Wednesday, March 7, 2018

PHÁ TỨ ĐẾ (Phẩm 24)

PHÁ TỨ ĐẾ (Phẩm 24)



Phá TỨ ĐẾ
Phẩm thứ 24

Hỏi:
Nếu tất cả đều không
Không sanh cũng không diệt
Như vậy ắt không có
Pháp Tứ thánh đế ấy (1)

Do không có Tứ đế
Thấy khổ cùng đoạn tập
Chứng diệt và tu đạo
Các việc ấy đều không (2)

Do việc ấy không có
Thì không có tứ quả
Vì không có tứ quả
Đắc hướng cũng lại không (3)

Nếu không tám Hiền Thánh
Ắt không có Tăng bảo
Vì không có Tứ đế
Cũng không có Pháp bảo (4)

Do không Pháp Tăng bảo
Cũng không có Phật bảo
Nói pháp không như vậy
Ấy là phá Tam bảo (5)

Pháp không hoại nhân quả
Cũng hoại luôn tội phước
Cũng lại hủy hoại luôn
Tất cả pháp thế tục (6)
Nếu ông cho rằng: Tất cả pháp đêu không, không sanh cũng không diệt, thì không vô thường nên không có khổ. Không khổ nên không có pháp Tứ đế. Nếu không pháp Tứ thánh đế, thì việc thấy khổ, đoạn tập, tu đạo và chứng diệt cũng không. Vì Tứ Thánh đế không nên 4 quả sa môn không. Do đó việc hướng đến 4 quả, đắc 4 quả cũng không. Lại nữa, do 4 quả không nên tám thánh cũng không.
- Tứ thánh đế không, nên không Pháp bảo
- Tám thánh không, nên không Tăng bảo
- Pháp bảo không, Tăng bảo không, nên không Phật bảo
Như vậy nghĩa “không” của Ông phá Tam bảo, phá nhân quả, phá tội phúc và phá hoại tất cả pháp thế gian.
Đáp:
Nay ông thật không thể
Biết Không, nhân duyên Không
Và luôn cả nghĩa Không
Thế nên tự sanh não (7)
Ông nói như vậy, là do không hiểu được nhân duyên “không” và nghĩa “không” mà tôi nói, thành tự sanh phiền não mất lòng tin.
Chư Phật y nhị đế
Vì chúng sanh thuyết pháp
Một, là thế tục đế
Hai, Đệ nhất nghĩa đế (8)
Phàm có phân biệt, đều là thế đế, cho đến 3 thừa, 12 bộ, chứng hướng v.v... đều là thế đế. Nếu lìa phân biệt ngôn thuyết, tức Đệ nhất nghĩa đế, liền đó thấu suốt, thì ba thừa, 12 bộ... đều là Đệ nhất nghĩa đế.”
Chư Phật tùy căn cơ và tánh dục của chúng sanh mà nói pháp. Do vì chúng sanh không thể nào một bước nhảy vào trí tuệ đức tướng Như Lai, vì vậy phải lập bày nhiều phương tiện để dẫn dắt.
Đệ nhất nghĩa đế không thể dùng ngôn thuyết, lời nói để hiển bày, nhưng phải nhờ ngôn thuyết để dẫn dắt. Có phương tiện, có ngôn thuyết, hiểu, tu tập... mới thâm nhập được Đệ nhất nghĩa đế.
Nếu người không thể biết
Phân biệt hai đế này
Với Phật pháp thậm thâm
Không biết nghĩa chân thật (9)
Người xưa nói: “Chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp”. Tức lý và sự phải viên dung.
Nếu không biết tường tận rõ ràng đâu là lý đâu là sự, đâu là Đệ nhất nghĩa đế... đâu là tục đế, thì đối với chỗ thậm thâm của Phật pháp, khó mà có phần.
Nếu chẳng y tục đế
Chẳng được Đệ nhất nghĩa
Chẳng được Đệ nhất nghĩa
Thì chẳng được niết-bàn (10)
Đức Phật nói: “ngôn thuyết, vọng tưởng không hiển bày được Đệ nhất nghĩa...”, nhưng “do ngôn thuyết được vào”. (Lăng-già tâm ấn)
Phải nhờ lời nói, kinh kệ, tu tập, thiền định... gạn lọc phiền não, sau mới thâm nhập được Đệ nhất nghĩa. Nếu không tu tập mà thâm nhập được Đệ nhất nghĩa, ắt chúng sanh không phải luân hồi trong 3 cõi, 6 đường.
Nếu không được Đệ nhất nghĩa, cũng không có niết-bàn. “Phật tánh là nhân. Niết-bàn là quả...”. (Kinh Đại bát niết-bàn)
Không thể chánh quán không
Độn căn ắt tự hại
Như không khéo chú thuật
Không khéo bắt rắn độc (11)
Trong kinh nói: “Chân đế để rõ phi hữu, tục đế để rõ phi vô. Chân tục không hai tức Thánh đế đệ nhất nghĩa”.
Nếu không đủ trí tuệ để thấu hiểu được chỗ huyền diệu của giáo pháp, hiểu “lý không” như chữ “không” đối với “có” của thế gian, tức không y ngữ mà nhận nghĩa, lại y ngữ chấp trước ngữ, thì có khác gì như kẻ luyện chú thuật không thông thạo, để chính chú thuật của mình hại lại mình. Hay như kẻ bắt rắn không khéo lại bị rắn cắn.
Trong kinh Lăng-già, Đức Phật nói: “Ta nói thà chấp nhân kiến bằng núi Tu-di, chẳng khởi chấp không, thành tăng thượng mạn không”.
Ngài Hàm Thị bàn rằng: “Thà chấp có – cho nhân quả và tội phúc là có thật – mà mắc kẹt ở trời người, còn hơn chấp không mà phá hoại nhân quả, lừa dối Chánh pháp lưu độc vô cùng”.
Ngài Huyền Giác cũng nói: “Đắm ngoan không, phá nhân quả/ Bừa bãi rối ren càng thêm họa/ Bỏ có níu không bệnh vẫn nguyên/ Khác nào trốn nước sa vào lửa”.
Vì vậy:
Thế Tôn biết pháp ấy
Tướng thậm thâm vi diệu
Không độn căn mới đạt
Vì thế chẳng muốn nói (12)
Thực tướng các pháp lìa ngôn ngữ, chỉ là chỗ tự ngộ của người tu. Thế Tôn trả lời 108 câu của ngài Đại Huệ bằng một chữ “phi” để bặt dứt nói năng, mong người thầm ngộ. Đối với Thanh văn, Duyên giác còn chưa có phần huống nữa là phàm phu. Chúng sanh do tập khí chấp trước, nghe có thì cho là thật có, nghe không lại chấp là thật không, không y ngữ mà nhận nghĩa, lại y ngữ rồi chấp trước ngữ, nhận lầm ngón tay thành mặt trăng. Vì vậy Thế Tôn chẳng muốn nói.
Ông nói tôi chấp không
Mà cho tôi sanh lỗi
Nay lỗi mà ông nói
Trong không ắt không có (13)
Ông cho cái “không” này là các pháp thực không, nên thấy phá hoại tất cả pháp. “Cái thực không” này không có trong “tánh không” mà tôi nói, trong tánh không, lìa có cũng lìa không. Nếu có pháp không thì không còn đúng với nghĩa không của tôi nói nữa. (Đã nói ở phẩm “phá Hành”).
Bởi vì có nghĩa không
Tất cả pháp được thành
Nếu không có nghĩa không
Tất cả ắt chẳng thành (14)
Chính nhờ có tánh không này mà các pháp ở thế gian mới tựu thành. Nếu không, không thể có pháp và có các sự sanh trưởng sai khác ở các pháp được.
Nay ông tự có lỗi
Mà xoay về cho tôi
Như người cưỡi lưng ngựa
Tự quên mình đang cưỡi (15)
Ông là người có lỗi, lại không thấy. Như người đang cưỡi ngựa mà quên mình đang cưỡi lại nói lỗi người.
Nếu ông thấy các pháp
Quyết định là có tánh
Tức là thấy các pháp
Không nhân cũng không duyên (16)
Nếu ông cho các pháp có định tánh, tức các pháp tự có, duy nhất và thường trụ, thì cũng có nghĩa là cho các pháp không nhân cũng không duyên.
Tức là phá nhân quả
Tác tác giả tác pháp
Cũng lại hoại tất cả
Sanh diệt của vạn vật (17)
Pháp không do nhân duyên sanh, tức nhân quả không. Do tự có và thường trụ thành tác giả, tác nghiệp và tác pháp cũng không. Vạn vật không có điều kiện (duyên) để sanh, thì cũng không có điều kiện để diệt, mà không diệt thì không sanh, tức ông phá hoại sự sanh diệt của vạn vật.
Pháp do nhân duyên sanh
Tôi nói tức là không
Cũng chính là giả danh
Cũng là nghĩa trung đạo (18)

Chưa từng có một pháp
Chẳng từ nhân duyên sanh
Thế nên tất cả pháp
Không gì chẳng phải không (19)
Nghĩa chữ không mà tôi nói đây, là các pháp do duyên sanh, tánh tức là không. Các pháp không tự tánh không thể nói có, cũng chẳng phải không nên không được nói không. Lìa hai bên có – không, ấy là nghĩa Trung đạo.
Ở thế gian, chưa có pháp nào mà không do nhân duyên sanh, thế nên biết tất cả pháp đều “Không”.
Nếu tất cả Bất Không
Ắt không có sanh diệt
Như vậy ắt không có
Pháp Tứ thánh đế ấy (20)
Nếu tất cả pháp bất không – tức có tự tánh – thì không có sanh diệt, nên không có pháp Tứ thánh đế.

Hỏi
: Tại sao vậy?
Đáp:
Nếu không từ duyên sanh
Làm sao mà có khổ
Vô thường là nghĩa khổ
Định tánh không vô thường (21)
Nếu các pháp không từ duyên sanh, thì không có sanh diệt tức không vô thường. Vì không vô thường nên không khổ. Không khổ nên không cần có pháp Tứ thánh đế.
Nếu khổ có tự tánh
Sao lại từ tập sanh
Thế nên không có tập
Bởi vì phá nghĩa không (22)
Khi cho các pháp có định tánh, thì khổ cũng có định tánh. Khổ có định tánh tức không từ nhân (duyên) sanh, thế nên không có tập. Vì tập là nhân của khổ.
Khổ nếu có định tánh
Ắt chẳng nên có diệt
Ông chấp tánh cố định
Tức phá nghĩa Diệt đế (23)
Khổ nếu có định tánh thì thường, không hoại diệt được, tức ông phá nghĩa Diệt đế.
Khổ nếu có định tánh
Ắt không có tu đạo
Nếu đạo có thể tu
Tức không có định tánh (24)
Lại nữa, khổ nếu có định tánh, thì không thể tu để khổ hoại. Nhưng từ trước đến giờ Đạo vẫn có tác dụng, nên biết khổ không thể có định tánh.
Nếu không có khổ đế
Và không Tập Diệt đế
Đạo có thể diệt khổ
Sẽ đi đến chỗ nào (25)
Khi cho khổ có định tánh thì không tập, cũng không diệt. Mà không tập thì không khổ, như có thói quen uống rượu, thì không rượu mới khổ.
Nếu không tập, không diệt, không khổ, thì đạo dùng để làm gì? Có bệnh mới dùng thuốc, không bệnh thuốc làm gì.
Nếu khổ định có tánh
Từ trước giờ không thấy
Nay đây làm sao thấy
Vì tánh kia không khác (26)
Từ trước đến giờ Đạo có thể tu tập để đoạn khổ, tức khổ không thường, không cố định. Nếu cho khổ có tánh cố định, tức tánh của khổ chính là “không thường, không cố định”, vì tánh thì trước sau phải như nhau. Mới thấy tánh ông gắn cho khổ là mâu thuẩn.
Như thấy khổ không đúng
Đoạn tập và chứng diệt
Tu đạo và Tứ quả
Ấy cũng đều không đúng (27)
Nếu thấy khổ không đúng: khổ không tánh mà cho có tánh, thì không có tập cần đoạn. Khổ thường thì không diệt. Vì vậy không Đạo cần tu, không tu thì không chứng quả.
Tánh bốn đạo quả ấy
Trước giờ không thể có
Tánh các pháp nếu định
Nay sao có thể đắc (28)
Bốn quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm v.v... do tu mà được. Nếu pháp có tánh, thì 4 quả trước không, nay cũng vậy, không thể tu để phàm phu trở thành thánh nhân.
Nếu không có Tứ quả
Thì không có đắc hướng
Vì không có tám thánh
Ắt không có Tăng bảo (29)
Nếu không có 4 quả, thì việc hướng đến và chứng đắc cũng không, nên không có tám thánh. Không tám thánh thì không Tăng bảo.
Vì không Tứ thánh đế
Cũng không có Pháp bảo
Không Pháp bảo Tăng bảo
Làm sao có Phật bảo (30)
Không Tứ thánh đế tức không có Pháp bảo. Không tám thánh tức không Tăng bảo. Không Pháp bảo, không Tăng bảo thì không Phật bảo.
Như vậy khi ông cho pháp có định tánh thì mới thật là phá hoại Tam bảo.
Hỏi: Các pháp không, còn Phật ắt nên có. Nếu không, tu làm gì?
Đáp:
Ông nói ắt chẳng nên
Bồ-đề mà có Phật
Cũng lại chẳng nhân Phật
Mà có đạo bồ-đề (31)
Tuy là cần tinh tấn
Tu hành đạo bồ-đề
Nếu trước không Phật tánh
Chẳng thể được thành Phật (32)
Nếu ông cho Phật là cái cần phải có thật thì: “Chẳng nên nhân bồ-đề mà có Phật, cũng như chẳng nên nhân Phật mà có bồ-đề”. Mà thật là phải nhân Phật mới có bồ-đề, và nhân bồ-đề mà có Phật. Cần tu hành tinh tấn để đạt Phật quả, nhưng muốn đạt điều này phải lìa các sự chấp trước. Ngài Triệu Châu nói: “Có một chữ Phật ta còn không muốn nghe...”, huống nữa là chấp có tánh – không tánh, có Phật – không Phật.
Tuy nhiên, cũng nên hiểu rằng Phật tánh không phải là một cái gì đó do tạo tác mà có, hay do tu hành mà thành. Nó sẵn có nhưng do trần cấu vô minh che mờ, tu nghĩa là làm công việc lau bụi trên gương, để hiển lộ mặt gương. Như ngọn đèn soi hình sắc, không phải ngọn đèn tạo hình sắc. “Như Lai giác tánh không phải sở sanh của sanh nhân mà là sở liễu của liễu nhân”. (Kinh Lăng-già)
Nếu các pháp bất không
Không tạo tác tội phước
Bất không có sở tác?
Bởi vì kia định tánh (33)
Lại nữa, nếu các pháp có tánh, thì tội phước cũng có tánh. Nếu tội phước đã có tánh thì không cần tránh ác hay làm thiện nữa, vì không có tác dụng.
Ông cho trong tội phước
Không sanh quả báo ấy
Ấy ắt lìa tội phước
Mà có các quả báo (34)
Lại nữa, nếu nói tội phước có tánh nên không có quả báo, thì quả báo ở thế gian do đâu mà có, lìa tội phước mà có ư?
Nếu nói từ tội phước
Mà sanh ra quả báo
Quả từ tội phước sanh
Làm sao nói bất không (35)
Còn như xác định quả báo là do tội phước mà có, thì tội phước và quả báo đều nằm trong nhân duyên. Các pháp do nhân duyên sanh thì không, sao nói bất không?
Ông phá tất cả pháp
Các nhân duyên nghĩa không
Tất hủy phá thế tục
Và tất cả các pháp (36)
Như vậy khi ông phá nghĩa không của tôi, tức ông phá hủy thế tục và tất cả pháp.
Nếu phá hủy nghĩa không
Tức phải không sở tác
Không tác mà có tác
Chẳng tác gọi tác giả (37)
Nếu cho các pháp có tánh thì các pháp không do tạo tác. Nhưng ở thế gian mọi thứ đều do tạo tác mà thành. Như vậy thứ cho là không tác thì lại có tác, thứ cho là không tác giả lại có tác giả? Thật là nghịch lý giữa thực tế và các lập luận.
Nếu có quyết định tánh
Thế gian mỗi mỗi tướng
Ắt chẳng sanh chẳng diệt
Thường trụ mà không hoại (38)
Nếu các pháp có định tánh, thì không điều kiện sanh nên không điều kiện diệt, tức pháp thường trụ không hoại.
Nếu không có nghĩa không
Chưa đắc chẳng nên đắc
Cũng không đoạn phiền não
Khổ cũng không thể tận (39)
Nếu các pháp có tánh, thì trước chưa đắc quả sau cũng không thể chứng quả. Phiền não và khổ thì trước như sau. Phiền não chẳng thể đoạn thì khổ cũng chẳng thể hết.
Thế nên trong kinh nói
Nếu thấy pháp nhân duyên
Thế là hay thấy Phật
Thấy khổ, tập, diệt, đạo (40)
Các pháp do nhân duyên sanh, thực tánh là không. Nếu thâm nhập được thực tánh của nhân duyên tức thấy Phật và thấy được Tứ diệu đế.
Nhị thừa quán khổ, không, vô ngã, bất tịnh, tu tập Tứ đế. Đây là đối trị thế gian vô thường cho là thường, bất tịnh cho là tịnh v. v... đoạn được nội sắc, mà chưa đoạn được ngoại sắc, tức diệt được khởi phiền não mà chưa liễu được tập phiền não (tập khí từ vô thủy) nên gặp duyên liền dao động. Chẳng biết pháp trong ngoài đều do tự tâm hiện ra, cho là thật có chỗ diệt, thật có chỗ chứng. Nào hay “sanh tử niết-bàn tánh nó không hai”.
Thế Tôn thường nói: “Thanh văn, Duyên giác còn chưa thấy được chân tánh vô ngã, huống nữa là chân tánh hữu ngã”. Tức niết-bàn của Thanh văn đạt được mới chỉ là giả lập, chưa phải cứu cánh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.

No comments:

Post a Comment