PHÁ TAM TƯỚNG (Phẩm 7)
Phá TAM TƯỚNG
Phẩm 7
Sắc tướng, là chỉ cho tất cả các tướng mà 5 căn ngoài ghi nhận được.
Vô sắc tướng, là chỉ cho những tướng nào chỉ có ý căn ghi nhận được.
Ví dụ: Khi quan sát các niệm sanh diệt trong tâm, chúng ta biết đây là niệm tham, đây là niệm sân, đây là si... mỗi niệm có một tướng riêng mà nhờ đó chúng ta phân biệt được. Các ý niệm trên chỉ có ý căn ghi nhận được nên được xếp vào vô sắc tướng.
Pháp hữu vi, là chỉ cho những pháp do tạo tác mà thành. Pháp hữu vi có ba tướng chính là sanh, trụ, diệt.
Trước không nay có, khi pháp vừa xuất hiện gọi là sanh.
Sau khi xuất hiện, pháp tồn tại được một thời gian. Đó là tướng trụ của pháp.
Trước có nay không, khi pháp vừa không, gọi là diệt.
Pháp vô vi, là chỉ cho các pháp không do tạo tác mà thành. Trên thực tế do pháp hữu vi diệt mà nói là pháp vô vi. Pháp vô vi có 3 tướng là không sanh, không trụ, không diệt.
Hỏi: Kinh nói: “Pháp hữu vi có ba tướng là sanh – trụ - diệt”. Vạn vật cũng thấy có sanh, có trụ, có diệt. Nên biết có pháp!
Đáp: Ba tướng sanh – trụ - diệt là những pháp đồng hiện trong quan hệ nhân duyên, nên không thực có.
Ta xem trường hợp của Sanh trước. Nếu cho Sanh là một tướng thực có, thì sanh là hữu vi hay vô vi?
Nếu sanh là hữu vi
Ắt phải có ba tướng
Nếu sanh là vô vi
Sao gọi tướng hữu vi (1)
. Nếu sanh là vô vi, thì sanh không thể là tướng của pháp hữu vi.
. Nếu sanh là hữu vi thì phải có 3 tướng.
Ba tướng nếu tụ tán
Không thể có sở tướng
Làm sao ở một chỗ
Một thời có ba tướng (2)
Nếu nói 3 tướng sanh - trụ - diệt là tướng của sanh thì không thể được vì:
a/ Ba tướng sanh – trụ - diệt do tánh trái nhau, nên không thể đồng thời có mặt để tạo ra sở tướng là sanh.
b/ Ba tướng sanh – trụ - diệt không thể có điểm chung. Nếu chúng lần lượt có mặt, thì đây là 3 phần đoạn tách biệt nên không thể tạo ra một sở tướng thống nhất là sanh.
Nếu nói sanh trụ diệt
Lại có tướng hữu vi
Ấy tức là vô cùng
Không, tức không hữu vi (3)
. Sanh – trụ - diệt nếu có 3 tướng thì bị lỗi vô cùng:
Sanh là pháp hữu vi nên có 3 tướng là sanh1– trụ1 – diệt1
Sanh1 lại là pháp hữu vi, nên cũng có 3 tướng là sanh2 – trụ2 – diệt2...
Tương tự với sanh2, sanh3, sanh4 v.v... ta có vô hạn cái sanh không có kết thúc. Với trụ và diệt cũng vậy.
Nếu không có ba tướng, thì sanh không phải là pháp hữu vi
Hỏi: Tuy là tướng hữu vi, nhưng không mắc lỗi vô cùng vì:
Sở sanh của sanh sanh
Sanh ra bổn sanh kia
Sở sanh của bổn sanh
Sanh trở lại sanh sanh (4)
Khi pháp sanh thông tự thể có 7 pháp cộng sanh: 1/ pháp, 2/ sanh, 3/ trụ, 4/ diệt, 5/ sanh sanh, 6/ trụ trụ. 7/ diệt diệt.
Trong 7 pháp, trừ tự thể ra, bổn sanh hay sanh 6 pháp còn lại. Bổn sanh sanh ra sanh sanh, sanh sanhsanh ra bổn sanh. Thế nên sanh tuy là hữu vi, nhưng không bị lỗi vô cùng.
Đến đây, để vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta hiểu như sau:
Luận chủ : Do sự xuất hiện của pháp được sanh tức sở sanh, mà gọi là sanh. Vì sanh không tồn tại độc lập nên sanh không thực có.
Người hỏi: Sanh là một pháp thực có, sở sanh là một pháp thực có khác. Phải có sanh mới có sở sanh được.
Vì dụ: Mẹ sanh con.
. Sự xuất hiện của con gọi là sở sanh.
. Do phải có sanh mới có được sự xuất hiện của con.
Vì cho rằng sanh và sự xuất hiện của pháp là hai sự kiện khác nhau, nên chúng ta có hai thứ sanh khác nhau.
1/ Sự sanh của pháp sanh gọi là sanh sanh.
2/ Sự sanh ở tự thể của pháp được sanh gọi là bổn sanh.
Khi pháp sanh sanh, nó làm tự thể của pháp được sanh phát sanh. Sự sanh của tự thể gọi là bổn sanh.
Ngược lại, sự phát sanh của tự thể sẽ làm cho pháp sanh sanh. Pháp sanh sanh gọi là sanh sanh.
Đối chiếu với lỗi vô cùng, thì tướng sanh đầu tiên của bổn sanh chính là sanh sanh. Tướng sanh đầu tiên của sanh sanh chính là bổn sanh. Sanh qua sanh lại rồi thôi, nên không bị lỗi vô cùng. Trụ và diệt cũng vậy.
Đáp:
Nếu nói sanh sanh ấy
Hay sanh ra bổn sanh
Sanh sanh từ bổn sanh
Sao hay sanh bổn sanh (5)
Nếu nói bổn sanh ấy
Hay sanh ra sanh sanh
Bổn sanh từ sanh kia
Sao hay sanh sanh sanh (6)
Nếu nói sanh sanh sanh ra bổn sanh, mà sanh sanh lại từ bổn sanh àm có làm sao sanh ra bổn sanh?Ngược lại cũng vậy. Như con do mẹ sanh ra, thì làm sao con sanh ra mẹ được.
Hỏi: Ở đây không phải trước hay sau mà ngay khi sanh sanh sanh liền sanh ra bổn sanh, ngay khi bổn sanh sanh liền sanh ra sanh sanh.
Đáp:
Nếu sanh sanh đang sanh
Hay sanh ra bổn sanh
Sanh sanh còn chưa có
Sao hay sanh bổn sanh (7)
Nếu bổn sanh đang sanh
Hay sanh ra sanh sanh
Bổn sanh còn chưa có
Sao hay sanh sanh sanh (8)
Nếu nói sanh sanh khi sanh, sanh ra bổn sanh, nhưng bổn sanh chưa có, thì cũng chưa có sanh sanh. Nếu sanh sanh chưa có làm sao sanh ra bổn sanh. Ngược lại cũng vậy.
Hỏi:
Như ngọn đèn tự chiếu
Cũng hay chiếu cái khác
Pháp sanh cũng như vậy
Tự sanh cũng sanh kia (9)
Ở một chỗ tối tăm không thấy gì (trước không), khi đèn được thắp lên, ngọn đèn tự hiện và làm hiện các pháp chung quanh một cách tức thì (nay có).
Pháp sanh cũng vậy, tự sanh (tự hiện) và sanh ra pháp khác (làm hiện các pháp khác) một cách tức thì.
Đáp:
Trong đèn tự không tối
Chỗ trụ cũng không tối
Phá tối mới gọi chiếu
Không tối ắt không chiếu (10)
Ngọn đèn tự nó không tối. Khoảng không gian chung quanh ngọn đèn tức trụ xứ của nó cũng không tối. Do phá tối mới gọi là chiếu.
Ví dụ: Ngọn đèn nếu được đặt ngoài trời giữa trưa nắng gắt, dù đèn đang được thắp cũng không có gì gọi là chiếu.
Rõ ràng, nễu không có tối thì không có chiếu. Do đó việc cho rằng ngọn đèn hay chiếu là không đúng.
Lại nữa…
Làm sao đèn khi sanh
Mà hay phá được tối
Đèn ấy khi mới sanh
Chẳng thể đến gặp tối (11)
Đèn nếu chưa gặp tối
Mà hay đến phá tối
Đèn ở tại chỗ này
Ắt phá tất cả tối (12)
Lại nữa, khi đèn mới được thắp, ánh sáng không thể đến liền các chỗ tối. Do cái nhìn cảm tính, người hỏi lầm tưởng ánh sáng có thể tức thời đến liền các chỗ tối. Trên thực tế, dù có vận tốc rất lớn, ánh sáng vẫn không thể tức thời đến liền được mọi nơi.
Nếu cứ cho rằng dù chưa đến được cái tối, đèn vẫn có thể phá tối, thì đèn đặt chỗ này có thể phá tối khắp mọi nơi? Điều này không đúng với thực tế.
Nếu đèn hay tự chiếu
Cũng hay chiếu cái khác
Tối cũng hay tự tối
Cũng hay che tối kia (13)
Sáng và tói là hai pháp đối đãi nhau. Nhân có tối mà thấy có sự soi sáng (chiếu). Nếu cho rằng sáng hay tự soi sáng và làm sáng cái khác, thì tối cũng có thể hay tự tối và che tối cái khác. Điều này không có trong thực tế.
Tóm lại, việc cho rằng đèn hay tự chiếu và chiếu cái khác là không có giá trị.
Lại nữa…
Nếu sanh ấy chưa sanh
Làm sao hay tự sanh
Nếu sanh đã tự sanh
Đã sanh sao dùng sanh (14)
Nếu pháp sanh sanh thì tự sanh trong trường hợp nào?
Nếu pháp sanh chưa sanh, chưa sanh tức chưa có, chưa có làm sao tự sanh.
Nếu pháp sanh đã sanh, nếu đã sanh tức đã có, có rồi đâu cần tự sanh làm gì.
Quay lại trường hợp “tự sanh và hay sanh kia” đã nói trên, ta thấy:
Trong cả hai trường hợp “có sanh” hay “chưa sanh” đều không thể tìm thấy “tự sanh”. Nếu đã không có tự sanh làm sao có sanh kia? Trụ và diệt cũng vậy.
Đã sanh sanh không sanh
Cũng không chưa sanh sanh
Đang sanh cũng không sanh
Trong khứ lai đã đáp (15)
Tương tự với luận giải ở phầm “Phá khứ lai”, ba thời không thể tìm thấy “có sanh”.
Hỏi: Ngay khi chúng duyên hợp thấy có pháp được sanh, vì vậy sanh là hiện tượng có thực?
Đáp:
Nếu nói sanh khi sanh
Sự ấy đã bất thành
Làm sao chúng duyên hợp
Khi ấy mà được sanh (16)
Ngay cả khi “đang sanh” cũng không thể “có sanh”, làm sao duyên hợp mà “có sanh”?
Ở phẩm “phá nhân duyên”, trong cả ba trường hợp: Có quả, không quả, vừa có quả vừa không quả, đều không thể tìm thấy tướng sanh. Nên có duyên hợp, cũng không có tướng sanh để sanh ra quả.
Nếu pháp do duyên sanh
Tức là tánh tịch diệt
Thế nên sanh đang sanh
Cả hai đều tịch diệt (17)
Duyên vốn không tự tánh, nên pháp từ duyên sanh đều không thực có. Vì thế pháp từ duyên sanh, thì “sanh mà vô sanh”, tức “có mà không thực có”. Sự sanh và đang sanh cả hai đều là sự thị hiện của thể tánh vốn muôn đời tịch diệt.
Hỏi: Trên thực tế các pháp đã sẵn có nhưng chưa xuất hiện, để pháp xuất hiện, chúng ta vẫn cần một sự sanh, để sanh ra pháp ấy.
Đáp:
Nếu có pháp chưa sanh
Để nói rằng có sanh
Pháp ấy trước đã có
Sao lại cần dùng sanh (18)
Với một pháp chưa sanh, nếu quyết định sẽ có, trong trường hợp này không cần đến sự sanh nó vẫn xuất hiện, khi có đủ nhân duyên.
Hỏi: Ngay khi pháp vừa xuất hiện, đó gọi là sanh, do đó “có sanh”.
Đáp:
Nếu nói khi sanh sanh
Năng ấy có sở sanh
Sao lại thêm có sanh
Mà hay sanh sanh ấy (19)
Nếu vậy, pháp sanh này được thành lập nhờ có sự xuất hiện của pháp được sanh. Dựa vào sự xuất hiện (sở sanh) này mà nói là sanh. Ở đây vẫn không hề có riêng một pháp sanh nào độc lập với sở sanh.
Nếu nói là có sanh
Sanh sanh ắt vô cùng
Tuy sanh sanh có sanh
Pháp thảy đều tự sanh (20)
. Còn nếu vẫn cho rằng tồn tại một pháp sanh độc lập, thì cái gì sanh ra pháp sanh ấy? Nếu nó do một pháp sanh khác sanh ra, thì pháp sanh khác này lại do pháp sanh nào khác nữa sanh ra...? sẽ vướng lỗi vô cùng.
. Nếu không vướng lỗi vô cùng thì sanh này tự sanh. Nếu sanh là tự sanh thì tất cả các pháp ở thế gian đều tự sanh. Điều này không đúng với thực tế, các pháp ở thế gian đều là pháp duyên sanh.
Tóm lại…
Có pháp chẳng nên sanh
Không pháp chẳng nên sanh
Có không cũng chẳng sanh
Nghĩa này trước đã nói (21)
. Có pháp rồi thì không có sự sanh.
. Không pháp thì cũng không có sanh.
. Pháp vừa có vừa không thì không có, cũng không có sự sanh.
Do đó, không thể tìm thấy có tướng sanh ở mọi thời, mọi trường hợp.
Nếu các pháp khi diệt
Khi ấy chẳng nên sanh
Pháp nếu chẳng có diệt
Không có trường hợp này (22)
Đối với các pháp vô sắc, khi dùng ý thức quán sát các niệm sanh diệt ở trong tâm, thấy các niệm này sanh diệt nối tiếp như một dòng thác chảy xiết. Trong một khoảng thời gian cực ngắn, một niệm vừa hiện ra liền biến mất, các niệm này gọi là vô sắc pháp.
Nếu sanh là thực có, thì sẽ không có diệt. Nếu không, sanh và diệt đồng thời có mặt trên cùng một pháp. Lại nữa, nếu sanh là thực có thì không có lý do gì để nó mất đi nhường chỗ cho diệt.
Tóm lại, ngay đối với vô sắc pháp cũng không thể tồn tại một tướng sanh.
Hỏi: Các pháp nếu không có tướng sanh thì có tướng trụ không?
Đáp:
Pháp không trụ chẳng trụ
Pháp trụ cũng chẳng trụ
Khi trụ cũng chẳng trụ
Vô sanh làm sao trụ (23)
Ba thời không thể tìm thấy “có trụ”, vì không “có sanh”.
Nếu các pháp khi diệt
Ấy ắt chẳng nên trụ
Pháp nếu chẳng có diệt
Cũng không có điều này (24)
Nếu pháp thật có tướng trụ thì không thể có tướng diệt. Nếu không, đến lúc pháp diệt, tướng trụ và tướng diệt lại đồng thời có mặt. Điều này không hợp lý.
Lại nữa, đối với pháp, nếu tướng trụ là thực có, thì pháp không thể diệt. Điều này không đúng với thực tế.
Tất cả pháp hiện hữu
Đều là tướng già chết
Không hề thấy có pháp
Lìa lão tử có trụ (25)
Trên thực tế, thứ mà chúng ta gọi là tướng trụ thật ra là một sự chuyển biến không ngừng từ tướng trạng này sanh tướng trạng khác. Sự chuyển biến từ tướng này sang tướng khác gọi là tướng dị. Để có tướng mới, tướng cũ phải mất đi. Tướng cũ mất đi gọi là diệt. Nghĩa là, tướng trụ không hề lìa khỏi tướng già và tướng diệt mà riêng tồn tại.
Lại nữa…
Trụ chẳng tự tướng trụ
Cũng chẳng khác tướng trụ
Như sanh chẳng tự sanh
Cũng chẳng khác tướng sanh (26)
. Nếu trụ là một tướng có thật, chúng ta phải xác định được nó.
. Nếu trụ có một tự tướng nhất định để tự xác định, thì các pháp chỉ có một tướng duy nhất là tướng được dùng để xác định cho tướng trụ. Trên thực tế, không một pháp nào mà tướng của nó không hề dời đổi.
. Nếu dựa vào một tướng khác để xác định cho tướng trụ, thì tướng khác đó dựa vào đâu để xác định? Nếu phải nhờ vào một tướng khác nữa, thì bị lỗi vô cùng. Cuối cùng không thể xác định được tướng trụ.
. Sanh cũng vậy, chẳng thể nào xác định được tướng sanh để khẳng định cho sự “có” của nó.
Hỏi: Vậy có tướng diệt không?
Pháp đã diệt chẳng diệt
Chưa diệt cũng chẳng diệt
Diệt thời cũng chẳng diệt
Không sanh sao có diệt (27)
Pháp có sanh thì mới nói đến diệt. Sanh trong 3 thời đã không, nên không thể tìm thấy tướng diệt trong ba thời.
Nếu pháp mà có trụ
Ấy ắt chẳng nên diệt
Pháp nếu mà không trụ
Ấy cũng chẳng nên diệt (28)
Pháp ấy ở thời ấy
Không ở thời ấy diệt
Pháp ấy ở thời khác
Không ở thời khác diệt (29)
. Pháp nếu không có trụ, tức không có sự hiện diện của pháp, thì lấy gì để có diệt.
. Pháp có trụ cũng không có diệt vì:
Ngay lúc pháp trụ, tức nó còn hiện hữu, thì lúc này không thể có sự diệt của pháp.
Vào lúc tướng trụ mất, tức pháp không còn hiện hữu, làm sao xác định đó là tướng diệt của pháp.
Ví dụ: Lúc sữa còn hiện hữu thì không có tướng diệt của sữa. Nếu sữa hoàn toàn biến mất, lúc đó cũng không thể khẳng định đó là tướng diệt của sữa. Nếu không, chúng ta cũng phải chấp nhận đó cũng là tướng diệt của đất của cây, của các thứ khác... không có mặt ở đó.
Như tất cả các pháp
Tướng sanh không thể được
Vì không có tướng sanh
Tức cũng không tướng diệt (30)
Sanh và diệt nhân nhau mà lập, nếu không có sanh thì cũng không có diệt.
Nếu pháp mà là có
Thì ắt không có diệt
Không nên trong một pháp
Mà có tướng có không (31)
Nếu pháp mà là không
Thì ắt không có diệt
Ví như đầu thứ hai
Không, nên chẳng thể đoạn (32)
. Nếu cho pháp là có, tức có tự tánh thì không bao giờ hoại diệt được. Nếu không, sẽ đưa đến trường hợp có và không cùng ở một chỗ.
. Nếu cho pháp là thật không, tức không có tự tánh, thì cũng không thể có diệt, như đầu thứ hai không có nên không thể cắt.
Pháp chẳng tự tướng diệt
Tha tướng cũng chẳng diệt
Như tự tướng chẳng sanh
Tha tướng cũng chẳng sanh (33)
Vì không tìm thấy có tướng diệt của pháp, nên diệt không có tự tướng. Vì tự tướng không nên tha tướng cũng không.
Sanh trụ diệt không thành
Nên không có hữu vi
Vì không pháp hữu vi
Làm sao có vô vi (34)
Pháp hữu vi được xác định nhờ 3 tướng sanh – trụ - diệt. Sanh – trụ - diệt đã không thể có thì pháp hữu vi cũng không. Pháp hữu vi không thì pháp vô vi cũng không.
Như huyễn cũng như mộng
Như càn thát bà thành
Sanh trụ diệt được nói
Tướng của chúng cũng vậy (35)
Như huyễn, là các pháp tuy không thật, nhưng sắc có thể thấy, tiếng có thể nghe.....
Như mộng, vì do sức ngủ, tuy không có pháp mà thấy có.
Như thành Càn-thát-bà, khi mặt trời mới mọc, thấy có cửa thành lầu gác, có người ra vào... các thứ ấy mắt có thể trong thấy, mà không có thật. Một loại ảo ảnh...
Ba tướng sanh - trụ - diệt, thực tướng của chúng cũng vậy, không có gì thật, chúng chỉ là những pháp do nhân duyên sanh, không thực có cũng không thực không.
Khi chúng ta khẳng định tướng này có, sẽ dẫn đến phủ định các tướng còn lại. Chỉ với nhận thức không rơi vào “có – không” mới phù hợp với thực tế.
Phân tích kỹ chúng ta mới thấy, các pháp không thể sanh – ngay chính pháp sanh đã không thể sanh, làm sao các pháp khác có thể sanh – cũng như không thể tìm thấy chính xác thời điểm nào gọi là diệt, không hề tìm thấy tướng diệt của pháp (phần 29).
Chúng ta thấy các pháp sanh – diệt, có – không, chẳng qua là do sức ngủ vô minh. Nếu cho chúng thật có sanh, thật có trụ, thật có diệt, để kết luận pháp hữu vi thật có rồi sanh ái thủ, tạo nghiệp, thì thật là sai lầm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.
No comments:
Post a Comment