì anh ta sinh ra bởi người mẹ là bà la môn. Ta gọi anh ta là bà la môn, người đó vô sở hữu và không nhận lấy gì. Không chỉ qua việc bện tóc, hay bởi dòng tộc hoặc gia đình (đẳng cấp) hay do sinh mà làm người đó thành một bà la môn, mà người đó phải chân thật và đúng đắn, thanh tịnh và thuận theo dhamma mới là một bà la môn.
Đức Phật luôn coi trọng kiến thức và hạnh kiểm của một người, chứ không phải đẳng cấp của người đó.
Đức Phật luôn đặt một sự ưu tiên cho kiến thức và hành vi của họ, không phải đẳng cấp của họ.
Hãy đến thiền! Chúng ta cũng hãy được truyền cảm hứng từ những lời dạy thanh khiết của Đức Thế Tôn, cải thiện hạnh kiểm của mình, thực hiện những hành động lành mạnh và trở thành Bà la môn theo đúng nghĩa của thuật ngữ này!
Hãy đến đây các hành giả! Chúng ta được khích lệ bởi lời dạy thanh tịnh của Bậc Giác Ngộ, phát triển hành vi, hành động toàn thiện và trở thành bà la môn theo đúng ý nghĩa thật sự của thuật ngữ này.!
There was No Caste Discrimination, On Path of the Buddha/ Không có sự phân biệt Đẳng Cấp, Trên Con đường của Đức Phật
Trong nhiều thế kỷ trước Đức Phật, đất nước đã bị đè nặng bởi những tệ nạn của đẳng cấp và tín ngưỡng. Một người sinh ra trong một giai cấp thấp hoặc làm những công việc bị coi là thấp kém sẽ bị coi là một người thấp kém và thấp kém. Nghề nghiệp, công việc và giai cấp có các hạng mục cao và thấp khác nhau, cấp trên và cấp dưới-
Vào những thế kỷ trước thời Đức Phật, đất nước chìm trong những điều xấu xa của đẳng cấp và tín điều. Một người sinh ra trong một đẳng cấp thấp hoặc làm những công việc thấp kém sẽ bị xem là một người thấp kém và hạ tiện.
1.Sudra- The low born/ Thủ Đà La: sinh ra thấp kém
2.Caṇḍāla- The corpse burners/ Chiên Đà La: người thiêu xác chết
3.Bhangi- The sweepers/ người quét đường
4.Cammāra- The cobblers; / những người thợ đóng giày/sửa giày;
Những nhóm này được coi là tầng lớp thấp.
Nhóm người này được xem như đẳng cấp thấp,
1.Brāhmaṇa/ Bà La Môn/ Phạn thư
2.Kshatriya- The Warriors/ Sát Đế Lỵ – Chiến binh
3.Vaiśya- The Traders were considered as Upper castes./ Thương buôn được xem là đẳng cấp cao hơn.
Tương tự, người Brāhmana được coi là thượng đẳng và hạ đẳng, tùy thuộc vào thị tộc của họ.
Tương tự, Bà La Môn được xem là cao và thấp hơn, dựa vào dòng tộc của họ.
Inferior clans: Dòng tộc thấp kém
1.Kosiya Gotra
2.Bhāradwāja Gotra
Superior clans: Dòng tộc cao quý
1. Gotama Gotra
2.Moggalāna Gotra
3.Kaccāna Gotra
4.Vāsiṭṭha Gotra
Thủ công mỹ nghệ và kỹ năng của nghệ nhân cũng được chia thành các nhóm cao hơn và thấp hơn.
Kỹ năng của thợ thủ công và nghệ nhân cũng được chia thành các nhóm cao cấp hoặc cấp thấp.
Job skills and Handicrafts considered being superior: Kỹ năng nghề nghiệp và thủ công được xem là cao cấp
1.Writing skills/ Kỹ năng viết lách
2.Printing skills/ Kỹ năng in ấn
3.Book-keeping, accountancy/ Kỹ năng bảo quản sách, thống kê
Work considered as inferior: Công việc được xem là thấp kém
1.Making objects with bamboo/ cane/ Làm đồ vật bằng tre/nứa
2.Pottery – making earthen pots and utensils/ Làm gốm – làm các bình đất và đồ dùng.
3.Leather craft (making shoes and other things with animal skin)/ Làm thủ công bằng da (làm giày và các vật dụng khác bằng da động vật)
4.Nāpitas – Barbers (those who cut hair)/ Thợ cắt tóc
Jobs considered to be extremely low and menial were: Công việc được xem là cực kỳ thấp kém và hèn mọn là:
1.The job of lifting and cleaning faces and human waste./ Công việc nâng và rửa mặt và dọn rửa chất thải của người.
2.Removing and cleaning garbage trash and waste./ Bỏ và dọn thùng rác và chất thải.
Professions regarded as lofty were: Nghề nghiệp được xem là cao quý là
1.Agriculture/ Làm nông
2.Business and trading/ Kinh doanh và buôn bán
3.Cattle rearing./ Nuôi gia súc
Pali Cannons liệt kê 5 chủng tộc sau đây là các chủng tộc thấp và công việc được thực hiện bởi các gia tộc này được coi là thấp kém / cơ sở: -
Danh sách các Kinh tạng tiếng Pali sau có năm chủng người thấp kém và công việc được làm bởi các chủng người được xem là hạ tiện/hèn mọn:-
1.Caṇḍāla kula/ Dòng Caṇḍāla- burning corpses in the crematorium/ thiêu xác chết ở khu hỏa táng.
2.Nesāda kula/ Dòng Nesāda- hunting birds and animals/ săn chim chóc và động vật.
3.Venakula kula/ Dòng Venakula – cleaning lavatories/ rửa nhà vệ sinh
4.Rathakāra kula/ Dòng Rathakāra – making things with the skin of dead animals/ làm đồ từ da thú đã chết
5.Pukkusa kula/ Dòng Pukkusa – removing and cleaning garbage/ bỏ và dọn rác
Tương tự, những người thực hiện các công việc sau đây cũng được coi là kém hơn: -
Tương tự người làm các việc sau cũng được xem là thấp kém:-
1.Nālakāra- basket makers/ người đan giỏ- making baskets etc. with bamboo./ làm giỏ v.v bằng tre
2.Kumbhakāra- Potters/Thợ gốm- making clay pitchers etc./ làm bình bằng đất sét.
3.Pesakāra- Weavers/Thợ dệt- weaving clothes/dệt quần áo.
4.Cammakāra- Those who made leather articles/ người làm các đồ bằng da
5.Nāpita- Barbers-Thợ cắt tóc- those who cut hair./người cắt tóc
Các lâu đài cao hơn sẽ coi mình trở nên ô uế, nếu ngay cả bóng của các lâu đài thấp nhất cũng đổ lên họ. Nếu tình cờ bị một bóng đen như vậy chạm vào, họ sẽ tức giận thậm chí đánh họ. Vì vậy, những tầng lớp rất thấp kém sẽ di chuyển xung quanh rất cẩn thận và do dự, bất cứ khi nào họ đến các thị trấn; đảm bảo rằng bóng của họ không rơi vào bất kỳ ai.
Những đẳng cấp cao hơn sẽ xem họ là không sạch sẽ, thậm chí nếu bóng của đẳng cấp thấp kém nhất đổ lên họ. Nếu tình cờ họ chạm phải một cái bóng như thế, họ sẽ, rất giận dữ, thậm chí đánh đập người đó. Vì vậy những đẳng cấp thấp kém nhất phải di chuyển thật cẩn thận và rụt rè, mỗi khi họ vào thị trấn; để đảm bảo bóng của họ không đổ lên ai.
Đức Phật đã thực hiện các bước cách mạng giữa những điều kiện gây sốc / khủng khiếp như vậy. Ông ta bao gồm những người thấp kém nhất trong số các đẳng cấp thấp trong Tăng đoàn của mình. Một người đã trở thành một phần của Tăng đoàn sẽ tự động được tôn kính. Nhà vua tôn kính ông và các quan chức hoàng gia tôn vinh ông; các ông trùm kinh doanh và các chủ ngân hàng tôn kính anh ta; và các Brāhmanas tôn vinh anh ta. Bằng cách này, Đức Phật đã thực hiện một bước quan trọng để nâng cao các tầng thấp hơn.
Đức Phật đã đi một bước cải cách giữa tình trạng kinh hoàng / tồi tệ như vậy. Ngài thu nạp cả những đẳng cấp thấp kém nhất trong số đẳng cấp thấp kém vào Tăng Đoàn của ngài. Người đó trở thành một phần trong Tăng đoàn và tự nhiên trở thành một người kính trọng. Đức Vua tôn quý anh ta và các thành viên hoàng gia cũng tôn quý anh ta; nhà kinh doanh giàu có và người cho vay cũng tôn quý anh ta; và Bà La môn cũng tôn quý anh ta. Theo cách này Đức Phật đã tiến một bước lớn để nâng đỡ những đẳng cấp thấp kém.
Chính Chúa cũng không tin vào chế độ đẳng cấp. Đã gia nhập Tăng đoàn, không có Tỳ kheo nào bị phân biệt đối xử dựa trên đẳng cấp của mình. Các vị tỳ khưu, đã gia nhập Tăng đoàn, cũng sẽ đi khất thực tại các gia đình thuộc mọi đẳng cấp cao và thấp. Vào những ngày đó, người ta có thói quen xưng hô với các lâu đài thấp hơn là Candāla và Vasala. Nếu bất kỳ vị tỳ kheo mới nào xưng hô với người khác theo kiểu tương tự, thì đó bị tuyên bố là phạm luật theo Luật tạng do Đức Giê-hô-va đặt ra.
Đức Phật chính ngài cũng không tin vào hệ thống đẳng cấp. Khi tham gia vào Tăng Đoàn không có Tỳ Kheo nào bị phân biệt do xuất thân đẳng cấp của họ. Tỳ kheo, khi gia nhập Tăng Đoàn, sẽ cũng đi khất thực đến các gia đình thuộc tất cả đẳng cấp cao và thấp. Trong những ngày đó, người ta xưng hô các những đẳng cấp thấp là Candāla và Vasala. Nếu bất kỳ một Tỳ kheo mới xưng hô với người khác tương tự như vậy, thì bị tuyên bố là đã phạm một tội theo Vinaya (Luật Tạng) do Đức Phật đặt ra.
Chuyện xảy ra từ những ngày đó: Prakriti, một cô gái trẻ mười sáu tuổi không thể chạm tới đang đổ nước cho gia đình mình từ những chiếc giếng dành cho những người không thể chạm tới. Nghèo khó, cô ăn mặc bẩn thỉu, nhàu nhĩ, rách nát và cũ kỹ. Ananda, một đệ tử của Đức Phật, đang tiến về phía bà. Ananda cũng sinh ra trong một gia tộc Kshatriya. Anh ta được bổ sung công bằng và là một người đàn ông giàu có với một tính cách ngang tàng. Ông cũng là anh em họ đầu tiên của Chúa. Đó là mùa của mùa hè thiêu đốt. Cổ họng anh khô khốc vì khát. Thấy cô gái đổ đầy bình bên giếng, anh ta mời cô uống nước. Cô gái không thể chạm tới đang hoang mang. Cô cảm thấy, “Đáng chú ý, mặc dù là một Tỳ Kheo, nhưng người này chắc chắn đến từ một trong những tầng lớp thượng lưu. Nhưng, anh ấy không biết rằng tôi thuộc về một gia đình của những người không thể chạm tới và cái giếng này là dành cho những người không thể chạm tới.
Một sự kiện vào ngày đó: Prakriti, một cô gái trẻ mười sáu tuổi thuộc tầng lớp không thể chạm vào đang lấy nước cho gia đình từ những cái giếng nơi dành cho những kẻ thấp kém không thể chạm đến. Nghèo khó, cô trông xơ xác dơ bẩn và nát nhàu, quần áo cô rách rưới và cũ kỹ. Ananda, một đệ tử của Đức Phật, tiến lại phía cô. Ananda cũng được sinh ra trong dòng dõi Sát Đế Lỵ. Ngài ta có nước da sáng và là một người giàu có với nhân phẩm tốt. Ngài ta cũng là em họ đầu của Đức Phật. Đó là một mùa hè thiêu đốt. Cổ họng của ngài khô khóc vì khát. Thấy cô gái đang lấy nước vào những chiếc bình từ giếng nước, ngài ta đã xin cô một ít nước để uống. Cô gái không nên chạm đến luống cuống. Cô thấy, “Đáng chú ý, dù là một Tỳ Kheo, người này chắc chắn từ một tầng lớp cao hơn. Nhưng, anh ta không biết mình thuộc về một gia đình không nên chạm đến và chiếc giếng này cũng dành cho những người không thể chạm đến như mình.” Vì thế cô nói với Ananda, “Tôi đến từ một đẳng cấp thấp và tôi không thể mang nước dành cho đẳng cấp không thể chạm đến, cho một người ở dòng dõi cao quý hơn.”
Ananda nói với cô gái không thể chạm tới "Chị ơi, em yêu cầu chị nước, không phải đẳng cấp của chị."
Ananda bảo cô gái không thể chạm đến “Em gái, ta chỉ nói em cho ta nước, không phải đẳng cấp của em.”
Được Tỳ Kheo Ananda thuyết phục, cô gái ngơ ngác ngập ngừng đưa nước cho ông. Đã làm hết cơn khát của mình một cách cuồng nhiệt, vị Tỳ Kheo bỏ đi từ đó.
Bị thuyết phục bởi Tỳ Kheo Ananda, cô gái bối rối do dự đưa nước cho ngài ta. Ngài ta nhanh chóng dập tắt được cơn khát, Tỳ kheo rời đi sau đó.
Đột nhiên một ý nghĩ hiện lên trong đầu của cô gái không thể chạm tới. Nếu người thanh niên có đẳng cấp cao này đã lấy được nước từ tay tôi, chắc chắn, anh ấy cũng sẽ đồng ý để tôi trở thành một nửa tốt hơn của anh ấy. Cô vội vàng đến gần Tỳ Kheo Ananda và trình bày đề nghị của mình. Tỳ Mộc liền từ chối. Cô ấy đã rất thất vọng. Sau đó, Ananda giải thích cho cô gái không thể chạm tới, “Tôi không từ chối lời cầu hôn của cô vì sự phân biệt đẳng cấp. Tôi đã thực hiện lời thề độc thân suốt đời [để sống một cuộc sống thánh thiện] và vì vậy tôi không thể chấp nhận lời cầu hôn của bạn. " Anh ấy còn nói với cô ấy rằng, “Đức Phật, Đấng Đại Bi của chúng ta, đã quy y cho tất cả mọi người. Bạn cũng vậy, hãy đi tìm nơi nương tựa Đức Phật. Chúa ban nơi nương tựa cho tất cả mọi người, ngay cả những người bị xã hội coi là đẳng cấp thấp kém.
Bất chợt một ý nghĩ đến với tâm trí của cô gái không thể chạm đến. Nếu người thanh niên của một đẳng cấp cao lấy nước từ tay mình, chắc chắn, anh ta sẽ đồng ý làm chồng của cô. Cô vội vàng đến gặp Tỳ kheo Ananda và nói lên đề nghị của cô. Tỳ Kheo lập tức từ chối Cô gái rất thất vọng. Sau đó Ananda giải thích với cô gái không được chạm đến, “Tôi không từ chối thỉnh cầu của cô vì sự phân biệt đẳng cấp. Tôi đã nguyện lời thề giữ gìn cuộc sống độc thân [dẫn đến lối sống thánh thiện] và tôi không thể chấp nhận lời thỉnh cầu của cô.” Ngài ta nói thêm, “Bậc Đại Từ Bi, Đức Phật, đã làm nơi nương tựa cho mọi chúng sinh. Cả cô nữa, cô hãy đi và tìm nương tựa nơi Phật. Đấng Giác Ngộ là nơi nương tựa cho tất cả, thậm chí những người bị xã hội xem là đẳng cấp thấp.
Ở đó không có sự phân biệt đẳng cấp hay tín ngưỡng. Sau khi quy y Phật, nhiều hạ đẳng đã nhờ thiền Minh sát mà trở thành Cao quý. Những người ngày nay bị coi thường, mọi người bắt đầu kính trọng và bày tỏ lòng kính trọng đối với họ. Hãy đi và không ngần ngại tìm kiếm nơi nương tựa nơi Đức Phật. Có rất nhiều Sadhavis [nữ thiền sư / ni cô] ở đó và Mẹ Mahāpajāpati sẽ chăm sóc bạn chu đáo. ”
Không có sự phân biệt về đẳng cấp hoặc chủng tộc ở đây. Nương tựa nơi Phật, nhiều đẳng cấp thấp kém hơn do đức hạnh của thiền Vipassana, trở nên Cao Quý. Những người hôm nay coi thường họ, bắt đầu kính trọng và bày tỏ lòng tôn kính với họ. Đi và không do dự tìm kiếm sự nương tựa nơi Phật. Có nhiều vị Sadhavi [hành giả nữ/ tỳ kheo ni] ở đó và Mẹ Mahāpajāpati sẽ chăm sóc tốt cho cô.”
Nghe được điều này, cô gái không đụng hàng Prakriti cảm thấy hạnh phúc. Sau đó cô đã đến và quy y Đức Phật. Cô ấy đã được ban cho Vipassana và sau đó trở thành một thiền giả / ni cô.
Nghe thế, cô gái không thể chạm Prakriti cảm thấy vui mừng. Sau đó cô tới và nương tựa vào Đức Phật. Cô đã được dạy Vipassana và do sự tiến bộ cô trở thành hành giả/ tỳ kheo ni.
Một lần Đức Phật đang đi khất thực với Tăng đoàn Tỳ Kheo của Ngài trên con đường cao của Rajgir, thủ phủ của Magadha. Lúc đó, người quét dọn thành phố, Suneet, đang quét dọn đường với cây chổi của mình. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó và được coi là không thể chạm tới, ý nghĩ nảy sinh trong đầu anh, “bóng của tôi không được đổ lên Đức Phật”. Vì vậy, rất do dự, anh ta khoanh tay đứng sang một bên. Chúa đọc được suy nghĩ của anh. Nhìn thấy người quét rác Suneet, một nạn nhân của những cách thức xoắn xuýt, tàn nhẫn của xã hội không khoan nhượng; lòng Chúa tràn đầy lòng trắc ẩn. Ngài ra hiệu cho anh ta và cùng với Tăng đoàn Tỳ kheo của anh ta, đưa anh ta đến Tịnh xá ở Venuvana của Rajgiri. Đức Phật đã chỉ cho anh ta con đường thực hành thiền Minh sát. Sweeper Suneet được xuất gia vào Tăng đoàn. Ông bắt đầu thực hành Vipassana trong các khu rừng và trở thành một vị A-la-hán, một người được giải thoát hoàn toàn.
Một lần nọ Đức Phật đi khất thực vòng quanh với Tăng Đoàn Tỳ Kheo ở con đường lớn của Rajgir, thủ đô của nước Magadha. Người quét rác thành phố, Sunnet, lúc đó đang quét dọn con đường bằng cây chổi. Là người sinh ra trong một gia đình nghèo khó và được xem là không nên chạm đến, ý nghĩ thoáng qua trong tâm anh ta, “bóng của tôi không nên đổ lên Đức Phật.” Vì vậy, rất rụt rè, anh ta chấp tay lại đứng nép sang một bên. Đức Phật đọc được ý nghĩ của anh. Trông thấy người quét dọn Suneet, một nạn nhân của lòng không tha thứ, tàn nhẫn bị xã hội dày vò; lòng Đức Phật dâng lên lòng từ bi. Ngài vẫy gọi anh ta và đi cùng với Tăng Đoàn Tỳ Kheo, mang anh ta theo cùng tới Tịnh Xá Venuvana ở Rajgiri. Đức Phật chỉ cho anh ta con đường thực hành thiền Vipassana. Người quét rác Suneet xuất gia vào Tăng đoàn. Anh ta bắt đầu thực hành Vipassana trong rừng và trở thành A la hán, người giải thoát hoàn toàn. Anh ta trở thành một Brāhmana từ một người quét rác.
Tương tự như vậy, Sopaka, một đứa trẻ sinh ra trong gia tộc Candāla, trở thành trẻ mồ côi khi mới 4 tuổi. Bị ảnh hưởng bởi nghèo đói, chú của anh cảm thấy mình là một gánh nặng. Năm 7 tuổi, cảm thấy vô cùng bức xúc, người chú của anh đã trói chặt anh vào một cái xác và bỏ anh vào lò thiêu, để bị thú rừng ăn thịt. Đấng Từ Bi vĩ đại đã nhìn thấy sự cố này. Ông đã cử một Tỳ kheo đến để giải thoát Sopaka và đưa cậu đến Tịnh xá. Ở đó, ông đã xuất gia và nhận được đối tượng thiền định của mình. Theo lẽ tự nhiên, đứa trẻ Sopaka, tinh tấn tu hành và trở thành một vị A-la-hán.
Tương tự Sopaka, một đứa trẻ sinh ra trong dòng tộc Candāla, trở thành mồ côi ở tuổi lên bốn. Đói nghèo, chú của nó thấy nó như một cục nợ. Ở tuổi lên bảy, cảm thấy vô cùng phiền phức, chú của nó trói chặt nó quanh cái xác và bỏ nó trong khu hỏa táng, nhằm muốn nó bị thú rừng xé xác và ăn thịt. Đức Đại từ Bi thấy sự việc trên. Ngài đã gửi một Tỳ Kheo đến để thả Sopaka và mang cậu bé về Tinh Xá. Sau đó cậu được xuất gia và được dạy thiền. Do sự tiến bộ, đứa bé Sopaka, thực hành chăm chỉ và trở thành A la hán.
Lịch sử ghi nhận rằng Baba Saheb Ambedkar đã tiến thêm một bước quan trọng. Khi soạn thảo Hiến pháp của Ấn Độ, ông không để lại phạm vi phân biệt đẳng cấp cao và thấp. Một con người là một con người. Ông đã tạo ra phạm vi cho những người được coi là tầng lớp thấp kém được học hành. Các cấp thấp hơn của xã hội học lên cao hơn và thậm chí trở thành thư ký trong Chính phủ. Sau đó ai sẽ gọi họ là những kẻ thấp kém? Bằng cách này, Baba Saheb Ambedkar đã đóng góp đáng kể bằng cách phá bỏ rào cản phân biệt đẳng cấp.
Bản ghi chép lịch sử nói rằng Baba Saheb Ambedkar đã có bước tiến lớn khác. Khi soạn thảo Hiến Pháp Ấn Độ, ông không có suy nghĩ về phân biệt giai cấp thấp hay cao. Con người là con người. Ông tạo ra nơi dành cho những đẳng cấp cho là thấp kém được giáo dục. Tầng lớp thấp hơn của xã hội được đi học cao hơn và thậm chí trở thành thư ký trong Chính phủ. Người nào có thể gọi họ là thấp kém được ? Theo cách này Baba Saheb Ambedkar đã đóng góp to lớn trong việc phá vỡ rào cản phân biệt đẳng cấp.
Thật không may, hệ thống đẳng cấp, đẳng cấp, thấp kém, và bất khả xâm phạm vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở một mức độ nào đó trong các làng. Nó đã không bị tiêu diệt.
Thật không may hệ thống đẳng cấp, cao, thấp và không được đụng chạm thậm chí vẫn tồn tại đến tận hôm nay ở vài làng mạc xa xôi. Nó vẫn chưa được diệt trừ.
Tôi nhớ, khi sống ở Miến Điện [Myanmar], tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình chính thống nghiêm khắc. Ở đó, tôi đã thấy rằng không chỉ những người quét rác và những người nhặt rác, mà nhiều người khác cũng bị coi là những người thấp kém. Chúng tôi thậm chí bị cấm uống nước của những người như vậy. Baba Saheb đã mang lại rất nhiều thay đổi cho điều này. Tuy nhiên, xã hội vẫn coi những người sinh ra thấp là kẻ thấp kém và những người thuộc tầng lớp thượng lưu là cấp trên.
Tôi nhớ lại, khi còn sống ở Miến [Myanmar], tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống nghiêm khắc. Ở đó khi tôi thấy không chỉ là những người quét rác và thợ sửa giày mà còn nhiều người được xem là đẳng cấp thấp. Chúng tôi bị cấm thậm chí uống nước bị những người này chạm vào. Baba Saheb mang đến rất nhiều thay đổi về điều này. Nhưng tới nay, xã hội vẫn xem những người sinh ra thấp kém là đẳng cấp thấp và những đẳng cấp cao hơn là cao quý.
Giống như Đức Phật đã mang lại một cuộc cách mạng lớn bằng cách phong chức các đẳng cấp thấp hơn cho Tăng đoàn, Baba Saheb Ambedkar cũng tạo cho họ sự kính trọng bằng cách truyền bá giáo dục. Đó là một điều bất hạnh cho dân tộc, nó vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn.
Giống như Đức Phật mang đến sự cải tiến to lớn bằng việc thu nhận những đẳng cấp thấp vào Tăng Đoàn, cũng như vậy, Baba Saheb Ambedkar cho họ sự kính trọng bằng việc lan tỏa giáo dục. Thật bất hạnh cho quốc gia này, sự phân biệt này vẫn chưa bị diệt trừ hoàn toàn.
Bây giờ Vipassana đã tiến thêm một bước nữa. Mọi người thuộc mọi tôn giáo và tín ngưỡng tham gia các khóa học Vipassana. Không ai bị phân biệt là cấp trên hay thấp kém. Tất cả ở lại bình đẳng và thực hành cùng nhau. Tất cả cùng ngồi ăn, cùng cư trú. Bây giờ tình hình là như vậy, trong Vipassana, một số lượng lớn những người được gọi là Dalitas, đã được đào tạo thêm và được thành lập như những vị Thầy. Khi bây giờ một người thuộc tầng lớp Dalita ngồi trên Ghế Pháp, người đó không phải là Dalita, mà là một vị thầy của Giáo pháp. Hành giả đến tham dự một khóa học, cúi đầu trước vị thầy, không phân biệt họ là Brāhmana, Kshatriya hay Vaiśya.
Bây giờ Vipassana đã có một bước tiến mới. Con người từ mọi đẳng cấp và chủng tộc tham dự khóa thiền Vipassana. Không ai bị phân biệt là cao hay thấp. Tất cả đều bình đẳng và thực hành cùng nhau.. Ngồi và ăn cùng nhau, ở cạnh nhau. Bây giờ tình huống xảy ra như thế, trong Vipassana, một số đông người được gọi là Dalita, đã được huấn luyện nhiều hơn và được đào tạo như Thiền sư. Khi bây giờ một người của lớp Dalita ngồi vào Ghế Pháp, người đó không còn là Dalita, mà là một thiền sư Dhamma. Hành giả đến vì một khóa thiền, cúi đầu trước thiền sư, không liên quan dù người đó là Brāhmana, một Kshatriya, hay một Vaiśya.
Họ bày tỏ lòng kính trọng đối với vị thầy và học hỏi Giáo pháp từ ông. Không có phạm vi phân biệt đẳng cấp trong giáo lý của Đức Phật. Kiến thức về thiền và thực hành Vipassana là bản chất quan trọng và có sẵn cho tất cả mọi người. Vipassana đang hỗ trợ trong việc phá vỡ những rào cản này một cách to lớn. Hãy để chúng tôi xem, điều này làm thay đổi toàn bộ xã hội đến mức nào! Chỉ khi nào xóa bỏ được nỗi bất hạnh này của xã hội, của đất nước thì mới có được hạnh phúc. Khi đó mới có phúc lợi!
Họ bày tỏ lòng tôn kính với thiền sư và học Dhamma từ ông ấy. Không có sự phân biệt đẳng cấp trong lời dạy của Đức Phật. Hiểu biết về thiền Vipassana và thực hành là cốt lõi quan trọng và có giá trị cho tất cả. Vipassana là phương cách phá vỡ những rào cản này theo cách to lớn. Chúng ta hãy xem, sự chuyển hóa xã hội to lớn thế nào khi là nhất một thể! Chỉ khi bất hạnh của một xã hội và quốc gia bị diệt trừ, thì sẽ có hạnh phúc. Chỉ khi đó sẽ có an lạc!
Outer Guise Does Not Make One a Recluse/ Vẻ bề bên ngoài không biến một người thành tu sĩ
Ngày xưa, Đức Phật ngự tại Pubbarāma ở Srāvastī. Vua Prasenjit cũng đến đó. Sau một thời gian, một số nhà khổ hạnh đã vượt qua cách đó. Một vài người trong số họ có mái tóc bạc phơ, một vài người trong số họ khỏa thân và tất cả đều có cơ thể bị bôi tro và một số mặc áo choàng khác nhau. Nhà vua đứng dậy chào họ và tự giới thiệu mình với họ. Những người khổ hạnh đã ban phước lành cho anh ta và ra đi. Bấy giờ vua Prasenjit thưa với Đức Phật - “Thưa Đức Thế Tôn! Những nhà khổ hạnh này là một trong số những người trên thế giới này, những người đã giác ngộ hoặc được thành lập trên con đường giác ngộ. Đức Phật sau khi quan sát tình trạng của họ đã nói ”-
Một lần nọ Đức Phật đang cư ngụ tại Pubbarāma ở Srāvastī. Vua Prasenjit cũng đến đó. Sau một lát vài vị khất sĩ khổ hạnh đi ngang qua. Một ít trong số họ bện tóc, một số thì trần truồng và tất cả cơ thể họ đều phủ đầy tro và số khác thì mặc các loại áo choàng khác nhau. Vua đứng lên từ ghế ngồi và chào họ một cách cung kính và giới thiệu mình với họ. Vị khất sĩ khổ hạnh ban phước cho nhà vua và rời đi. Sau đó vua Prasenjit nói với Đức Phật –
“Thưa Đức Phật! Những khất sĩ khổ hạnh này là một trong số những người trên thế gian đã chứng ngộ hoặc đã thiết lập mình vào con đường giác ngộ. Đức Phật quan sát tình trạng của họ và nói”-
“Không phải như vậy, thưa Hoàng thượng! Một người không trở nên giác ngộ hoặc không được thành lập trên con đường giác ngộ chỉ bằng cách thay đổi chiêu bài. Người ta phải phấn đấu đúng cách để đạt được điều này. Ngay cả khi ai đó tìm thấy con đường đúng đắn, nhưng một người khôn ngoan phải ở lại với anh ta một thời gian dài để biết liệu anh ta có đang đi trên con đường đúng đắn hay không. Trong một khoảng thời gian ngắn, không thể biết về hạnh kiểm thực sự của anh ta. Hoàng thượng! Sự trung thực hay không trung thực của một người chỉ có thể được đánh giá qua hạnh kiểm và hành vi của người đó. Điều đó cũng chỉ có thể thực hiện được sau khi quan sát các hoạt động hàng ngày của anh ấy trong một thời gian dài ”.
“Đức Vua thân mến, không phải như thế! Một người không trở nên chứng ngộ hoặc đạt đạo trên con đường giác ngộ đơn thuần chỉ bởi thay đổi vẻ ngoài. Người đó phải cố gắng đúng cách để đạt điều đó. Thậm chí nếu ai đó tìm thấy con đường đúng đắn, tuy nhiên một người thông thái phải tự ở lại với chính bản thân mình trong thời gian lâu để hiểu được anh ta có bước đi trên con đường đúng đắn hay không. Với thời gian ngắn không cách nào biết được về hành vi thực sự của anh ta. Đức Vua thân mến! Sự tử tế hay không tử tế của một người chỉ có thể đánh giá qua hành động và hành vi của anh ta. Điều này cũng chỉ có thể quan sát được qua hành động hằng ngày trong thời gian dài.”
Chỉ một người khôn ngoan mới có khả năng đề phòng hành vi của mình một cách đúng đắn chứ không phải tất cả mọi người.
Chỉ một người có trí tuệ mới có khả năng quan sát hành vi của anh ta một cách đúng đắn và không phải ai cũng có thể.
Chỉ trong những lúc nghịch cảnh, người ta mới có thể biết được sức mạnh của tâm trí một người. Tương tự như vậy, sự thông thái của một người được biết đến bằng cách thảo luận với anh ta trong một thời gian dài.
Chỉ trong nghịch cảnh, nghị lực trong tâm của một người mới có thể biết được. Theo cùng cách, trí tuệ của một người chỉ biết bằng việc thảo luận với anh ta thời gian lâu dài.
Vua Prasenjit rất ấn tượng với lời giải thích này của Đức Phật và trong khi cầu xin sự tha thứ với sự kinh ngạc, ông đã tiết lộ sự thật.
Vua Prasenjit bị ấn tượng bởi giải thích này của Đức Phật và trong khi cầu xin sự tha thứ với lòng kinh ngạc đức vua đã hé lộ sự thật.
Ngài đáng kính! tất cả những thứ này đều là gián điệp của chúng tôi. Họ thu thập thông tin bí mật một cách ngụy trang từ bên trong và cả thông tin về hoạt động của các quốc gia lân cận và thông báo cho tôi. Dựa trên thông tin của họ, tôi thực hiện hành động cần thiết sau khi cân nhắc cẩn thận. Ngài đáng kính! Bây giờ, những người này sẽ đi tắm, rửa sạch tro, thoa hương thơm lên cơ thể và sau khi mặc quần áo sạch sẽ hưởng năm loại dục lạc.
Thưa Đức Phật! Tất cả họ là mật thám của chúng tôi. Họ đã cải trang để thu thập thông tin bí mật từ bên trong cũng như những thông tin về hoạt động của các nước lân bang và thông báo tin tức cho tôi. Dựa vào tin tức, tôi sẽ ra những hành động cần thiết sau khi suy tính kỹ lưỡng. Thưa Đức Phật! Bây giờ, những người này sẽ đi tắm, rửa sạch tất cả tro, rũ bỏ mùi hương trên cơ thể và sau đó mặc đồ sạch sẽ tận hưởng năm loại khoái lạc.
Nghe điều này, Đức Phật giải thích - “Một người không thể được biết đến bằng cách ăn mặc và trang điểm. Người ta không thể biết một người chỉ bằng cách nhìn vào trang phục và phong thái của người đó. Những kẻ xấu xa cũng đi lang thang trong thế giới này để thực hiện những hành động hấp dẫn với sự tự chủ tuyệt vời. Chúng giống như những đôi bông tai giả làm bằng đất sét và được phủ một lớp vàng. Họ có vẻ ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong họ không trong sáng. Vì vậy, nếu không biết tường tận, đừng bao giờ tin ai cả. Chỉ dựa vào trang phục và chiêu bài bên ngoài của anh ta, chỉ sau khi tìm hiểu kỹ về hành vi của anh ta, người ta mới nên tin anh ta ”.
Nghe đến đây, Đức Phật đã giải thích- “Một người không biết được chỉ qua quần áo và trang sức. Con người không biết được một người chỉ bằng việc nhìn vào quần áo và cách hành xử. Người độc ác cũng lang thang trong thế giới này làm những hành động thu hút với sự tự chủ tuyệt vời. Họ trông giống như giống mấy chiếc khuyên tai giả làm bằng đất nhưng bọc vàng bên ngoài. Họ nhìn bên ngoài trông đẹp đẽ nhưng sâu bên trong là sự bất tịnh. Vì vậy,khi không biết rõ, không nên bao giờ tin ai. Đơn thuần dựa vào quần áo và vẻ bề ngoài, chỉ sau khi hiểu cẩn thận hành vi của anh ta, người đó mới nên tin anh ta.”
A True Recluse/ Một khất sĩ chân chính
Một lần Đức Phật đang ngự tại thị trấn Aswapur ở bang Anga, Ngài đã ngỏ lời với các nhà sư và nói: Này các nhà sư! mọi người coi một số người như một người sống ẩn dật và khi anh ta được hỏi liệu anh ta có phải là một người anh ta hay không, anh ta tuyên bố mình là một người sống ẩn dật. Vì vậy, một người đàn ông được chỉ định là người ẩn dật và người tự nhận là người ẩn dật phải đi trên con đường dành riêng cho người ẩn dật. Vì mục đích đó mà người ta cúng dường cho Ngài áo cà sa, đồ ăn khất thực, chỗ nghỉ ngơi, thuốc men và các vật dụng cần thiết hữu ích khác. Sự cúng dường của họ chỉ trở thành kết quả khi người đó xuất gia trong sạch, hạnh kiểm tốt và hành động của anh ta có ích cho lợi ích của mọi người.
Một lần nọ Đức Phật đang ngụ tại thị trấn Aswapur ở bang Anga, ngài trò chuyện với các tỳ kheo và nói: Hỡi các tỳ kheo! Mọi người nói ai đó là một khất sĩ và khi anh ta được hỏi nếu anh ta là một khất sĩ anh ta hãy tuyên bố mình là một khất sĩ. Vì vậy một người cho mình là một khất sĩ và người tuyên bố là một khất sĩ cần phải bước đi trên con đường đúng đắn để thành một khất sĩ. Đó là mục đích người ta cúng dường cho anh ta áo choàng, đồ ăn khất thực, nơi nghỉ ngơi và thuốc trị bệnh và vài nhu yếu khác. Việc cúng dường của họ chỉ có thành quả chỉ khi sự từ bỏ của anh ta là thanh tịnh, hành vi của anh ta thiện lành và hành động của anh ta mang lại lợi lạc cho mọi người.
Các nhà sư! Làm thế nào là một người không thể thực hành cách thích hợp với người ẩn dật? Chừng nào một người ẩn dật không từ bỏ lòng tham, sân, si, sự khinh miệt, độc ác, ghen tị, keo kiệt, gian dối và những ước muốn xấu xa thì người đó không thể trở thành một người ẩn dật thích hợp. Đó là những vết nhơ của một người sống ẩn dật, những trở ngại trên con đường trở thành một người ẩn dật thực thụ. Đây là những cơ sở cho việc anh ta ra đời trong tình trạng thiếu thốn. Tôi gọi kiểu từ bỏ này là một con dao hai lưỡi xé toạc áo choàng của một kẻ ẩn dật nếu nó được giấu ở đó.
Hỡi các tỳ kheo! Làm thế nào một người không thể thực hành con đường đúng đắn để thành một khất sĩ? Chừng nào một khất sĩ không chịu từ bỏ lòng tham lam, giận dữ, thù hằn, khinh miệt, độc ác, ghen ghét, keo kiệt, lừa dối và mong ước xấu xa anh ta không thể trở thành một khất sĩ chân chính. Những thứ đó là vết nhơ của khất sĩ, chướng ngại trên con đường trở thành một khất sĩ chân chính. Những điều này là lý do cho việc anh ta sinh ra trong trạng thái nghèo khổ. Ta gọi đó là loại từ bỏ như thanh kiếm hai lưỡi xé toạc áo choàng của một khất sĩ nếu nó bị ẩn dấu bên trong.
Bất cứ ai có vết bẩn như vậy đều không thể được gọi là ẩn dật dù có mặc áo cà sa, dù có bôi tro bụi bẩn thân thể, dù có ăn ở dưới nước, ở dưới gốc cây, hoặc nếu có mặc. vỏ cây, hoặc nếu anh ta sống ở ngoài trời hoặc nếu anh ta thực hành đứng liên tục hoặc nếu anh ta giữ nhanh và lấy thức ăn trong khoảng thời gian hoặc nếu anh ta đọc kinh Veda hoặc thần chú.
Bất kỳ ai có những vết nhơ như vậy không thể gọi là một khất sĩ thậm chí nếu anh ta mặc áo choàng, thậm chí người anh ta đầy dơ bẩn và bụi bậm hoặc đầy tro hoặc thậm chí nếu anh ta dầm người trong nước hoặc ở dưới gốc cây, hoặc nếu anh ta mặc vỏ cây, hoặc nếu anh ta đắm mình trong không khí hoặc nếu anh ta thực hành đứng liên tục hoặc nếu anh ta vẫn nhịn ăn và dùng đồ ăn cách quãng hoặc nếu anh ta tụng kinh Vệ Đà hoặc thần chú.
Anh ta sẽ chỉ là một người ẩn dật thực sự nếu anh ta không có những vết nhơ được liệt kê ở trên. Anh ta sẽ phải không ngừng bước đi trên con đường thanh lọc. Sau đó chỉ có anh ta sẽ sống cuộc sống của một ẩn dật thực sự.
Anh ta sẽ là một khất sĩ chân chính chỉ khi anh ta thoát khỏi những vết nhơ liệt kê ở trên. Anh ta sẽ tiếp tục bước đi trên con đường thanh lọc. Chỉ sau đó anh ta sẽ sống đời sống của một khất sĩ chân chính.
Chỉ khi một người nào đó từ bỏ những phiền não trên, người đó mới trở thành một người ẩn dật thực sự. Để diệt trừ những phiền não này, hành giả nên thường xuyên thực hành con đường thanh lọc tâm trí và sau khi thoát khỏi phiền não, hãy sống một cuộc sống ẩn dật thực sự.
Chỉ khi một người từ bỏ các bất tịnh kể trên, anh ta trở thành một khất sĩ chân chính. Để diệt trừ những bất tịnh, người đó nên liên tục thực hành con đường thanh lọc tâm và thoát khỏi những bất tịnh, để sống cuộc đời khất sĩ chân chính.
Các nhà sư! Làm thế nào để một người có thể thực hành cách thích hợp với người ẩn dật?
Hỡi các Tỳ kheo! Làm thế nào người đó có thể thực hành con đường đúng đắn để trở thành khất sĩ?
Khi một người ẩn dật từ bỏ tà kiến của mình, khi anh ta xua đuổi được sân hận, tham lam, thù hận, v.v. và thoát khỏi những phiền não này, thì chỉ người đó mới được coi là có thể thực hành theo cách thích hợp với người ẩn dật. Khi đó chỉ có anh ta mới có thể coi mình là người trong sạch và được giải thoát. Sự vui mừng nảy sinh trong tâm trí của một người sống ẩn dật như vậy, người đã đạt được tự do khỏi tất cả những phiền não tinh thần như vậy. Sự sung sướng kéo theo sự vui mừng. Cơ thể của một người như vậy trở nên yên tĩnh, một người có thân thể yên tĩnh cảm thấy vui thích và một người cảm thấy khoái cảm, tâm trí của người đó trở nên tập trung. Sau đó, anh ta an trụ khắp một phần tư với tâm trí thấm nhuần lòng nhân ái. Tương tự như vậy, ngài tuân theo phần tư thứ hai, thứ ba và thứ tư, trên, dưới, xung quanh và khắp mọi nơi với tâm thấm nhuần lòng nhân từ vô biên, không thù địch và không ác ý, thấm nhuần lòng từ bi vô hạn, niềm vui thông cảm và sự bình an. Anh ấy làm cho mọi người hạnh phúc và giúp mọi người đạt được lợi ích. Bằng cách này, cuộc đời đi tu của anh ta trở nên có ý nghĩa.
Khi một khất sĩ từ bỏ tà kiến, khi anh ta thoát ra giận dữ, tham lam, thù hằn và trở nên giải thoát khỏi bất tịnh, chỉ sau đó người đó mới được xem có thể thực hành con đường đúng đắn để thành khất sĩ. Chỉ sau đó anh ta có thể xem mình là thanh tịnh và tự do. Vui mừng khởi lên trong tâm của một khất sĩ như thế người đã đạt giải thoát khỏi những bất tịnh trong tâm. Sự sung sướng dẫn theo sự vui vẻ. Cơ thể của con người như vậy trở nên thanh tịnh, cơ thể của họ thanh tịnh cảm thấy thoải mái và người đó cảm thấy thoải mái, tâm của anh ta trở nên tập trung. Khi đó anh ta an trụ một phần tư tâm chìm trong lòng từ ái. Theo cùng một cách anh ta an trụ tiếp hai phần, ba phần, bốn phần tư của tâm, trên, dưới, xung quanh và mọi nơi của tâm tràn ngập lòng từ ái mà không thù địch và không ác ý, chìm trong lòng từ ái vô bờ, niềm vui cảm thông và sự quân bình. Anh ta làm mọi người hạnh phúc và giúp mọi người gặt hái được lợi lạc. Theo cách này đời sống tỳ kheo của anh ta trở nên có ý nghĩa.
Giả sử, các Tỳ kheo! có một cái ao với nước trong, mát và có thể uống được với những bờ đẹp và thú vị và một người đàn ông từ phía đông, bị thiêu đốt và kiệt sức vì thời tiết nóng bức, đi đến ao, làm dịu cơn khát và giải tỏa cơn nóng, tương tự như vậy, những người đàn ông đến đó từ đó phía tây, từ phía nam và từ phía bắc và làm dịu cơn khát của họ và giảm bớt cái nóng. Tương tự như vậy, các nhà sư, nếu bất kỳ ai từ một gia đình Kshatriya đi từ cuộc sống tại gia sang cuộc sống vô gia cư, nhận được Giáo pháp do Tathāgata giảng dạy, tận hưởng hòa bình bằng cách thực hành bốn Phạm thiên như từ bi, từ bi, cảm thông và an lạc. , một tu sĩ như vậy được thiết lập trên con đường đúng đắn. Theo cách tương tự, những người từ một gia đình Bà la môn, từ một gia đình Vaisya và từ một gia đình sudra đi từ cuộc sống gia đình sang cuộc sống vô gia cư, thực hành Giáo pháp do Tathāgata dạy tức là thực hành thiền Minh sát và phát triển lòng từ, bi, cảm thông và an lạc, họ trở thành những người ẩn dật thực sự. Họ trở nên thoát khỏi mọi tai ách, mọi phiền não tinh thần và bằng cách tự mình nhận ra với kiến thức trực tiếp ở đây và bây giờ đi vào và an trụ trong sự giải thoát của tâm trí và sự giải thoát của trí tuệ.
Giả sư, hỡi các tỳ kheo! Có một cái hồ với nước trong, mát lạnh và uống được với một bờ sông thật đẹp và thoải mái và một người đàn ông từ phía đông, bị thiêu đốt vì nóng và kiệt sức do thời tiết nóng, đi tới bờ hồ, dập tắt cơn khát và thoát khỏi cái nóng, tương tự người đàn ông đến từ phía tây, từ phía nam và từ phía bắc và cũng dập tắt cơn khát và thoát khỏi cái nóng. Theo cùng một cách, hỡi các tỳ kheo, nếu bất kỳ ai từ gia đình Sát Đế Lỵ rời cuộc sống gia đình trở để có đời sống không gia đình, nhận lấy Dhamma dạy bởi Đức Chánh Đẳng Giác, tận hưởng an lạc bằng việc thực hành bốn Brahmavihāra như lòng từ ái, từ bi, cảm thông và sự quân bình, một tỳ kheo như vậy đã thiết lập mình vào con đường đúng đắn. Theo cùng một cách người đến từ gia đình Bà La Môn, từ gia đình Vaisya và từ gia đình Sudra từ bỏ gia đình trở thành người không gia đình, thực hành Dhamma bởi Đức Chánh Đẳng Giác thực hành thiền Vipassana và phát triển lòng từ ái, lòng từ bi, cảm thông và tính quân bình, họ trở thành khất sĩ chân chính. Họ trở nên giải thoát khỏi tất cả vết nhơ, tất cả bất tịnh trong tâm được nhận với hiểu biết trực tiếp ở đây và bây giờ đi vào và an trụ trong sự giải thoát của tâm và giải thoát bởi trí tuệ.
Việc tiêu diệt tàn tật thực sự khiến người ta trở thành một người sống ẩn dật thực sự. Anh ta có thể đến từ bất kỳ gia đình hoặc dòng tộc nào. Điều đó không trở thành một trở ngại trong con đường trở thành một người ẩn dật của anh ta.
Phá hủy vết nhơ mới thực sự làm một người trở thành một khất sĩ chân chính. Anh ta có thể đến từ bất kỳ một gia đình hay một dòng dõi. Nó không trở thành chướng ngại trên con đường trở thành khất sĩ của anh ta.
Hỡi các thiền giả, hãy đến, chúng ta hãy bước từng bước trên con đường Chánh pháp, thoát khỏi những phiền não và đạt được phúc lợi và hạnh phúc thực sự của chúng ta.
Hãy đến, các hành giả, hãy cùng bước tiếp từng bước trên con đường của Dhamma, thoát khỏi các bất tịnh của tâm và đạt được phúc lạc và hạnh phúc thực sự.
The True Ascent and Descent/ Hành động đi lên và hành động đi xuống đích thực
Một niềm tin phổ biến trong xã hội thời đó là để được giải thoát khỏi kết quả của những hành động xấu xa và ô uế, người ta phải trải qua những đau khổ về thể xác và đau đớn về thể xác. Người ta tin rằng bằng cách trải qua những thực hành như vậy, một người có thể sinh ra ở những nơi cao hơn sau khi chết.
Một niềm tin thịnh hành trong xã hội thời đó là để giải thoát khỏi kết quả của những hành động xấu ác và bất tịnh người đó phải chịu đau khổ thể xác và nỗi đau cơ thể. Người ta tin rằng trải qua những thực hành như thế, người đó sẽ có thể chuyển sanh ở cõi giới cao hơn sau chết.
Người ta cho rằng do kết quả của những tội lỗi đã phạm trong quá khứ mà chúng ta phải đối mặt với nhiều loại đau khổ thể xác, và nếu chúng ta có khả năng đối mặt với những đau khổ như vậy trong cuộc sống hiện tại, tại sao không trải qua nó ngay bây giờ. Nghĩ rằng họ sẽ được giải thoát khỏi những kết quả đau khổ của những tội lỗi mà họ đã gây ra trong tiền kiếp và họ sẽ sinh vào những nơi cao hơn sau khi chết nếu họ trải qua những đau khổ như vậy trong một thời gian dài trong chính kiếp này, họ đã giữ cơ thể đói bằng cách nhịn ăn trong thời gian dài và trừng phạt cơ thể theo nhiều cách.
Giả định cho rằng kết quả của hành động bất thiện phạm phải trong quá khứ khiến chúng ta đối mặt với nhiều nỗi đau thể xác, và nếu chúng ta có thể đối mặt với những đau khổ như thế trong cuộc sống hiện tại, tại sao chúng ta không trải qua nó ngay lúc này. Nghĩ rằng họ sẽ được giải thoát từ việc trải qua các kết quả đau đớn do các hành động bất thiện họ đã gây ra trong kiếp quá khứ và họ sẽ sinh ra ở cõi giới cao hơn sau khi chết nếu họ kinh nghiệm những phiền não càng lâu trong đời sống này, họ vẫn làm cơ thể đói khát bằng việc nhịn ăn trong thời gian dài và hành hạ cơ thể theo nhiều cách.
Vào thời Đức Phật, mọi người ngủ trên giường gai, nhịn ăn trong thời gian dài, ngủ dưới ánh mặt trời thoáng đãng, không có bóng người nào vào mùa hè, và rùng mình vì lạnh trong những đêm đông mà không có quần áo thích hợp. Họ đã làm tất cả những điều này để không phải trải qua những khó khăn này trong tương lai.
Vào thời Đức Phật, con người ngủ trên giường gai, nhịn ăn lâu ngày, ngủ ngoài trời vào lúc mặt trời không có bóng râm vào mùa hè, và rùng mình trong giá lạnh mùa đông mà không mặc thêm quần áo. Họ làm thế chỉ vì họ không muốn chịu đựng những sự vất vả trong tương lai.
Ngoài việc trừng phạt thân thể, nhiều nghi thức và nghi lễ khác cũng rất phổ biến. Một số người tin rằng thờ lửa sẽ dẫn đến thăng tiến và cứu họ khỏi suy vi. Ngọn lửa được tôn thờ vào những dịp đặc biệt để cứu bản thân khỏi rơi xuống trong những trạng thái sai trái. Nơi đó được trát bằng phân bò ướt, cỏ Kusha xanh mướt được trải trên đó, và sau khi tắm rửa và mặc bộ quần áo lụa mới, họ ngủ qua đêm trên nền đất giữa lò sưởi và ngôi nhà. Ba lần trong đêm, họ chắp tay chào ngọn lửa và cầu mong chỉ thăng tiến chứ không suy tàn; để chỉ thăng tiến đến các trạng thái cao hơn và không đi đến các trạng thái thấp hơn trong cuộc sống tương lai. Trong khi thực hiện nghi lễ này, họ đổ rất nhiều bơ sữa, dầu, ... vào lửa để đốt lửa. Vào cuối đêm,
Ngoài việc hành hạ thể xác, nhiều nghi lễ hoặc nghi thức khác cũng thịnh hành. Vài người tin rằng thờ phụng lửa sẽ đạt được lợi lạc, và cứu họ khỏi đọa lạc. Lửa được thờ phụng vào những dịp đặc biệt để cứu rỗi con người khỏi rơi vào trạng thái tồi tệ. Nơi thờ cúng được trát bằng phân bò ướt, cỏ Kusha màu xanh nằm phía trên, và sau khi tắm rửa và mặc áo choàng lụa mới, họ ngủ trên nền đất giữa nơi thờ thần lửa và ngôi nhà suốt đêm. Ba lần trong một đêm, họ chắp tay cúi lạy thần lửa và cầu nguyện chỉ được đi lên cao hơn mà không bị đày ải xuống; chỉ được lên cõi giới cao hơn mà không đi xuống cõi giới thấp trong kiếp sống tương lai. Trong lúc thực hành nghi thức này họ đổ rất nhiều bơ ghee, dầu, bơ vào lửa như là sự cúng tế. Lúc cuối đêm, thức ăn ngon được phục vụ cho các Bà La Môn và họ tin rằng điều này sẽ giúp họ thăng lên ở cõi giới cao và không phải đi xuống cõi giới thấp trong tương lai.
Tuy nhiên, Đức Phật giải thích rằng không thể đạt được tự do khỏi rơi vào trạng thái xấu chỉ đơn thuần là thực hiện các nghi thức và nghi lễ. Do đó, Ngài đã dạy cách thực hành Giáo pháp thanh tịnh để đạt được các trạng thái cao hơn - Một đệ tử cao quý nghĩ theo cách này - giết chúng sinh, trộm cắp, nói dối, tham gia vào việc quay lưng, nói chuyện vô nghĩa, nói những ngôn ngữ thô lỗ và thô bạo, có tham và sân. , và thực hiện các nghi thức và nghi lễ sai lầm, vv chỉ dẫn đến những hậu quả xấu trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Những hành vi sai trái này chỉ làm hỏng tương lai của một người. Do đó, anh ta từ bỏ tất cả những điều sai trái này và sống một cuộc sống của Giáo pháp thanh tịnh và cải thiện cả cuộc sống hiện tại và tương lai của anh ta. Bằng cách tự tiến hành theo cách này, anh ta chỉ đạt được trạng thái cao hơn và tự cứu mình khỏi rơi vào trạng thái thấp hơn.
Tuy nhiên, Đức Phật, đã giải thích không thể nào đạt được giải thoát khỏi trạng thái thấp chỉ đơn thuần thực hành nghi lễ hay nghi thức. Do vậy, ngài dạy cách thực hành Dhamma thanh tịnh để đạt trạng thái cao hơn- Một đệ tử cao quý nghĩ theo cách này sẽ là- việc giết hại chúng sinh, trộm cắp, nói dối, sa vào nói xấu sau lưng, nói chuyện vô bổ, thốt ra lời tàn ác hoặc lời nói khắc nghiệt, đầy tham lam và oán ghét, và thực hành nghi lễ và nghi thức sai lầm, v.v chỉ dẫn đến kết quả tồi tệ trong hiện tại và tương lai. Những hành động sai lầm chỉ phá hoại tương lai của họ. Do vậy, anh ta cần bỏ các hành động sai lầm và sống một cuộc đời Dhamma thanh tịnh và phát triển cả trong kiếp sống hiện tại và tương lai. Bằng việc tự hành động theo cách ấy, anh ta không chỉ đạt trạng thái cao hơn mà còn cứu rỗi mình không rơi vào trạng thái thấp hơn.
======
Tương tự như vậy, một nghi lễ nữa cũng rất thịnh hành. Thức dậy vào buổi sáng sớm và chạm vào Trái đất khi ngồi trên cũi, chạm vào phân bò ướt, chạm vào cỏ xanh, chăm sóc ngọn lửa, chắp tay chào Mặt trời ban mai, xuống nước ba lần một ngày, v.v. A niềm tin đã thịnh hành rằng tâm trí được thanh lọc và trở nên tinh tế hơn bằng cách thực hiện những hành vi này.
Tương tự thế, một nghi thức nữa được thịnh hành. Dậy sớm vào buổi sáng và chạm vào Đất trong khi ngồi trên cái giường, chạm vào phân bò ướt, chạm vào cỏ xanh, đốt lửa, chắp tay chào mặt trời, ngâm người trong nước ba lần một ngày v.v Một niềm tin thời thượng là tâm được thanh lọc và trở nên tinh lọc bằng việc thực hành những hành động này.
Đức Phật giải thích rằng chừng nào một người còn dính vào ba điều ô uế do cơ thể phạm phải, thì người đó còn xa rời sự đạt được tâm thanh tịnh vì đây là những hành động thân thể không thanh tịnh:
Đức Phật đã giải thích một người càng mắc vào ba loại bất tịnh gây ra bởi thân, anh ta còn xa rời việc đạt sự thanh lọc tâm như những dạng hành động bất tịnh trên thân sau :
Nếu anh ta tham gia vào việc làm hại chúng sinh, anh ta tàn nhẫn với chúng sinh, giết hại chúng sinh, tham lam và khát máu. (2) Anh ta ăn cắp những thứ thuộc về người khác, dù trong làng hay trong rừng. (3) Anh ta có hành vi tà dâm với phụ nữ; thuộc hộ gia đình của mẹ, cha, anh, chị, em, người thân của mình; bất kể đó là phụ nữ đã có gia đình hay vũ công chuyên nghiệp.
Nếu anh ta vướng vào việc làm hại các chúng sinh, anh ta tàn độc với chúng sinh, giết hại chúng sinh, là người độc ác và khát máu. (2) Anh ta trộm cắp thứ thuộc về người khác, dù trong làng hoặc trong rừng. (3) Anh ta làm hành vi tà hạnh với phụ nữ; thuộc người trong gia đình của mẹ anh, cha anh, em trai, chị gái hoặc láng giềng; dù cho đó là người phụ nữ đã có chồng hoặc vũ nữ.
Tất cả những thứ này đều có tạp chất vật lý.
Tất cả điều đó dẫn đến bất tịnh trên thân.
Tương tự, có bốn tạp chất của hành động phát âm: - (1) Nói dối. Khi được yêu cầu khai và bảo phải nói đúng sự thật và giải thích đúng sự thật, dù trong cuộc họp, hội đồng, khu phố, đình làng hay triều đình; anh ta nói anh ta biết khi anh ta không, anh ta nói anh ta không biết khi anh ta làm; anh ta tuyên bố đã nhìn thấy khi anh ta chưa nhìn thấy, anh ta tuyên bố đã không nhìn thấy khi anh ta có. Anh ta nói dối vì lợi ích của một đối tượng, thuộc về bản thân hoặc người khác. (2) Phản đối, (3) Nói những lời khó nghe, và (4) Nói những điều vô nghĩa.
Tương tự, có bốn loại bất tịnh là hành vi của khấu:-(1) Nói dối. Khi được yêu cầu khai ra và nói sự thật và giải thích đúng đắn, dù trong cuộc gặp, hội đồng, hàng xóm, trên phiên toà làng xã hay tòa án hoàng gia; anh ta nói những điều anh ta biết là anh ta không biết, anh ta nói anh ta không biết khi đó điều anh ta biết; anh ta tuyên bố anh ta thấy khi anh ta không thấy, anh ta tuyên bố điều anh ta không thấy khi anh ta có thấy. Anh ta nói dối vì một lý do, thuộc về anh ta hoặc người khác. (2) Nói lời sau lưng, (3) Nói lời tàn nhẫn, và (4) Nói điều vô bổ.
Tất cả những thứ này đều có tạp âm.
Tất cả điều đó tạo ra những bất tịnh về khẩu.
Tương tự như vậy, có ba tạp chất của tâm hành: - (1) Tâm tham. Anh ta muốn có được của cải và tài sản thuộc về người khác - anh ta lên kế hoạch cách biến nó thành của mình. (2) Tinh thần đầy thù hận. Anh ta có ý đồ xấu xa. Anh ta có những suy nghĩ độc hại về các sinh mệnh - rằng họ bị trói và ràng buộc, bị hủy hoại, bị giết và bị xóa sổ. (3) Có niềm tin sai lầm và sai lầm. Anh ta không thể hiểu được sự thật và tuyên bố rằng sự rộng lượng không mang lại kết quả nào; không có cúng dường và không có sự cúng dường, việc làm tốt và xấu đều không sinh hoa kết quả; không tồn tại thế giới loài người hay thế giới thần thánh, không tồn tại mẹ và cha; anh ta không thể tin rằng anh ta đã gây ra sự ra đời của chính mình; không có người khổ hạnh hay người Bà la môn nào, không có tri kiến đúng đắn cũng như không có ai thực hành con đường đúng đắn.
Theo cùng một cách, có ba loại bất tịnh do hành động trong tâm gây ra: – (1) Tâm ác độc. Anh ta muốn đạt giàu có và tài sản thuộc về người khác- anh ta lên kế hoạch chiếm nó thành của mình. (2) Tâm đầy sự thù địch. Anh ta có những dự định độc ác. Anh ta có những suy nghĩ độc ác về con người- họ phải bị trói và buộc lại, đốt trụi, giết và quét sạch. (3) Có nhiều niềm tin sai lầm và sai trái. Anh ta không thể hiểu được sự thật và tuyên bố rằng sự độ lượng không thể mang lại kết quả; không cần cúng dường và dâng cúng, hành động tốt và xấu không mang lại nghiệp quả nào; không tồn tại thế giới con người hay thiên giới, không có mẹ lẫn cha; anh ta không thể tin được chính anh ta là nguyên nhân của sự sinh của mình; không có khổ hạnh hay bà la môn, không có hiểu biết đúng hay không ai thực hành con đường chân chính. Anh ta tự huyễn hoặc hình ảnh sai lầm rằng anh ta phải tự mình du hành đến thiên giới và tự chứng đắc sự thật.
Tất cả những thứ này đều nằm dưới những tạp chất tinh thần, những ô nhiễm tinh thần.
Tất cả những điều đó tạo ra bất tịnh tinh thần, bất tịnh tâm trí.
Trong thực tế, sự trong sạch thực sự được trải nghiệm khi một người tránh xa những việc làm bất thiện và chấp nhận những việc làm lành mạnh. Sau đó, anh ta làm chủ khả năng của mình để đạt đến trạng thái tồn tại cao hơn. Những người như vậy chỉ có vươn lên và tiến bộ. Không có sự sụp đổ hay suy đồi đối với họ.
Sự thật, thanh tịnh chân thật được kinh nghiệm khi một người rời xa những hành động bất thiện và giữ lấy những hành động thiện. Khi anh ta làm chủ khả năng đạt tới trạng thái cao hơn của kiếp sống. Người như vậy chỉ tăng trưởng và phát triển. Không bị rơi xuống hay tha hóa xuống cảnh giới thấp.
======
Nhiều kiểu tin tưởng mù quáng như vậy rất phổ biến. Một số người nghĩ như vậy phù hợp với hành động của tôi, tôi sẽ phải sống cuộc sống của một con chó trong tương lai, vậy tại sao không sống cuộc sống đau khổ của một con chó ngay bây giờ. Do đó, họ đã áp dụng phong cách sống của một con chó và sống cuộc sống của một con chó. Họ chỉ chấp nhận thức ăn ném xuống Trái đất, ở trần, ngồi cuộn tròn như một con chó, ngủ theo cách tương tự, v.v.
Nhiều kiểu niềm tin mù quáng như vậy thịnh hành. Vài người nghĩ hành động của tôi như vậy phù hợp, tôi sẽ sống đời sống của một con chó trong tương lai, do vậy tại sao không sống cuộc sống vô lo của một con chó ngay bây giờ. Vì vậy, họ bắt chước theo đời sống của một con chó và sống cuộc sống của một con chó. Họ chấp nhận chỉ những thức ăn được ném trên đất, ở trần, ngồi cuộn tròn như một con chó, ngủ tư thế giống chó. v.v
Tương tự như vậy, một số người đã nghĩ vì tôi có khả năng đương đầu với cuộc sống đau khổ bây giờ và trong tương lai tôi phải sống như một con vật, tại sao không sống cuộc sống của một con bò trong chính cuộc sống này. Hãy để tôi đương đầu với điều này trong chính hiện tại để sau khi chết, tôi được cứu thoát khỏi cuộc sống khó khăn như vậy. Bằng cách này, tôi sẽ không bị bắt buộc phải rơi xuống sự tồn tại thấp hơn mà chỉ lên được những trạng thái sống cao hơn. Nghĩ vậy, họ đã từng sống như một con bò trong cuộc sống hàng ngày. Họ đã phải chịu đựng nhiều phiền não vì điều này.
Theo cùng một cách, vài người nghĩ dù tôi có khả năng sống một cuộc sống vô lo bây giờ mà trong tương lai tôi phải sống như con vật, tại sao không sống đời sống của một con bò trong kiếp này. Hãy làm quen điều này trong kiếp hiện tại và sau khi chết, tôi được cứu chuộc khỏi cuộc sống đau khổ như thế. Theo cách này tôi sẽ không bị buộc rớt xuống kiếp thấp hơn mà chỉ thăng lên kiếp cao hơn để sống. Nghĩ thế, họ thường sống như một con bò ngày qua này trong kiếp sống của họ. Họ chịu đủ những đau khổ vì việc này.
Suy nghĩ này thật vụng về và khôn khéo làm sao! Anh ta không hiểu rằng trong khi anh ta đang trải qua những đau khổ trong hiện tại, anh ta sẽ phải chịu đựng nhiều hơn thế này trong cuộc sống tương lai của anh ta.
Lối suy nghĩ kiểu thế vụng về và thiếu khéo léo! Anh ta không nghĩ trong khi anh ta đang trải qua đau khổ trong đời sống hiện tại, anh ta sẽ chịu nhiều đau khổ hơn trong kiếp tương lai.
Đức Phật giải thích trong khi quan sát tương lai của những người như vậy rằng con đường như vậy chỉ dẫn đến những trạng thái tồn tại thấp hơn. Một người thực sự phải sinh ra như một con chó hoặc một con bò trong cuộc sống tương lai và trải qua nhiều đau khổ và kinh nghiệm hơn.
Đức Phật giải thích trong khi quan sát tương lai của những người như thế con đường đó chỉ dẫn đến kiếp sống thấp hơn. Một người thực sự chuyển sinh làm chó hay bò trong tương lai sống và chịu nhiều đau khổ và nỗi đau hơn.
Nếu một người có niềm tin sai lầm như vậy nghĩ rằng bằng cách sống một cuộc sống thấp kém đầy đau khổ trong hiện tại, anh ta sẽ đạt được cuộc sống ở những nơi thần thánh cao hơn hoặc sự tồn tại siêu phàm hơn thì đó là một sai lầm lớn. Khi những người như vậy nghe và hiểu được lời giải thích của Đức Phật, họ bắt đầu than thở rằng cuộc sống hiện tại của họ cho đến bây giờ thật uổng phí và trong tương lai họ cũng sẽ phải sống những kiếp người thấp kém hơn. Họ yêu cầu Đức Phật dạy họ Giáo pháp đúng đắn. Đức Phật sau đó giải thích -
Nếu một người có những niềm tin sai lầm rằng bằng việc sống ở cõi giới thấp hơn với việc chịu đựng trong hiện tại, anh ta sẽ đạt cuộc sống nơi cao quý hơn hoặc kiếp sống cao siêu hơn thì đó là một sai lầm lớn. Khi những người như vậy nghe và hiểu sự giải thích của Đức Phật, họ bắt đầu đau khổ rằng kiếp hiện tại của họ cho tới nay đã phí hoài và trong tương lai họ cũng phải sống ở kiếp thấp hơn. Họ yêu cầu Đức Phật dạy họ Dhamma chân chính. Đức Phật đã giải thích-
Bản thân tôi đã biết và trải nghiệm bốn loại hành động này: - (1) Trong đời sống hiện tại này, nếu một hành động nào đó là bất thiện thì hậu quả của nó cũng là bất thiện. (2) Nếu một hành động nào đó là lành mạnh thì hậu quả của nó cũng là lành mạnh. (3) Nếu một số hành động một phần là bất thiện và một phần lành thì hậu quả cũng hỗn hợp. (4) Nếu một hành động không thể được phân loại là bất thiện hoặc lành mạnh, thì hậu quả đó cũng không thể được phân loại là bất thiện hoặc lành mạnh. Loại hành động thứ tư này chỉ hữu ích trong việc tiêu tan các hành động và do đó gây ra hậu quả của chúng.
Ta đã tự biết mình và kinh nghiệm về bốn loại hành động- (1) Trong đời sống hiện tại, nếu vài hành động là bất thiện thì kết quả của nó là bất thiện. (2) Nếu hành động là thiện thì kết quả là thiện. (3) Nếu hành động một phần là bất thiện và một phần là thiện thì kết quả cũng sẽ trộn lẫn. (4) Nếu một hành động không thể được phân loại là bất thiện hay thiện, thì kết quả cũng sẽ không được phân loại là thiện hay bất thiện. Bốn loại hành động này chỉ hữu ích trong việc làm tiêu tan hành động và do đó cũng ảnh hưởng đến quả của chúng.
Hành động nào là bất thiện và sinh trái bất thiện? Khi ai đó gây ra nỗi đau cho người khác - thông qua hành động thể chất, hành động bằng giọng nói hoặc hành động tinh thần - thì sau khi chết, anh ta xuất hiện trong một sự tồn tại đầy đau khổ và anh ta phải trải qua đau đớn và dằn vặt khi chạm vào sắt nóng đỏ, v.v. Anh ta phải trải nghiệm như vậy đau đớn của địa ngục.
Loại hành động là bất thiện và mang lại quả bất thiện? Khi vài người gây ra nỗi đau cho người khác- thông qua hành động của thân, hành động của khẩu và hành động của tâm – khi đó sau khi chết, anh ta xuất hiện ở một cõi giới đầy đau khổ và anh ta phải kinh nghiệm được nỗi đau và dằn vặt khi chạm vào sắt nóng v.v Anh ta phải kinh nghiệm đau khổ của địa ngục.
Tương tự như vậy, khi bất kỳ người nào thực hiện hành động lành mạnh thông qua tâm trí, cơ thể hoặc lời nói của mình, hành động để cung cấp hạnh phúc cho người khác, vẫn tràn ngập suy nghĩ về lợi ích của người khác, làm cho người khác hạnh phúc bằng cách thốt ra những lời dịu dàng mà không có ác ý, người đó cảm thấy bình an và hạnh phúc trong thế giới này và sau khi qua đời, trải nghiệm những cảm giác hạnh phúc và yên bình không còn hận thù ở những nơi cao hơn của sự tồn tại.
Theo cùng cách ấy, khi một người làm những hành động thiện thông qua tâm, thân hoặc khẩu, hành động tạo ra hạnh phúc cho người khác, luôn tràn ngập ý nghĩ lợi lạc cho người khác, làm họ hạnh phúc bằng việc thốt ra lời nói nhẹ nhàng và không ác ý, anh ta kinh nghiệm được an lạc và hạnh phúc trong thế giới này và sau khi chết đi kinh nghiệm về cảm giác hạnh phúc và an lạc thoát khỏi oán ghét trong cõi giới cao hơn.
Tương tự như vậy, khi một người nào đó tham gia vào các hành động hỗn hợp đầy thù hận và không có lòng căm thù thì người đó sẽ trải qua cả hai loại cảm giác trong cuộc sống hiện tại cũng như trong cuộc sống tương lai.
Theo cùng một cách, khi một người vướng mắc chính mình vào các hành động hỗn hợp có ghét bỏ và không có ghét bỏ thì anh ta kinh nghiệm cả hai loại cảm giác này trong đời sống hiện tại cũng như tương lai.
Tương tự như vậy, một người làm những việc không phải là bất thiện và không lành mạnh đạt được tự do khỏi tất cả các loại hậu quả của các hành động thì không có sự tái sinh cho người đó.
Tương tự, một người làm các hành động không bất thiện hay thiện lành đạt giải thoát khỏi mọi loại kết quả của hành động và không có việc tái sinh dành cho anh ta.
Giáo pháp do Đức Phật thuyết giảng đã giúp mọi người từ bỏ những quyết định dựa trên niềm tin sai lầm và bước đi trên con đường của Giáo pháp. Họ đã đạt được trạng thái hoàn toàn thoát khỏi đau khổ bằng cách thực hành con đường của Giáo pháp.
Dhamma dạy bởi Đức Phật giúp con người rời bỏ giải pháp của họ dựa vào niềm tin sai lầm và bước trên con đường Dhamma. Họ đã đạt tới trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi khổ bằng việc thực hành con đường của Dhamma.
Hãy đến, học sinh! Chúng ta cũng hãy thoát khỏi những niềm tin sai lầm và những nghi thức và nghi lễ sai lầm, và sống cuộc đời Chánh pháp chân chính và đạt được hạnh phúc và phúc lợi.
Hãy đến đây, các Thiền sinh! Chúng ta hãy thoát khỏi niềm tin sai lầm và nghi lễ nghi thức sai lầm, và sống một cuộc đời Dhamma đúng đắn và đạt được hạnh phúc và an lạc.
Wholesome Actions Cause Birth In a Happy State/ Những hành động Thiện gây ra sự sinh ở trạng thái Hạnh phúc
Trưởng làng nói với Đức Phật rằng mọi người để được sinh ra trong trạng thái hạnh phúc, thực hiện nhiều nghi thức và nghi lễ, mặc các loại váy và trang sức, vòng hoa, sử dụng hương thơm và thuốc mỡ, thờ lửa theo nhiều cách, thực hiện các hành động khác. nghi lễ và nghĩ rằng họ đã làm tất cả những gì cần phải làm. Có một số người, sau khi thực hành một hình thức thực hành huyền bí thấp, tương tác với một số linh hồn và tuyên bố đưa mọi người lên thiên đường với sự giúp đỡ của họ. Ngài đáng kính! Bạn là người toàn trí. Vui lòng làm điều gì đó để tất cả chúng sinh trên thế giới sau khi chết được sinh ra trong trạng thái hạnh phúc trên thiên đàng.
Người trưởng làng nói với Đức Phật rằng con người để sinh ra ở trạng thái hạnh phúc cần thực hành nhiều nghi lễ và nghi thức, mặc nhiều loại áo và trang sức, vòng hoa, dùng dầu thơm và kem phấn, thờ phụng thần lửa theo nhiều cách, thực hành các nghi thức khác và nghĩ rằng họ phải hoàn thành tất cả những thứ được cho là phải hoàn thành. Có vài người, sau khi thực hành một dạng thực hành huyền bí cấp thấp, tương tác với các tinh thần và tuyên bố mang người ta lên thiên đường với sự giúp đỡ của họ. Thưa Đức Phật! Ngài là đức toàn trí. Xin vui lòng làm gì đó để tất cả chúng sinh trên thế gian sau khi chết được sinh ra trong trạng thái hạnh phúc.
Đức Phật hỏi anh ta một câu hỏi ngược lại. “Nếu một người nào đó giết người, trộm cắp, ngoại tình, nói dối, thích cắn lưng, nói lời thô bạo, nói nhiều, tham lam, thấp kém và có quan điểm sai lầm, bạn có nghĩ rằng anh ta xứng đáng được lên thiên đàng không? Anh ấy có phù hợp để đến đó không? Hoặc, nếu sau khi ông qua đời, nhiều người tụ tập ở đó và chắp tay cầu nguyện cho ông đạt được số mệnh tốt, được sinh lên cõi trời thì bằng hành động này, ông có thể thực sự được sinh lên cõi trời không? Không, không có hành động nào được thực hiện sau khi một người chết, có thể giải cứu anh ta. Điều này là không thể ”.
Đức Phật hỏi ông ta một câu hỏi ngược lại. “Nếu ai đó giết hại, trộm cắp, làm các hành vi gian dâm, nói dối, nói năng sau lưng, nói lời lỗ mãng, hay nói nhiều, tham lam, là một người có phẩm chất tinh thần thấp kém và có nhiều cái nhìn sai lầm, ông có nghĩ anh ta xứng đáng được tới thiên đàng? Hay, sau khi anh ta chết, nhiều người sẽ xếp hàng ở đây và chắp tay cầu nguyện anh ta để đạt tới định mệnh tốt, chuyển sinh trong thiên đàng sau khi đã hành động như vậy, anh có thể thực sự sinh ra trong thiên đàng không? Không, không hành động nào thực hiện sau chết, có thể mang anh ta đến đó. Điều này là không thể.”
Hãy để chúng tôi hiểu nó bằng một ví dụ. Người ta thả một cục đá to vào một cái hồ lớn chìm dưới sức nặng của chính nó. Viên đá này có thể nổi trên mặt nước ngay cả khi rất đông người dân cầu nguyện, thề nguyện cầu nguyện, tôn thờ nó hoặc bằng cách thực hiện bất kỳ nghi lễ nào khác không?
Hãy hiểu điều này qua một ví dụ. Ai đó làm rơi một hòn đá lớn vào một cái hồ lớn nó chìm nghỉm vì sức nặng. Hòn đá đó có thể nổi trên nước không thậm chí có một đoàn người cao quý đứng xếp hàng cầu khấn, lập một lời nguyện để làm khuyên giải nó, hoặc thờ cúng nó hoặc thực hành bất kỳ các nghi thức khác không?
Hãy để chúng tôi lấy một ví dụ khác. Nếu một người làm vỡ một cái nồi chứa đầy bơ và dầu trong nước, bơ và dầu chứa trong đó bắt đầu nổi trên mặt nước. Nếu anh ta làm vỡ một cái chậu khác chứa đầy đá và sỏi trong nước, thì đá và sỏi sẽ chìm trong nước dưới trọng lượng của chính chúng. Sau đó, nếu anh ta cầu nguyện, thực hiện các nghi thức và nghi lễ, và đưa ra yêu cầu, “Ôi bơ! bạn có thể đi xuống, bạn có thể đi xuống. Ôi đá và sỏi! bạn có thể đi lên, bạn có thể đi lên. ” Liệu điều này có thực sự xảy ra? Làm điều này và xem cho chính mình.
Chúng ta hãy lấy một ví dụ khác. Nếu một người đập vỡ một cái bình chứa bơ và dầu trong nước, bơ và dầu chứa trong bình bắt đầu nổi lên mặt nước. Nếu anh ta đập một cái bình khác đầy đá và sỏi trong nước, đá và sỏi bắt đầu chìm xuống do sức nặng của nó. Khi đó, nếu anh ta cầu nguyện, thực hành nghi lễ hay nghi thức, và xin một yêu cầu, “Ôi bơ ơi! Hãy chìm xuống đi, hãy chìm xuống đi mà. Ôi sỏi đá ơi! Xin hay nổi lên đi, xin hãy nổi lên đi.” Liệu điều này có thể xảy ra không? Hãy làm nó và tự mình quan sát.
Oh, Headman! Cũng vậy, khi người ta kiêng giết hại chúng sinh, kiêng ăn trộm, kiêng tà dâm, kiêng nói dối và kiêng làm các việc ác khác, và sống một đời sống theo Chánh pháp chân chính, thì sau khi chết, người đó chắc chắn. để chỉ đi đến các trụ sở cao hơn. Anh ta sẽ đạt được những trạng thái cao hơn. Không ai có lời nguyền nào có thể đưa anh ta xuống địa ngục trần gian. Những hành động tốt của anh ta sẽ chỉ đưa anh ta đến những cảnh giới cao hơn. Không ai có thể ngăn cản anh ta tiến tới những nơi ở cao hơn. Đây là một quy luật tự nhiên không thể phá vỡ.
Này, ông già làng! Cùng một cách, khi một người tránh việc giết hại chúng sinh, tránh trộm cắp, tránh các hành vi tà hạnh, tránh nói dối và tránh việc gây ra các hành vi tội ác khác, và sống một cuộc đời Dhamma chân thực, thì sau khi chết, anh ta chắc chắn chỉ đi lên cảnh giới cao hơn. Anh ta sẽ đạt cảnh giới cao hơn. Không lời nguyền của ai làm anh ta chìm uống cảnh giới tồi tệ của địa ngục. Hành động thiện sẽ chỉ dẫn anh ta đến dòng cao hơn. Không ai có thể ngăn anh ta tiến đến cảnh giới cao hơn. Đây là luật tự nhiên không thể phá vỡ.
======
Tương tự, vào một dịp khác, Đức Phật được hỏi rằng liệu Ngài có cùng cảm xúc với mọi người hay không. Nếu vậy, tại sao một số gặt hái được nhiều lợi ích, một số gặt hái ít lợi ích hơn, và một số vẫn không có lợi ích của Giáo pháp? Tại sao như vậy? Tại sao lòng từ bi của anh ấy không cho phép mọi người đều có được lợi ích như nhau? "
Tương tự, vào một dịp khác, Đức Phật được hỏi nếu ngài có cảm giác từ bi với mọi người. Nếu thế, tại sao vài người đạt được lợi lạc to lớn, số khác đạt được lợi lạc ít hơn, và số khác lại không có lợi lạc từ Dhamma? Tại sao như vậy? Tại sao lòng từ ái của ngài không ban cho mọi người như nhau?
Đức Phật giải thích điều này bằng cách đưa ra ví dụ về một người nông dân có ba loại đất - (1) Rất màu mỡ, (2) không quá màu mỡ và (3) hoàn toàn là đất hoang cằn cỗi. Trong tình huống này, trước hết anh ta gieo hạt ở vùng đất màu mỡ, sau đó là vùng đất kém màu mỡ, và cuối cùng là vùng đất hoang cằn cỗi. Hạt giống như nhau và nó được gieo với cùng một nỗ lực và sự chăm sóc. Nhưng thu hoạch không giống nhau. Theo cách tương tự, ba loại người đến với tôi để học Giáo pháp. Loại thứ nhất là những sinh viên nghiêm túc, giống như mảnh đất màu mỡ. Những hạt giống được gieo vào họ sẽ sớm đơm hoa kết trái, bởi vì họ bắt đầu thực hành Giáo pháp với sự tận tâm và quyết tâm hoàn toàn.
Đức Phật giải thích bằng việc cho ví dụ về một bác nông dân có ba loại đất -(1) Rất màu mỡ, (2) không màu mỡ lắm và (3) đất hoang hoàn toàn bạc màu. Trong tình huống này, đầu tiên bác ta gieo hạt giống trên mảnh đất màu mỡ, sau đó là mảnh ít màu mỡ, và cuối cùng là mảnh đất bạc màu. Hạt giống thì giống nhau và được trồng với cùng nỗ lực và chăm sóc. Nhưng thu hoạch thì không giống nhau. Theo cùng một cách, có ba loại người đến với ta để học Dhamma. Loại đầu tiên là thiền sinh nghiêm túc, họ giống mảnh đất màu mỡ. Hạt giống gieo xuống sẽ sớm trở quả, vì họ bắt đầu thực hành Dhamma với lòng tận tâm và kiên định.
Những chủ hộ bình thường, cả nam và nữ, là loại thứ hai. Họ cũng học Pháp trong khi thực hiện các hoạt động thế gian hàng ngày của họ. Họ có lòng tận tụy và quyết tâm, nhưng đồng thời họ cũng phải đối mặt với những trở ngại của cuộc sống trần tục. Tuy nhiên, họ làm việc vì lợi ích của chính họ bằng cách đi trên con đường của Giáo pháp. Thứ ba, có một số người giống như mảnh đất cằn cỗi. Mặc dù tôi hướng dẫn họ theo cách thức giống như tôi làm với những người khác, họ không thể thực hành Giáo pháp một cách đúng đắn bởi vì họ tham gia vào các nghi thức và nghi thức của riêng họ và tin vào các triết lý khác nhau. Họ được lợi ích khi họ học, hiểu và thực hành Giáo pháp. Một số người bỏ đi sau khi nghe Pháp. Họ không thực hành nó ở tất cả. Kết quả là, họ vẫn hoàn toàn thiếu thốn Giáo pháp.
Các cư sĩ bình thường, cả nam và nữ, là loại thứ hai. Họ cũng học Dhamma trong khi hằng ngày làm các hoạt động thế giới bên ngoài. Họ cũng có lòng tận tụy và kiên định, nhưng cùng lúc họ cũng đối mặt với thế giới đầy chướng ngại. Họ vẫn làm việc vì lợi lạc của mình bằng việc bước trên con đường Dhamma. Loại thứ ba, là loại người giống như mảnh đất cằn cỗi. Dù ta có hướng dẫn họ theo cùng một phương cách như những người khác, họ không thể thực hành Dhamma đúng cách vì họ vẫn vướng vào nghi lễ và nghi thức và tin vào nhiều triết thuyết khác nhau. Họ được lợi lạc trong cái họ học, hiểu và thực hành Dhamma. Vài người đi khỏi sau khi nghe Dhamma. Họ không thực hành Dhamma là gì cả. Kết quả, họ vẫn mãi không được lợi lạc của Dhamma. Nhưng lòng từ ái của ta vẫn giống nhau cho tất cả.
Đức Phật giải thích điều đó bằng cách đưa ra một ví dụ khác. Giả sử ai đó có ba cái bình, một cái không có lỗ, cái thứ hai có lỗ nhỏ và cái thứ ba có cái lớn. Đầu tiên, anh ta đổ đầy nước vào bình không có lỗ, thứ được anh ta sử dụng cho cả ngày. Sau đó, anh ta đổ đầy bình thứ hai khi biết rằng nó có thể không tồn tại trong cả ngày, nhưng vẫn có thể cung cấp nước trong một thời gian. Anh ta đổ đầy nước vào bình thứ ba với ý định rằng bất cứ thứ gì chứa đầy nước sẽ được sử dụng ngay để tắm hoặc giặt quần áo và đồ dùng.
Đức Phật giải thích bằng việc cho một ví dụ khác. Giả sử ai đó có ba cái bình, một cái không có lỗ, cái thứ hai có một cái lỗ nhỏ, và cái thứ ba có một cái lỗ lớn. Anh ta đổ nước vào cái bình không có lỗ đầu tiên, anh ta dùng nó cả ngày. Sau đó anh ta đổ đầy cái bình thứ hai biết rằng nó sẽ không chứa nước được cả ngày, nhưng vẫn có nước được ít lâu. Anh ta đổ nước vào cái bình thứ ba với ý định nước được đổ vào cần phải dùng ngay để tắm hoặc giặt quần áo và đồ dùng.
Những người hành thiền rất nghiêm túc giống như người ném bóng đầu tiên. Những chủ hộ bình thường, cả nam và nữ, thực hành Pháp bất chấp những trở ngại giống như người ném bóng thứ hai. Mọi người vướng vào các nghi thức và nghi thức khác nhau giống như nước đầy trong bình thứ ba. Bất cứ Giáo pháp nào họ học và thực hành, họ đều được lợi ích ở mức độ đó mặc dù tôi tắm cho lòng từ bi của mình như nhau trên tất cả.
Các thiền giả rất nghiêm túc giống như cái bình thứ nhất. Các cư sĩ tại gia bình thường, cả nam và nữ, người thực hành Dhamma gặp nhiều khó khăn giống cái bình thứ hai. Người vướng vào nhiều nghi lễ và nghi thức giống như nước được chứa trong cái bình thứ ba. Bất kể Dhamma nào họ học và thực hành, họ đạt được lợi lạc theo phạm vi họ học dù ta tưới tẩm lòng từ bi bằng nhau cho tất cả.
Các thiền giả! Nào! Chúng ta hãy cũng học hỏi từ những tấm gương này của Đức Phật và trở thành mảnh đất màu mỡ của Giáo pháp, tuân thủ năm giới của đức hạnh một cách cẩn thận với niềm tin và sự tận tâm. Với đạo đức mạnh mẽ, chúng ta hãy củng cố chánh định của mình và với sự trợ giúp của chánh định, chúng ta hãy phát triển trí tuệ kinh nghiệm về vô thường từ sâu bên trong, và đảm bảo sự tiến bộ của chúng ta đi đúng hướng bằng cách làm những việc tốt. Nói dối điều này là tốt và hạnh phúc của chúng tôi.
Hỡi các hành giả! Hãy đến đây! Chúng ta hãy học tập các ví dụ được Đức Phật đưa ra và trở thành mảnh đất màu mỡ của Dhamma, quan sát năm giới đạo đức chu đáo với niềm tin và lòng tận tụy. Với đạo đức mạnh mẽ chúng ta hãy vững mạnh trong chánh định và với sự giúp đỡ của chánh định chúng ta hãy phát triển trí tuệ kinh nghiệm về vô thường sâu từ bên trong, và đảm bảo tiến bộ trong định hướng đúng bằng việc hành thiện. Điều này làm chúng ta trở thành người tốt đẹp.
Infinite Forbearance and Compassion of the Buddha/Sự Nhẫn Nại và lòng Từ Bi vô biên của Đức Phật
Sự nhẫn nại của Đức Phật giống như một đỉnh núi Himalaya, có thể đối mặt với bất kỳ cơn bão và sóng dữ, nhưng luôn luôn không thể lay chuyển. Lòng nhân ái và lòng trắc ẩn của ông giống như một đại dương không thể dò tìm mà từ đó có thể lấy bất kỳ lượng nước nào mà không gây ra bất kỳ sự thiếu hụt nào trong đó. Đức Phật đã phải đối mặt với nhiều cơn bão tố của sự đổ lỗi và lạm dụng trong suốt cuộc đời của mình, nhưng lòng nhẫn nại của Ngài vẫn vững vàng không làm giảm lòng từ bi vô biên đối với những kẻ vu khống này.
Sự nhẫn nại của Đức Phật giống như đỉnh ngọn núi Himalaya, đỉnh núi đó đã đối mặt với vô số cơn bão và cơn gió mạnh, nhưng vẫn không suy suyển. Lòng từ ái và từ bi giống như biển cả thâm sâu từ đó lượng nước bất kỳ có thể bị lấy, mà không gây ra tổn hại cho biển cả. Đức Phật đã đối đầu nhiều cơn bão đổ lỗi và sỉ nhục trong suốt cuộc đời ngài, nhưng với sự nhẫn nại luôn vững chắc không hề làm giảm đi trong lòng từ ái hướng về những người vu khống ngài.
Reproach by citizens of Magadha/ Sự lăng mạ của những người dân nước Magadha
Nhìn thấy các nhà sư của Đức Phật, nhiều người dân, đã khiển trách Ngài bằng cách thốt ra những lời như vậy… “Śramana này đang làm cho xứ sở Magadh không còn trẻ em. Anh ta đang làm cho phụ nữ trở thành góa bụa. Anh ta đang tham gia vào việc tiêu diệt gia tộc. Ông vừa cải tạo hàng ngàn người tu khổ hạnh Jatil làm đệ tử của mình. Sau đó, anh ta lấy một nghìn hai trăm năm mươi Parivrājakas vào trong nếp gấp của mình. Giờ đây, ngay cả những người con trai của những gia đình nổi tiếng của Magadh cũng đang chấp nhận những lời dạy của ông ấy ”.
Thấy những tỳ kheo của Đức Phật, nhiều cư dân, đến lăng mạ ngài thốt ra những lời… “Ông Sa Môn này đang biến vùng đất Magadh thành vùng không con cháu. Ông ta biến phụ nữ thành quá phụ. Ông ta thích thú phá hoại dòng tộc. Ông ta đã biến cải hàng ngàn người tu khổ hạnh Jatil thành đệ tử của ông. Sau đó, ông đã mang một ngàn hai trăm năm mười Parivrājakas thành tín đồ của ông. Bây giờ, thậm chí con của những gia đình nổi tiếng của xứ Magadh cũng đang chấp nhận lời dạy của ông.”
Họ cũng đưa ra những nhận xét mỉa mai như vậy đối với các nhà sư… “Maha-Shraman Gautam này đã đến Girivraj (Rajgriha) của Magadha. Anh ấy đã khiến rất nhiều người trở thành học trò của mình. Ai biết được sẽ có bao nhiêu người nữa rơi vào bẫy của anh ta? ”
Họ cũng chế nhạo các vị tỳ kheo… “Đây là Maha-Shraman Gautam đã đến Girivraj (Rajgriha) của nước Magadha. Ông đã biến nhiều người thành học trò của ông. Ai biết được bao nhiêu kẻ sẽ rơi vào cái bẫy này?
Khi Đức Phật nghe những lời nhận xét như vậy từ các tu sĩ của mình, Ngài nói… “Này các Tỳ kheo! Bạn sẽ không nghe thấy những lời nhận xét mỉa mai như vậy trong thời gian dài. Mọi người sẽ làm như vậy trong một tuần, nhưng sau đó, theo cách riêng của họ, họ sẽ trở nên yên lặng ”.
Khi Đức Phật nghe lại những lời chế ngạo từ những vị tỳ kheo, ngài nói… “Hỡi các vị tỳ kheo! Các vị sẽ không nghe các lời chế nhạo lâu đâu. Con người sẽ làm điều đó được một tuần, nhưng sau đó, họ phải tự thừa nhận, họ sẽ trở nên im lặng.
Reproach by Supriya Parivrājaka / Sự chế nhạo của Supriya Parivrājaka
Một lần Đức Phật đi từ Rajgiri đến Nalanda cùng với một số nhà sư. Vào lúc đó, Supriya Parivrajak và đệ tử của ông là Brahmadatta Mānava, cũng đang đi theo ông. Trên đường đi, Supriya Parivrajak tiếp tục nói xấu Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn nhưng đệ tử của ông là Brahmadatta Mānava vẫn không ngừng ca ngợi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn theo nhiều cách khác nhau. Vào ban đêm, mọi người đều ở lại một chỗ và suốt đêm, cả thầy và trò vẫn tiếp tục phỉ báng và ca ngợi Phật, Pháp và Tăng theo cùng một cách thức. Suốt đêm, các đệ tử của Đức Phật lắng nghe cuộc thảo luận của họ mà không can thiệp. Đức Phật đánh giá cao điều đó và nói rằng không bao giờ được vui mừng khi được người khác khen ngợi và cũng không được kích động khi bị người khác khiển trách.
Đức Phật một lần từ Rajgiri tới Nalanda cùng vài vị tỳ kheo. Lúc đó, Supriya Parivrajak và đồ đệ của ông là Brahmadatta Mānava, cũng đi theo. Dọc đường,Supriya Parivrajak tiếp tục nói những lời hạ thấp Đức Phật, Dhamma và Tăng Đoàn theo nhiều cách. Lúc đêm, mọi người ở cùng một nơi và trong suốt đêm, cả thầy và trò tiếp tục vu khống và khen ngợi Đức Phật, Dhamma và Tăng Đoàn theo cùng một cách. Suốt đêm, đệ tử Phật nghe cuộc thảo luận của họ mà không xen vào. Đức Phật cảm kích nó và nói một người không nên vui khi được ca ngợi bởi người khác hoặc bị kích động khi bị sỉ nhục bởi người khác.
Reproach by Nigrodh Parivrājaka / Sự mỉa mai của Nigrodh Parivrājaka
Trong khi trách móc Đức Phật, ông nói… “Śramana Gautam đã mất tri giác khi thực hành thiền định trong phòng giam. Trí tuệ của anh đã suy đồi. Anh ấy sẽ không thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào của tôi ”.
Trong khi mỉa mai Đức Phật, ông ta nói… “Sa Môn Gautama đã mất trí khi thực hành thiền trong căn phòng của ông ta. Trí tuệ của ông ta bị giảm sút. Ông ta sẽ không thể trả lời bất kì câu hỏi nào của tôi.”
Nhưng khi thực sự gặp Đức Phật và quan sát thấy sự bình an và trí tuệ của Ngài, anh ta đã cúi đầu.
Nhưng khi ông thực sự gặp Đức Phật và quan sát thấy an lạc và hạnh phúc của ngài, ông ấy đã cúi đầu.
Reproach by Akroshaka Brahmin / Sự mỉa mai của Akroshaka Brahmin
Nổi cơn thịnh nộ, anh ta đến gần Đức Phật và bắt đầu lạm dụng Ngài.
Bực bội với cơn thịnh nộ ông ta đến gặp Đức Phật và bắt đầu lăng mạ ngài.
Nghe vậy, Đức Phật nói… “Kiểu lạm dụng này giống như việc cúng dường nhau. Tôi không tham gia cùng bạn trong công việc này. Bạn đã tặng tôi những món quà lạm dụng này nhưng món quà này vẫn ở bên bạn. Tôi đã không nhận chúng và cũng không tặng lại bất kỳ món quà lạm dụng nào cho bạn. Những món quà của bạn vẫn chỉ có bạn. "
Hãy nghe này, Đức Phật nói… “Loại lăng mạ này giống như việc dâng cúng cho người khác món ăn. Ta không tham gia với ông vào công việc này. Ông đến gặp ta cho ta những món quà lăng mạ này nhưng món quà này tự ông giữ lấy. Ta không chấp nhận nó và ta không có món quà lăng mạ nào cho ông. Quà của ông thì vẫn mãi ở bên ông.”
Mặc dù xấu tính nhưng Akroshaka Bhardwaja rất khôn ngoan. Anh nhận ra ngay rằng, chúng ta ngày đêm không ngừng tặng quà ngược đãi nhau, vậy mà ở đây lại có người, không nhận quà như vậy. Thay vào đó, anh ấy giữ im lặng và với sự nhẫn nhịn, anh ấy vẫn hoàn toàn bình tĩnh và bình yên. Thấy và hiểu được điều này, ông đã trở thành một đệ tử thuần thành của Đức Phật.
Dù với sự nóng giận, Akroshaka Bhardwaja rất thông thái. Ông lập tức nhận ra, ngày và đêm chúng ta vẫn giữ những món quà của lăng mạ cho người khác, tuy người đó ở đó, người đó không chấp nhận món quà đó. Thay vì vậy, ngài vẫn giữ im lặng và, với sự nhẫn nại, vẫn giữ sự bình tĩnh và an lạc. Thấy và hiểu điều này, ông ta trở thành một đệ tử mộ đạo của Đức Phật.
Reproach by Aggika Bhardwaja / Sự mỉa mai của Aggika Bhardwaja
Trong khi đi từ nhà này sang nhà khác để xin bố thí, Đức Phật đã đến nhà của Aggika Bhardwaja. Khi nhìn thấy anh ta, Aggika Bhardwaja, đã thể hiện sự khinh thường của mình bằng cách hét vào mặt anh ta…
Trong khi đi từ nhà này đến nhà khác để khất thực; Đức Phật đến nhà của Aggika Bhardwaja. Nhìn thấy ngài Aggika Bhardwaja, tỏ thái độ khinh miệt bằng cách la hét ngài…
“Anh cạo trọc đầu, dừng lại ở đó! Bạn Śramana, dừng lại ở đó! Bạn quá nhanh, dừng lại ở đó! ” Anh không muốn cái bóng xấu xa của bất kỳ Vrishala (người thuộc tầng lớp thấp nhất) đổ xuống nhà anh.
“Thầy cạo đầu kia hãy dừng ở đó! Này ông Sa Môn, hãy dừng ở đó! Ông thầy không có đẳng cấp!” Ông ta không muốn cái bóng của người thấp kém của Vrishala (người thuộc về đẳng cấp thấp kém) đổ lên nhà ông ta.
Khi nghe điều này, Đức Phật đã giải thích cho anh ta biết ai là người thích ăn uống và điều gì khiến người ta trở nên khó chịu. Sau khi nghe lời giải thích này từ Đức Phật từ bi và hiểu được ý nghĩa của nó, Bà-la-môn Bhardwaja trở thành đệ tử trung thành của Ngài.
Nghe thế, Đức Phật giải thích với ông người thế nào là người thấp kém và điều gì biến một người thành một người thấp kém. Sau khi nghe lời giải thích từ Đức Phật từ bi và hiểu được ý nghĩa của nó, Bà La Môn Bhardwaja trở thành đệ tử trung thành của Đức Phật.
Reproach by Māganiya Parivrājaka / Sự mỉa mai của Māganiya Parivrājaka
Khi nhìn thấy chiếc ghế mà Đức Phật đã sử dụng, Māganiya Parivrājaka nhận xét… “Ồ, thật bất ngờ khi tôi nhìn thấy chiếc ghế mà Đức Phật đã ngồi vì Śramana Gautam là kẻ giết thai nhi). Ngay cả khi đối mặt với những lời lạm dụng gay gắt như vậy, Đức Phật vẫn kiên định và không hề lay chuyển ”.
Khi ông thấy một chiếc ghế được Đức Phật ngồi, Māganiya Parivrājaka nói… “Ồ, tôi thấy một điềm xấu rằng tôi thấy cái ghế này được Đức Phật ngồi vì Sa Môn Gautama là kẻ giết những bào thai.). Thậm chí khi đối diện với những lời lăng mạ tàn nhẫn, Đức Phật vẫn không dao động và lay động.
Reproach by Singha Senapati / Sự mỉa mai của Singha Senapati
Một lần Singha Senapati đã hóa thân vào Đức Phật và nói rằng Ngài không có bất kỳ sức mạnh siêu nhiên nào. Đức Phật giải thích rằng những lời dạy của Ngài không phải để phô trương sức mạnh siêu nhiên, mà là để giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ. Bằng cách lắng nghe và hiểu đúng điều này, ông đã trở thành một đệ tử tận tụy của Đức Phật.
Một lần Singha Senapati bôi xấu về Đức Phật khi nói rằng ngài ấy không sở hữu bất kì quyền năng nào. Đức Phật giải thích rằng lời dạy của ngài không khai triển quyền năng siêu nhiên, mà chỉ mang lại giải thoát hoàn toàn khỏi khổ. Bằng việc nghe và hiểu đúng đắn, ông ta trở thành người đệ tử trung thành của Phật.
Reproach by Ciñcā Maavika / Sự mỉa mai của Ciñcā Maavika
Cải trang thành một phụ nữ mang thai, Ciñcā đến gần Đức Phật trong một buổi họp và bắt đầu trách móc Ngài.
Cải trang thành phụ nữ mang bầu, cô ả Ciñcā đến gặp Đức Phật trong buổi thuyết pháp trước đại chúng và bắt đầu mỉa mai ngài.
“Hãy nghe ta, ngươi thật ẩn dật, nếu ngươi không thể thu xếp việc sinh con của ngươi trong bụng ta, hãy nhờ bất kỳ đệ tử giàu có nào của ngươi giúp đỡ.”
“Hãy nghe tôi, ngài là một khất sĩ vĩ đại, nếu ngài không thể thu xếp cho sự ra đời của đứa con mình trong bụng tôi, hãy yêu cầu vài đệ tử giàu có sắp xếp.”
Khi nghe lời buộc tội sai trái này, Đức Phật bình tĩnh nói ... "Thưa chị, sự thật hay sai trong lời tuyên bố của chị thì cả hai chúng ta đều biết." Ngay cả sau khi nghe điều này, Ciñcā vẫn tiếp tục lặp đi lặp lại lời buộc tội sai lầm của mình. Nhưng nhận thấy những lời buộc tội của mình đối với Đức Phật không có tác dụng gì, cô ấy bối rối và sợi dây cô buộc miếng gỗ trên bụng trở nên lỏng lẻo và rơi xuống tiết lộ sự thật. Những người có mặt ở đó chê bai Ciñcā. Nhưng Đức Phật vẫn bình tĩnh và không dao động.
Nghe những lời buộc tội vu khống, Đức Phật ôn tồn nói… “Hỡi cô gái, sự thật hay không thật về phát ngôn của cô chỉ mình hai chúng ta biết.” Thậm chí sau khi nghe vậy, Ciñcā vẫn lặp lại những buộc tội vu khống lần này đến lần khác. Nhưng quan sát không có sự ảnh hưởng về sự buộc tội của mình lên Đức Phật, cô bối rối và sợi dây cô buộc miếng gỗ ngang bụng bị lỏng ra và rơi ra hé lộ sự thật. Mọi người ở đó mắng nhiếc Ciñcā. Nhưng Đức Phật vẫn bình tĩnh và bình thản.
Reproach by Sundari Parivrajika / Lời sỉ nhục của Sundari Parivrajika
Khi Đức Phật không thể bị phỉ báng theo bất kỳ cách nào thì kẻ thù của ông đã chơi một trò lừa nữa đối với ông. Họ đưa Sundari Parivrajika đến Jetavan và giết cô ở một nơi vắng vẻ. Sau đó, họ mang xác của cô ấy trong thành phố và nói rằng các nhà sư của Đức Phật không chỉ vô đạo đức mà còn là những kẻ giết người. Về điều này, Đức Phật đã hướng dẫn các tu sĩ của mình giữ bình tĩnh và nói rằng lời cáo buộc sai trái này sẽ không kéo dài quá một tuần. Nó chính xác như Đức Phật đã nói. Các nhà sư duy trì sự bình tĩnh của họ và cùng với thời gian sự thật lộ ra.
Khi Đức Phật không thể bị hủy hoại danh dự theo nhiều cách thì kẻ thù của ngài giở càng nhiều chiêu trò hơn. Họ mang Sundari Parivrajika tới Vườn Kỳ Đà và giết cô ở một nơi hẻo lánh. Sau đó họ mang xác cô vào thành phố và nói rằng những tỳ kheo của Đức Phật không có đạo đức và còn là những kẻ giết người. Theo vậy Đức Phật hướng dẫn các tỳ kheo giữ sự tĩnh lặng và nói rằng cáo buộc đó là sai sẽ không kéo dài quá một tuần. Chính xác như lời Đức Phật nói. Các tỳ kheo giữ sự bình tĩnh và theo thời gian sự thật được phơi bày.
Sariputta was struck with a fist / Sariputta bị đánh bằng nắm đấm
Ai cũng biết rằng Sariputta không thể tức giận bởi bất cứ điều gì đã làm với ngài. Khi điều này được nghe thấy bởi một Bà-la-môn đối địch, để kiểm tra khả năng chịu đựng của mình, ông đã giáng một đòn bằng nắm đấm với toàn bộ sức mạnh vào lưng Sariputta. Về điều này, Sariputta không hề tức giận. Người Bà la môn nhận ra rằng anh ta thực sự sở hữu một lòng nhẫn nại tuyệt vời. Khi quan sát thấy điều này, anh ta ngồi dưới chân với sự khiêm tốn hết sức và thỉnh cầu Sariputta đến nhà anh ta và nhận của bố thí do anh ta bố thí.
Sariputta nổi tiếng không dễ làm cho tức giận dù cho có điều gì làm với anh ta. Khi nghe vậy một Bà La Môn thù địch, thử thách sự nhẫn nại của anh ta bằng một cú đấm trời giáng vào lưng của Sariputta. Lúc đó, Sariputta không giận dữ gì cả. Bà La Môn nhận ra ông ta thực sự sở hữu một sự nhẫn nại to lớn. Quan sát vậy, ông ta quỳ sập xuống với lòng khiêm tốn và xin Sariputta đến nhà ông và chấp nhận cúng dường.
Sariputta nhận lời và làm theo. Mọi người kinh ngạc khi thấy rằng thay vì tức giận với một người đã hành hung mình, Sariputta đã đáp ứng yêu cầu của anh ta và đến nhà anh ta để nhận bố thí với tâm từ bi.
Sariputta chấp nhận lời mời và làm như thế. Mọi người kinh ngạc khi thấy thay vì tức giận với người đã đánh đập mình, Sariputta đã chấp thuận lời mời và đến nhà ông nhận cúng dường với tâm đầy từ bi.
Reproach by Ambaha Māava / Sự mỉa mai của Ambaha Māava
Ambaha Māava đi đến nơi Đức Phật đang cư ngụ và khiển trách Ngài bằng những lời này, "Đức Phật Gautam và các tu sĩ của ngài không có đạo đức." Khi khiển trách cả gia tộc Shakya, anh ấy nói, “Họ có bản chất hung dữ và bốc đồng. Họ không tôn trọng người Bà la môn cũng như không tôn kính họ. Do đó, họ là tội nhân ”. Sau đó, Đức Phật đã giải thích rất bình tĩnh cho anh ta ai là người nên được tôn trọng và ai thực sự nên được gọi là tội nhân. Nghe vậy, Ambattha trở nên trầm lặng và khiêm tốn.
Ambaha Māava đến nơi Đức Phật đang ngồi đó và mỉa mai ngài với những lời,”Đức Phật Gautama và đồ đệ của ngài không đạo đức.” Mỉa mai toàn thể dòng tộc Shakya, ông ta nói, “Họ có bản chất hung tợn và hung hăng. Họ không kính trọng Bà La Môn hay tôn trọng họ. Do đó, họ là những kẻ tội lỗi.” Do vậy, Đức Phật giải thích với ông rất bình tĩnh ai nên được kính trọng và ai nên được gọi là tội đồ. Nghe vậy, Ambattha trở nên bình tĩnh và khiêm tốn.
Reproach by Māganiya / Sự mỉa mai của Māganiya
Māganiya, con gái của Māgandiya rất xinh đẹp. Cha anh đang tìm một chàng rể rất đẹp trai cho cô. Khi nhìn thấy Đức Phật, ông đã rất ấn tượng bởi vẻ đẹp không gì sánh được của Ngài. Ông đã nhìn thấy một chàng rể phù hợp trong mình cho con gái của mình. Anh ta gọi vợ đến đó cùng với con gái. Bà-la-môn Māgandiya đề nghị Đức Phật nên gả con gái cho ông ta. Đức Phật đã bác bỏ điều đó một cách thẳng thắn. Khi người Bà la môn khen ngợi vẻ đẹp của nàng, Đức Phật nói - “Làm sao ta có thể nhận nàng làm vợ? Tôi thậm chí không thể chạm vào cô ấy bằng chân của mình ”. Sau đó, ông giải thích sự thật của việc đạt được Giác ngộ tối cao. Khi nghe điều này, cả hai vợ chồng Māgandiya đều quy y Đức Phật và sau đó đạt được trạng thái giải thoát hoàn toàn.
Māganiya, con gái của Māgandiya rất xinh đẹp. Cha của ông đang tìm một người con rể rất đẹp trai cho cô con gái. Khi ông thấy Đức Phật ông rất lấy làm ấn tượng vì vẻ đẹp không thể nào so sánh được của ngài. Ông thấy ngài là một chú rể phù hợp cho con gái ông. Ông gọi vợ mình đi cùng cô con gái. Bà La Môn Māgandiya đề nghị Đức Phật nên cưới con gái ông. Đức Phật từ chối ngay. Khi Bà La Môn ca ngợi vẻ đẹp của cô, Đức Phật nói-”Làm thế nào ta có thể chấp nhận cô ta làm vợ? Ta không thể thậm chí cho cô ấy chạm vào chân ta.” Do vậy, ngài đã giải thích sự thật ngài đã đạt được chứng ngộ tối thượng. Nghe vậy, cả Māgandiya và vợ ngài nương tựa Đức Phật và sau đó đạt trạng thái hoàn toàn giải thoát.
Bị Đức Phật từ chối, trái tim của Magandiayaa vô cùng đau đớn. Sau đó vì sắc đẹp tuyệt trần, nàng được gả cho vua Udayan của Kosambi. Cô trở thành nữ hoàng. Nhưng cô không thể nào quên được sự sỉ nhục do Đức Phật gây ra. Một lần, Đức Phật Gautam cùng với Ananda đến thị trấn đó. Khi nhìn thấy họ, cô đã ra lệnh cho những người hầu và công nhân của mình đi theo Đức Phật và trấn an Ngài bằng những hành vi ngược đãi như vậy - “Śraman Gautam, ngươi là một tên trộm, một kẻ ngu ngốc, một kẻ trơ tráo, một con lạc đà. một con bò, một con lừa, một con vật, một sinh vật bị ràng buộc bởi địa ngục! Bạn không phải để đạt được một sinh nở hạnh phúc. Chỉ có một trạng thái khủng khiếp đang chờ đợi bạn! ”
Bị Đức Phật từ chối, con gái Māgandiya cực kỳ đau khổ. Sau đó vì nhan sắc diễm kiều, cô cưới vua Udayan của Kosambi. Cô trở thành hoàng hậu. Nhưng cô không thể quên nỗi sỉ nhục do Đức Phật gây ra. Một lần, Đức Phật Gautama, cùng Ananda đi vào thị trấn. Khi cô thấy họ, cô sai tùy tùng và người hầu theo Đức Phật và khinh miệt ngài bằng những lời – “Sa môn Gautam, ông là kẻ cắp, một tên đần, tên mặt dày vô sỉ, con lạc đà, con bò đực, con lừa, con vật, sinh vật từ địa ngục..! Ông không sinh ra hạnh phúc đâu. Kiếp tồi tệ đang chờ đợi ông!”
Họ bắt đầu xúc phạm Đức Phật bằng những nhận xét xúc phạm như vậy. Sau đó, Đại đức Ananda đề nghị với Đức Phật - “Bhante, những công dân thiếu văn minh này đang gọi tên bạn. Vì vậy, tại sao chúng ta không nên chuyển đến một thị trấn khác? ” Đức Phật trả lời - "Trong trường hợp, người dân thị trấn đó cũng bắt đầu gọi tên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ đi đâu?"
Họ bắt đầu lăng mạ Đức Phật với những lời xúc phạm như thế. Khi đó Đại đức Ananda đề nghị Đức Phật – “Thưa thầy, những người dân không có văn hóa đang gọi tên thầy. Vì thế, sao chúng ta không đến thị trấn khác?” Đức Phật trả lời -”Trong trường hợp, người dân thị trấn kia cũng gọi tên chúng ta như thế, thì chúng ta sẽ đi đâu?”
Đức Phật giải thích thêm - Này Anand, tôi giống như một con voi chiến đấu trong một trận chiến. Giống như con voi phải chịu những mũi tên đến từ bốn phương, cũng như vậy, tôi có bổn phận phải chịu đựng những lời nói lăng mạ của nhiều kẻ vô đạo đức. Khi khen ngợi là như vậy, và chê trách cũng vậy. Giữ bình đẳng trong cả hai tình huống là Giáo pháp thực sự.
Đức Phật giải thích thêm – Anand, ta giống như một con voi đánh trong một trận chiến. Giống như con voi chịu mũi tên đến từ bốn hướng, giống vậy, nhiệm vụ của ta là chịu đựng những lời thốt ra của những người bất thiện kia. Giống như việc ca ngợi, mỉa mai cũng giống thế. Giữ quân bình trong cả hai tình huống mới là Dhamma chân thực.
Trong cuộc đời của mình, Đức Phật đã được nhiều lần quở trách theo nhiều cách khác nhau. Nhưng ông ấy là 'Đức Phật'. Làm sao anh ấy có thể bị xáo trộn bởi những lời trách móc này! Lòng kiên nhẫn của anh ấy không gì lay chuyển được giống như đỉnh của dãy Himalaya. Chỉ có lòng nhân ái tuôn trào từ trái tim anh đối với những người đã chỉ trích anh. Lòng nhân ái của anh giống như một đại dương không thể dò tìm.
Trong cuộc đời Đức Phật đã bị mỉa mai theo nhiều cách trong nhiều lúc. Nhưng ngài là Đức Phật. Làm thế nào ngài có thể bị nhiễu loạn bởi những lời mỉa mai đó! Sự nhẫn nại của ngài không lay chuyển giống như đỉnh của Himalaya. Chỉ có lòng từ ái chảy từ tim ngài đến người chỉ trích ngài. Lòng từ ái của ngài như biển cả sâu thẳm.
Những lời chỉ trích chủ yếu đến từ những người đó, những người không thể chịu nổi tiếng tăm của ông và những người không thích việc truyền bá các bài giảng của ông. Ý định của họ là phỉ báng Đức Phật bằng bất cứ cách nào họ có thể, để giáo lý của Ngài không thể lan rộng hơn nữa.
Sự chỉ trích hầu như đến từ những người, không chịu được danh tiếng của ngài và không thích giáo pháp của ngài lan tỏa. Ý định của họ là hạ nhục uy danh của Đức Phật bằng mọi cách, để lời dạy của ngài không lan tỏa đi xa.
Ngoài tất cả những người này, Devadatta cũng kịch liệt chỉ trích Đức Phật vì ông ta háo danh muốn chiếm chỗ uy tín của Đức Phật. Nhưng Đức Phật chỉ có lòng nhân từ đối với anh ta. Có lần ông thuyết phục năm trăm nhà sư trong Tăng đoàn bằng cách tung tin đồn thất thiệt về Đức Phật và những lời dạy của Ngài và thiết lập uy thế sai lầm của Ngài. Anh ta muốn thành lập một Tăng đoàn mới bằng cách gây ra một cuộc chia rẽ trong Tăng đoàn nhưng anh ta không thể thành công trong kế hoạch xấu xa của mình.
Ngoài những người như vậy Devadatta cũng chỉ trích ngài dữ dội vì ông ta muốn chiếm để thay uy tín của Đức Phật. Nhưng Đức Phật chỉ có lòng từ ái với ông. Một lần ông ta thuyết phục năm trăm tỳ kheo từ Tăng Đoàn đi lan truyền lời đồn sai lầm về Đức Phật và lời dạy của ngài và thiết lập sự cao thượng sai lầm của ông ta. Ông ta muốn lập một Tăng Đoàn mới do gây ra một sự chia rẽ trong Tăng Đoàn nhưng ông ta không thành công trong kế hoạch thâm độc đó.
Bấy giờ ông cho rằng vua nước này là một người rất sùng kính Đức Phật. Vì vậy, miễn là ông còn sống, bất chấp nỗ lực gấp nhiều lần của mình, danh và tiếng của Đức Phật sẽ không bị ảnh hưởng. Vì vậy, một ý nghĩ xấu xa đã nảy sinh trong đầu anh ta để chế ngự hoàng tử Ajatsatru và thực hiện mong muốn của mình thông qua anh ta.
Sau đó ông ta nghĩ vua của quốc gia là một vị đệ tử tận tụy của Phật. Vì vậy khi ngày nào ông ta còn sống thì dù nỗ lực của ông có nhiều cách mấy, thanh danh và danh tiếng của Phật sẽ không bị ảnh hưởng. Vì vậy, ý nghĩ ác độc khởi lên trong tâm là điều khiển thái tử Ajatsatru và hoàn thành mong ước của ông ta thông qua thái tử.
Anh ấy đã làm điều này. Bằng cách thể hiện một số phép lạ, ông đã gây ấn tượng với Ajatsatru. Sau đó, ông giải thích với anh ta rằng “Cha của bạn Bimbisar sẽ tiếp tục sống lâu dài. Chừng nào anh ta còn sống, bạn không thể trở thành vua và bạn không thể hưởng quyền lực hoàng gia. Do đó, hãy giết hắn và chiếm đoạt ngai vàng của hắn ”.
Ông ta đã làm vậy. Bằng việc thi triển vài quyền năng, ông ta gây ấn tượng với Ajatsatru. Sau đó ông ta giải thích với thái tử rằng “ Vua cha Bimbisar của ngài sẽ còn sống lâu. Ngày ông ấy còn sống thái tử sẽ không trở thành vua và không tận hưởng được vương quyền. Do vậy, hãy giết chết vua và đoạt ngai vàng.”
Ajatsatru đã bị kích động để giết vua Bimbisar, cha ruột của mình. Nhưng anh ấy đã thất bại trong nỗ lực của mình. Nhà vua cảm thương cho con trai mình khi biết rằng cậu có một khát vọng cháy bỏng được ngồi trên ngai vàng. Vì vậy, ông sẵn sàng từ bỏ ngai vàng và phong ông làm vua của đất nước.
Ajatsatru bị khiêu khích để giết vua Bimbisar,cha mình. Nhưng nỗ lực của thái tử thất bại. Vua cảm thấy lòng từ bi với đứa con trai khi biết con mình đang muốn ngồi lên ngai vàng. Vì vậy, ông sẵn sàng thoái vị và phong thái tử làm vua.
Devadatta không hài lòng ngay cả với điều này, bởi vì công chúng có niềm tin tuyệt đối vào Bimbisar, mặc dù ông không còn là một vị vua. Mặc dù Ajatsatru không thể giết anh ta, nhưng anh ta đã nhốt anh ta vào tù trong một số âm mưu và giết anh ta bằng cách giữ anh ta đói.
Devadatta không hài lòng thậm chí với điều đó, vì đại chúng vô cùng trung thành với Bimbisar, dù ông ấy không còn làm vua. Dù Ajatsatru không thể giết cha mà chỉ nhốt ông vào tù vì vài hoài nghi và muốn để ông ta chết đói.
Devadatta rất vui mừng. Tại sao tôi phải sợ hãi bây giờ khi đệ tử của tôi đã trở thành vua? Vì vậy, ông đã nhiều lần cố gắng giết Đức Phật, nhưng lần nào ông cũng thất bại. Đức Phật vẫn bất động như dãy Hy Mã Lạp Sơn đối với những hành vi sai trái của mình. Lòng nhân ái đối với anh vẫn sâu đậm và sâu sắc.
Devadatta hài lòng. Tại sao ta lại sợ khi đệ tử của ta đã trở thành vua? Vì vậy ông ta làm vài nỗ lực để giết chết Đức Phật, nhưng ông ta thất bại nhiều lần Đức Phật vẫn bất động như dãy núi Himalaya hướng về những hành động bất thiện của ông. Lòng từ ái của ngài đối với ông vẫn sâu và thâm thúy.
Những sự việc này là những tấm gương sáng về hai đức tính của Đức Phật.
Những sự kiện này là những ví dụ tỏa sáng về hai phẩm chất của Phật.
Một lần Devadatta, với sự giúp đỡ của những người hầu đã khiến con voi hung dữ Nalagiri phải uống rượu. Anh ta đang kèn cựa quyết liệt. Nalagiri sau đó bị bỏ lại một mình trên con đường Đức Phật đi khất thực. Các nhà sư đi cùng đã yêu cầu ông đến trú ẩn trong một ngôi nhà gần đó nhưng Đức Phật vẫn tuyệt đối không bị quấy rầy. Con voi thổi kèn tiếp tục đến gần anh ta. Đức Phật đã tắm từ bi cho anh ta. Kết quả là, cơn giận của anh ta không những nguôi ngoai mà còn đến gần Đức Phật, quỳ xuống và bắt đầu chào Ngài một cách cung kính. Đức Phật dùng tay vuốt ve thân cây của mình với lòng từ ái vô hạn, khiến trái tim Nalagiri tràn ngập niềm vui sướng và ngây ngất. Trên đường trở về, anh ta không quay lưng lại, mà quay lại nhìn vào khuôn mặt của Đức Phật.
Một lần Devadatta, với sự giúp đỡ của vài người hầu làm con voi Nalagiri hung bạo say rượu. Nó tự nhiên nổi điên. Nalagiri sau đó bỏ đi một mình trên đường Đức Phật đang đi khất thực. Các vị tỳ kheo đi cùng yêu cầu ngài nên trú tại một cái nhà gần đó nhưng Đức Phật nhất quyết không lay động. Con voi điên tiến lại gần ngài. Đức Phật biểu lộ lòng từ bi với nó. Kết quả không chỉ cơn giận của nó bớt đi mà nó còn tiến lại gần Đức Phật, khuỵu gối và bắt đầu cúi chào ngài một cách cung kính. Đức Phật vuốt ve âu yếm người nó với lòng từ ái, lòng chú voi Nalagiri đầy vui mừng và ngây ngất. Lúc quay về, nó không những xoay lưng, mà còn ngoái nhìn gương mặt của Đức Phật.
Đó là sự kiên định của Đức Phật và lòng từ bi sâu sắc của Ngài là như vậy!
Thật là sự nhẫn nại kiên định của Đức Phật và lòng từ ái sâu sắc của ngài!
Chúng ta nên rút ra bài học và rút ra cảm hứng từ những sự việc trên trong cuộc đời của Đức Phật. Nếu ai đó chỉ trích chúng ta và nếu có sự thật trong đó thì chúng ta nên cải chính mình ngay lập tức. Nếu không, chúng ta vẫn nên kiên định ngay cả khi có những lời chỉ trích gay gắt và cảm thấy lòng nhân ái vô bờ bến đối với những người chỉ trích.
Chúng ta nên học bài học và lấy sự khích lệ từ những sự kiện trên trong đời của Đức Phật. Nếu ai đó chỉ trích chúng ta nếu có sự thật trong đó thì chúng ta lập tức nên sửa đổi. Trái lại chúng ta nên giữ mình không bị lay động thậm chí nếu những chỉ trích nghiêm trọng và nên lấy lòng từ ái vô bờ cho những chỉ trích đó.
Các vị thầy Giáo Pháp của ngày hôm nay và ngày mai nên ghi nhớ rằng nếu một Devadatta làm một số điều sai trái để giữ được vị trí của mình hoặc để có được vị trí mà anh ta không có được thì họ không nên trở nên xáo trộn nhưng họ nên không bị lay chuyển. Người thiền cũng nên không bị quấy rầy. Họ cũng không nên sợ hãi trước quyền lực nhà nước cũng như không nên đi chệch hướng khi bị ảnh hưởng bởi một số người giàu. Hãy để họ có lòng nhẫn nại và sự kiên nhẫn và hãy để họ có lòng nhân ái đối với anh ta.
Các vị thầy Dhamma ngày nay và mai sau nên giữ trong tâm rằng nếu một người như Devadatta làm trò tổn hại để giữ địa vị của ông ta hoặc để có địa vị ông ta không có họ nên không bị quấy nhiễu mà họ còn phải không bị lây động Thiền giả cũng nên giữ không bị quấy nhiễu. Họ không nên bị kích động do quyền lực hoặc lạc lối trở thành bị ảnh hưởng bởi người giàu có. Hãy nhẫn nại và bình tĩnh và hãy tỏ lòng từ ái với họ.
Đây là thông điệp của Giáo pháp. Điều này phải được thực hiện. Trong điều này nằm ở hạnh phúc của tất cả! Trong điều này nằm ở phúc lợi của tất cả !!
Đây là thông điệp của Dhamma. Cần phải thực hiện. Hạnh phúc của tất cả nằm trong điều này ! Lợi lạc của tất cả nằm trong điều này.
Giving Appropriate Answers and Also Punishment as Necessary / Cho những câu trả lời phù hợp và trừng phạt cũng cần thiết
Hoàng hậu Māgandiyā đã sai sứ giả của mình đến lạm dụng Đức Phật bằng những lời này… “Sư Gautam, ngươi là một tên trộm! Một kẻ ngốc! Một đồng bọn ngu dốt! Lạc đà! Một con bò! Một con lừa! Một con vật! Bạn bị ràng buộc cho địa ngục! Bạn sẽ không đạt được trạng thái tốt! Chỉ có những trạng thái tồi tệ đang chờ đợi bạn! ”
Vương hậu Māgandiyā gửi sứ giả để lăng mạ Đức Phật với những lời sau… “Tỳ kheo Gautama, là một tên trộm! Tên đần! Gã vô minh! Con lạc đà! Con bò đực! Một con lừa! Một con vật! Ngươi sẽ tới địa ngục! Ngươi sẽ không đạt được trạng thái tốt lành gì đâu! Chỉ có trạng thái tồi tệ đang chờ đợi ngươi!”
Đức Phật không cho họ bất kỳ câu trả lời nào bởi vì họ chỉ là những kẻ làm thuê, nô lệ cho hoàng hậu của họ, sử dụng những lời lẽ lăng mạ này theo ý muốn của bà ta.
Đức Phật không trả lời họ lời nào vì vì họ đơn thuần chỉ là kẻ đánh thuê, nô lệ của hoàng hậu, họ dùng những lời nói lăng mạ vì mong muốn của bà ta.
Đức Phật không bác bỏ những tuyên bố của họ cũng như không cố gắng làm cho họ hiểu. Rốt cuộc, họ không hề hay biết và chỉ làm nô lệ cho người khác. Họ có thể hiểu gì?
Đức Phật không phản bác những phát ngôn của họ hay nỗ lực làm họ hiểu. Sau tất cả, họ không nhận thức được họ chỉ là nô lệ cho người khác. Điều gì họ có thể hiểu chứ?
Nhưng điều này không có nghĩa là Đức Phật không bao giờ trả lời bất cứ ai. Trên thực tế, khi bất kỳ ai lạm dụng Đức Phật và ông ấy biết rằng người đó sẽ có thể hiểu được chân lý của Giáo pháp, thì ông ấy sẽ đưa ra những câu trả lời thích hợp cho người đó. Một số hình ảnh minh họa….
Nhưng không có nghĩa Đức Phật không trả lời người khác. Thực tế, bất kì ai sỉ nhục Đức Phật và ngài biết người đó sẽ có thể thu nhận được sự thật của Dhamma, thì ngài sẽ đưa ra câu trả lời phù hợp cho người đó. Vài minh họa là…
Brahman Aggika Bhāradvāja/ Bà La Môn Aggika Bhāradvāja
Một hôm, Đức Phật đi khất thực vào buổi sáng. Vào thời điểm đó, việc chuẩn bị cho một nghi lễ hiến tế đang được tiến hành trong ngôi nhà của Bà La Môn Aggika Bhāradvāja. Khi Đức Phật đi khất thực từ nhà này sang nhà khác, đến trước nhà này, Bà-la-môn nổi giận. Nghĩ rằng hành động hy sinh tốt đẹp của mình sẽ bị ô nhiễm bởi sự tiếp cận của con người thấp kém này, anh ta đã thể hiện sự khinh thường của mình bằng cách mắng anh ta…
Một hôm nọ, Đức Phật đi khất thực vào buổi sáng. Lúc đó, trong nhà Bà La Môn Aggika Bhāradvāja đang chuẩn bị cho một nghi lễ cúng tế. Khi Đức Phật khất thực từ nhà này đến nhà kia, đến trước ngôi nhà của người Bà La môn này, ông này điên tiết. Nghĩ rằng hành động dâng tế cao quý của ông bị ô nhiễm bởi người thấp kém này đến gần, anh ta điên tiết quát tháo…
“Bạn đang cạo râu, hãy giữ nguyên vị trí của bạn! Bạn là nhà sư, hãy ở lại nơi bạn đang ở! Bạn Vrishal [người thuộc đẳng cấp thấp nhất], hãy ở nguyên vị trí của bạn! ”
“Này ông cạo đầu, ở yên đó! Ông tỳ kheo, ở nguyên chỗ đó nhen! Ông Vrishal [con người đẳng cấp thấp kém], ở yên ngay đó!”
Đức Phật, tìm thấy cho anh ta một người nhận phù hợp, đã giải thích cho anh ta tại sao một người được gọi là Vrishal và những hành động nào dẫn đến việc một người nào đó trở thành Vrishal. Đức Phật giải thích…
Đức Phật, thấy ông ta là người nhận lấy thích hợp, đã giải thích cho ông tại sao một người gọi là Vrishal và hành động nào dẫn vài người trở thành một Vrishal. Đức Phật giải thích…
“Một người nóng nảy và thù địch, tội lỗi và đố kỵ, tin vào những quan điểm sai lầm và là một bậc thầy của sự lừa dối; kẻ có hành vi bạo lực đối với các sinh vật thuộc mọi loại; người không có lòng trắc ẩn đối với sinh vật sống; người bao vây các làng mạc và thị trấn nhỏ và hủy hoại chúng; ai khét tiếng là bạo chúa; kẻ trộm tài sản của người khác trong làng hoặc trong rừng; người vay và khi được yêu cầu trả nợ, bỏ chạy và nói rằng “Tôi không phải là con nợ của bạn”; kẻ giết một khách du lịch với ý định đạt được thứ anh ta muốn; người đưa ra lời khai giả vì lòng tham tiền bạc; người cưỡng bức hoặc yêu đương chung sống với vợ của người thân hoặc bạn bè; người dù có khả năng cũng không trông nom phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già; người đánh đập cha mẹ, anh chị em hoặc vợ chồng hoặc, bị chế ngự bởi sự tức giận, nói những lời thô bạo; người chỉ ra một con đường sai lầm khi được hỏi về con đường có lợi và nói vòng vo về cách thức; người che giấu những việc làm tội lỗi sau khi đã phạm để mọi người không biết về chúng; người thưởng thức thức ăn ngon khi đến thăm nhà người khác, nhưng không đối xử với người khác bằng sự hiếu khách khi họ đến thăm mình; người lừa dối một Bà la môn, tu sĩ hoặc bất kỳ người ăn xin nào bằng cách nói dối; người phẫn nộ và mắng nhiếc nặng nề những người Bà la môn hay tu sĩ đến thăm trong bữa ăn và không cho họ bất cứ thứ gì; người, vướng vào lòng tham, nói dối để sở hữu bất kỳ đối tượng nào; người tự khen mình và chỉ trích người khác và đã bị thất sủng vì kiêu ngạo sai lầm; người độc ác, keo kiệt, người nuôi dưỡng những ham muốn xấu xa, gian dối và vô liêm sỉ; người không biết xấu hổ hay sợ hãi khi làm những việc xấu xa; người tuyên bố mình là một người chứng ngộ mặc dù anh ta không được chứng ngộ.
“Một người nóng tính và thiếu thân thiện, tội lỗi và ghen tị, người tin vào quan điểm sai lầm và chủ nhân lừa lọc; người hành động bạo lực chống lại mọi loài sinh vật;không có lòng từ bi với chúng sinh; người bao vây làng mặc và thị trấn nhỏ và hủy hoại chúng;người là bạo chúa, người cướp bóc của cải của người khác trong làng hoặc trong rừng;người vay mượn nợ, khi đến ngày trả nợ, biến đi và nói rằng “tôi không mắc nợ ông”; người giết kẻ đi đường để có được điều hắn muốn, người cho lời khai vì lòng tham tiền bạc; người bị ép buộc hoặc yêu đương với vợ của họ hàng hoặc bạn bè; người dù có khả năng chăm sóc sau khi cha mẹ già yếu; họ lại đánh đập cha mẹ, em họ hoặc con dâu hoặc, bạo hành bằng việc giận dữ, nói lời cay nghiệt; người chỉ sai đường khi được hỏi về lợi lạc của con đường và nói vòng vo về phương tiện; người thừa nhận hành động tội ác sau khi họ phạm tội vì thế mọi người không đến để biết về họ, người tham dự được nếm các món ăn ngon khi họ viếng thăm nhà người khác; nhưng không đối đãi người khác với sự hiếu khách khi họ viếng thăm anh ta; người đánh lừa Bà la môn, tỳ kheo hay người ăn xin bằng việc nói dối, người oán hờn và trách mắng thậm tệ Bà La Môn hoặc tỳ kheo người viếng thăm họ vào giờ ăn và không cúng cho họ thứ gì; người mắc vào sự tham lam, nói dối về bất kì điều gì; người tự ca ngợi mình và chỉ trích người khác và rơi vào sự ghét bỏ vì sự tự cao sai lầm, người độc ác, đau khổ, người vẫn giữ mong muốn ác độc, gian xảo và không xấu hổ; người không sợ xấu hổ hoặc sợ gây ra hành vi tội ác; người tự tuyên bố mình là người chứng ngộ dù anh ta không chứng ngộ.
Người nói dối như vậy chỉ là người có cơ sở. Anh ta thấp hơn một Vrishal. Kìa Bà La Môn! Tôi đã mô tả cho bạn rất nhiều Vrishals.
Một kẻ nói dối chỉ là một người thấp kém. Anh ta còn thấp kém hơn một Vrishal.! Ta đã mô tả với ông quá nhiều loại Vrishal.
Không ai trở thành Vrishal theo đẳng cấp và không ai trở thành Brahman theo đẳng cấp. Một người trở thành Vrishal bởi những việc làm của một người và một người trở thành Brahman bởi những việc làm của một người. Nhiều người trong số những người đã sinh ra trong nhà của các học giả thông thạo kinh Vệ Đà [kinh điển thiêng liêng đầu tiên của Ấn Độ] cũng bị phát hiện là đã tham gia vào các hành động tội lỗi. Những cá nhân như vậy bị sỉ nhục trong kiếp này và cũng bị rơi xuống những thế giới thấp hơn sau kiếp này. Sự ra đời của họ không thể cứu họ khỏi sự sỉ nhục và nỗi đau của địa ngục. "
Không ai trở thành một Vrishal do đẳng cấp và không ai trở thành một Bà La Môn do đẳng cấp. Một người trở thành một Vrishal do hành động của họ và trở thành một Bà La Môn do hành động của họ. Nhiều người trong số họ sinh vào gia đình học giả giỏi kinh Vệ Đà [một kinh văn hiếm vào thời xưa của Ấn Độ] cũng tìm thấy mối liên hệ của hành động tội ác. Một cá nhân như thế bị mỉa mai trong đời này cũng rơi vào cõi giới thấp kém ở kiếp sau. Việc sinh của họ không thể cứu rỗi họ thoát khỏi mỉa mai và nỗi đau của địa ngục.
Theo cách này, mặc dù anh ta lạm dụng Đức Phật, anh ta vẫn là một ứng cử viên thích hợp, vì vậy Đức Phật giải thích Giáo pháp cho anh ta với lòng từ bi và từ bi. Bằng cách lắng nghe, ảo tưởng của anh ta về việc sinh ra trong một đẳng cấp cao đã được xóa bỏ. Ông hiểu rằng một người trở nên cao hay thấp không phải do bẩm sinh mà do hành động của một người.
Theo cách này, dù ông ta có sỉ nhục Đức Phật, ông ta vẫn là một ứng cử viên phù hợp, để Đức Phật giải thích Dhamma cho ông với lòng từ ái và từ bi. Bằng việc lắng nghe, sự mê mù về việc sinh ra trong một đẳng cấp cao quý bị xóa bỏ. Ông ta hiểu được người ta trở nên cao hay thấp không phải do sinh ra mà do hành động của họ.
“Na jaccā vasalo hoti, na jaccā hoti brāhmano;
kammunā vasalo hoti, kammunā hoti brāhmano ”ti.
-Không ai trở thành Vrishal theo đẳng cấp và không ai trở thành Brahman theo đẳng cấp.
Một người trở thành Vrishal bởi những việc làm của một người và một người trở thành Brahman bởi những việc làm của một người.
-Không ai trở thành một Vrishal do đẳng cấp và không ai trở thành một Bà la môn do đẳng cấp.
Người ta trở thành một Vrishal do hành động của họ và trở thành một Bà La Môn do hành động của họ.
Bà La Môn Bhāradvāja đã được lợi ích bởi những lời này của Đức Phật. Với lòng tôn kính, ông trở thành một đệ tử tận tụy của Đức Phật. Câu đối trên đã trở nên nổi tiếng và tạo ra nhận thức đúng đắn trong nhân dân.
Bà La Môn Bhāradvāja có được lợi lạc từ những lời nói của Đức Phật. Với lòng tôn kính, ông ta trở thành đệ tử tận tụy của Đức Phật. Cặp thơ trên trở nên nổi tiếng và tạo ra chánh niệm trong mọi người.
Kasi Bhāradvāja
Vào một dịp nọ, Đức Phật đang sống tại làng Ekanāḷā của Bà La Môn. Vào buổi sáng, Đức Phật đi khất thực và đến nơi Kasi Bhāradvāja đang làm việc gần cánh đồng của ông. Thực phẩm đã được phân phối vào thời điểm đó.
Vào một dịp nọ, Đức Phật sống ở làng Bà La Môn của xứ Ekanāḷā. Vào buổi sáng, Đức Phật đi khất thực và đến nơi Kasi Bhāradvāja đang làm việc gần cánh đồng của mình. Thức ăn được phân phát và lúc đó.
Chủ của cánh đồng, Kasi Bhāradvāja, nhìn thấy Đức Phật đang đứng đó, nói với vẻ tự phụ… “Hãy ẩn dật, tôi cày, tôi gieo, và vừa cày vừa gieo, tôi ăn. Bạn cũng nên cày và gieo, đã cày và đã gieo thì nên ăn ”.
Chủ của cánh đồng, Kasi Bhāradvāja, nhìn thấy Đức Phật đứng ở đó, nói với sự tự phụ… “Ông khất sĩ, tôi cày bừa, và gieo hạt, và đã cày bừa và gieo hạt xong, thì tôi ăn trưa. Ông cũng nên cày và gieo hat, và cày bừa và gieo hạt xong ông nên ăn trưa.”
Khi nghe điều này, Đức Phật trả lời… “Tôi cũng vậy, Bà-la-môn, cày và gieo; đã cày và đã gieo, tôi ăn ”.
Nghe vậy, Đức Phật trả lời… “Tôi, cũng thế, Bà La Môn, cày và gieo trồng; tôi đã cày và giao xong, nên tôi ăn”
“Ồ, ẩn dật! Làm thế nào để bạn tuyên bố là một nông dân? Ruộng và nông cụ của bạn ở đâu? ”
“Ồ Khất sĩ! Làm thế nào ông làm một người nông dân? Cánh đồng và dụng cụ làm nông của ông ở đâu?”
“Kìa Bà La Môn! Đức tin là hạt giống của tôi, khổ hạnh là mưa, và sự khôn ngoan là cái ách và cái cày của tôi. Khiêm tốn là cái cực của cái cày của tôi, tâm trí là cái dây nịt, và chánh niệm là cái cày và cái goad của tôi. Tôi được bảo vệ về thể xác và lời nói. Tôi bị hạn chế về mặt thực phẩm. Tôi nói sự thật là cái liềm của tôi. Đạt được mục tiêu tối cao là giác ngộ hoàn toàn là thu hoạch của tôi. Sự cố gắng là con bò của tôi. Nibbāna [giải thoát trọn vẹn] là phương tiện đưa tôi đến một nơi không có dấu vết của đau khổ. Sự tu luyện này mang lại kết quả của sự bất tử và giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc sống.
“Nhìn xem Bà La Môn! Niềm tin là hạt giống của ta, sự khắc khổ là mưa, và trí tuệ là đòn gánh và cái cày. Tính khiêm tốn là cái cọc của cái cày, tâm là sự chắc chắn, và chánh niệm và lưỡi cày và mũi cọc. Ta giữ gìn thân và khẩu. Ta chừng mực trong ăn uống. Ta biến sự thật thành cái liềm. Đạt được mục đích chứng ngộ hoàn toàn là mùa gặt. Sự cố gắng là con bò đực. Niết bàn [chứng ngộ toàn bộ] là công cụ đưa ta đến nơi không còn dấu vết của khổ. Sự trồng trọt mang lại trái của bất tử và mang lại sự giải thoát khỏi mọi khổ đau trong đời.
Brahman là người khôn ngoan, có đầy đủ các công đức đã kiếm được trong quá khứ của mình. Anh nhanh chóng hiểu được Giáo pháp thuần túy. Anh ấy nói với Đức Phật…
Bà La Môn là một người thông thái, đầy phúc đức đạt được trong quá khứ. Ông ta nhanh chóng hiểu được Dhamma thanh tịnh. Ông nói với Đức Phật…
“Quả thực bạn là người tu luyện thực sự. Rõ ràng, sự tu luyện của bạn đã mang lại kết quả của sự bất tử ”. Nói rồi, anh ta cúng dường Đức Phật một cái bát với bánh gạo.
“Quả thực ngài là một người trồng trọt thực sự. Rõ ràng, sự trồng trọt của ngài mang lại quả của bất tử.” Nói điều này, ông ta dâng cho Đức Phật bát cơm bánh gạo.
Đức Phật bác bỏ điều đó.
Đức Phật từ chối nó.
Không thích hợp để nhận cúng dường thức ăn nhận được sau một bài pháp thoại. Những người thiếu hiểu biết sẽ giải thích sự cúng dường này như một sự trả tiền cho việc chuyển tải một bài kinh Giáo pháp nhưng Giáo pháp là vô giá, không thể đánh giá được giá trị của nó.
Sau khi giảng pháp thoại Dhamma việc chấp nhận thức ăn là không phù hợp. Người vô minh sẽ cho rằng vật cúng dường này như sự trả tiền cho việc nhận một pháp thoại Dhamma nhưng Dhamma là vô giá, giá trị của nó không đo đếm được.
Vô cùng ấn tượng trước những lời nhân từ của Đức Phật, Kasi Bhāradvāja Brahman đã trở thành môn đồ của Ngài. Ông đã nhận được cả hai pháp luật pabbajjā [thọ giới xuất gia] và upasampadā [thọ giới cao hơn] từ Đức Phật. Theo dòng thời gian, thông qua việc thực hành Vipassana, ngài đã nhận ra và đạt được trạng thái A-la-hán [mức độ giác ngộ cao nhất]. Bhāradvāja Brahman may mắn, đầy lòng biết ơn, đã hoàn thành mục tiêu cao cả của cuộc đời mình.
Quá đỗi ấn tượng bởi những lời nói lợi lạc của Đức Phật, Kasi Bhāradvāja Bà la môn trở thành đồ đệ của ngài. Ông nhận cả hai pabbajjā [xuất gia làm tỳ kheo] và upasampadā [thọ giới cao hơn] một cách đúng lúc từ Đức Phật. Theo thời gian, thông qua thực hành Vipassana, ông nhận ra và đạt tới trạng thái A la hán [cấp độ cao nhất của giác ngộ]. Bà la môn Bhāradvāja may mắn, với lòng sự biết ơn, đã hòan thành mục đích cao quý của cuộc đời.
Bất cứ khi nào, Đức Phật gặp những sự cố về mê tín và niềm tin mù quáng, Ngài đều nỗ lực loại bỏ chúng thành công. Ví dụ…
Mỗi khi Đức Phật gặp những sự kiện mê tín và niềm tin sai lầm, ngài thành công xóa bỏ chúng. Ví dụ…
Bathing in the river does not wash away evil deeds / Tắm trong dòng sông không rửa sạch đi hành động tội ác
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja, ngồi gần Đức Phật, đã nói với ngài như vậy… “Đạo sư Gotama có đi đến sông Bāhukā để tắm không?”
Bà La Môn Sundarika Bhāradvāja, ngồi cạnh Đức Phật, nói những lời này với ngài.. “Thưa Đức Gotama ngài có tới sông Bāhukā để tắm không?”
“Cái gì, Brahman tốt, là sông Bāhukā? River Bāhukā có thể làm gì? ”
“Sao chứ, Bà La môn, sông Bāhukā à? Sông Bāhukā có thể làm gì?”
“Quả thật, thưa Đạo sư Gotama, nhiều người kính trọng Sông Bāhukā, nhiều người tin rằng Sông Bāhukā đem lại sự thanh lọc. Nhiều người gột rửa những việc làm xấu xa mà họ đã làm ”.
“Thật sự, Thưa Đức Gotama, nhiều người tôn kính sông Bāhukā, nhiều người tin rằng sông Bāhukā làm thanh lọc. Nhiều người rửa sạch hành động bất thiện họ đã làm.”
Sau đó, Đức Phật nói với Bà La Môn Sundarika Bhāradvāja… “Một kẻ ngu ngốc đã phạm tội ác, có thể sẽ mãi mãi tắm trong các sông Bāhukā, Gayā, Sundarikā, Saraswatī, Prayāgā và Bāhumatī, nhưng sẽ không tự thanh lọc mình. Sông Sundarikā có thể mang lại điều gì để vượt qua? Các con sông Bāhulikā và Prayāgā có thể làm gì? Họ không thể thanh tẩy một kẻ bất lương. Thực hiện những việc tốt hàng ngày giống như ngâm mình trong dòng sông Falgu linh thiêng và hàng ngày là Uposatha [ngày quan sát]; Người có tâm trong sáng và làm việc thiện thì lúc nào quan sát cũng hoàn hảo. "
Khi đó Đức Phật nói với Bà La Môn Sundarika Bhāradvāja… “Một kẻ ngốc người gây ra hành động xấu xa, có thể vĩnh viễn tắm ở sông Bāhukā, Gayā, Sundarikā, Saraswatī, Prayāgā và Bāhumatī, tuy vậy anh ta sẽ không thanh lọc được mình. Điều gì sông Sundarikā mang lại? Điều gì Bāhulikā và Prayāgā có thể làm? Chúng không thể thanh lọc được người gây ra tội lỗi. Hành động thiện mỗi ngày giống như một nhấp một ngụm ở con sông linh thiêng Falgu và mỗi ngày là Uposatha [ngày quan sát]; người thanh lọc trong tâm và làm các hành động thiện phải có sự quan sát hoàn hảo mọi lúc.”
Những lời dạy này của Đức Phật đã lan truyền trong những tín đồ của Ngài ngay cả khi Ngài còn sống và trong nhiều thế kỷ tiếp theo, đã khích lệ các vị thánh. Bởi vì điều này, một câu nói đã trở nên phổ biến trong xã hội…
Những lời dạy của Đức Phật lan tỏa trong các vị đệ tử thậm chí trong cuộc đời ngài và, trong nhiều thế kỷ sau đó được noi theo, mang lại sự khích lệ cho các vị thánh nhân. Vì thế, câu nói này trở nên thịnh hành trong xã hội.
"Khi tâm trí thanh tịnh, sự trong sạch của sông Hằng luôn ở bên bạn."
“Khi tâm được thanh tịnh, sự thanh khiết của Sông Hằng luôn ở bên bạn.”
Đức Phật duy trì sự im lặng khi đối mặt với sự lạm dụng. Nhưng, bất cứ khi nào ai đó có thể hiểu được, ông ấy đều từ bi giải thích giáo pháp.
Đức Phật vẫn giữ im lặng khi đối diện với sự sỉ nhục. Nhưng, mỗi khi ai đó có thể hiểu, ngài giải thích dhamma một cách từ bi.
Offences of Pārājika [rules requiring expulsion from the Sangha] / Giới luật Pārājika [giới luật yêu cầu trục xuất khỏi Tăng Đoàn]
Kỷ luật rất nghiêm khắc đối với Tăng đoàn [cộng đồng tu sĩ]. Đức Phật đã đưa ra hình phạt nghiêm khắc đối với những người vi phạm quy tắc. Điều này là cần thiết để duy trì sự thanh tịnh của Tăng đoàn. Có nhiều nhà sư đã vi phạm các quy tắc ứng xử này. Đức Phật ra lệnh nghiêm khắc chống lại họ và họ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn. Những việc làm, về bản chất rất nghiêm trọng, được gọi là tội Pārājika và những người vi phạm như vậy sẽ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn.
Kỷ luật rất nghiêm khắc trong Tăng Đoàn [cộng đồng tu tập]. Đức Phật đưa ra vài hình phạt nghiêm khắc cho người phá vỡ giới luật. Điều này là cần thiết để giữ gìn sự thanh tịnh của Tăng Đoàn. Có nhiều tỳ kheo vi phạm những nội quy này. Đức Phật đã đưa ra quyết định nghiêm khắc dành cho họ và họ bị trục xuất khỏi Tăng Đoàn vĩnh viễn. Hành động, đó rất nghiêm trọng trong bản chất, được gọi là thuật ngữ sự phạm giới Pārājika và những người phạm lỗi như vậy bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng Đoàn.
Ví dụ, một số tăng ni đã bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn vì họ tự xưng là Sotāpanna và Sakadāgāmī mà không đạt được những cấp độ giác ngộ như vậy. Một người nào đó bị kết tội phạm Pārājika, bị trục xuất khỏi Tăng đoàn và không bao giờ có thể trở thành Tỳ kheo [tỳ kheo] hay Tỳ kheo ni [ni cô] nữa.
Ví dụ, vài tỳ kheo và tỳ kheo ni bị trục xuất khỏi tăng đoàn vĩnh viễn vì họ tuyên bố là Tu Đà Hoàn và Tự Đà Hoàn (Sakadāgāmī) mà không đạt tới cấp độ đó. Vài người thấy tội lỗi vì phạm phải sự giới luật Pārājika, bị trục xuất khỏi Tăng Đoàn và không bao giờ trở thành Tỳ kheo [tu sĩ] hoặc Tỳ kheo ni [sư cô] một lần nữa.
Offences of Sanghādisesa [rules requiring meetings of the Sangha for the purification of monks and nuns)] / Giới luật Sanghādisesa [điều luật cần những cuộc họp của Tăng Đoàn vì sự thanh lọc của tỳ kheo và tỳ kheo ni)]
Mười ba loại lỗi được gọi là Sanghādisesa. Một số Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đã phạm những tội lớn trong khi vi phạm các quy tắc của Tăng đoàn. Trong hoàn cảnh đó, họ đã bị Sanghādisesa trừng phạt. Tuy nhiên, khi họ chấp nhận lỗi lầm của mình, tìm kiếm sự tha thứ và hứa sẽ không tái phạm những sai lầm đó nữa, họ đã được đưa trở lại Tăng đoàn. Đôi khi, cũng xảy ra trường hợp những người phạm tội Sanghādises bị trục xuất khỏi Tăng đoàn trong một thời gian nhất định để họ thanh lọc bản thân thông qua khổ hạnh và thiền định. Sau khi chấp hành hình phạt trong thời gian đã định, người đó được đưa trở lại Tăng đoàn.
Mười ba loại tội được xem là Sanghādisesa. Vài tỳ kheo và tỳ kheo ni gây ra những tội lớn trong khi phá vỡ luật của Tăng Đoàn. Trong tình huống trên, họ phải chịu trừng phạt Sanghādisesa. Tuy nhiên, khi họ chấp nhận lỗi, xin khoan hồng và hứa không phạm tội lần nữa, họ được nhận lại Tăng Đoàn. Đôi khi, điều này xảy ra khi người phạm luật Sanghādisesa bị trục xuất khỏi Tăng Đoàn trong thời gian nhất định để giúp họ thanh lọc tâm qua sự khắc khổ và hành thiền. Sau khi chịu lãnh hình phạt trong thời gian quy định, người đó được trở lại Tăng Đoàn.
Truyền thống này đã được tuân thủ nghiêm ngặt bởi Mục sư Gurudev Sayagyi U Ba Khin.
Truyền thống này được noi theo nghiêm túc bởi Thiền sư đáng kinh Gurudev Sayagyi U Ba Khin.
Sanghādisesa offence / Giới Luật Sanghādisesa
Một phụ nữ trong gia đình chúng tôi bước vào trung tâm mang theo cây mai có mùi thơm nồng nặc và làm ô nhiễm bầu không khí ở đó. Gurudev ra lệnh cho cô rời khỏi trung tâm ngay lập tức và dặn dò cô không bao giờ được đặt chân vào trung tâm nữa. Sau một thời gian, cô tìm kiếm sự tha thứ từ Gurudev và thông báo với anh rằng, vào ngày hôm đó, có một lễ hội đặc biệt nào đó, và cô đã đến trung tâm trong trang phục cô dâu. Cô hứa rằng sẽ không lặp lại sai lầm này trong tương lai. Sau đó, Gurudev đã ân xá cho cô ấy và cho phép cô ấy ngồi thiền ở trung tâm trong tương lai. Đây là một kiểu xúc phạm Sanghādisesa đối với anh ta, đã được anh ta tha thứ.
Một người phụ nữ từ gia đình của chúng ta bước vào trung tâm mang theo hoa sim có một mùi hương nồng và làm ô nhiễm không khí ở đây. Đạo sư yêu cầu cô ta lập tức rời trung tâm và yêu cầu cô không bao giờ được đặt chân vào trung tâm một lần nữa. Sau đó, cô xin Gurudev bỏ qua và nói rằng, ngày hôm đó, có một sự kiện đặc biệt, và cô phải đến trung tâm trong trang phục cô dâu. Cô hứa cô sẽ không lặp lại sai lầm nào nữa trong tương lai. Lúc đó, Gurudev tha thứ cho cô và cho phép cô thiền trong trung tâm vào lần tới. Đây là dạng phạm luật Sanghādisesa vì ngài ta, được ngài tha thứ.
Offense / Phạm lỗi
Hai trong số những đệ tử nổi tiếng của ông, một trong số đó là nhân viên của Cục Cung ứng Dân sự và người còn lại là một quan chức cấp cao trong Cục Kế toán, đã phạm phải những sai lầm lớn và Gurudev đã trục xuất họ mãi mãi.
Hai vị đệ tử sáng giá của ông, một người là quan chức trong Ban Cung Ứng Dân Dụng và người là quan chức cấp cao trong Ban Kế Toán, đã gây ra sai lầm và Gurudev đã trục xuất họ mãi mãi.
Tôi là một người con Phật và là con trai Pháp của Gurudev Sayagyi U Ba Khin.
Tôi là đứa con trai Phật và người con trai Dhamma của Gurudev Sayagyi U Ba Khin.
Trong khi phát triển Vipassana đến mức độ hiện tại, tôi cũng phải đối mặt với những trường hợp như vậy, khi một số āchāryā đã phạm phải những sai lầm. Trong một số trường hợp, các āchāryā đã nhận lỗi của mình và thông báo cho tất cả các Vị Thầy để họ không phạm những sai lầm đó nữa. Trong những tình huống này, tôi đã tha thứ và cho phép họ tiếp tục làm Giáo viên. Có hai sự cố như vậy.
Trong khi phát triển mở rộng Vipassana hiện tại, tôi cũng đối mặt với nhiều sự kiện, khi sai lầm gây ra bởi vài āchāryā. Vài trường hợp, āchāryā chấp nhận sai lầm của họ và thông báo với tất cả các Thiền sư là họ sẽ không phậm sai lầm như thế một lần nữa. Trong tình huống này, tôi bỏ qua và chấp nhận họ tiếp tục là các Thiền sư. Có hai sự việc như thế.
Ngoài những điều này, một số 2-3 sự cố khác cũng đã xảy ra khi các sinh viên phản đối mạnh mẽ quan điểm của tôi về Giáo pháp một cách rõ ràng và họ thậm chí không ăn năn về điều đó, vì vậy họ đã bị đuổi học vĩnh viễn.
Ngoài hai trường hợp trên, có 2-3 sự cố cũng xảy ra khi thiền sinh phản đối kịch liệt quan điểm của tôi về Dhamma trong khái niệm rõ ràng và họ thậm chí không đón nhận nó, vì vậy họ bị trục xuất vĩnh viễn.
Nhưng, tôi cũng cảm thấy thương cho họ. Mong rằng cuối cùng họ hiểu được những sai lầm của mình và chấp nhận sự thật của Giáo pháp. Phúc lợi của họ nằm ở điều này.
Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy lòng từ bi cho họ. Nguyện cho họ hiểu thực sự được sai lầm của họ và chấp nhận sự thật của Dhamma. Lợi lạc của họ nằm trong đó.
Tôi quan sát thấy một số người ích kỷ, làm việc thông đồng, muốn truyền bá quan niệm rằng tôi đã già và do đó nên nghỉ hưu.
Tôi quan sát vài người ích kỷ, làm việc cấu kết, muốn lan tỏa ý kiến rằng tôi trở nên già yếu do vậy nên nghỉ hưu.
Tôi chắc chắn yếu về thể chất nhưng về tinh thần thì tôi vẫn khỏe khoắn và tỉnh táo hơn bao giờ hết. Vì không thấy tôi có lỗi gì trong việc biện minh cho việc ra đi của mình, và cũng nhận thấy rằng tôi đang tự quyết định mọi quyết định của mình, sau đó họ đã biến con trai tôi là Sriprakash trở thành vật tế thần. Bất cứ quyết định nào tôi đưa ra trong những ngày trước đó và cả hiện tại, đều không bị ảnh hưởng quá mức bởi Sriprakash hay bất kỳ ai khác. Tất cả các quyết định đã được thực hiện theo cách của riêng tôi.
Tôi chắc rằng cơ thể mình suy yếu nhưng tâm trí tôi vẫn khỏe mạnh và có ý thức. Họ tìm không ra lỗi để đẩy tôi đi, và cũng quan sát những gì tôi nói điều là ý kiến của riêng tôi, sau đó họ biến con trai tôi Sriprakash người gánh tội. Dù những quyết định tôi làm cả trong quá khứ và hiện tại cũng không gây ảnh hưởng quá mức cho Sriprakash hay bất kỳ ai. Tất cả những quyết định do tôi chính tôi thực hiện theo ý mình.
Khi không tìm thấy lỗi ở tôi, một quan niệm sai lầm được lan truyền khi vẽ con trai tôi Sriprakash như một người trung gian nói rằng tôi chịu mọi quyết định của mình dưới ảnh hưởng của nó. Không thể có một lời nói dối nào lớn hơn điều này, nhưng một số người ly khai sử dụng điều này như cái cớ duy nhất của họ để nói xấu tôi hết lần này đến lần khác nói rằng tôi không thể đưa ra quyết định theo ý mình và tất cả các quyết định của tôi đều do Sriprakash thực hiện.
Khi không tìm thấy lỗi ở tôi, một ý kiến sai lầm lan truyền vẽ vời là con trai tôi Sriprakash là một người trung gian rằng tất cả quyết định của tôi nằm dưới sự ảnh hưởng của con tôi. Không có lời nói dối nào to lớn hơn thế, nhưng vài kẻ muốn chia rẽ dùng nó để lấy cớ hạ nhục uy tín của tôi và một lần nữa nói tôi không thể ra quyết định của chính mình và tất cả các quyết định của tôi được đưa ra bởi Sriprakash.
Tôi hiểu rất rõ ý định của số ít những người ích kỷ này, rằng bất cứ công việc Giáo pháp nào do tôi hoàn thành trong suốt bốn mươi ba năm qua đều nên gạt sang một bên với lý do Sriprakash để họ có thể nắm giữ sứ mệnh vĩ đại này của Giáo pháp. Tôi sẽ không bao giờ để những kẻ thù của Giáo pháp này thành công.
Tôi hiểu rất rõ ý định của những kẻ ích kỷ đó, do đó bất kỳ công việc Dhamma đã hoàn thành bởi tôi trong suốt bốn mươi ba năm qua nên được gạt sang một bên vì lấy lý do của Sriprakash do vậy họ có thể sở hữu nhiệm vụ Dhamma to lớn này. Tôi sẽ không để những kẻ thù của Dhamma thành công.
Trong khi tôi còn sống, tôi sẽ giữ cho ngọn lửa Giáo pháp luôn tồn tại, và nói gì về Sriprakash, tôi không thể bị ảnh hưởng quá mức bởi bất kỳ ai. Cầu mong những người ích kỷ này cũng hiểu được Giáo pháp và tự cứu mình khỏi những việc làm xấu xa. Để chúng rời xa nhau, xin cho không ai trong số hàng triệu con trai và con gái tận tụy với Giáo pháp của tôi bị chúng lừa dối! Lợi ích của mọi người nằm trong điều này.
Trong khi tôi còn sống, tôi vẫn giữ ngọn lửa của Dhamma còn sống, và điều họ nói gì về Sriprakash đi chăng nữa, tôi không thể bị ảnh bị quá mức bởi ai. Nguyện cho số ít người ích kỷ đó cũng hiểu được Dhamma và cứu rỗi họ khỏi phạm phải hành động sai lầm. Rời bỏ họ, nguyện không ai trong số hàng ngàn đứa con trai và gái Dhamma tận tụy bị dẫn dắt sai lầm! Lợi lạc của mọi người nằm trong đó.
The Buddha: Dispenser of Happiness / Đức Phật: Người tạo nên Hạnh Phúc
(Sau đây là phần trích từ “Đức Phật có phải là người bi quan không?”, Trong đó Goenkaji đã tìm cách xóa tan những quan niệm sai lầm phổ biến về Đức Phật và lời dạy của Ngài.)
(Bài viết sau được trích từ “Đức Phật có phải là người bi quan?” trong bài viết này Goenkaji đã làm rõ xóa tan những định kiến thịnh hành về Đức Phật và lời dạy của ngài.)
Từ sự khẳng định rằng triết lý và giáo lý của ông không có gì khác ngoài đau khổ và bất hạnh, hàm ý rằng chính Đức Phật cũng đau khổ và bất hạnh. Không gì có thể hơn được sự thật. Là một đấng giác ngộ hoàn hảo, Đức Phật đã thoát ra khỏi mọi khổ đau của thế gian, và sống một cuộc đời mãn nguyện và hạnh phúc vô hạn trong mọi hoàn cảnh.
Từ sự khẳng định trong triết thuyết và lời dạy của ngài không có gì ngoài đau khổ và khổ sở, hàm ý là Đức Phật cũng đau khổ và không hạnh phúc. Không có gì có thể hơn sự thật. Là một Đấng Giác Ngộ, Đức Phật thoát khỏi mọi đau khổ của thế gian, và sống một cuộc đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc vô tận trong mọi tình huống.
Đối với những người khác, anh ấy cũng không cho gì ngoài hạnh phúc. Đức Phật luôn vui vẻ.
Với người khác ngài cũng không thuyết gì ngoài đau khổ. Đức Phật luôn hạnh phúc.
Một lần ngài đang ngủ trên một luống lá khô rụng trên cây trên con đường dành cho gia súc ở Alavī. Vào thời điểm đó, một hoàng tử Ālavaka tên là Hatthaka đã đi dạo. Khi nhìn thấy Đức Phật, ông hỏi: “Thưa đại đức, ngài ngủ có vui không?”
Một lần ngài ngủ trên giường làm bằng lá khô rơi từ một cái cây trên con đường dành cho gia súc ở Alavī. Lúc đó thái tử Ālavaka tên Hatthaka dự định dạo chơi. Khi ông ta thấy Đức Phật, ông liền hỏi, “Thưa Đức Phật, ngài ngủ ngon chứ?”
Đức Phật đáp: “Vâng, anh bạn trẻ, tôi đã ngủ rất ngon. Tôi là một trong những người ngủ hạnh phúc trên thế giới ”.
Đức Phật trả lời, “Vâng, thưa ngài, Ta ngủ ngon. Ta là một trong số người trên thế giới ngủ ngon giấc.”
Hatthaka nói với điều này, “Đây là một đêm mùa thu lạnh giá, mùa tuyết rơi. Vó bò đã làm cho đất trở nên thô và không bằng phẳng. Những luống lá mỏng. Trên cây còn rất ít lá. Một cơn gió lạnh thổi từ mọi hướng và bạn có nhưng bộ quần áo rách nát trên người. Làm thế nào mà bạn có thể ngủ một cách hạnh phúc? ”
Hatthaka nói, “Đây là một tối mùa thu lạnh, mùa tuyết rơi. Những cái móng guốc của bò làm mặt đất loang lổ và gồ ghề. Chiếc giường bằng lá thì mỏng manh. Có rất ít lá trên cây. Gió buốt thổi từ nhiều hướng và ngài có chỉ là quần áo rách tả tơi trên người. Làm thế nào ngài có thể ngủ ngon?”
Đức Phật trả lời: “Một chủ gia đình hay con trai của chủ gia đình ngủ trong một ngôi nhà thích hợp trên một chiếc giường êm ái có gối và chăn. Tuy nhiên, ngọn lửa khao khát khoái cảm nhục dục có thể đang bùng cháy trong anh ta. Đã thế, âm ỉ trong cơn dục vọng, anh ngủ trong đau khổ. Một vị Phật đã dập tắt mọi tham ái của mình - phá hủy nó, nhổ bỏ nó, chấm dứt nó vĩnh viễn, giống như thân cây cọ bị chặt đứt, từ đó những chiếc lá mới không thể mọc lên. Tham ái không tồn tại trong Đức Phật. Nó không thể phát sinh trong một vị Phật. Đức Phật là một vị A la hán. Một vị A-la-hán luôn ngủ một cách hạnh phúc ”.
Đức Phật trả lời, “Một cư sĩ hoặc con trai của một cư sĩ ngủ trong ngôi nhà ấm cúng trên chiếc giường êm ái với gối và chăn. Tuy nhiên, lửa của tham ái cho những thú vui nhục dục có lẽ đang bừng cháy bên trong. Trong trường hợp đó, sức nóng âm ỉ của ham muốn, anh ta ngủ trong đau khổ. Một vị Phật dập tắt mọi tham ái của ngài- phá hủy nó, nhổ tận gốc nó, và kết thúc nó vĩnh viễn, giống như thân cây của cây cọ bị cắt đứt, nơi lá non không thể mọc lại. Tham ái không tồn tại trong một vị Phật. Không thể sinh ra trong một vị Phật. Đức Phật là một a la hán. Một A la hán luôn ngủ ngon.”
Một sự việc tương tự: Khi Anāthapindika đến gặp Đức Phật ở Rājagaha lần đầu tiên, trời đã rất khuya. Đức Phật đang đi dạo ngoài trời. Anāthapindika hỏi anh ta, "Thưa đại đức, Thế Tôn, ngài ngủ có vui không?"
Một sự kiện tương tự: Khi Anāthapindika đến gặp Đức Phật ở Rājagaha lần đầu tiên vào đêm rất muộn. Đức Phật đang đi tản bộ ngoài trời. Anāthapindika hỏi ngài, “Thưa ngài, Bậc Đại Giác, ngài có ngủ ngon không?”.
Đức Phật trả lời: “Sabbadā ve sukham seti, brāhmano parinibbuto; Yo na limpati kāmesu, sītibhūto nirūpadhi ”. - Thoát ly khỏi mọi tham ái dục lạc và được nguội lạnh, các brāhmana (A-la-hán) đã trải qua nibbāna luôn luôn ngủ một cách hạnh phúc.
Đức Phật trả lời: Không vướng mắc và không liên hệ từ các tham muốn khoái lạc và ta thanh mát, brāhmana (a la hán) đã kinh nghiệm niết bàn và luôn ngủ ngon.
Sau đó, ông nói thêm: “Sabbā āsattiyo chetvā, vineyya hadaye daram; Upasanto sukham seti, santim pappuyya cetasā ”. - Đã tiêu diệt được mọi dục vọng, đã loại bỏ được nỗi sợ hãi trong lòng, có được sự an lạc thực sự của tâm hồn, một vị A-la-hán được giải thoát thực sự đã ngủ một cách hạnh phúc.
Sau đó ngài nói thêm: Đã diệt trừ mọi tham ái, loại bỏ nỗi sợ từ tâm, đạt được an lạc thật sự trong tâm, một a la hán giải thoát không bị ràng buộc thật sự ngủ ngon.
Không chỉ các vị A-la-hán, mọi người theo Pháp đều ngủ một cách hạnh phúc. Do đó người ta nói: “Dhammacārī sukham seti”. - Một hành giả của Giáo pháp ngủ một cách hạnh phúc.
Không chỉ các a la hán, những người theo Dhamma ngủ rất ngon. Do vậy điều này được nói là: Người thực hành Dhamma ngủ rất ngon.
Những nhà khổ hạnh đã từ bỏ cuộc sống trần tục và kiên định trên con đường Giáo pháp luôn luôn an lạc giấc ngủ: sukham supanti muniyo.
Khổ hạnh là người từ bỏ cuộc sống thế gian và kiên định trên con đường Dhamma luôn ngủ ngon: sukham supanti muniyo.
Tất cả những ai có tâm trí rung động với sự sung sướng ly kỳ của Giáo pháp chắc chắn sẽ ngủ một cách hạnh phúc: Dhammapīti sukham seti, vippasannena cetasā. Hài lòng với ambrosia của Dhamma (một) luôn luôn ngủ hạnh phúc: sukhito dhammarasena tappito.
Mọi người có tâm rung động với sự sung sướng say mê của Dhamma chắc chắn ngủ ngon: Dhammapīti sukham seti, vippasannena cetasā. Tràn đầy phấn hoa của Dhamma người đó luôn ngủ an giấc: sukhito dhammarasena tappito.
Một vị Phật là dhammabhūto (Pháp được nhân cách hóa), brahmabhūto (nhân cách hóa brahma); nguội hoàn toàn. Anh ấy luôn ngủ một cách hạnh phúc. Tất cả các vị A-la-hán tuân theo lời dạy của Ngài và đạt được sự giải thoát đều đạt được hạnh phúc.
Đức Phật là dhammabhūto (Dhamma được nhân hóa), brahmabhūto (brahma được nhân cách hóa); hoàn toàn thanh mát. Ngài luôn ngủ yên giấc. Tất cả các a la hán theo lời dạy của ngài và đạt giải thoát có được hạnh phúc.
Thêm một ví dụ nữa: Bhaddiya xuất thân từ hoàng tộc Sākyan. Ông được Đức Phật cho xuất gia. Anh ấy thường thốt ra những từ "Aho sukha, aho sukha!" (“Hỡi hạnh phúc, hỡi hạnh phúc!”), Một cách tự nhiên dưới bóng cây hoặc trong bóng tối của phòng thiền định.
Một ví dụ khác: Bhaddiya từ dòng dõi gia đình hoàng gia Sát Đế Lỵ Ông được Đức Phật xuất gia. Ông từng thốt ra lời nói “Aho sukha, aho sukha!” (“Ôi hạnh phúc, ôi hạnh phúc làm sao!”) một cách tự nhiên khi ngồi dưới bóng cây hoặc trong bóng tối của phòng thiền của ông.
Đức Phật gọi anh ta và hỏi anh ta, "Bhaddiya, tại sao anh lại thốt ra những lời vui vẻ này?"
Đức Phật gọi ông và hỏi ông, “Này Bhaddiya, tại sao ông thốt ra những lời nói vui mừng đó?”
Bhaddiya trả lời, “Thưa đại đức, trước đây khi tôi còn là một vị vua, các cận vệ hoàng gia thường xuyên ở gần tôi - cho dù tôi ở trong phòng riêng hay bên ngoài; trong thành phố hoặc bên ngoài giới hạn của nó; trong huyện hoặc ngoài huyện. Thưa ngài, tôi đã sống ẩn sau những người lính canh này với nỗi sợ hãi và lo lắng thường trực trong tâm trí. Mặt khác, bây giờ tôi sống một mình trong rừng rậm, dưới gốc cây hay trong xà lim, thanh thản, luôn không sợ hãi, không nghi ngờ, không thèm muốn bất cứ điều gì, tâm trí bình yên và tin tưởng, hài lòng với bất cứ điều gì tôi có được. thông qua bố thí. Thưa đại đức, quan sát sự thay đổi này trong tôi, tôi thốt lên những lời vui mừng này: "Aho sukha, aho sukha!"
Bhaddiya trả lời, “Thưa Đức Phật, trước đây khi tôi làm vua, cận vệ hoàng gia luôn ở gần tôi – dù tôi có ở trong căn phòng riêng hay đi ra ngoài; trong thành phố hay ra ngoài ngoại ô; trong quận thành hay ngoài quận thành. Thưa Đức Phật, tôi sống đằng sau lưng những cận vệ với nỗi lo sợ luôn luôn và tâm đầy lo lắng. Trái lại, bây giờ tôi sống một mình trong rừng, dưới gốc cây hoặc trong phòng, thanh thản, luôn không sợ hãi, thoát khỏi nghi ngờ, không tham ái điều gì, an lạc và tin cậy nơi tâm, thỏa mãn với bất cứ gì tôi khất thực được. Thưa Đức Phật, quan sát này thay đổi trong tôi, tôi thốt ra những lời vui mừng: “Aho sukha, aho sukha!”
Một đệ tử của Đức Phật luôn luôn an trú hạnh phúc.
Một đệ tử Đức Phật luôn chìm ngập trong hạnh phúc.
“Adahyamānena kāyena, adahyamānena cetasā; Divā vā yadi vā rattim, sukham viharati tādiso ”. - Anh ấy trải qua sự bùng cháy của thèm muốn nhục dục trong cả tâm trí lẫn thể chất. Như vậy, ngày và đêm anh ta sống hạnh phúc.
-Ông kinh nghiệm tham ái của khoái cảm đang bùng cháy không ở trong tâm hay trong thân. Vì vậy, ngày và đêm ông sống hạnh phúc.
Tỳ khưu A la hán Angulimāla tuyên bố: “Sukham sayāmi ṭhāyāmi, sukham kappemi jīvitam; Ahatthapāso mārassa, aho satthānukampito. ” -Tôi ngủ vui vẻ, sống hạnh phúc và trọn đời trong hạnh phúc. Tôi thoát khỏi sự trói buộc của cái chết. A, điều này xảy ra vì lòng từ bi của Chúa!
A la hán tỳ kheo Angulimāla tuyên bố: Tôi ngủ yên vui, chìm trong hạnh phúc và dành cuộc đời mình trong hạnh phúc. Tôi tự do khỏi ràng buộc của chết. À, điều này xảy ra do lòng từ bi của Đức Phật!
Chừng nào còn sự bùng cháy của tham ái hay sân hận, thì không có hạnh phúc nào cả. Người ta chỉ sống một cuộc sống hạnh phúc sau khi đạt được sự giải thoát khỏi tham ái và sân hận. Bất cứ ai sinh ra sự tức giận đều trở nên khốn khổ. Nhưng với việc thực hành Vipassana như Đức Phật đã dạy, người đó cũng vậy-
Chừng nào còn có lửa của tham ái và giận dữ, thì không có hạnh phúc. Một người sống một cuộc đời hạnh phúc sau khi đạt giải thoát khỏi tham ái và giận dữ. Bất kỳ ai tạo ra giận dữ trở nên đau khổ. Nhưng với việc thực hành Vipassana được dạy bởi Đức Phật, cùng một người-
Kodham chetvā sukham seti, kodham chetvā na socati. -Chấm dứt cơn tức giận, ngủ yên vui vẻ; đã chấm dứt sự tức giận, sống không đau buồn.
-Đã chấm dứt giận dữ, ngủ an yên; chấm dứt giận dữ, sống mà không có nỗi buồn.
Eternal happiness of nibbāna / Hạnh phúc vĩnh cửu của niết bàn
Hārita là một tỳ khưu xuất thân từ một gia tộc Bà-la-môn Sāvatthi. Đây là những lời thú vị của ngài khi đạt được sự giải thoát - “Susukham vata nibbānam, sammāsambuddhadesitam; Asokam virajam khemam, yattha dukkham nirujjhati. ” - Quả thật, nibbāna được giảng dạy bởi Đấng Toàn Giác là hạnh phúc tối thượng. Nó không đau buồn, không tì vết, an toàn. Mọi đau khổ hoàn toàn kết thúc ở đó.
Hārita là một tỳ kheo người đã rời bỏ dòng dõi Bà La Môn xứ Sāvatthi. Đây là những lời vui mừng khi ông ấy đạt giải thoát: Quả thực, niết bàn dạy bởi Bậc Giác Ngộ Toàn Thiện là hạnh phúc tối thượng. Không có nỗi buồn, không có thiếu soát, đảm bảo. Tất cả đau khổ chấm dứt ở đây.
Joyful path to true happiness/ Con đường vui vẻ đến hạnh phúc thực sự
Aggika Bhāradvāja, một Bà-la-môn từ Ukaṭṭhā, là một người thờ lửa. Anh ta từng phải trải qua những cuộc đền tội khốc liệt trong rừng bằng cách tự hành hạ cơ thể mình. Sau khi tiếp xúc với Đức Phật, ông đã học Vipassana. Và sau khi thực hành kỹ thuật này trong vài ngày, anh ta trở nên giải thoát và đạt được giai đoạn A-la-hán. Khi bạn bè hỏi anh về điều đó, anh trả lời: “Yam sukhena sukham laddham, passa dhammasudhammatam; Tisso vijjā anupattā, katam buddhassa sāsanam. ” - (Thoát khỏi con đường tra tấn), tôi đã đạt được (hạnh phúc tối thượng) (của nibbāna) bằng cách sử dụng phương pháp vui vẻ này. Kìa sự vĩ đại của Giáo pháp! (Đạt đến trạng thái của một vị A-la-hán) Tôi đã đạt được ba sức mạnh siêu nhiên. Tôi đã hoàn thành việc thực hành lời Phật dạy!
Aggika Bhāradvāja, một Bà La Môn từ Ukaṭṭhā, một người thờ lửa. Ông thường đi ăn năn trong rừng bằng việc hành hạ cơ thể. Sau khi tiếp xúc với Đức Phật, ông học Vipassana. Và sau khi thực hành kỹ thuật vài ngày, ông trở nên giải thoát và đạt trạng thái a la hán. Khi bạn bè hỏi ông về trạng thái đó, ông đáp: Rời bỏ con đường tự hành hạ, tôi chứng đắc hạnh phúc (tối thượng) của (niết bàn) bằng việc dùng kỹ thuật thú vị này. Hãy nhìn xem sự vĩ đại của Dhamma! (Đạt tới trạng thái một a la hán) Tôi đạt được ba sức mạnh siêu nhiên. Tôi đã hoàn thành thực hành lời dạy của Đức Phật.!
Happiness even for householders/ Hạnh phúc thậm chí cho cư sĩ
Khi một chủ gia đình tin tưởng vào lời dạy của Đức Phật đã từ bỏ con gái của mình trong cuộc hôn nhân, ông ấy đã cho cô ấy lời khuyên này:
Khi một cư sĩ thiết lập lời dạy của Đức Phật ban tặng cho cho đứa con gái đã kết hôn của ông, ông cho cô lời khuyên này:
Ngồi vui vẻ; ăn uống vui vẻ; ngủ một cách vui vẻ.
Ngồi hạnh phúc; ăn hạnh phúc; ngủ hạnh phúc.
Và ông giải thích cách làm: Làm tròn trách nhiệm của một người con dâu trong nhà mới có lợi. Nếu các trưởng lão của một người đang đứng, một người nên: chỉ ngồi sau khi họ đã ngồi xuống; chỉ dùng bữa sau khi đã dọn thức ăn cho người lớn tuổi; và chỉ đi ngủ sau khi đã phục vụ và đáp ứng nhu cầu của những người lớn tuổi trong gia đình - những điều này đều có lợi cho hạnh phúc.
Và ông giải thích cách làm nó: hoàn thành trách nhiệm của một người con dâu trong ngôi nhà mới là mang lại hạnh phúc. Nếu người lớn khác đang đứng, con cũng nên đứng: ngồi chỉ sau khi họ ngồi; dùng bữa chỉ sau khi phục vụ thức ăn cho người lớn; và đi ngủ chỉ sau khi phục vụ và hoàn thành những yêu cầu của người lớn trong gia đình- Tất cả những điều này mang lại hạnh phúc.
Đối với các gia chủ, những lời của Đức Phật mang đầy phước hạnh dồi dào cho họ. Vài ví dụ:
Với cư sĩ, lời của Đức Phật đầy phúc lành cho hạnh phúc của họ. Vài ví dụ:
Sukhā metteyyatā loke, atho petteyyatā sukhā - Phụng dưỡng cha mẹ dẫn đến hạnh phúc trên đời.
Phục vụ mẹ và cha của mình làm cho mình hạnh phúc trong thế giới này.
Sukhām yāvajarāsīlam - Tuân theo đạo đức cho đến tuổi già mới mang lại hạnh phúc.
Tuân theo đạo đức cho tới khi già mang lại hạnh phúc.
Sukhā saddhāpatitthitā - Có niềm tin vào Sự thật mang lại hạnh phúc.
Tự tin vào sự thật mang lại hạnh phúc.
Sukho paññāya patilābho - Trí tuệ phát triển mang lại hạnh phúc.
Phát triển trí tuệ mang lại hạnh phúc.
Pāpānam akaranam sukham - Bỏ điều ác mang lại hạnh phúc.
Thoát khỏi điều ác độc mang lại hạnh phúc.
Athamhi jātamhi sukhāsahāyā - Sự giúp đỡ từ bạn bè và các mối quan hệ khi một người gặp khó khăn sẽ mang lại hạnh phúc.
Giúp đỡ bạn bè và họ hàng khi họ cần mang lại hạnh phúc.
Tutthī sukhāyā itarītarena - Bằng lòng với những gì mình có mang lại hạnh phúc.
Giữ sự bằng lòng mang lại hạnh phúc.
Puññam sukham jīvitasankhyamhi - Những việc làm tốt mang lại hạnh phúc ngay cả sau khi chết.
Hành động xứng đáng mang lại hạnh phúc thậm chí sau chết.
Sabbassa dukkhassa sukham pahānam - Diệt trừ mọi đau khổ (thông qua thực hành Vipassana) mang lại hạnh phúc.
Diệt trừ mọi khổ đau (thông qua thực hành Vipassana) mang lại hạnh phúc.
Rõ ràng rằng lời dạy của Đức Phật không chỉ truyền đạt hạnh phúc cuối cùng của sự giải thoát khỏi vòng sinh tử, mà còn là điều mang lại hạnh phúc trong cuộc sống trần tục. Thật sai lầm khi gọi anh ta là một người bi quan!
Rất rõ ràng rằng lời dạy của Đức Phật truyền tải không chỉ hạnh phúc tối thượng của giải thoát khỏi vòng sinh tử, mà còn mang lại hạnh phúc trong cuộc sống trần thế. Thật sai lầm biết bao khi gọi ngài là người bi quan!
A Buddha arises in the world to distribute happiness/ Đức Phật sinh ra trên thế giới để phân phát hạnh phúc
“Buddho loke samuppanno, asamo ekapuggalo; Vì vậy, pakāseti saddhammam, amatam sukhamuttamam ”. - Đức Phật xuất sắc, vô song xuất hiện trên thế gian và đưa ra ánh sáng Chân lý, Giáo pháp. Đức Phật mang đến ánh sáng vĩnh cửu và hạnh phúc tối cao.
-Đức Phật vô song, phi thường sinh ra trên thế giới và mang lại ánh sáng của Sự Thật , Dhamma. Đức Phật mang tới ánh sáng vĩnh hằng và hạnh phúc siêu việt.
Do đó người ta nói: Sukho buddhānam uppādo, sukhā saddhammadesanā; Sukhā sanghassa sāmaggī, samaggānam tapo sukho. - Hạnh phúc là sự ra đời của một vị Phật, hạnh phúc là sự giảng dạy Giáo pháp, hạnh phúc là sự đến với nhau của Tăng đoàn và hạnh phúc là cùng nhau thiền định!
Do đó được nói là: Hạnh phúc là khi một Đức Phật ra đời, hạnh phúc khi ngài dạy Dhamma, hạnh phúc là khi được tụ hội cùng Tăng Đoàn và hạnh phúc là được thiền cùng nhau!
Một vị Phật không phân phát gì ngoài hạnh phúc. Nói gì về một vị Phật, ngay cả sự phát sinh của bất kỳ vị thánh nào trên thế giới cũng hiếm:
Một Đức Phật phân phát không điều gì khác ngoài hạnh phúc. Một Đức Phật nói điều gì, thậm chí bất kì vị thánh nào sinh ra trên thế giới này là việc hiếm:
Dullabho purusājañño, na so sabbatthajāyati. -Rare là một vị thánh trên thế giới này. Anh ta không sinh ở khắp mọi nơi.
-Hiếm khi một vị thánh sinh ra trong thế giới này. Ngài ta không sinh ở khắp nơi.
Yattha so jāyato dhīro, tam kulam sukhamevatī - Ở đâu một người thánh thiện được sinh ra, hạnh phúc của gia tộc đó tăng lên.
-Nơi một thánh nhân sinh ra, hạnh phúc của dòng dõi đó tăng lên.
Một người đức hạnh bình thường là một sự nghiệp vì phúc lợi của thị tộc mình. Tuy nhiên, một vị Phật là một sự nghiệp an sinh cho toàn thể nhân loại. Ngài thuyết giảng Giáo lý nhân từ, bằng cách làm theo đó mọi người có thể sống một cuộc sống bình yên và hạnh phúc, tràn đầy Giáo pháp dựa trên sự thật.
Một người có đạo đức bình thường là nguyên nhân lợi lạc của dòng dõi anh ta. Tuy nhiên một Đức Phật là nguyên nhân lợi lạc của tất cả nhân loại. Ngài thuyết giảng lời dạy lợi lạc, bằng việc theo những lời dạy đó con người có thể sống an lạc và hạnh phúc, đầy sự thật-dựa trên Dhamma.
Dhammārāmo dhammarato, dhammam anuvicintayam; Tỳ khưu Dhammam anussaram, saddhammā na parihāyati. - Sống theo Giáo pháp, mải mê với Giáo pháp, chỉ nghĩ đến Giáo pháp và luôn lưu tâm đến Giáo pháp, một vị Tỳ khưu thiền định không bao giờ rời bỏ con đường của Giáo pháp dựa trên sự thật.
-Sống theo Dhamma, mải mê trong Dhamma, suy nghĩ chỉ trong Dhamma và luôn chánh niệm trong Dhamma, một hành giả tỳ kheo không rời khỏi con đường sự thật-dựa vào Dhamma.
Một tu sĩ thiền định như vậy là:
Santakāyo santavāco, santavā susamāhito; Tỳ khưu Vantalokāmiso, upasanto ti pavuccati. - Thân thể ôn hòa, lời nói ôn hòa, làm chủ tâm trí tập trung, bỏ lại những tì vết của thế gian; một Tỳ khưu an lạc như vậy thực sự được gọi là “một vị bình tĩnh”.
Một hành giả tỳ kheo như vậy là:
-An lạc trong thân, an lạc trong lời nói, chủ nhân của tâm tập trung, lời bỏ sự nhơ bẩn của thế gian; một tỳ kheo an lạc như thế thực sự được gọi là “người bình tĩnh.”
Một, do đó bình tĩnh hơn, sống vui vẻ và ngủ một cách hạnh phúc. Upasanto sukham seti. - "Người bình tĩnh" luôn luôn ngủ một cách hạnh phúc.
Một người, vì bình tĩnh, mà sống hạnh phúc và ngủ ngon giấc: -Một người “bình tĩnh” luôn ngủ ngon giấc.
Người đã đạt được hòa bình tối thượng là người đã đạt được hạnh phúc tối thượng. Bình an cuối cùng là hạnh phúc cuối cùng. Một người đã đạt được nibbāna đã trải nghiệm được cực lạc.
Một người đạt an lạc tối thượng đạt được hạnh phúc tối thượng. An lạc tối thượng là hạnh phúc tối thượng. Người đạt được niết bàn đã kinh nghiệm được phúc lạc tối thượng.
Natthi santi param sukham. - Không có hạnh phúc nào lớn hơn sự an lạc của nibbāna.
-Không có hạnh phúc nào to lớn hơn an lạc niết bàn.
Những người hành thiền như vậy đã đạt được sự bình an cuối cùng sẽ sống hạnh phúc ngay cả trong những hoàn cảnh bất lợi.
Những hành giả đạt được an lạc tối thượng sống hạnh phúc thậm chí trong hoàn cảnh tiêu cực.
Susukham vata jīvāma -Ah , chúng ta đang sống có hạnh phúc không;
-À, chúng ta sống hạnh phúc;
Veriyesu averiyo -Không có thù hận giữa những kẻ thù;
-Không có oán ghét giữa những kẻ thù xung quanh;
Āturesu anāturo -Không có phiền não giữa những người đau khổ;
-Không có đau đớn giữa những phiền não;
Ussukesu anussako -Không có sự gắn bó giữa những người có sự gắn bó!
-Không có vướng mắc giữa những vướng mắc!
Làm thế nào để một người đạt được trạng thái cực lạc này?
Làm thế nào một người đạt được trạng thái phúc lạc tối thượng này?
Pavivekarasam pītvā, rasam upasamassa ca. - Thiền định và uống sâu sự bình yên đến từ một tâm hồn thanh thản.
– Ngồi thiền đơn độc và uống lấy an lạc thật sâu đến từ một tâm thanh bình.
Niddaro hoti nippāpo, dhammapītirasam pivam. - Được đắm chìm trong niềm vui của Giáo pháp, một thiền giả trở nên không sợ hãi và không có bất kỳ điều ác nào.
-Mê say trong niềm vui của Dhamma, một hành giả trở nên vô sợ hãi và không có bất kì tội ác nào.
Người hành thiền như vậy luôn sống hạnh phúc. Người không có thù hận trở nên không sợ hãi. Nếu một người có tâm hung bạo, đầy thù hận, thì người đó sẽ phải gánh chịu sự đau khổ do hận thù gây ra.
Một hành giả như thế luôn sống hạnh phúc. Người đó không có thù hận trở nên vô sợ hãi. Nếu người đó có tâm bạo động, đầy thù hận, thì anh ta sẽ chịu đau khổ dày vò từ ác cảm gây ra.
Yato yato himamano nivattati, tato tato sammati evam dukkham. - Bất cứ khi nào tâm trí từ bỏ bạo lực, đau khổ sẽ bị dập tắt.
-Mỗi khi tâm dừng bạo lực, đau khổ kết thúc.
Khi khổ được xóa bỏ thì cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Mỗi khi đau khổ diệt trừ, cuộc sống đầy hạnh phúc.
Để đạt được sự an lạc hạnh phúc này, điều cần thiết là phải thực hiện thiền định. Người ta phải thiền trong phòng giam đơn độc:
Để đạt an lạc phúc lành này, hành thiền là cần thiết. Người đó phải thiền một mình trong phòng riêng:
Suññāgāram paviṭṭhassa, santacittassa b Tỳ-kheo-ni; Amānusī ratī hoti, sammādhammam vipassati. - Một Tỳ khưu, người đã lui vào một nơi thanh vắng, và với tâm hồn thanh thản, thực hành Vipassana theo cách đúng đắn, được hưởng hạnh phúc thiêng liêng.
-Một tỳ kheo, người nghỉ dưỡng một mình trong một nơi, và với tâm tĩnh lặng thực hành Vipassana đúng cách, tận hưởng được hạnh phúc tối thượng.
Toàn thân Ngài tràn ngập hạnh phúc vô biên: Pītisukhena vipulena, pharamāno samussayam.
Toàn thể cơ thể của anh ta tràn đầy phúc lạc sung sướng vô tận: Pītisukhena vipulena, pharamāno samussayam.
Khi một người thực hành Vipassana đúng cách, người ta không chỉ trải nghiệm niềm hạnh phúc trong tâm trí và sự sung sướng trong cơ thể mà còn là niềm hạnh phúc của sự bình an vô hạn của người không chết.
Khi một người thực hành Vipassana một cách đúng đắn, người đó không chỉ kinh nghiệm được an lạc trong tâm và sung sướng trên thân mà còn hạnh phúc của an lạc vô tận của bất tử.
Yato yato sammasati, khandhānam udayabbayam; Labhati pīti pāmojjam, amatam tam vijānatam. - Bất cứ khi nào người ta hướng sự chú ý của mình vào bất cứ đâu trong cơ thể (hiểu được sự tiếp xúc của tâm trí và cơ thể), người ta chỉ nhận thức được sự sinh và diệt. Một người tận hưởng hạnh phúc và vui sướng và trải nghiệm sự không chết (đó là lĩnh vực của các Đấng cao quý).
-Mỗi khi một người điều khiển chú ý của họ vào bất kì nơi đâu trên cơ thể (hiểu được sự tiếp xúc của tâm và thân), họ chú ý chỉ việc sinh ra và diệt đi. Một người tận hưởng được phúc lạc và niềm vui và kinh nghiệm được bất tử (điều nằm trong lĩnh vực của Bậc cao quý).
Đây là hạnh phúc tối cao của nibbāna; đây là hòa bình tối cao.
Đó là hạnh phúc siêu việt của niết bàn; đây là an lạc siêu việt.
The Peacemaker/ Người tạo ra hòa bình
Có thông tin cho rằng hai vương quốc đang trên bờ vực chiến tranh để chiếm hữu một bờ kè nhất định bị họ tranh chấp. Và Đức Phật, khi thấy các vị vua và quân đội của họ đã sẵn sàng chiến đấu, đã yêu cầu họ nói cho Ngài biết nguyên nhân của những cuộc cãi vã của họ. Sau khi nghe những lời phàn nàn của cả hai bên, anh ấy nói:
Chuyện kể lại rằng có hai vương quốc đang trong cuộc chiến vùng ven để tranh giành một con đê nào đó đang tranh chấp bởi hai phía. Và Đức Phật, nhìn thấy vua và quân đội các bên đang chuẩn bị đánh nhau, Đức Phật yêu cầu họ nói với ngài nguyên do của cuộc cãi vã. Khi đã nghe lời phàn nàn từ hai phía ngài nói:
“Tôi hiểu rằng bờ kè có giá trị đối với một số người dân của bạn; nó có bất kỳ giá trị nội tại nào ngoài việc phục vụ người đàn ông của bạn không? Nó không có giá trị nội tại nào cả, ”là câu trả lời. Như Lai nói tiếp: "Bây giờ khi ra trận, không chắc nhiều người của mình sẽ bị giết và chính các ngươi, hỡi các vị vua, phải chịu thiệt mạng sao?"
“Ta hiểu rằng con đê này rất giá trị với các bạn; nó có giá trị chân thực nào bên cạnh phục vụ cho các bạn không? Nó không có giá trị chân thực nào,” họ đáp. Đức Chánh Đẳng Giác tiếp tục: “Bây giờ khi bạn đánh nhau, liệu có chắc rằng nhiều người trong số bạn sẽ không bị giết và chính bạn, hỡi các vị vua, có khả năng mất mạng ?”
Và họ nói: "Quả thật chắc chắn rằng nhiều người sẽ bị giết và cuộc sống của chúng ta bị đe dọa."
Và họ nói rằng: “Chắc chắn là sẽ có nhiều người bị giết và chính mạng sống của chúng tôi sẽ bị nguy hiểm.”
“Tuy nhiên, máu của đàn ông,” Đức Phật nói, “nó có ít giá trị nội tại hơn một gò đất?”
“Máu của đàn ông, tuy nhiên,” Đức Phật đáp, “có ít giá trị chân thực hơn một nấm đất ư?”
"Không," các vị vua nói, "cuộc sống của con người và trên tất cả cuộc sống của các vị vua, là vô giá."
“Không,” vua nói, “sinh mạng của đàn ông và trên hết là tất cả mạng sống của các vị vua, là vô giá”.
Sau đó, Như Lai kết luận: "Có định đánh cược cái vô giá chống lại cái không có giá trị nội tại nào không?"
Khi đó Đức Chánh Đẳng Giác kết luận: “Các vị đang đánh đổi điều vô giá với thứ không có giá trị chân thực nào?”
Cơn thịnh nộ của hai vị vua đã nguôi ngoai, và họ đi đến một thỏa thuận hòa bình.
Sự phẫn nộ của hai vị quân chỉ giảm đi, và họ tiến đến một thỏa thuận hòa bình.
— The Gospel of Buddha/ Cẩm nang của Đức Phật
Các nước cộng hòa Sakyan và Koliyan được thành lập trên bờ đối diện của sông Rohiṇī. Các thành viên của hội đồng cai trị ở hai nước cộng hòa này được gọi là rājās và người đứng đầu của rājā được gọi là mahārājā. Họ có quyền tự chủ đối với tất cả các vấn đề hành chính trong nước. Tuy nhiên, chúng không phải là các quốc gia độc lập hoàn toàn như Vesālī vì cả hai đều là chư hầu của vương quốc Kosala láng giềng.
Nền cộng hòa Sakyan và Koliyan được thành lập ở hai bờ đối diện nhau của sông Rohiṇī. Thành viên của hội đồng trị vì trong hai nền cộng hòa được gọi là rājās và người đứng đầu rājās gọi là mahārājā. Họ có quyền tự quyết tất cả các vấn đề điều hành trong nước. Tuy nhiên, họ không phải là nước lân bang toàn quyền độc lập như Vesālī vì cả hai đều là bang chư hầu của vương quốc láng giềng của Kosala.
Người Sakya và người Koliya đều là khattiyas của gia tộc Ādicca (Ikśvāku) của triều đại Mặt trời. Không có gia đình khattiya hoàng gia nào khác bằng họ trong khu vực, và do đó, các thành viên hoàng gia của hai nước cộng hòa này chỉ kết hôn với nhau. Cả hai gia tộc đều rất tự hào về sự thuần khiết của dòng máu hoàng tộc của họ và đã thực hành truyền thống hôn nhân giữa các dòng họ từ thời cổ đại. Ví dụ, dì ruột của Suddhodana đã kết hôn với Anjana, người cai trị Koliyan. Con gái của họ, Mahāmāyā và Mahāpajāpati Gotamī, đã kết hôn với Suddhodhana, thủ lĩnh của tộc Sakya. Tương tự, Yashodhara, con gái của Suppabuddha, con trai của Anjana, đã kết hôn với hoàng tử Sakyan, Siddhattha. Do đó, hai gia đình hoàng gia có quan hệ với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân giữa anh em họ ngoại và họ nội từ thời cổ đại.
Người Sakyan và Koliyans đều là khattiyas của Ādicca (Ikśvāku) dòng dõi đế chế mặt trời. Không có một gia đình hoàng gia khattiya nào ngang hàng với họ tại lãnh thổ đó, và do đó, thành viên của gia đình hoàng gia của hai nền cộng hòa này chỉ kết hôn cùng với nhau. Cả hai dòng tộc này rất tự hào về sự thanh khiết của dòng máu hoàng gia và thực hành truyền thống hôn phối lẫn nhau từ thời xa xưa. Ví dụ cô mẫu ruột của vua Suddhodana kết hôn với người trị vì Koliyan Anjana. Con gái của họ là, Mahāmāyā and Mahāpajāpati Gotamī,kết hôn với Suddhodhana, người đứng đầu Sakyan. Tương tự thế, Yashodhara, con gái của Suppabuddha,là con trai của Anjana, kết hôn với hoàng tử Siddhattha. Do vậy, hai gia đình hoàng gia này liên hệ với nhau bằng ràng buộc hôn nhân giữa cha mẹ ruột cô cậu từ thời cổ xưa.
Bất chấp mối quan hệ huyết thống gần gũi như vậy, đôi khi sẽ có những rạn nứt giữa hai gia đình hoàng gia, đôi khi trở thành sự thù địch công khai.
Dù ràng buộc cận huyết, có vài sự rạn nứt tình cờ giữa hai gia đình hoàng gia, đôi khi dẫn đến sự thù địch công khai.
Nghề truyền thống của cả hai thị tộc là nông nghiệp. Các vùng đất thấp của tỉnh Tarāī dưới chân núi Hy Lạp hùng mạnh rất màu mỡ. Sông Rohiṇī mang nguồn nước dồi dào từ dãy Himalaya và tưới tiêu cho các vùng đất nông nghiệp của cả hai nước cộng hòa. Vì vậy, dân chúng ở cả hai nền cộng hòa đều rất thịnh vượng.
Theo nghề nghiệp truyền thống của hai dòng tộc đều là làm nông. Vùng hạ lưu của vùng Tarāī tại chân đồi của dãy Himalaya hùng vĩ rất màu mỡ. Sông Rohiṇī mang tới đây nhiều nước từ dãy Himalaya và điều tiết thủy lợi cho vùng đất nông nghiệp của cả hai nền cộng hòa. Do vậy, người dân của hai nền cộng hòa trên rất giàu có.
Ban đầu, do dân số ở cả hai bang Sakyan và Koliyan đều thấp, nên nước của người Rohiṇī đủ cho các trang trại của họ. Tuy nhiên, cùng với thời gian, đất rừng xung quanh đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân số. Nước sông không còn đủ để đáp ứng nhu cầu gia tăng. Sự khan hiếm nước này nhanh chóng trở thành nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa hai nước cộng hòa.
Ban đầu, dân số của cả hai bang Sakyan và Koliyan thấp, nước của sông Rohiṇī đủ cung cấp cho đồng ruộng của họ.Tuy nhiên, theo thời gian, rừng đầu nguồn xung quanh bị chuyển đổi thành đất nông nghiệp do nhu cầu tăng dân số. Nước sông không còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Việc khan hiếm nước này nhanh chóng trở thành nguyên nhân xung đột giữa hai nền cộng hòa.
Người dân hai bên bờ sông đổ lỗi cho nhau vì lấy nước sông quá nhiều. Họ sẽ thực hiện các thỏa thuận chia sẻ nước mới, sau đó đã bị vi phạm nhiều lần.
Người dân hai bờ sông đổ lỗi cho nhau bên kia đã dùng nhiều hơn số nước từ sông. Họ sẽ làm một thỏa thuận chia sẻ nước mới, thỏa thuận này sau đó đã bị vi phạm lặp đi lặp lại.
Khi dân số tiếp tục tăng lên, đất canh tác cũng tăng lên và người Koliya và người Sakya hầu như không thể lấy đủ nước từ Rohi Roī phía trên cho nhu cầu của họ. Người Rohiṇī có rất ít nước vào thời điểm nó đến các thủ đô của người Sakya và người Koliya. Mặc dù cả hai nước cộng hòa đã cùng nhau xây dựng một con đập chắn ngang sông, nhưng mực nước ở đó rất thấp vào mùa hè.
Khi dân số tiếp tục tăng, đất đang canh tác cũng tăng và người Koliyan và Saykian khó thể có đủ nước từ thượng nguồn sông Rohiṇī cho nhu cầu của họ. Rohiṇī có rất ít nước trước khi đi tới thủ đô của Sakyan và Koliyan. Dù hai nền cộng hòa xây dựng một con đập dọc con sông của hai bên, mức nước vẫn thấp vào mùa hè.
Một cuộc khủng hoảng đã phát triển trong suốt cuộc đời của Đức Phật. Đó là tháng của tháng năm. Mực nước sông rất thấp. Những cánh đồng hai bên sông bị cái nóng mùa hè thiêu đốt. Nếu không có đủ nước, mùa màng sẽ bị phá hủy. Con đập còn lại rất ít nước đến nỗi nó chỉ có thể tưới cho các trang trại ở một bên sông; các loại cây trồng ở phía bên kia đã bị chết.
Căng thẳng leo thang trong suốt thời Đức Phật. Đó là Tháng Năm. Mực nước sông rất thấp. Cánh đồng của hai bên sông khô hạn do cái nóng mùa hè. Không có nước tưới, vụ mùa sẽ bị phá hoại. Có quá ít nước từ con đập do vậy nó chỉ có thể làm thủy lợi cho một phía của con sông, cánh đồng của bên còn lại chắc chắn mất trắng.
Nếu nước trong đập được chia đều, cây trồng hai bên sông sẽ khô héo vì không đủ nước cung cấp. Nếu tất cả nước được sử dụng để tưới cho các cánh đồng ở một bên, ít nhất những cây trồng đó có thể được cứu.
Nếu nước từ con đập được chia sẻ như nhau, vụ mùa của hai phía của dòng sông sẽ khô hạn vì không có lượng nước vừa đủ. Nếu tất cả nước được dùng để làm thủy lợi trên cánh đồng của một bên, thì ít nhất vụ mùa đó có thể cứu.
Do đó, người Sakyan và người lao động ở trang trại Koliyan đã gặp nhau để thảo luận về việc chia sẻ nguồn nước ít ỏi trong hồ chứa. Mỗi bên khẳng định rằng mùa màng của họ được cứu và những người trồng trọt bên kia nên yêu cầu được chia phần thu hoạch. Những người lao động của cả hai bên đã quá tự hào để yêu cầu một phần từ phía bên kia. Ngay sau đó, các cuộc tranh luận trở nên nóng hơn. Tình hình trở nên tồi tệ với một cuộc trao đổi bằng lời nói và sau đó là một cuộc trao đổi bằng đòn roi. Những người lao động của cả hai bên đã xúc phạm chủ của nhau và sau đó ngược đãi tổ tiên của các thị tộc thống trị.
Do đó, nông dân Sakyan và Koliyan gặp để thảo luận chia sẻ nguồn nước ít ỏi trong hồ chứa. Mỗi bên khăng khăng vụ mùa của họ sẽ được cứu và người trồng trọt từ vụ mùa bên kia nên yêu cầu chia sẻ việc thu hoạch. Người nông dân hai phía quá kiêu hãnh để xin chia sẻ từ bên kia. Cuộc tranh luận sớm leo thang. Tình huống xấu đi biến thành cuộc trao đổi lời qua tiếng lại và sau đó bùng nổ. Người lao động của hai bên lăng mạ chủ nhân của bên còn lại và sau đó mỉa mai tổ tiên của hai dòng dõi trị vì.
Một số người lao động đã báo cáo việc trao đổi những hành vi lạm dụng này với chủ các trang trại. Khi nghe về những lời xúc phạm đối với tổ tiên của họ, sự thù địch lẫn nhau giữa hai cộng đồng nông nghiệp đã tăng lên.
Vài người lao động kể lại cuộc tranh cãi mỉa mai tới người sở hữu đồng ruộng. Khi nghe về việc lăng mạ tổ tiên, mối bất hòa giữa hai bên trong hai cộng đồng nông nghiệp tăng lên.
Cuộc cãi vã đến tai các bộ trưởng của Sakyan và Koliyan, sau đó là các hoàng tử và các vị vua. Khi các hoàng tử trẻ của cả hai bên nghe thấy lời mô tả về những hành vi ngược đãi tổ tiên của họ, họ nổi cơn thịnh nộ và thề sẽ trả thù cho những lời xúc phạm tổ tiên của họ. Nổi giận, họ tập trung trên các bờ sông của mình, trang bị đầy đủ vũ khí và thách thức phe bên kia chiến đấu. Tình hình thật nghiệt ngã và khả năng đổ máu dường như sắp xảy ra.
Cuộc tranh cãi chạm đến hoàng triều tộc Sakyan và Koliyan, và sau đó là thái tử và đức vua. Khi thái tử trẻ tuổi của hai bên nghe kể lại sự lăng mạ về tổ tiên của cả hai, họ nổi cơn thịnh nộ và thề chiến đấu chống lại sự sỉ nhục tổ tiên của họ. Trong cơn giận dữ, họ tập hợp hai bên bờ sông, đầy quân đội, và thách thức bên kia chiến tranh. Tình thế đó nghiệt ngã và khả năng đổ máu sắp xảy ra.
Khi Đức Phật biết về sự bùng phát của sự thù địch này, Ngài đã tự mình đến đó. Khi nhìn thấy người được tôn kính và lỗi lạc này từ hoàng tộc của họ, các chiến binh của cả hai bên trở nên vô cùng xấu hổ. Tất cả họ đều đặt vũ khí xuống và bày tỏ lòng kính trọng đối với anh ta. Đây là cách truyền thống để bày tỏ lòng kính trọng đối với Đức Phật trong những ngày đó.
Khi Đức phật biết về sự thù hằn đang bùng nổ, ngài đích thân đến. Khi thấy con người cao quý và lỗi lạc từ dòng dõi hoàng gia của họ, các chiến binh hai phía trở nên rất xấu hổ. Tất cả họ hạ vũ khí xuống và thể hiện sự kính trọng với ngài. Đây là truyền thống tỏ lòng kính trọng với Đức Phật vào thủa ấy.
Bất cứ khi nào Vua Pasenadi của Kosala đến bày tỏ sự kính trọng với Đức Phật, ông sẽ để lại các phù hiệu của hoàng gia như kiếm, khăn xếp, quạt, lọng và dép bên ngoài cùng với thị giả của mình trước khi vào phòng của Đức Phật.
Mỗi khi Vua Pasenadi của Kosala đến bày tỏ lòng kính trọng với Đức Phật, ông sẽ bỏ phù hiệu hoàng gia cũng như kiếm, khăn quấn, quạt, lọng che và dép bên ngoài nơi ngài hiện diện trước khi bước vào căn phòng của Đức Phật.
Đức Phật đã chuẩn bị sẵn chỗ ngồi cho ông trên bãi đất trống bên bờ sông. Người Sakya và người Koliya bày tỏ lòng kính trọng đối với Đức Phật và tôn kính ngồi ở một bên trước ngài. Đức Phật giải thích cho họ rằng máu của họ quý hơn nhiều so với nước sông. Họ không nên làm đổ máu một cách không cần thiết. Thay vào đó, họ nên tìm cách chia sẻ nguồn nước một cách hòa bình. Đức Phật là một người hòa bình đầy lòng từ bi. Ông không coi việc đánh mất mạng sống con người chỉ vì những lợi ích vật chất tầm thường là đúng đắn.
Đức Phật ngồi ghế đã chuẩn bị sẵn cho ngài trên nền đất rộng của bờ sông. Tộc Sakyan và Koliyan đảnh lễ Đức Phật và ngồi cung kính một bên cạnh ngài. Đức Phật giải thích cho họ dòng máu của họ có giá trị hơn nước sông. Họ không nên đổ máu không cần thiết. Thay vì đó, họ có thể tìm cách để chia sẻ nước trong hòa bình. Đức Phật là người tạo ra hòa bình với lòng từ bi. Ngài không nghĩ phù hợp khi mạng sống con người mất đi chỉ vì tranh giành lợi ích tầm thường.
-Sutta Nipāta Aṭṭhakathā 2.362, Sammāparibbājanīyasuttavaṇṇanā
So với vương quốc láng giềng hùng mạnh Kosala, cả hai nước cộng hòa Sakyan và Koliyan đều cực kỳ yếu kém. Họ đã giao lại chủ quyền của mình cho Kosala. Do sự bất hòa lẫn nhau, có khả năng họ cũng sẽ mất quyền tự chủ nội bộ của mình.
So sánh với quốc gia láng giềng quyền lực vương quốc Kosala, cả nền cộng hòa Sakyan và Koliyan cực kì yếu ớt. Họ đã từ bỏ chủ quyền của mình cho Kosala. Do bất hòa của hai bên, có khả năng họ sẽ mất luôn quyền tự trị nội bộ.
Nếu người Sakya và người Koliya chiến đấu chống lại nhau, cả hai sẽ bị tiêu diệt. Nếu họ hợp nhất, cả hai sẽ được củng cố bởi sức mạnh tổng hợp của họ. Người cai trị Kosala sẽ không thể kéo dài chúng hơn nữa trên giá trị quyền lực tối cao của mình. Tuy nhiên, nếu họ vẫn đoàn kết, rất có thể họ có thể tự giải thoát hoàn toàn khỏi sự thống trị của Kosala. Luôn ghi nhớ điều này, Đức Phật đã ban cho họ lời dạy về lợi ích của việc duy trì sự hợp nhất.
Nếu người Sakyan và Koliyan đánh nhau, cả hai sẽ bị tiêu diệt. Nếu họ đoàn kết, cả hai sẽ có sức mạnh do sự kết hợp của hai bên. Người trị vì Kosala không thể vươn xa hơn trên ngôi trị vì tối cao. Tuy nhiên nếu họ vẫn giữ đoàn kết, khả năng chí ít họ có thể hoàn toàn tự do khỏi sự đô hộ của Kosala. Giữ trong tâm điều này, Đức Phật thuyết cho họ lời dạy về lợi lạc của việc duy trì đoàn kết.
Đức Phật nhận thấy rằng xung đột đã gia tăng vì sự hiểu lầm. Những người lao động làm việc trên cánh đồng đã ngược đãi tổ tiên của các rājās ở bên kia. Nhưng các rājā được thông báo rằng các rājā khác đã ngược đãi tổ tiên của họ. Nếu đã nói rõ với các rājās từ cả hai phía rằng những người lao động nông nghiệp vô trách nhiệm là do lỗi, họ sẽ khiển trách chính những người lao động của mình và sự việc sẽ kết thúc ở đó; tình hình sẽ không đến bờ vực đổ máu. Cả hai nước cộng hòa sẽ vẫn thống nhất.
Đức Phật nhận ra mâu thuẫn đã gây ra căng thẳng vì sự hiểu lầm. Người nông dân làm việc trên cánh đồng quấy nhiễu tổ tiên của rājās của hai bên. Những rājās được cho biết rằng rājās khác cũng đã quấy nhiễu tổ tiên của họ. Nếu điều này được làm sáng tỏ với rājās của hai bên thì người nông dân vô trách nhiệm có lỗi, họ sẽ bị khiển trách chính người nông dân của mình và vấn đề sẽ kết thúc ở đó; tình huống sẽ không leo thang đến đổ máu. Cả hai nền cộng hòa sẽ vẫn giữ được đoàn kết.
Với tình huống này, Đức Phật đã thuật lại một câu chuyện Jataka. Đôi khi, việc làm sáng tỏ vấn đề trở nên dễ dàng hơn với sự trợ giúp của một câu chuyện. Vì vậy, ông đã thuật lại Duddubha Jataka để minh họa cách một người ngu dốt tự làm hại bản thân bằng cách trở thành nạn nhân của niềm tin mù quáng. Người khôn ngoan, tuy nhiên, điều tra sự thật và cứu mình khỏi bị hại.
Trong tình huống trong tâm, Đức Phật kể câu chuyện Jataka. Thỉnh thoảng, nó dễ làm rõ vấn đề với sự giúp đỡ của một câu chuyện. Do vậy, ngài kể câu chuyện Duddubha Jataka để minh họa một người vô minh gây hại cho họ bằng việc trở thành một nạn nhân của niềm tin mù quáng.Tuy nhiên, người thông thái, sẽ khảo sát sự thật và cứu rỗi họ khỏi việc tai hại.
Duddubha Jataka
Theo Jataka này, một con thỏ rừng đang nghỉ ngơi dưới một cây táo gỗ. Đột nhiên một trái táo chín mọng rơi trên mặt đất gần đó. Con thỏ rừng nghe thấy tiếng quả đập xuống đất và hoảng sợ. Nó nghĩ rằng bầu trời đã chia cắt và trái đất đang vỡ ra. Bị khủng bố, nó bỏ chạy ngay tại chỗ. Nó nói với tất cả các loài động vật mà nó gặp trên đường rằng bầu trời đã chia cắt và trái đất đang tan vỡ. Tất cả các loài vật khác như thỏ rừng, hươu, nai, lợn, linh dương, trâu, bò đực, hổ và voi nghe thấy điều này, đều mù quáng tin điều đó và hoảng sợ bỏ chạy. Trong chuyến bay kinh hoàng của mình, tất cả bọn họ sẽ lao xuống biển trước khu rừng và chết đuối.
Theo Jataka này, con thỏ đang nghỉ ngơi dưới cây bồ hòn. Thình lình quả bồ hòn chín rớt xuống mặt đất gần đó. Con thỏ nghe được âm thanh quả rơi xuống đất và hoảng sợ. Nó nghĩ trời đã nứt làm hai và mặt đất cũng đang nứt. Bị kinh động, nó chạy trốn. Nó nói tất cả động vật trên đường nó gặp trời đang nứt đôi ra và đất cũng đang nứt. Tất cả các con vật khác như thỏ, nai, lợn, linh dương, bò rừng, trâu rừng, hổ và voi nghe thế, tin mù quáng và bắt đầu chạy trốn. Trong cơn hoảng loạn, tất cả chúng lao xuống biển trước khu rừng và chìm nghỉm.
Khi sư tử, vua của khu rừng, nhìn thấy mối nguy hiểm này, nó đã ngăn chặn những con vật đang dẫm đạp và khuyên nhủ chúng. Nó nói, "Hãy đến, chúng ta hãy đi đến nơi mà thỏ rừng nghe thấy tiếng đất vỡ." Tất cả các con vật đi cùng thỏ rừng đến cái cây nơi nó đã nghỉ ngơi. Khi họ nhìn thấy quả táo khuyết, họ nhận ra sự thật và cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều.
Khi con sư tử, vua của rừng xanh, thấy nguy hiểm, nó dừng mấy con vật đang chạy tán loại và khuyên mấy con vật. Nó nói, “Lại đây, chúng ta hãy đến chỗ con thỏ nghe được tiếng đất nứt.” Tất cả động vật đến nơi cái cây con thỏ nghỉ ngơi. Khi thấy trái bồ hòn rơi xuống, chúng nhận ra sự thật được làm sáng tỏ.
Khi tin đồn một cách mù quáng và phản ứng thiếu suy nghĩ, người ta sẽ gây ra tác hại lớn. Bày tỏ điều này, Đức Phật nói:
Khi một người tin tin đồn mù quáng và phản ứng mà không suy nghĩ, người đó gây ra sự tai hại to lớn. Để diễn đạt điều này, Đức Phật nói:
Appatvā padaviññāṇaṃ, paraghosananarino;
Panādaparama bale, đây honti parapattiya
-Jātaka 1.4.322, Duddubha Jātaka
Không biết sự thật của chính mình, một người chú ý đến những tuyên bố của người khác và làm theo họ vì niềm tin mù quáng là một kẻ ngu ngốc bất cẩn.
Không biết sự thật trong chính mình, người đó chú ý vào phát ngôn của người khác và theo chúng một cách mù quáng là kẻ ngốc bất cẩn.
Đức Phật giải thích rằng vào thời điểm sự ngược đãi lẫn nhau của những người lao động ngu xuẩn trong nông trại đã đến tai các chủ trang trại, các bộ trưởng, các quý tộc, các rājās và các hoàng tử nóng nảy, tất cả họ đều đã lầm lạc và chuẩn bị tự tiêu diệt mình. Nếu họ bình tĩnh xem xét sự việc, họ sẽ khiển trách người lao động của mình và kết thúc cuộc cãi vã ngay lập tức.
Đức Phật giải thích trước thời điểm quấy rối của đôi bên do người nông dân ngờ nghệch gây ra đến tai ông chủ ruộng, hội đồng, người cao quý, rājās và thái tử nóng tính, người đã dẫn dắt sai lầm và chuẩn bị tiêu diệt lẫn nhau. Nếu họ điềm tĩnh suy xét sự thật, họ sẽ quả trách người nông dân của họ và kết thúc tranh cãi.
The Buddha: The Teacher Who Meditates / Đức Phật: Vị thầy dạy Thiền
(Từ ấn phẩm VRI sắp xuất bản: Sammāsmbuddha in The Tipitaka, Vol 2.)
(Từ ấn phẩm sắp tới cảu VRI: Sammāsmbuddha trong Tam Tạng Kinh, Quyển 2.)
Vua Prasenjit của Kosala đã từng có chuyến thăm cấp nhà nước tới đất nước Sākya. Anh ấy đã đi trên chiếc xe của mình để thư giãn trong một công viên ở ngoại ô thành phố. Đến được khu rừng, cỗ xe của anh ta không thể tiến xa hơn qua thảm thực vật rậm rạp, và vì vậy anh ta phải đi bộ để tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Vua Prasenjit của Kosala một lần viếng thăm một bang của Vương quốc Sākya. Ngài đến trên chiếc xe ngựa kéo và nghỉ ngơi ở một khu vườn ở ngoại ô thành phố. Đến khu rừng, chiếc xe ngựa không thể đi xa hơn qua thảm thực vật dày đặc, và vì thế ngài phải đi bộ để tiếp tục cuộc hành trình.
Đi bộ xuyên qua khu rừng, Vua Prasenjit nhìn thấy những cây cao sừng sững giữa sự tĩnh lặng và tĩnh lặng. Anh ta trải nghiệm sự yên tĩnh của khu rừng không bị quấy rầy bởi tiếng nói, một sự tĩnh lặng sâu xa với tiếng ồn và tiếng huyên thuyên. Đây là một nơi có lợi cho việc thiền định nghiêm túc. Ông nhớ lại những lần thường gặp Đức Phật ở những nơi thanh tịnh như thế. Anh thắc mắc không biết có phải Đức Phật ở trong vùng không. Khi tìm hiểu, ông thấy rằng Đức Phật thực sự đang giảng dạy ở một nơi gần đó vào thời điểm đó. Những nơi vắng vẻ và vắng vẻ yên tĩnh trở thành đồng nghĩa với Đức Phật và những người thực hành lời dạy của Đức Phật.
Đi băng qua khu rừng, Vua Prasenjit thấy những cây cao chọc trời ở giữa sừng sững và tĩnh mặc. Ngài kinh nghiệm được sự im lặng của khu rừng không bị làm phiền bởi những tiếng nói, một sự đơn độc sâu sắc khỏi tiếng ồn, và sự huyên thuyên. Đây là nơi phù hợp để hành thiền nghiêm túc. Ngài tự nhắc mình rất lâu khi ngài thường gặp Đức Phật ở nơi thanh tịnh như thế. Ngài tự hỏi nếu Đức Phật ở tại nơi đây. Lúc hỏi ra, ngài phát hiện Đức Phật thực sự đang giảng dạy ở nơi gần đó. Những nơi yên tĩnh và ẩn dật và cô động trở nên đồng nghĩa với Đức Phật và thực hành lời dạy của Đức Phật.
Đấng Giác ngộ ưa chuộng hòa bình, thiền định im lặng và cô độc. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh ta trốn tránh nhiệm vụ và trách nhiệm của mình với tư cách là một giáo viên Vipassana. Anh duy trì mối liên kết với học trò, luôn sẵn sàng hướng dẫn các em khi cần thiết.
Bậc Giác Ngộ thích an lạc, hành thiền im lặng và đơn độc. Nhưng không có nghĩa ngài tránh trách nhiệm và nghĩa vụ khi là một vị thầy Vipassana. Ngài vẫn giữ kết nối với đệ tử của mình, luôn sẵn sàng chỉ dạy họ khi cần.
Sự chuyên sâu trong việc giảng dạy thực tiễn và phổ quát của ngài và số lượng bài giảng của ngài (85.000) trong suốt 45 năm phụng sự Giáo pháp quên mình vượt xa các bài giảng của bất kỳ vị thầy tâm linh nào khác trong lịch sử lâu dài của nhân loại. Toàn bộ cuộc đời của Ngài là Đức Phật đầy lòng từ bi. Anh ấy không ngừng làm việc vì lợi ích, hạnh phúc của nhiều người. Ông luôn bận rộn trong công việc Giáo pháp. Đúng là những lời này về Đức Phật:
Chiều sâu của lời dạy phổ quát, thực tiễn và vô số pháp thoại của ngài (85,000) trong suốt 45 năm phục vụ Dhamma vô vị lợi vượt xa số pháp thoại của bất kỳ vị chân sư tâm linh nào trong lịch sử nhân loại. Toàn bộ cuộc đời Đức Phật đầy từ bi. Ngài làm việc chăm chỉ vì lợi lạc và hạnh phúc của nhiều người. Ngài luôn bận rộn với công việc Dhamma. Những lời này là sự thật về Đức Phật.
'Asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan'ti. - Majjhima nikāya 1,50 Bhayabheravasuttam
- 'Vì lòng từ bi vô lượng, vì hạnh phúc của tất cả mọi người, vì hạnh phúc và phúc lợi của chư thiên và loài người, một chúng sinh không bị vọng tưởng, đã phát sinh trên thế giới'
-’Lòng từ bi không thể đo đếm được, vì chúng sinh, vì hạnh phúc và phúc lạc của thần linh và con người, một người thoát khỏi ảo vọng, sinh ra trong trần thế.”
Chính Đức Phật đã nói rằng Ngài tiếp tục phục vụ chúng sinh như thế nào.
Đức Phật chính ngài nói cách ngài tiếp tục phục vụ chúng sinh.
'Aññatra asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā, aññatra niddākilamathapaṭivinodanā apariyādinnāyevassa, Xá Lợi Phất, tathāgatassa dhammadesanā, apariyādinnamyevassa tathāgatassa dhammapadabyañjanam, apariyādinnaṃyevassa tathāgatassa pañhapaṭi-bhānam' .. - M.1.161, Mahāsīhanādasuttam
-'O Sariputta, trừ những lúc Tathāgata ăn ít thức ăn mỗi ngày một lần, chú ý đến những tiếng gọi của thiên nhiên hoặc để cơ thể nghỉ ngơi một thời gian ngắn, ngài giảng Pháp không mệt mỏi và giải thích những điều phức tạp của nó, trả lời các câu hỏi về Giáo pháp cả ngày lẫn đêm. .
– ‘Này Sariputta, thời gian dạo đó đã ngăn Đức Chánh Đẳng Giác dùng một ít thức ăn một lần một ngày, theo tiếng gọi của tự nhiên hoặc để cơ thể nghỉ ngơi đôi lát, ngài ấy giải thích Dhamma không mệt mỏi và giải thích những rắc rối trong nó, trả lời các câu hỏi Dhamma ngày lẫn đêm.
Rest and Meditation/ Nghỉ ngơi và thiền
Trong khi tâm trí siêu thanh tịnh của một Sammāsambuddha có sức mạnh không mệt mỏi, cơ thể của người đó cần nghỉ ngơi ba hoặc bốn giờ trong 24 giờ. Phần còn lại này anh ta thực hiện trong một phần tư đêm, nhưng với sự tỉnh táo và bình tĩnh. Đức Phật cũng tiến hành các khóa nhập thất định kỳ để thực hành thiền định. Câu hỏi sẽ nảy sinh tại sao một người không còn tham ái, chán ghét và ngu dốt, lại cần thiền định:
Khi tâm siêu thanh tịnh của một Sammāsambuddha có sức mạnh không mệt mỏi, cơ thể của ngài cần ba đến bốn tiếng nghỉ ngơi trong 24 giờ. Sự nghỉ ngơi ngài chỉ dành ra một phần tư đêm, nhưng với nhận thức và quân bình. Đức Phật cũng dành ra thời gian theo định kỳ và đơn độc để hành thiền. Câu hỏi sẽ nảy sinh tại sao một người thoát khỏi tham ái, oán ghét và vô minh, lại cần hành thiền:
Ajjāpi nūna samano gotamo - avītarāgo, avītadoso, avītamoho
-Có phải Gotma vẫn chưa hết thèm muốn, chán ghét và si mê?
-Đức Gotama vẫn chưa xa rời tham ái, oán ghét và ảo tưởng ư?
tasmā araññavanapatthāni Artikni oldan paṭisevati cổ đại!
- Đó có phải là lý do tại sao anh ta đi đến một mình trong khu rừng yên tĩnh?
-Vậy tại sao ngài ấy lại cần cô độc trong khu rừng yên tĩnh?
Để xóa bỏ sự hiểu biết sai lầm đó, Đức Phật giải thích lý do tại sao thỉnh thoảng Ngài lại dùng đến thiền định trong rừng.
Để loại bỏ những hiểu lầm như thế, Đức Phật giải thích tại sao ngài thường dành ra thời gian hành thiền trong rừng.
Dve kho aham, brāhmana, atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi - attano ca ditthadhammasukhavihāram sampassamāno, pacchimañca janatam anukampamāno ”ti. - M.1.55, Bhayabheravasuttam
- Chư Phật nhập thất trong cô tịch vì hai lý do: Để an cư lạc nghiệp ở đây và bây giờ, và vì lòng từ bi đối với các thế hệ tương lai.
– Đức Phật nghỉ ngơi trong cô tịch có hai lý do: Vì sự vĩnh cửu vui thích ở đây và bây giờ, và do lòng từ ái vì thế hệ tương lai.
Meditation in Solitude/ Hành thiền trong Đơn độc
Cơ thể con người có giới hạn, cho dù đó là cơ thể của Đức Phật. Anh ấy cũng cần được nghỉ ngơi. Ngoài ra, Đức Phật còn có tầm nhìn xa. Ông biết rằng một số giáo viên Giáo pháp của các thế hệ tương lai sẽ không tự thực hành Vipassana, nhưng sẽ tiếp tục yêu cầu học trò của họ thực hành. Để đảm bảo rằng các giáo viên thực hành những gì họ dạy, ông đã thiết lập một truyền thống lành mạnh cho người thầy Giáo pháp lý tưởng - một người hăng hái tiếp tục và đào sâu thực hành Vipassana của mình để hoàn toàn thanh lọc tâm trí.
Cơ thể con người bị giới hạn khả năng, thậm chí nếu đó là cơ thể của Đức Phật. Ngài cũng cần nghỉ ngơi. Bên cạnh đó, Đức Phật có tầm nhìn xa. Ngài biết vài người thầy Dhamma của thế hệ tương lai sẽ không thực hành Vipassana vì họ, mà luôn yêu cầu thiền sinh thực hành. Để đảm bảo thầy luôn thực hành điều họ dạy, ngài thiết lập truyền thống lành mạnh cho người thầy Dhamma lý tưởng- người luôn tiếp tục hăng hái và đào sâu việc thực hành của người đó để hoàn toàn thanh lọc tâm.
Mặc dù bản thân Đức Phật đã hoàn toàn thoát khỏi mọi tạp chất tinh thần, nhưng Ngài không bao giờ ngừng thực hành thiền định. Đức Phật nêu gương sống động về việc ngay cả một Sammāsambuddha vẫn tiếp tục thực hành Vipassana, ngay cả khi đã đạt được mục tiêu cuối cùng.
Dù Đức Phật ngài đã hoàn toàn thoát khỏi mọi bất tịnh của tâm, ngài chưa bao giờ ngưng hành thiền. Đức Phật thiết lập một ví dụ sống về cách thậm chí một Sammāsambuddha tiếp tục hành thiền Vipassana, thậm chí sau khi đạt tới mục đích cuối cùng.
Học sinh không thể được mong đợi để làm theo một giáo viên không thực hành những gì anh ta dạy. Bên cạnh đó, một vị thầy không phải là bậc A-la-hán (người đã hoàn toàn thanh lọc tâm trí) vẫn có thể chống chọi với những tạp chất tiềm ẩn trong tâm trí. Để giúp các thế hệ thiền sư Vipassana trong tương lai tránh được một sai lầm nguy hiểm như vậy, Đức Phật đã từ bi nêu gương: Ngài thỉnh thoảng đi vào các khóa tu thiền Vipassana, để nói rõ cho những người đang phụng sự Giáo pháp không được lơ là trách nhiệm tẩy trừ những ô uế trong mình. tâm trí.
Thiền sinh không thể hy vọng theo người thầy không thực hành điều ông ấy dạy. Bên cạnh đó người thầy không phải là một a la hán (người hoàn toàn thanh lọc tâm) có thể vẫn không chống đỡ được bất tịnh ngấm ngầm trong tâm. Để giúp thế hệ tương lai của các vị thầy Vipassana tránh được sai lầm nghiêm trọng đó, Đức Phật đã làm một ví dụ một cách từ bi: ngài đến nơi thiền Vipassana theo thời gian, để làm rõ cho những ai đang phụng sự Dhamma không nghỉ ngờ trách nhiệm diệt trừ bất tịnh trong tâm của họ.
Mặc dù có rất nhiều lợi ích và sự hỗ trợ thu được từ thiền nhóm, nhưng chúng ta có được sức mạnh to lớn và sự tự phụ từ việc thiền định ẩn dật. Trên thực tế, nó là không thể so sánh được. Đây là lý do tại sao các chùa ở các trung tâm Vipassana có các phòng thiền riêng để thiền trong cô độc. Đấng Giác ngộ đã nêu gương từ bi bằng cách dành thời gian, ngay cả giữa lịch trình bận rộn của mình, để thiền định một mình. Ngài mong muốn đảm bảo rằng các thế hệ tương lai của những vị Thầy và những người làm Giáo pháp chân thành sẽ không bị mê lầm nguy hiểm, suy nghĩ sai lầm: “Ồ, hôm nay tôi quá bận rộn với công việc Giáo pháp của mình, phục vụ người khác. Tôi không có thời gian để thiền định ”.
Trong khi có nhiều lợi lạc và hỗ trợ đạt được từ các nhóm thiền, chúng tôi đạt được sức mạnh vĩ đại và độc lập trong chính mình từ việc hành thiền đơn độc. Nó là, sự thật, không thể so sánh được. Đây là lý do bảo tháp ở các trung tâm thiền Vipassana có những căn phòng hành thiền cá nhân dành cho việc hành thiền một mình. Đức Giác Ngộ đã thiết lập một ví dụ từ bi bằng việc tìm thời gian riêng, thậm chí giữa lịch trình bận rộn của ngài, để hành thiền một mình. Ngài hy vọng để chắc rằng thế hệ tương lai của các vị thầy Dhamma chân chính và người phụng sự Dhamma sẽ không chịu nổi mà đi tới ảo tưởng, ý nghĩ sai lầm: “Ồ, ta bận rộn với công việc Dhamma hôm nay, phục vụ người khác, ta không có thời gian hành thiền.”
Sammāsambuddha, người làm Pháp từ bi, không mệt mỏi nhất trong tất cả, đã dành thời gian cho việc thực hành thiền định hàng ngày. Không có lý do gì để bỏ bê việc thực hành Vipassana hàng ngày của một người.
Sammāsambuddha, là người phụng sự Dhamma từ bi nhất, không mệt mỏi nhất của chúng ta, luôn tìm thấy thời gian hằng ngày để hành thiền. Không có lý do để nghi ngờ việc hành thiền điều đặn Vipassana mỗi ngày của họ.
The Taste of Dhamma/ Vị của Dhamma
Vào thời Đức Phật, có một nhà quý tộc giàu có tên là Jawtika. Anh sống trong một ngôi nhà nguy nga với người vợ Atupakari xinh đẹp lạ thường. Các bức tường của ngôi nhà được đính đá quý và đá quý đến mức không cần đèn để thắp sáng bên trong ngôi nhà. Tuy nhiên, với tất cả sự giàu có và những điều hấp dẫn khác, một ngày nọ, khi đang viếng thăm một tu viện và tỏ lòng thành kính với Đức Phật, anh ta từ bỏ cuộc sống của một cư sĩ và trở thành một nhà sư. Chỉ với chiếc áo cà sa đang mặc và chiếc bát để lấy thức ăn, ông đã sống cuộc sống của một nhà sư giống như các nhà sư ngày nay. Một ngày nọ, cùng với các nhà sư khác, trong khi đi theo Đức Phật đi khất thực hàng ngày, họ tình cờ đi ngang qua ngôi nhà cũ của ông.
Trong suốt thời Đức Phật, một người đàn ông giàu có đáng kính tên là Jawtika. Ông sống trong một ngôi nhà to lớn với người vợ tên Atupakari có nhan sắc khó lòng sánh kịp. Bức tường của ngôi nhà được nạm toàn ngọc và đá quý không cần đèn để chiếu sáng nội thất. Tuy nhiên tất cả sự giàu có và sự thu hút khác, một ngày trong khi viếng thăm tinh xá và mong muốn bày tỏ lòng tôn kính với Đức Phật, ông đã từ bỏ đời sống cư sĩ và trở thành tỳ kheo. Chỉ với áo choàng ông mặc và bình bát khất thực ông sống đời sống tỳ kheo giống như mọi tỳ kheo hiện nay. Một ngày kia, khi cùng các tỳ kheo khác, trong khi theo Đức Phật đi khất thực vòng quanh, điều này diễn ra khi ông đi ngang qua ngôi nhà cũ của ông.
Khi nhìn thấy ngôi nhà của Jawtika, các nhà sư trẻ nghĩ rằng anh ấy sẽ khao khát lối sống cũ của mình và nói chuyện nhẹ nhàng với nhau. Đức Phật nghe họ và khi đến tu viện hỏi họ đang nói về điều gì. Các nhà sư trẻ trả lời rằng họ đang nói về Jawtika và Đức Phật nói với họ rằng Jawtika là một vị A la hán và như vậy không có bất kỳ sự ràng buộc nào đối với lối sống cũ của anh ta hoặc những hấp dẫn của nó. Anh chỉ có hương vị của Dhamma. "Sabbe rasam Dhamma rasam jinati."
Khi thấy ngôi nhà của Jawtika người tỳ kheo trẻ nghĩ anh ta khao khát lối sống của ông ấy và nói thầm lặng với mọi người. Đức Phật nghe thấy và khi tới tinh xá ngài hỏi họ điều họ đang nói. Người tỳ kheo trẻ trả lời họ đang nói về Jawtika và Đức Phật nói với họ Jawtika là một a la hán và không còn vướng mắc gì với lối sống cũ hoặc sự thu hút của nó. Ông ta chỉ nếm vị của Dhamma. “Sabbe rasam Dhamma rasam jinati.”
Trong số tất cả các hương vị và hạnh phúc, hương vị và hạnh phúc của Dhamma là cao quý nhất, cao nhất và tốt nhất. Nó tốt hơn hàng ngàn lần so với của các vị vua, bao gồm cả các vị vua của các vị thần và bramhas . Đó là hương vị của phala sampatti . Nếu hương vị này không cao hơn nhiều so với sự hưởng thụ tài sản trước đây của anh ấy, bạn có thể yên tâm rằng Jawtika sẽ không từ bỏ chúng. Hơn thế nữa, có thể thưởng thức phala sampatti ngay cả trong cuộc đời này.
Giữa các vị và hạnh phúc, vị và hạnh phúc của Dhamma là cao quý, cao nhất và tốt nhất. Tốt hơn hàng ngàn lần của vua chúa, gồm cả vua của deva và bramas. Đó là vị của phala sampatti. Nếu vị này không thể cao hơn hay vui thích hơn sở hữu trước kia của ông, bạn có thể chắc rằng Jawtika sẽ không từ bỏ chúng. Điều gì còn nhiều hơn, có khả năng vui thú hơn phala sampatti thậm chí trong suốt cuộc đời này.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/5/2021.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment