THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.1)
Nam mô Quán Thế Âm - Nghề là nghiệp - Tỉnh.
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỐ-TÁT
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Đó là những từ đầu tiên giúp tôi biết Phật là gì. Khi nào có chuyện chi, con hãy niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát nhớ chưa. Mẹ chỉ dặn như thế. Chỉ vọn vẹn như thế mà thôi. Có lẽ bà biết vòng tay của mình không bao nổi cuộc đời con gái nên đã dạy nó một câu mà theo bà, đủ để nó làm hành trang cho cả cuộc đời.
Tôi đã tin lời mẹ rất mực. Sợ trả bài cũng Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Bệnh cũng Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Thất tình cũng Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát. Một dòng đơn giản đó là chiếc thuyền đưa tôi qua nạn trả bài, quên nỗi đau của bệnh hoạn và ngủ yên trong những dòng nước mắt.
Những ngày lênh đênh trên sóng nước, tiếng niệm Phật càng đều đặn. Tàu nổ bình nhớt lui về Rạch Sỏi. Từ mũi tàu nhảy xuống, cái thai óc ách. Anh lội ngược dòng ba ngày về tới Sài Gòn. Tôi một mình vào trại giam, huyết bắt đầu nhễ nhãi. Các chú chở vào trạm xá Rạch Sỏi giao đó.
Bà trưởng trạm là người hiền lành, không hề nhìn tôi với ánh mắt tội nhân, chỉ thương tâm sao đi thì có đôi có đũa mà về chỉ có một mình. Tôi ừ è không giải thích. Không nói rằng anh phải về cho kịp để khỏi mất số tiền cuối cùng cho tên chủ tàu. Cái vốn lúc ấy quí hơn mạng tôi rất nhiều. Có đôi có đũa thì làm gì được cho tôi lúc này? Cũng chỉ một mình mà tiền bạc thì mất sạch.
Những người đàn bà thật lớn tuổi. Vậy mà họ vẫn sinh con. Sinh rất nhiều, kham khổ càng nhiều, nhưng tấm lòng thật cao cả. Họ hỏi tôi về chuyến vượt biên, về cái thai bị ra huyết và cho tôi ăn cùng. Thay phiên nhau cho hao phí được giảm nhẹ. Cơm trắng thịt kho nuốt vô ngọt lịm. Ngọt thịt mà ngọt cả tình người. Tôi bán sợi giây chuyền cho người khá nhất, phân lại một ít cho người khổ nhất, còn lại chuẩn bị cho một cuộc hành trình.
Tôi trốn viện trong thân thể tiều tụy, áo quần rách bươi với một câu Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát. Cứ vậy mà đi, lững thững không sợ hãi. Vượt mức độ nào đó, con người không còn thấy sợ hãi nữa. Một trạng thái bão hòa. Cũng không thể bước nhanh hơn với cái thai đang óc ách không biết sổ lúc nào.
Đến bến xe Rạch Giá 10 giờ. Mọi tuyến xe đều hết. Chỉ còn một chuyến về Cần Thơ mà vé cũng không còn. Đu xe chui tôi không làm nổi. Đường Rạch Giá bấy giờ rất xấu. Có lên được chắc cũng chết dọc đường. Tôi chỉ biết niệm Phật với tâm trạng dửng dưng. Chết hay sống bây giờ không tồn tại. Có thể người ta sẽ đến đây mang tôi trở lại trạm xá. Có thể tôi sẽ chết ở đây, ngay tại chỗ này. Mọi thứ mơ hồ, dửng dưng và trống hoát.
Rồi cũng về được Cần Thơ với tấm vé mua lại của một người đàn bà. Một người đàn bà nghèo khổ với hai đứa trẻ dơ dáy. Tôi thiếp đi trong nỗi mệt mỏi rã rời, không kịp suy nghĩ vì sao lại có người đàn bà đứng đó mua vé chờ mình, về đúng tuyến Cần Thơ, mà chỉ bán cho mình với giá chính thức trong thời buổi đắt đỏ cheo leo. Không kịp nghĩ cũng không kịp thấy. Tỉnh lại, bà đã xuống xe tự bao giờ. Cũng không một lời từ biệt cám ơn như với bà trưởng trạm.
Dì đón tôi với những dòng nước mắt và một cái ôm choàng. Huyết đã hết ra. Cái thai còn đó nhưng tím ngắt. Cô y tá năn nỉ tôi bỏ. Sốc thuốc, tôi ói liên tục, ói ra mật xanh mật vàng, ói đến mờ con mắt. Ói luôn tiếng niệm Phật không thể nào hốt lại được. Nhưng cái thai thì không bỏ. Dì khóc. Tôi thều thào “Đây có chùa nào không hả dì?”. Như chợt nhận ra, dì nói “Có, có. Dì đem con xuống thầy ni uống thuốc”. Thầy thanh khiết nhỏ nhẹ như con gái. Uống thang đầu, tôi hết ói. Uống mười thang tôi nuôi con gái đến bây giờ.
Tôi đã niệm Phật mười mấy năm, vượt qua bao khổ ách, nhưng lại không thể niệm Phật khi bán hàng. Không thể nào niệm được. Dây thần kinh mắc cỡ vẫn còn loanh quanh đâu đó. Niệm Phật vào quên lãng, dành thời gian cho gấu ó, tranh giành, bực bội với lo âu.
Mẹ bệnh nặng. Tiếng niệm Phật không còn hiệu quả. Tôi đã quên ngài và ngài đã bỏ tôi? Hay đằng sau những tiếng niệm Phật, vẫn còn một thứ gì khác?
Mẹ mất...
Mẹ mất...
NGHỀ LÀ NGHIỆP

Không ai còn thấy gì khi đang cắm đầu trong guồng máy danh lợi. Nghiệp là nghề. Sư Hưng đã nói như thế với tôi. NGHỀ thì tôi hiểu nhưng NGHIỆP thì không. Không hiểu nghiệp là gì nên tôi nhớ rất rõ 3 từ đó mà không thấy được hết những gì Sư muốn nói.
Không ai hiểu hết những gì mình đang làm. Cái đáng tội nhất của con người là ở đó.
Nghề là thứ mang lại miếng cơm manh áo cho mình. Ngày này sang ngày khác mình cứ thế mà cắm đầu cắm cổ chạy vạy miếng ăn cho bản thân và gia đình. Tiền bạc là thứ quí giá, bởi nó giải quyết được mọi thứ ở cuộc đời. Có tiền sẽ có tất cả. Người ta nghĩ như thế. Chỉ khi cái chết xuất hiện nó mới hết giá trị. Vì thế ai cũng muốn có một nghề, một nghề hái ra tiền thật nhiều, bất kể những gì phát sinh từ nó.
Không ai thấy được rằng cái nghề ấy đang được in hình rất sâu trong tâm thức của mỗi người. Nó đang giúp mình hình thành một thói quen. Người ta chỉ thực sự bỏ nghề khi tuổi đã xế chiều hoặc không còn cử động chân tay được nữa. Bỏ trong điều kiện bắt buộc (không phải tự ý thức) nên tuy không còn hiện diện, nó vẫn âm ỉ đâu đó trong tiềm thức, rồi vận hành tiếp tục vào những kiếp sau.
Nghề chính là nghiệp. Nghiệp chính là thói quen. Nghề tạo cho ta những thói quen. Một nghề lương thiện tạo cho ta những thói quen lương thiện. Một nghề bất thiện tạo cho ta những thói quen bất thiện. Song cũng có những nghề lương thiện mà lại nẩy sinh những thói quen bất thiện. Cái râu ria ấy phát sinh là do tham dục của con người. Cho nên, một việc làm để nuôi thân không có gì đáng sợ. Cái đáng sợ chính là những thứ râu ria quanh nó.
Cái râu ria ấy một khi đã thành thói quen thì nó có lực dẫn mình theo nó một cách mù quáng không thể nào cưỡng được. Mỗi thói quen đều có lực của riêng nó. Mình chỉ nhận ra được cái lực ấy khi mình muốn dứt bỏ hoặc ngăn chặn nghiệp lại. Sau mấy chục năm lăn lộn khổ não ở đời, tôi mới hiểu hết những gì Sư Hưng đã nói ...
Những ngày chồng ở tù, tôi tập quen với quầy thuốc lá và chiếc xe bánh trước nhà. Người phụ nữ làm nghề mưa mốc qua đường. Chị mộc mạc dễ thương nhưng cuộc đời thật tội nghiệp. Như trả ơn cho cái mộc mạc dễ thương đó, một người đàn ông đã đến, bỏ qua những chuyện mưa mốc, giúp chị có mái nhà ấm êm vui vẻ. Bẵng đi một thời gian, tôi lại thấy chị xuất hiện với cái nghề mưa mốc ngày nào. Chị nói chị buồn, không quen nhà êm cửa ấm. Cuộc đời lang bạt quen rồi. Chị bỏ chồng trở lại đường xưa. Chị muốn được tự do. Tôi ngao ngán cho cái muốn tự do của chị. Mưa mốc đã trở thành nghiệp dĩ và người ta bị cuốn phăng trong cái nghiệp dĩ ấy của mình. Không cần biết hậu quả thế nào và ngày mai sẽ ra sao.
Buôn bán không phải là nghề của tôi. Bởi tôi không thích nó chút nào. Tôi gánh nó chỉ vì chồng ở tù và chỉ có chị mới giúp tôi có đồng ra đồng vào trong hoàn cảnh khó khăn. Tôi theo chị bắt đầu nghiệp buôn bán. Tôi buôn bán nhưng hồn để tận đâu đâu. Bà chủ sạp đuổi mấy lần, bởi “khuôn mặt hãm tài không thể nào chịu nổi”. Buôn bán không xấu nhưng những cái râu ria như thế mà nó thành xấu. Tôi càng ghét cái nghề mua bán kinh khủng. Ghét những con người đầu môi chót lưỡi tráo trở điêu ngoa. Nhưng có đồng ra đồng vào tôi cũng thấy vui vui, rồi quen dần trong vòng xoáy đó. Cũng phải tập quen như dùng cơm bữa hằng ngày. Thiếu nó, bụng mình sẽ trống rỗng.
Những ngày chồng về là những ngày tôi thoát khỏi kiếp lang thang và trở thành bà chủ hẳn hòi. Bà chủ thì không phải là kẻ lang thang. Vì bà chủ có quyền lực và tiền bạc. Trong dòng xoáy mua bán, không có nhân quả và thất bại mình không có thời giờ nhìn lại con người mình. Không biết khi nào mình mới tỉnh để nhảy khỏi cái vòng xoáy kinh hoàng đó. Mở mắt ra là đếm tiền. Không có thì giờ để hưởng thụ. Ăn không được, ngủ không yên, luôn sống trong sợ hãi nhọc nhằn, nhưng cả chồng và tôi, không ai có ý buông bỏ dù chỉ một phút. Cứ cắm đầu cắm cổ như con thiêu thân va vào bóng đèn dù tiền bạc không biết để làm gì. Không phải vì thiếu ăn mà vì không thể dừng được. Thứ lực ấy cứ dí mình vào với tiền bạc và danh vọng. Chèn ép. Tàn nhẫn. Quên mất nụ cười thỏa mãn của mình là nước mắt đau khổ của người khác. Quên mất sự chèn ép của mình là nỗi uất ức của bao người. Không ai cho mình có thời gian để suy nghĩ mình cần nhiều tiền như thế để làm gì, mình còn đủ thời gian để tranh giành không, hay nửa đường lại chết thảm như bố? Mình không có thời gian để suy nghĩ, cứ cắm đầu cắm cổ làm theo một thói quen. Một lực nào đó đang cuốn chặt lấy mình và đẩy mình bươn tới trước, bất kể tất cả, chỉ có tiền...
Chỉ khi sự trả vay của nhân quả đủ duyên, cá lớn nuốt mình như mình từng nuốt cá bé, mình mới kịp nhận ra nỗi uất ức mà người ta phải chịu dưới tay mình. Chỉ đến khi tiền mình không cánh mà bay, mình mới thấy mọi thứ ở thế gian là vô thường. Mình mới biết nghĩ đến cái chết của bố và soi rọi những hiện tượng đang diễn ra chung quanh. Không ai thoát được nhân quả. Nhân quả trả vay không hề sai lọt. Thật rùng mình! Tiền không phải là thứ mà mình có thể ôm giữ suốt đời. Nó đến mau thì có thể ra đi cũng rất mau. Nhưng những gì mình đã tạo thì vẫn còn đó. Không đè lên đầu mình thì sẽ là con mình, người thân của mình, làm sao đó để mình trả thông cái quả đau đớn kia. Một cái nhân đã gieo, đủ duyên cái quả sẽ tròn đầy, không chóng thì chầy. Nỗi vui thì qua mau nhưng nỗi buồn thì nặng trĩu. Mình cảm được nỗi vui nhưng quên mất nỗi buồn.
Mua bán thương trường không phải là nghề tôi thích, nó không phải là loại nghiệp tôi phải nối tiếp từ kiếp trước. Nhưng giẫm chân vào đó rồi, mình cũng bị nó dẫn chạy như một con thiêu thân. Nghiệp lực thật kinh hoàng. Thất bại và đau khổ là động lực đưa mình đến vinh quang và thành công, cũng là thứ giúp mình thành cương quyết và tàn nhẫn. Chính nó, cũng là thứ giúp mình dừng đi những ác nghiệp trong thương trường. Phải biết cảm ơn thất bại và đau khổ. Không có nó, không ai có thời gian để suy nghĩ về những gì mình đã làm, không làm sao dừng được phần lực nghiệp mình đã tạo.
Thương trường không xấu nhưng kết hợp với lòng tham của con người mà mọi thứ thành xấu. Một cái nhân bất thiện đủ duyên sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Cái quả bất hạnh đó chính là cái nhân trói mình vào những nỗi bất hạnh kế sau. Những người đánh cá sẽ làm gì khi sinh ra trên bãi biển mênh mông nghèo khó mà chung quanh chỉ toàn là người đánh cá? Sẽ lớn lên với một nghề đánh cá. Để rồi quay cuồng trong sóng dữ và những cơn thịnh nộ của đất trời. Cứ vậy mà in hằng vào những kiếp sau.
Không thử một lần ngẩn đầu nhìn lại. Sẽ theo dòng, mãi miết tận đâu đâu.
TỈNH...

Không biết ai đã nói với tôi về việc bố thí cúng dường. Hình như dì Hoa, cũng có thể là chị Tý. Không nhớ được. Chỉ biết những ngày hàng ế tôi mới có thì giờ nói chuyện với người này người kia và làm quen với việc bố thí cúng dường, hy vọng thay đổi được chút gì đó trong giai đoạn ế ẩm.
Tôi không có thì giờ để đi, nhưng tôi có niềm tin và những người đáng tin để gởi tiền đưa cúng.
Ngày ấy, dì hay đi cúng dường cho miệt Long Thành Bà Rịa. Dì vào các chiếu của Hòa thượng, dì đội gạo lên tận núi Thị Vải, dì đến bệnh viện ung bướu. Mọi ngóc ngách đều có mặt dì. Có niềm tin nên dì nói gì tôi làm nấy. Song niềm tin ấy không nằm ở con người dì, chỉ một phần, mà cái chính là việc đưa ra của tôi luôn có cái quả để tôi gặt lại. Gặt hơn số mình đưa rất nhiều.
Tôi hoàn toàn yên tâm. Niệm Phật từng giúp tôi thoát khổ nhưng tôi không thể niệm Phật khi làm ăn. Giây thần kinh mắc cỡ vẫn còn. Song bây giờ tôi đã có chỗ tựa. Ngày nào tôi còn bố thí cúng dường, ngày đó tôi còn sang, không đói. Niềm tin càng được củng cố sau bao thăng trầm của cuộc đời. Cho đến lúc tôi đọc được cuốn kinh Thập Thiện giảng giải của Hòa thượng Trúc Lâm thì niềm tin ở cực điểm và về đúng vị trí của nó. Không còn là những gì ngoài da mà là máu huyết và hơi thở của chính mình. Khi đang sung túc người ta thường bố thí rộng rãi, nhưng khi khó khăn người ta thường rụt tay. Càng khó khăn tôi càng gắng bố thí. Đương nhiên việc bố thí ấy không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình. Tôi đã giải quyết nghiệp lực của mình theo kiểu như thế.
Mẹ mất, mọi thứ thay đổi ít nhiều. Chị bị bắt. Công việc của tôi đình trệ. Những ngày rảnh rỗi, tôi mới có dịp lang thang đây đó để nghiệm ra lý thật của cuộc đời. Một lần lên tận núi Châu Đốc cúng bà. Về, vốn chưa lấy lại đồng nào, mất trắng hết một mớ. Tôi từ luôn bà Chúa Xứ. Song cũng nhờ chuyến đi ấy mà tôi rút ra được một điều rất lý thú về những gì Phật Tổ đã nói.
Người ta tin bà Chúa Xứ rất mực. Những người dáng dấp trông rất thời đại cũng tin bà Chúa Xứ. Họ lên xin lộc làm ăn hoặc lên vay tiền trả chậm. Trong đền có cả bảng vàng đền ơn của những người giàu có và nổi danh thời bấy giờ. Nổi danh vì vướng vào tội lường gạt và đang ở tù. Không người buôn bán nào mà không tin bà Chúa Xứ. Có thể chỉ mình tôi là không tin. Người ta nói tại tôi không tin thành bà phạt. Ngày tôi đội quả lên đó cúng, tôi đến với cả lòng thành. Không tin, ai bỏ mấy ngày đường nhọc nhằn đi cho cực. Chỉ vì cúng xong, mất toi quá nhiều thành mới không tin. Đâu có chuyện lý luận ngược như thế để giữ uy tín cho bà. Nói chính xác là giữ uy cho chàng vọng tưởng nhà mình.
Nhưng vì sao người ta tin? Phải có nguyên do. Coi vậy chứ thiên hạ lầm thì có lầm nhưng ngu thì không ai ngu.
Lầm nói đây là lầm nhân này với quả kia. Như gà mẹ ấp một rổ trứng, trong đó cho vào một hột vịt. Ấp ra, một chú vịt con đi lững thững trong đàn gà. Người có trí, biết gà mẹ chỉ có công ấp chứ không có khả năng đẻ ra vịt. Người không biết thì cho gà mẹ có tài sinh ra vịt. Lầm là lầm như thế. Không phải không có mà mình vẫn tin. Không có mà mình vẫn tin mới nói mình ngu. Đằng này thấy có kết quả nên mình mới tin. Có điều mình không thấy được xuất xứ của cái hột vịt đó là từ ngoài bỏ vào. Lầm là lầm chỗ đó. Nên nói lầm thì có lầm, mà ngu thì không ngu.
Vì có hiện tượng gà mái ấp ra vịt, nên mình mới tin gà có khả năng đẻ ra vịt. Mình tin vì mình đi cúng đi vay về mình làm ăn được, tiền vô thoải mái. Chỉ có điều mình không hiểu việc tiền vô thoải mái đó không phải do bà Chúa Xứ ban cho, mà chính là từ sự bố thí cúng dường của mình. Mình không hiểu được như thế, cứ tưởng bà Chúa Xứ cũng như đức Phật có khả năng ban phát tiền bạc hạnh phúc cho mình. Không phải. Phú quí đều từ cái nhân bố thí mà ra. Cúng cho bà một mâm trái cây cũng là một hình thức bố thí. Cho ông địa một điều thuốc lá cũng là bố thí. Đó là bố thí cho những kẻ khuất mặt. Nhưng không phải chỉ có bố thí cho bà hay cho ông địa mà mình được nhiều lộc như thế. Còn rất nhiều duyên bố thí khác trong đời, giờ đủ duyên thì sinh quả. Đó có thể là cái quả từ một sự hiếu thuận với cha mẹ, một nắm cơm cho người nghèo khổ, một chiếc áo cũ cho người qua đường, một nắm xôi cho tăng khất thực. Chỉ là một hành động nhất thời nhỏ nhoi nhưng cái quả có khi ăn một đời không hết. Vì sao? Vì mình làm trong sự thương cảm thật lòng, không hề nghĩ đến quả báo hay cầu mong. Nó lớn vì không có sự ngả giá hơn thua trong đó. Bà Chúa Xứ hay đức Phật cô đơn chẳng qua cũng như nàng gà mái ấp trứng kia. Thấy thì như có khả năng đẻ ra vịt nhưng thực là không phải. Hiện tượng thấy như thế nhưng không phải là như thế.
Chính vì thế, những tay tỷ phú của Châu âu, không tay nào biết đến bà Chúa Xứ, chỉ biết tập trung bố thí thật nhiều. Nhờ vậy chúng giàu bạc tỷ. Mình thì lạy bà sói đầu nhưng nợ thì không bao giờ trả hết. Vì lạy thì nhiều nhưng cho thì chẳng cho ai. Nợ không trả mà chỉ tính chuyện mượn cho được, còn trả hay không để đó tính sau. Cái thói ấy, không thể khá được. Vì thế khó khăn này nối tiếp khó khăn kia. 9 cái nắp mà tới 10 cái lu, xoay tới xoay lui, tiền chợ tiền cơm, 10 cái lu còn 8 cái nắp. Cứ vậy mà cạn lần. Ngồi chơ vơ với 10 cái lu không cái nào có nắp. Chẳng qua vì không biết gì về nhân quả. Không biết bố thí là nhân, giàu sang là quả. Lấy của người là nhân, nghèo khó là quả. Không biết, nên gieo cái nhân không đúng chỗ, lộn nhân lộn duyên mà thành khổ nạn với lo âu.
Cái quả phú quí đã tới thì mình làm gì cũng trúng thời, trúng vụ. Thứ mà thiên hạ sập tiệm chính là thứ khiến mình phát tài phát lộc. Mình nói xuôi nói ngược gì thiên hạ cũng ừ. Mình chèn ép bao nhiêu, thiên hạ cũng chịu. Mình có làm hàng giả hàng xấu, thiên hạ cũng bu vào mua. Bởi bán cho mình đem tiền về hắn mua được hàng. Mua hàng mình đem về, hắn bán được nhanh cho thiên hạ. Bởi cớ sự đó mà nhiều khi thiên hạ làm hàng tốt bán không được, hắn chui đầu chờ mua của mình. Thiên hạ mua cao một chút hắn cũng chê, chờ bán hàng cho mình. Cái thời tranh sáng tranh tối lúc ấy là như thế.
Cái quả phú quí tới, nên lương lẹo bao nhiêu mình cũng cứ thành công. Chính nhờ cái PHƯỚC phú quí đó, lương lẹo mới thành công. Không có cái phước ấy, lương lẹo sẽ lòi mặt địa, sẽ khiến mình ở tù. Song cái NHÂN của sự phú quí là từ việc bố thí hay cúng dường, không phải do sự lương lẹo mà có. Lương lẹo sẽ có cái quả của lương lẹo. Không chóng thì chầy, đủ duyên cái quả ấy sẽ hiện. Nhân quả chi li rất rõ ràng. Nhân bố thí hay cúng dường cho ra cái quả giàu sang. Nhân lương lẹo sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Thành đừng thắc mắc vì sao chúng lương lẹo như thế mà phú quí quanh năm. Phú quí có cái nhân của phú quí. Lương lẹo có cái quả của lương lẹo. Chẳng chạy đâu cho thoát. Thành phước tới mà không khéo, dễ gây tội lỗi vô vàn. Họa tới mà khéo một chút có khi lại thành phước.
Cái phước dễ sinh cái mầm họa hoạn như thế, lại cảm nhận sự trả vay nhân quả từ những người chung quanh và ngay chính bản thân mình, tôi cụt hứng với việc làm giàu, mất luôn phương hướng cho cuộc đời mình. Được cái này không chừng lại giẫm vào cái kia. Trả cái kia có khi còn đau khổ hơn được cái này. Trời trong xanh, mây nhè nhẹ mà không tránh được một tiếng thở dài rứt ruột. Đúng là “Khi ta thấy rõ vạn pháp trong thế giới này đều hạn cuộc và tương đối thì ta sẽ hài lòng trong mái nhà tranh đơn sơ nhất”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.11/3/2018.
Không ai còn thấy gì khi đang cắm đầu trong guồng máy danh lợi. Nghiệp là nghề. Sư Hưng đã nói như thế với tôi. NGHỀ thì tôi hiểu nhưng NGHIỆP thì không. Không hiểu nghiệp là gì nên tôi nhớ rất rõ 3 từ đó mà không thấy được hết những gì Sư muốn nói.
Không ai hiểu hết những gì mình đang làm. Cái đáng tội nhất của con người là ở đó.
Nghề là thứ mang lại miếng cơm manh áo cho mình. Ngày này sang ngày khác mình cứ thế mà cắm đầu cắm cổ chạy vạy miếng ăn cho bản thân và gia đình. Tiền bạc là thứ quí giá, bởi nó giải quyết được mọi thứ ở cuộc đời. Có tiền sẽ có tất cả. Người ta nghĩ như thế. Chỉ khi cái chết xuất hiện nó mới hết giá trị. Vì thế ai cũng muốn có một nghề, một nghề hái ra tiền thật nhiều, bất kể những gì phát sinh từ nó.
Không ai thấy được rằng cái nghề ấy đang được in hình rất sâu trong tâm thức của mỗi người. Nó đang giúp mình hình thành một thói quen. Người ta chỉ thực sự bỏ nghề khi tuổi đã xế chiều hoặc không còn cử động chân tay được nữa. Bỏ trong điều kiện bắt buộc (không phải tự ý thức) nên tuy không còn hiện diện, nó vẫn âm ỉ đâu đó trong tiềm thức, rồi vận hành tiếp tục vào những kiếp sau.
Nghề chính là nghiệp. Nghiệp chính là thói quen. Nghề tạo cho ta những thói quen. Một nghề lương thiện tạo cho ta những thói quen lương thiện. Một nghề bất thiện tạo cho ta những thói quen bất thiện. Song cũng có những nghề lương thiện mà lại nẩy sinh những thói quen bất thiện. Cái râu ria ấy phát sinh là do tham dục của con người. Cho nên, một việc làm để nuôi thân không có gì đáng sợ. Cái đáng sợ chính là những thứ râu ria quanh nó.
Cái râu ria ấy một khi đã thành thói quen thì nó có lực dẫn mình theo nó một cách mù quáng không thể nào cưỡng được. Mỗi thói quen đều có lực của riêng nó. Mình chỉ nhận ra được cái lực ấy khi mình muốn dứt bỏ hoặc ngăn chặn nghiệp lại. Sau mấy chục năm lăn lộn khổ não ở đời, tôi mới hiểu hết những gì Sư Hưng đã nói ...
Những ngày chồng ở tù, tôi tập quen với quầy thuốc lá và chiếc xe bánh trước nhà. Người phụ nữ làm nghề mưa mốc qua đường. Chị mộc mạc dễ thương nhưng cuộc đời thật tội nghiệp. Như trả ơn cho cái mộc mạc dễ thương đó, một người đàn ông đã đến, bỏ qua những chuyện mưa mốc, giúp chị có mái nhà ấm êm vui vẻ. Bẵng đi một thời gian, tôi lại thấy chị xuất hiện với cái nghề mưa mốc ngày nào. Chị nói chị buồn, không quen nhà êm cửa ấm. Cuộc đời lang bạt quen rồi. Chị bỏ chồng trở lại đường xưa. Chị muốn được tự do. Tôi ngao ngán cho cái muốn tự do của chị. Mưa mốc đã trở thành nghiệp dĩ và người ta bị cuốn phăng trong cái nghiệp dĩ ấy của mình. Không cần biết hậu quả thế nào và ngày mai sẽ ra sao.
Buôn bán không phải là nghề của tôi. Bởi tôi không thích nó chút nào. Tôi gánh nó chỉ vì chồng ở tù và chỉ có chị mới giúp tôi có đồng ra đồng vào trong hoàn cảnh khó khăn. Tôi theo chị bắt đầu nghiệp buôn bán. Tôi buôn bán nhưng hồn để tận đâu đâu. Bà chủ sạp đuổi mấy lần, bởi “khuôn mặt hãm tài không thể nào chịu nổi”. Buôn bán không xấu nhưng những cái râu ria như thế mà nó thành xấu. Tôi càng ghét cái nghề mua bán kinh khủng. Ghét những con người đầu môi chót lưỡi tráo trở điêu ngoa. Nhưng có đồng ra đồng vào tôi cũng thấy vui vui, rồi quen dần trong vòng xoáy đó. Cũng phải tập quen như dùng cơm bữa hằng ngày. Thiếu nó, bụng mình sẽ trống rỗng.
Những ngày chồng về là những ngày tôi thoát khỏi kiếp lang thang và trở thành bà chủ hẳn hòi. Bà chủ thì không phải là kẻ lang thang. Vì bà chủ có quyền lực và tiền bạc. Trong dòng xoáy mua bán, không có nhân quả và thất bại mình không có thời giờ nhìn lại con người mình. Không biết khi nào mình mới tỉnh để nhảy khỏi cái vòng xoáy kinh hoàng đó. Mở mắt ra là đếm tiền. Không có thì giờ để hưởng thụ. Ăn không được, ngủ không yên, luôn sống trong sợ hãi nhọc nhằn, nhưng cả chồng và tôi, không ai có ý buông bỏ dù chỉ một phút. Cứ cắm đầu cắm cổ như con thiêu thân va vào bóng đèn dù tiền bạc không biết để làm gì. Không phải vì thiếu ăn mà vì không thể dừng được. Thứ lực ấy cứ dí mình vào với tiền bạc và danh vọng. Chèn ép. Tàn nhẫn. Quên mất nụ cười thỏa mãn của mình là nước mắt đau khổ của người khác. Quên mất sự chèn ép của mình là nỗi uất ức của bao người. Không ai cho mình có thời gian để suy nghĩ mình cần nhiều tiền như thế để làm gì, mình còn đủ thời gian để tranh giành không, hay nửa đường lại chết thảm như bố? Mình không có thời gian để suy nghĩ, cứ cắm đầu cắm cổ làm theo một thói quen. Một lực nào đó đang cuốn chặt lấy mình và đẩy mình bươn tới trước, bất kể tất cả, chỉ có tiền...
Chỉ khi sự trả vay của nhân quả đủ duyên, cá lớn nuốt mình như mình từng nuốt cá bé, mình mới kịp nhận ra nỗi uất ức mà người ta phải chịu dưới tay mình. Chỉ đến khi tiền mình không cánh mà bay, mình mới thấy mọi thứ ở thế gian là vô thường. Mình mới biết nghĩ đến cái chết của bố và soi rọi những hiện tượng đang diễn ra chung quanh. Không ai thoát được nhân quả. Nhân quả trả vay không hề sai lọt. Thật rùng mình! Tiền không phải là thứ mà mình có thể ôm giữ suốt đời. Nó đến mau thì có thể ra đi cũng rất mau. Nhưng những gì mình đã tạo thì vẫn còn đó. Không đè lên đầu mình thì sẽ là con mình, người thân của mình, làm sao đó để mình trả thông cái quả đau đớn kia. Một cái nhân đã gieo, đủ duyên cái quả sẽ tròn đầy, không chóng thì chầy. Nỗi vui thì qua mau nhưng nỗi buồn thì nặng trĩu. Mình cảm được nỗi vui nhưng quên mất nỗi buồn.
Mua bán thương trường không phải là nghề tôi thích, nó không phải là loại nghiệp tôi phải nối tiếp từ kiếp trước. Nhưng giẫm chân vào đó rồi, mình cũng bị nó dẫn chạy như một con thiêu thân. Nghiệp lực thật kinh hoàng. Thất bại và đau khổ là động lực đưa mình đến vinh quang và thành công, cũng là thứ giúp mình thành cương quyết và tàn nhẫn. Chính nó, cũng là thứ giúp mình dừng đi những ác nghiệp trong thương trường. Phải biết cảm ơn thất bại và đau khổ. Không có nó, không ai có thời gian để suy nghĩ về những gì mình đã làm, không làm sao dừng được phần lực nghiệp mình đã tạo.
Thương trường không xấu nhưng kết hợp với lòng tham của con người mà mọi thứ thành xấu. Một cái nhân bất thiện đủ duyên sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Cái quả bất hạnh đó chính là cái nhân trói mình vào những nỗi bất hạnh kế sau. Những người đánh cá sẽ làm gì khi sinh ra trên bãi biển mênh mông nghèo khó mà chung quanh chỉ toàn là người đánh cá? Sẽ lớn lên với một nghề đánh cá. Để rồi quay cuồng trong sóng dữ và những cơn thịnh nộ của đất trời. Cứ vậy mà in hằng vào những kiếp sau.
Không thử một lần ngẩn đầu nhìn lại. Sẽ theo dòng, mãi miết tận đâu đâu.
TỈNH...
Không biết ai đã nói với tôi về việc bố thí cúng dường. Hình như dì Hoa, cũng có thể là chị Tý. Không nhớ được. Chỉ biết những ngày hàng ế tôi mới có thì giờ nói chuyện với người này người kia và làm quen với việc bố thí cúng dường, hy vọng thay đổi được chút gì đó trong giai đoạn ế ẩm.
Tôi không có thì giờ để đi, nhưng tôi có niềm tin và những người đáng tin để gởi tiền đưa cúng.
Ngày ấy, dì hay đi cúng dường cho miệt Long Thành Bà Rịa. Dì vào các chiếu của Hòa thượng, dì đội gạo lên tận núi Thị Vải, dì đến bệnh viện ung bướu. Mọi ngóc ngách đều có mặt dì. Có niềm tin nên dì nói gì tôi làm nấy. Song niềm tin ấy không nằm ở con người dì, chỉ một phần, mà cái chính là việc đưa ra của tôi luôn có cái quả để tôi gặt lại. Gặt hơn số mình đưa rất nhiều.
Tôi hoàn toàn yên tâm. Niệm Phật từng giúp tôi thoát khổ nhưng tôi không thể niệm Phật khi làm ăn. Giây thần kinh mắc cỡ vẫn còn. Song bây giờ tôi đã có chỗ tựa. Ngày nào tôi còn bố thí cúng dường, ngày đó tôi còn sang, không đói. Niềm tin càng được củng cố sau bao thăng trầm của cuộc đời. Cho đến lúc tôi đọc được cuốn kinh Thập Thiện giảng giải của Hòa thượng Trúc Lâm thì niềm tin ở cực điểm và về đúng vị trí của nó. Không còn là những gì ngoài da mà là máu huyết và hơi thở của chính mình. Khi đang sung túc người ta thường bố thí rộng rãi, nhưng khi khó khăn người ta thường rụt tay. Càng khó khăn tôi càng gắng bố thí. Đương nhiên việc bố thí ấy không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình. Tôi đã giải quyết nghiệp lực của mình theo kiểu như thế.
Mẹ mất, mọi thứ thay đổi ít nhiều. Chị bị bắt. Công việc của tôi đình trệ. Những ngày rảnh rỗi, tôi mới có dịp lang thang đây đó để nghiệm ra lý thật của cuộc đời. Một lần lên tận núi Châu Đốc cúng bà. Về, vốn chưa lấy lại đồng nào, mất trắng hết một mớ. Tôi từ luôn bà Chúa Xứ. Song cũng nhờ chuyến đi ấy mà tôi rút ra được một điều rất lý thú về những gì Phật Tổ đã nói.
Người ta tin bà Chúa Xứ rất mực. Những người dáng dấp trông rất thời đại cũng tin bà Chúa Xứ. Họ lên xin lộc làm ăn hoặc lên vay tiền trả chậm. Trong đền có cả bảng vàng đền ơn của những người giàu có và nổi danh thời bấy giờ. Nổi danh vì vướng vào tội lường gạt và đang ở tù. Không người buôn bán nào mà không tin bà Chúa Xứ. Có thể chỉ mình tôi là không tin. Người ta nói tại tôi không tin thành bà phạt. Ngày tôi đội quả lên đó cúng, tôi đến với cả lòng thành. Không tin, ai bỏ mấy ngày đường nhọc nhằn đi cho cực. Chỉ vì cúng xong, mất toi quá nhiều thành mới không tin. Đâu có chuyện lý luận ngược như thế để giữ uy tín cho bà. Nói chính xác là giữ uy cho chàng vọng tưởng nhà mình.
Nhưng vì sao người ta tin? Phải có nguyên do. Coi vậy chứ thiên hạ lầm thì có lầm nhưng ngu thì không ai ngu.
Lầm nói đây là lầm nhân này với quả kia. Như gà mẹ ấp một rổ trứng, trong đó cho vào một hột vịt. Ấp ra, một chú vịt con đi lững thững trong đàn gà. Người có trí, biết gà mẹ chỉ có công ấp chứ không có khả năng đẻ ra vịt. Người không biết thì cho gà mẹ có tài sinh ra vịt. Lầm là lầm như thế. Không phải không có mà mình vẫn tin. Không có mà mình vẫn tin mới nói mình ngu. Đằng này thấy có kết quả nên mình mới tin. Có điều mình không thấy được xuất xứ của cái hột vịt đó là từ ngoài bỏ vào. Lầm là lầm chỗ đó. Nên nói lầm thì có lầm, mà ngu thì không ngu.
Vì có hiện tượng gà mái ấp ra vịt, nên mình mới tin gà có khả năng đẻ ra vịt. Mình tin vì mình đi cúng đi vay về mình làm ăn được, tiền vô thoải mái. Chỉ có điều mình không hiểu việc tiền vô thoải mái đó không phải do bà Chúa Xứ ban cho, mà chính là từ sự bố thí cúng dường của mình. Mình không hiểu được như thế, cứ tưởng bà Chúa Xứ cũng như đức Phật có khả năng ban phát tiền bạc hạnh phúc cho mình. Không phải. Phú quí đều từ cái nhân bố thí mà ra. Cúng cho bà một mâm trái cây cũng là một hình thức bố thí. Cho ông địa một điều thuốc lá cũng là bố thí. Đó là bố thí cho những kẻ khuất mặt. Nhưng không phải chỉ có bố thí cho bà hay cho ông địa mà mình được nhiều lộc như thế. Còn rất nhiều duyên bố thí khác trong đời, giờ đủ duyên thì sinh quả. Đó có thể là cái quả từ một sự hiếu thuận với cha mẹ, một nắm cơm cho người nghèo khổ, một chiếc áo cũ cho người qua đường, một nắm xôi cho tăng khất thực. Chỉ là một hành động nhất thời nhỏ nhoi nhưng cái quả có khi ăn một đời không hết. Vì sao? Vì mình làm trong sự thương cảm thật lòng, không hề nghĩ đến quả báo hay cầu mong. Nó lớn vì không có sự ngả giá hơn thua trong đó. Bà Chúa Xứ hay đức Phật cô đơn chẳng qua cũng như nàng gà mái ấp trứng kia. Thấy thì như có khả năng đẻ ra vịt nhưng thực là không phải. Hiện tượng thấy như thế nhưng không phải là như thế.
Chính vì thế, những tay tỷ phú của Châu âu, không tay nào biết đến bà Chúa Xứ, chỉ biết tập trung bố thí thật nhiều. Nhờ vậy chúng giàu bạc tỷ. Mình thì lạy bà sói đầu nhưng nợ thì không bao giờ trả hết. Vì lạy thì nhiều nhưng cho thì chẳng cho ai. Nợ không trả mà chỉ tính chuyện mượn cho được, còn trả hay không để đó tính sau. Cái thói ấy, không thể khá được. Vì thế khó khăn này nối tiếp khó khăn kia. 9 cái nắp mà tới 10 cái lu, xoay tới xoay lui, tiền chợ tiền cơm, 10 cái lu còn 8 cái nắp. Cứ vậy mà cạn lần. Ngồi chơ vơ với 10 cái lu không cái nào có nắp. Chẳng qua vì không biết gì về nhân quả. Không biết bố thí là nhân, giàu sang là quả. Lấy của người là nhân, nghèo khó là quả. Không biết, nên gieo cái nhân không đúng chỗ, lộn nhân lộn duyên mà thành khổ nạn với lo âu.
Cái quả phú quí đã tới thì mình làm gì cũng trúng thời, trúng vụ. Thứ mà thiên hạ sập tiệm chính là thứ khiến mình phát tài phát lộc. Mình nói xuôi nói ngược gì thiên hạ cũng ừ. Mình chèn ép bao nhiêu, thiên hạ cũng chịu. Mình có làm hàng giả hàng xấu, thiên hạ cũng bu vào mua. Bởi bán cho mình đem tiền về hắn mua được hàng. Mua hàng mình đem về, hắn bán được nhanh cho thiên hạ. Bởi cớ sự đó mà nhiều khi thiên hạ làm hàng tốt bán không được, hắn chui đầu chờ mua của mình. Thiên hạ mua cao một chút hắn cũng chê, chờ bán hàng cho mình. Cái thời tranh sáng tranh tối lúc ấy là như thế.
Cái quả phú quí tới, nên lương lẹo bao nhiêu mình cũng cứ thành công. Chính nhờ cái PHƯỚC phú quí đó, lương lẹo mới thành công. Không có cái phước ấy, lương lẹo sẽ lòi mặt địa, sẽ khiến mình ở tù. Song cái NHÂN của sự phú quí là từ việc bố thí hay cúng dường, không phải do sự lương lẹo mà có. Lương lẹo sẽ có cái quả của lương lẹo. Không chóng thì chầy, đủ duyên cái quả ấy sẽ hiện. Nhân quả chi li rất rõ ràng. Nhân bố thí hay cúng dường cho ra cái quả giàu sang. Nhân lương lẹo sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Thành đừng thắc mắc vì sao chúng lương lẹo như thế mà phú quí quanh năm. Phú quí có cái nhân của phú quí. Lương lẹo có cái quả của lương lẹo. Chẳng chạy đâu cho thoát. Thành phước tới mà không khéo, dễ gây tội lỗi vô vàn. Họa tới mà khéo một chút có khi lại thành phước.
Cái phước dễ sinh cái mầm họa hoạn như thế, lại cảm nhận sự trả vay nhân quả từ những người chung quanh và ngay chính bản thân mình, tôi cụt hứng với việc làm giàu, mất luôn phương hướng cho cuộc đời mình. Được cái này không chừng lại giẫm vào cái kia. Trả cái kia có khi còn đau khổ hơn được cái này. Trời trong xanh, mây nhè nhẹ mà không tránh được một tiếng thở dài rứt ruột. Đúng là “Khi ta thấy rõ vạn pháp trong thế giới này đều hạn cuộc và tương đối thì ta sẽ hài lòng trong mái nhà tranh đơn sơ nhất”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.11/3/2018.
No comments:
Post a Comment