Wednesday, March 7, 2018

QUÁN NIẾT-BÀN (Phẩm 25)



Quán NIẾT BÀN
Phẩm thứ 25


Hỏi
:
Nếu tất cả pháp không
Tức không sanh không diệt
Đoạn gì diệt những gì
Mà gọi là niết-bàn (1)
Nếu nói các pháp là không, tức không có sanh không có diệt, thì đoạn cái gì, diệt cái gì mà có niết-bàn?
Đáp
:
Nếu các pháp bất không
Thì không sanh không diệt
Đoạn gì diệt những gì
Mà gọi là niết-bàn (2)
Không chịu các pháp không thì các pháp bất không ư? Nếu các pháp bất không tức có tự tánh, thì pháp cũng không sanh không diệt được, cái gì có thể đoạn, cái gì có thể diệt mà có niết bàn?
Nên biết:
Không đắc cũng không đến
Không đoạn cũng không thường
Không sanh cũng không diệt
Ấy gọi là niết-bàn (3)
Niết-bàn không được, cũng không đến. Nếu niết bàn là pháp có thể được, có thể đến, tức niết bàn có hình, có chốn. Nếu có hình có chốn thì không thể tránh khỏi bị vô thường chi phối. Bị vô thường chi phối thì sao gọi là niết-bàn? Nếu niết-bàn là vô thường, thì tất cả pháp vô thường cũng có thể là niết bàn.
Niết-bàn không bị vô thường chi phối thì không thể đoạn. Tuy không đoạn nhưng cũng không thường. Nếu niết-bàn thường thì làm sao dùng phương tiện tu hành để có niết-bàn được? Và nếu niết-bàn thường thì sao hiện tại lại có khổ.
Lại nữa, không đoạn không thường nên không sanh cũng không diệt. Vì có sanh thì phải có diệt, có diệt thì bị lỗi là đoạn. Nếu có sanh mà không diệt thì niết-bàn rơi vào thường, thường thì không thể tu để có niết-bàn.
Nên biết, niết-bàn không sanh cũng không diệt, không đoạn cũng không thường, không đắc cũng không đến.

Hỏi
: Như vậy là có niết bàn?
Đáp:
Niết-bàn không gọi có
Có tức tướng lão tử
Không hề có pháp có
Lìa tướng lão tử ra (4)
Nếu niết-bàn được khẳng định là có, thì niết bàn là pháp được xác định (có tướng), tức không thể thoát khỏi luật vô thường biến đổi hoại diệt của thế gian là lão và tử.
Nếu niết-bàn là có
Niết-bàn tức hữu vi
Không hề có pháp nào
Mà gọi là vô vi (5)
Lại nữa, nếu niết-bàn là có tức niết-bàn là pháp hữu vi, nếu niết bàn cũng là hữu vi thì cái gì gọi là vô vi?
Nếu niết-bàn là có
Làm sao gọi không thọ
Không có chẳng từ thọ
Mà gọi là pháp có (6)
Lại nữa, nếu niết-bàn là có, thì không thể gọi là vô thọ được. Vô thọ nghĩa là không nắm giữ, không chấp trước, không lãnh thọ. Khi đã cho là có (thực) tức đã chấp trước, đã qui kết tướng của pháp bằng kiến chấp của mình.

Hỏi
: Vậy niết-bàn là không ư?
Đáp:
Có còn chẳng niết-bàn
Hà huống là không ư
Niết bàn không có có
Chỗ nào mà có không (7)
Có và Không chỉ nương nhau mà lập, đã nói ở phẩm “phá hữu vô”. Niết bàn còn không có  huống nữa là có Không.
Trong kinh Lăng-già, Đức Phật nói: “Hoặc có ngoại đạo ấm-giới-nhập diệt. Cảnh giới lìa dục, thấy pháp vô thường, các loại tâm tâm sở chẳng sanh, chẳng nghĩ cảnh giới quá khứ, hiện tại, vị lai, các thọ ấm hết, như ngọn đèn tắt, như hạt giống hư, vọng tưởng chấp sanh, nơi những cái này khởi tưởng niết-bàn”. Mới thấy mọi thứ đã không mà thủ tướng không này cho là niết-bàn còn bị chê là ngoại đạo, như hạt giống hư. Huống nữa là trên pháp mà thấy có thấy không.
Lại nữa:
Nếu không là niết-bàn
Làm sao gọi chẳng thọ
Chưa từng có chẳng thọ
Mà gọi là pháp không (8)
Nếu khẳng định niết-bàn là không thì cũng không được. Nếu khẳng định niết-bàn là không, thì niết-bàn cũng là pháp bị qui kết, chấp trước, không qui kết sao biết nó không. Lại nữa, nếu không hề có niết bàn làm sao ta cảm nhận được nó và tu để làm gì?
Cho nên, khẳng định có niết-bàn hay không niết-bàn đều không thể được.

Hỏi
:
Vì thọ các nhân duyên
Luân chuyển trong sanh tử
Không thọ các nhân duyên
Ấy gọi là niết bàn (9)
Trong kinh Phật nói do thọ các nhân duyên mà sanh phiền não, tạo nghiệp, nên lưu chuyển sanh tử trong tam giới khổ đau. Không thọ các nhân duyên nữa thì không lưu chuyển sanh tử tức niết-bàn – Như các vị A-la-hán, do nhập Diệt thọ tưởng định, không thọ các nhân duyên nữa, nên thoát ly sanh tử được niết-bàn. Đúng không?
Đáp:
Như trong kinh Phật dạy
Đoạn hữu đoạn phi hữu
Thế nên biết niết-bàn
Chẳng có cũng chẳng không (10)
Không thọ các nhân duyên chính là niết-bàn. Nhưng nếu thấy có niết-bàn để vào thì đã thủ niết-bàn, cũng xem như thọ nhân duyên. Trong kinh Phật nói đoạn cả hữu (tam giới) mà cả không hữu nữa mới gọi là niết-bàn, tức tam giới hay không tam giới đều lìa mới là niết-bàn. Còn thấy có tam giới, sanh tử để ly, niết-bàn để vào, thì ắt chỉ là niết-bàn giả lập. Như định của Phật không nhập không xuất mới gọi là đại định, là thường định.
Vì vậy phải biết, niết bàn phải lìa cả hữu cả phi hữu, tức lìa cả có cả không. Không phải lìa tam giới mà riêng có niết-bàn được. Chỉ cần ngay sanh tử mà không thọ các nhân duyên, cũng không thấy có niết-bàn để thọ, thì sanh tử tức niết-bàn, thế gian tức giải thoát.

Hỏi
: Vậy niết bàn là “vừa  vừa không” hiệp lại?
Đáp:        
Nói sự thể có không
Hiệp lại thành niết-bàn
Có không tức giải thoát
Điều ấy thì không đúng (11)

Nếu nói có và không
Hiệp là thành niết-bàn
Niết-bàn chẳng không thọ
Hai ấy từ thọ sanh (12)

Có không chung hiệp thành
Làm sao gọi niết-bàn
Niết-bàn gọi vô vi
Có không là hữu vi (13)

Sự kiện có không hiệp
Làm sao là niết-bàn
Cả hai không cùng chỗ
Như sáng tối không đồng (14)
Nếu nói niết-bàn do  và không hợp lại thì không đúng vì nhiều lý do:
- Niết bàn là giải thoát, nếu vậy có và không là giải thoát? Nếu có và không là giải thoát thì các pháp thuộc có không đều giải thoát? Cần gì phải tu! (11)
Có và không đếu từ sự chấp thủ mà có, thì  hợp với không cũng phải từ sự chấp thủ mà có (chẳng không thọ), từ thọ mà có thì không thể gọi là niết-bàn. (12)
Có và không là hữu vi thì  hợp với không cũng là hữu vi, niết bàn là vô vi sao lại lấy pháp hữu vi làm đại diện! (13)
- Cuối cùng là không thể có pháp nào do có và không hợp thành, vì có và không tánh trái nhau như sáng và tối, sanh và tử… không bao giờ có thể ở cùng một chỗ được. (14)

Hỏi
: Vô vi là nhân hữu vi mà lập, nói niết-bàn phải lìa hai bên. Tại sao trước sau vẫn nói niết-bàn là vô vi.
Đáp: Do phá có nên nói không. Nhưng không nên chấp không! Nếu chấp vô vi, thì lại phá tiếp vô vi.

Hỏi
: Vậy “chẳng có chẳng không” thì sao?
Đáp:
Nếu chẳng có chẳng không
Gọi đó là niết-bàn
Chẳng có chẳng không này
Do đâu mà phân biệt (15)

Phân biệt chẳng có không
Như thế là niết-bàn
Nếu có không mà thành
Chẳng có chẳng không thành (16)
Chẳng có và chẳng không được lập thành là do có và không. Nếu có, không đã không tồn tại được thì chẳng có chẳng không không thể thành.
Vì vậy:
Như Lai sau diệt độ
Không nói có cùng không
Cũng không nói có không
Chẳng có và chẳng không (17)

Như Lai đang hiện tại
Không nói có cùng không
Cũng không nói có không
Chẳng có và chẳng không (18)
Vì vậy, Như Lai trước sau không hề nói có, không, vừa có vừa không, chẳng có chẳng không.

Hỏi
: Đức Phật khi còn tại thế, có lúc nói không ngã, có lúc nói có ngã v.v... Sau khi diệt độ, còn có cả kinh kệ, sao lại nói Như Lai không hề nói có, không...?
Đáp: Trong kinh Lăng-già, Đức Phật nói: “Chư Phật chúng ta và các vị Bồ-tát chẳng nói một chữ chẳng đáp một chữ. Vì cớ sao? Vì pháp lìa văn tự, chẳng phải không nói nghĩa lợi ích. Ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh. Đại Huệ! Nếu chẳng nói tất cả pháp thì giáo pháp ắt hoại. Giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Duyên Giác, Thanh văn... Đại Bồ-tát chớ kẹt ngôn thuyết, tùy nghi phương tiện nói pháp, vì hư vọng phiền não chúng sanh... mà nói pháp, khiến lìa tâm, ý, ý thức, chẳng phải vì được chỗ tự giác thánh trí... Các vị đại Bồ-tát y nơi nghĩa chẳng y văn tự. Nếu người thiện nam, thiện nữ y văn tự là tự hoại Đệ nhất nghĩa.”
Đức Phật có nói pháp cũng chỉ là phương tiện để phá các chấp thủ không đúng của chúng sanh, không phải ôm giữ các khái niệm, danh từ, ngôn thuyết này, để làm đại diện cho thực tướng của các pháp như chúng ta. Chúng sanh chấp có, lấy không để phá. Chúng sanh chấp không, lấy có mà phá... cốt để chúng sanh thoát được các chấp trước, hầu nhận ra chỗ không ngôn thuyết chỉ do tự tu, tự ngộ mà được, đó là niết-bàn.

Hỏi
: Niết-bàn nói có không được, nói không không được. Các phạm trù có, không, cả có không... cũng không thuộc niết-bàn, vậy niết-bàn là gì? Làm sao biết niết-bàn?
Đáp:
Thế gian cùng niết-bàn
Không có tí phân biệt
Niết-bàn cùng thế gian
Cũng không tí phân biệt (19)

Thực tế của niết-bàn
Và thực tế thế gian
Như thế hai thực tế
Không hào ly sai biệt (20)
Thế gian cùng niết-bàn không khác. Không có thế gian để thoát ra, và có niết- bàn để bước vào. Khác hay không chính là do những cái nhìn về pháp có khác mà thôi. Các cái nhìn có khác chính là do các kiến chấp của mỗi người. Các kiến chấp này chỉ nằm trong các phạm trù có, không, vừa có vừa không, chẳng có chẳng không v.v... Như người thì cho thân tâm thế giới này là có thật, tức rơi vào có. Kẻ thì nói con người sau khi chết chẳng còn gì tức rơi vào không. Hay cho con người thật có nhưng chết rồi thì chẳng còn gì, thì rơi vào vừa có vừa không... Từ các kiến chấp này mà có các ngôn thuyết tranh luận, có tham đắm, có sân hận, có hành động tạo tác phù hợp với cái thấy của mình, để đạt được niết-bàn mà mình tự khởi tưởng, mới sanh 3 cõi, 6 đường. Giải thoát sanh tử, giải thoát thế gian chính là giải thoát các kiến chấp của mình để nhận chân được thực tướng của thế gian của sanh tử.Nào phải sanh tử và niết bàn có khác, mà tu để từ cõi giới này sang cõi giới khác.
Lấy một ví dụ đơn giản về thời tiết chẳng hạn. Người cho rằng trời phải lạnh mới là “tuyệt”, gặp lúc trời nóng nên sinh bực bội... hết ! Người cho là trời nóng mới lý tưởng, thì khi trời lạnh, chắc chắn ít nhiều gì cũng phiền hà. Kẻ biết nóng lạnh là qui luật của cuộc sống, do có lạnh mới thấy có nóng, hai cái đắp đổi tương đối mà nên, dính bận gì đến mình mà quan tâm. Trời lạnh thì cũng vậy, lúc nóng cũng không sao, bình thản mà sống. Vì không lệ thuộc vào bất cứ kiến chấp nào, nên cảnh nào tâm cũng yên ổn, cũng thoải mái... không cần tìm niết-bàn, niết bàn vẫn sờ sờ ra đó!
Vậy mới biết thế gian và niết-bàn đâu tại chỗ nơi, mà chính là do tâm không kiến chấp, nên không hí luận. Vì vậy Đức Phật nói: “Như ta nói niết-bàn là, khéo giác biết tự tâm hiện lượng, chẳng đắm trước ngoại  tánh, lìa tứ cú, thấy chỗ như thật, chẳng kẹt tự tâm hiện vọng tưởng hai bên, năng nhiếp sở nhiếp không thật có, tất cả độ lượng không thấy được thành, ngu nơi chân thật không nên chấp nhận, buông bỏ kia rồi được tự giác thánh pháp, biết hai vô ngã, lìa hai phiền não, trừ sạch hai chướng, hằng lìa hai cái tử, tiến lên mỗi địa, đến Như Lai địa các tam muội sâu như bóng huyễn... lìa tâm, ý, ý thức, gọi là niết bàn... Phải chóng xa lìa tất cả kiến chấp niết-bàn của ngoại đạo”.
Thực tánh niết-bàn và sanh tử không hai. Tánh chúng là không, nên mới tùy các kiến chấp của chúng sanh mà có niết-bàn có thế gian, có sanh tử có giải thoát... Nhưng niết-bàn và thế gian không phải là một. Nếu chúng là một, ắt phàm phu chúng ta không cần tu, không cần đoạn tập, diệt, khổ, không cần thiền định. Ắt không có 2 tên là thế gian và niết-bàn. Và chính sự phân biệt giữa thế gian và niết-bàn cũng làm chúng ta xa rời thực tướng của thế gian và niết-bàn. Chỉ khi nào nhận chân và thâm nhập được thực tướng của niết-bàn và thế gian, thì lúc đó thế gian với niết-bàn “không hào ly sai biệt”. “Niết-bàn” này lìa tất cả có không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không... nói chung là lìa tất cả mọi chấp trước phân biệt, là chỗ dựa của hí luận!
Như do một lý do nào đó, chúng ta bắt gặp mình đang ở một nơi tăm tối mù mịt, không nhận ra được bất cứ cái gì, ngay cả bàn tay trước mặt. Nỗi ao ước về được nhà, bỗng trỗi dậy. Nhưng làm sao? Bỗng một ánh sáng chớp lên và ta nhận ra rằng: mình đang ngồi trong chính căn nhà của mình, không đâu xa để cần phải về. Vấn đề bây giờ không phải là đi về đâu để thấy là về nhà, mà chính là làm sao giữ được ánh sáng kia lâu dài và sáng khắp nơi để nhìn rõ tất cả đúng là nhà mình, “không còn nghi”, không còn phải quờ quạng hay sợ hải...
Căn nhà chính là niết-bàn, ánh sáng chính là trí tuệ. Muốn có trí tuệ phải buông bỏ các kiến chấp phân biệt, là đầu mối của hí luận, phiền não... “Sai biệt đã hiện, thì vô sai biệt càng ẩn”. Đức Phật đã chẳng dạy một chữ “buông” đó sao!!!
Sau diệt có và không...
Hữu biên, thường v.v...
Các kiến y niết-bàn
Đời quá khứ vị lai (21)
Có, không, hữu biên, vô biên v.v... là các kiến chấp của người đời từ xưa đến nay. Trong Kinh Năm Bathuộc Trung bộ kinh tập 3, Đức Phật nói rộng về các kiến chấp của một số Bà-la-môn, Sa-môn... : Các kiến y cứ vị lai là nói con người sau khi chết gồm 44 kiến chấp. Các kiến y cứ vào đời quá khứ gồm 18 kiến chấp. Đối với niết-bàn, cũng khởi chấp như vậy. Ở đây trích một phần các kiến chấp từ thời Đức Phật còn tại thế (kinh Thủ Lăng Nghiêm) và sau khi ngài diệt độ, để chúng ta hiểu rõ hơn từ đâu lại có các kiến chấp này, và thế nào gọi là chấp hữu biên, chấp vô biên, chấp thường chấp đoạn v.v...
. Chấp thường, vô thường, vừa thường vừa vô thường...
- Do vượt qua thọ, tưởng, thấy sanh diệt của hành ấm không dứt, khởi tưởng hành ấm thường, tức cho ta và thế gian tất cả đều thường, chỉ có ẩn, hiển mà thấy có sai khác.
- Chấp sanh diệt của hành ấm là thường, còn sắc, thọ, tưởng ấm, nay đã diệt hết, thì gọi là vô thường. Tức một phần thường một phần vô thường.
- Một số tu tập biết được 2 muôn kiếp, hay 8 muôn kiếp thấy chúng sanh có sự sanh diệt xoay vần nhưng không tan mất, mà cho chúng sanh là thường còn.
- Tu tập biết được 4 muôn kiếp, xét cùng tột tứ đại thấy tứ đại là thường còn.
- Chấp ta cùng khắp cả mười phương là thường, còn chúng sanh thì vô thường.
- Chấp các pháp  phá hoại được là vô thường, các pháp không phá hoại được là thường. Như cõi tam thiền trở xuống là vô thường, tứ thiền trở lên tam tai không phá hoại được gọi là thường.
- Ngang đến thức ấm, rồi chấp có tánh thường trụ sanh ra thân, còn tất cả sự sống chết do tánh sanh ra gọi là vô thường.
- Khi qua được hành ấm đến mờ mé thức ấm, lại cho đây là thể chơn thường không sanh diệt, rồi cho thân tâm thế giới mười phương hư không đều từ đó sanh ra, và nhận là niết-bàn rồi an trụ.
. Chấp hữu biên, vô biên:
- Do khi đến được hành ấm, thấy lưu chuyển không dừng rồi chấp tâm tương tục này là vô biên. Rồi cho quá khứ và vị lai là hữu biên.
- Thấy từ 8 muôn kiếp trở lại thì có chúng sanh nên gọi là hữu biên, còn trở về trước mờ mờ mịt mịt thênh thang không bờ bến thì gọ là vô biên.
- Khi đến được hành ấm, xét cùng muốn khiến nó không, nhưng nó vẫn sanh diệt bèn cho rằng trong mỗi thân chúng sanh và thế giới nửa hữu biên nửa vô biên.
. Chấp có, không:
- Chấp rằng có một cái tôi, những cái của tôi và thế giới chung quanh là thực sự hiện hữu.
- Chấp niết-bàn, nhân quả, tất cả đều không, đoạn diệt: Do lúc đầu chưa đốn ngộ được tự tâm, chỉ nương theo thiền, chìm sâu trong định, phá trừ được các ấm, nay hành ấm sắp hết nhưng chơn thức lại chưa hiện tiền, nên mờ mịt rồi cho niết-bàn nhân quả chỉ có danh tự suông, rốt ráo đều đoạn diệt.
- Khi vào định thấy 3 ấm trước, trước có này đã không, hành ấm hiện vẫn còn thấy nhưng sau ắt cũng vậy. Rồi cho rằng bốn ấm chẳng phải có chẳng phải không.
- Chấp các cõi sắc giới, các cõi sơ thiền... là niết-bàn vô vi.
Đức Phật nói: “ Mỗi thứ niết-bàn của ngoại đạo kia là họ tự luận. Trí huệ quán sát trọn không chỗ lập. Như vọng tưởng kia, tâm ý đi lại trôi giạt xao động. Tất cả không có được niết-bàn”.
Tất cả đều do không thấy được tận cùng, không thấu suốt được chân tướng của các pháp. Thấy thì không lỗi nhưng thủ chứng các thứ đó, rồi cho cái thấy hạn hẹp của mình là cứu cánh thì không còn thấu suốt được gì nữa, lại rơi vào ấm ma. Do các cái thấy (kiến) khác nhau mà có các chấp khác nhau. Giống như người mù sờ voi, cho từng phần của voi chính là voi, tệ hại hơn là sờ thứ khác mà cho là voi. Điều này rất sai lầm và tai hại.
Lấy một ví dụ để thấy rõ sự tai hại khi ta ôm giữ các kiến chấp của mình.
* Người đời nay hay chấp có Thượng đế thường hằng, cứu rỗi mọi linh hồn. Dưới mắt một số người, Đức Phật của chúng ta cũng không ngoại lệ. Rồi thích gì làm nấy, đã có cõi giới an bình chờ đón, chỉ cần xưng tội thì chết lên liền thiên đàng, an trụ niết-bàn. Với cái thấy như vậy, khuyên chúng ta giữ cho được 5 giới còn khó, huống là tu giải thoát “Ăn chay xót ruột, cạo đầu rát da”.
* Như tu thiền định, khi vượt được qua hành ấm, nhận chỗ trong lặng của thức ấm “tâm như đài gương sáng” cho là cứu cánh, chấp cho là niết-bàn, không cần tu nữa. Rồi “mỗi bước đều là chân như, vung tay múa chân”, trên không Thầy, dưới chỉ toàn là người đáng cứu độ... tập khí không trừ, lại nuôi lớn tà kiến. Tệ hại hơn nữa là nhận các cảnh giới năng – sở rõ ràng, mà cho là “kiến tánh” bằng Lục Tổ, “mở miệng ra là Bát nhã lưu xuất”, trên Tổ dưới ta, ngoài ra không còn ai để học hỏi.
Biết đâu rằng “Kiến tánh còn phải khởi tu”, “Đốn ngộ đồng chư Phật, đa sanh tập khí thâm”. Ngài Hàm Thị nói: “Chứng được quả vô học của hàng Nhị thừa, mà vô minh trụ địa chưa từng bị tổn hại, vẫn chẳng gọi là được chánh tri kiến vậy”.
Với những cái thấy như vậy, vừa không nhận ra được chỗ tột cùng cần nhận, mà còn ngăn bước tiến của mình, có lúc còn đọa đường dữ như ngài Thiện Tinh, do tu được tứ thiền mà cho là chứng đắc tứ quả, ỷ vào đó mà ngừng lại. Khi sắp mạng chung, thấy tướng trung ấm của tứ thiền hiện đến, sanh tà kiến cho là không có niết-bàn, cho Phật nói dối. Sanh ác tà kiến như vậy nên mất trung ấm của tứ thiền, thấy trung ấm của địa ngục A-tỳ, khi chết cảm vào địa ngục A-tỳ (Đại Trí Độ luận).
Vì vậy phải diệt các kiến chấp có, không, vô biên, hữu biên... thì mới có thể thâm nhập được thực tướng các pháp và đó là niết-bàn.
Nên biết:
Vì tất cả pháp không
Đâu hữu biên vô biên
Vừa biên vừa vô biên
Chẳng hữu chẳng vô biên (22)

Đâu là một là khác
Sao có thường vô thường
Vừa thường vừa vô thường
Phi thường phi vô thường (23)
Do các cái thấy chưa tới nơi, chưa rốt ráo mà có các chấp trên. Thực tướng của tất cả pháp là “không”, các pháp không tự tánh nên không. Chỉ tùy duyên mà triển chuyển. Các pháp vốn không, nên không có hữu biên, vô biên v.v...
Do các pháp không, nên không thể dung chứa bất cứ một kiến chấp nào. Bất cứ một kiến chấp nào cũng làm lệch đi thực tướng các pháp.
Khi các pháp đã không thì không có ranh giới cũng không thể nói không ranh giới. Hai thứ đã không thì các thứ còn lại được lập trên các tiền đề đó cũng không thể có.
Khi các pháp do nhân duyên sanh, tức không một không khác, thì không thể đoạn cũng không thể thường. Nếu là đoạn thì không làm nhân sanh ra pháp khác được, không thể có luân hồi, nhân quả, quả nhân. Nếu là thường thì pháp nào cũng phải tự có, độc lập. Tức phá hoại nhân duyên của thế gian, phá hoại sự biến đổi phong phú của các pháp ở thế gian. Thường và vô thường không lập thành, thì phi thường phi vô thường cũng không, vừa thường vừa vô thường cũng không.      
Các pháp không thể được
Diệt tất cả hí luận
Không người cũng không xứ
Phật cũng không tuyên thuyết (24)
Nên biết tất cả pháp đều bất khả đắc. Vì vậy không thể đắm trước, không thể khởi tri kiến trên các pháp. Không tri kiến, không đắm trước, thì cảnh ở vị trí cảnh, tâm ở vị trí tâm, có cũng như không, không người không ta, không nơi không chốn, một cõi thênh thang... đi về! Và Phật cũng không tuyên thuyết.
Tột trước cùng sau, cứu cánh trở về niệm hiện tiền”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.

No comments:

Post a Comment