PHÁ ĐIÊN ĐẢO (Phẩm 23)
Phá ĐIÊN ĐẢO
Phẩm 23
Hỏi: Do ức tưởng phân biệt mà phát khởi tham, sân, si. Nên biết có 3 độc.
Đáp: Các phần 1, 2, 3, 4, 5.
Từ ức tưởng phân biệt
Sanh ra tham sân si
Tịnh bất tịnh điên đảo
Đều từ chúng duyên sanh (1)
Tịnh và bất tịnh đại diện cho các nhị biên phân biệt như xấu – đẹp, sạch – bẩn, định – loạn, hay – dỡ... Gọi là điên đảo, vì chúng không đúng với thực tướng của pháp, chỉ do sự chấp thủ của chúng sanh mà được dựng lập. Như có người cho rằng da phải trắng mới đẹp, còn lại đều là xấu. Nhưng cũng có kẻ cho da đen mới mặn mòi. Những qui định này xuất hiện là do sự chấp thủ, tùy theo quan điểm của mỗi người mà có, thay đổi theo thời gian và ngay cả chính trong bản thân mỗi người, thành ra năm nào cũng có thi hoa hậu: trắng cũng trúng, mà đen cũng đậu.
Nhân trong duyên ngoài đầy đủ gọi là chúng duyên.
Do từ sự phân biệt mà phát sanh tham, sân, si, gọi chung là phiền não. Tất cả các thứ này đều từ các duyên mà sanh. Như do phân biệt giữa sạch và bẩn mà thấy sạch thì vừa lòng thích thú rồi đắm trước, thấy bẩn thì sanh bực bội sân hận.
Nếu nhân tịnh bất tịnh
Điên đảo sanh ba độc
Ba độc tức không tánh
Nên phiền não không thực (2)
Nếu do phân biệt giữa tịnh và bất tịnh mà sanh ra phiền não tham, sân, si, thì tịnh và bất tịnh là nhân của ba độc, tức ba độc từ nhân duyên mà có, nên không tánh.
Nếu phiền não không tánh thì phiền não không thực.
Ngã pháp có do không
Sự ấy trọn bất thành
Các phiền não không ngã
Có không cũng chẳng thành (3)
Các pháp ở thế gian đều do nhân duyên mà có, thành tìm một pháp không do nhân duyên có, để nói là có ngã, chung qui không thể tìm được. Các phiền não cũng không thể thoát ra khỏi qui luật đó, tức phiền não không ngã, nên có–không cũng chẳng thành.
Nếu phiền não được xác định là có thì rơi vào thường. Nếu phiền não được xác định là không thì rơi vào đoạn. Cả hai đều không đúng, tức không xác định được phiền não.
Ai có phiền não này
Nếu tức, thì không thành
Nếu lìa đây mà có
Phiền não ắt không thuộc (4)
Người có phiền não thì đối với phiền não này là tức hay là lìa?
- Nếu người tức là phiền não thì người chính là phiền não. Một pháp là người, một pháp là sự, không thể là một. Lại nữa, nếu người và phiền não là một thì khi không phiền não, người cũng biến mất?
- Nếu người lìa phiền não, tức người và phiền não là khác. Lìa người vẫn có phiền não, lìa phiền não vẫn có người. Khi lìa người mà vẫn có phiền não, thì phiền não dựa vào gì để phát sanh, để biết là có phiền não?
Tóm lại, người và phiền não không một cũng không khác, chúng hình thành nên do quan hệ nhân duyên, không có một chủ thể thực sự hiện hữu đằng sau các thứ này. Đã do nhân duyên mà có, thì không thể khẳng định là có hay là không. Đủ duyên thì hiện, hết duyên thì tan.
Hỏi: Nhưng có phiền não nhiễm ở tâm?
Đáp:
Như thân kiến năm thứ
Tìm đều không thể được
Phiền não nhiễm ở tâm
Năm thứ cũng chẳng được (5)
Thân kiến, là cho thân và tâm này là ta và của ta.
Năm thứ, là lìa 5 ấm có ngã, trong 5 ấm có ngã, trong ngã có 5 ấm, ngã có 5 ấm và 5 ấm là ngã. Các thứ đều không thể có. Phiền não đối với thân tâm này cũng tương tự như vậy, không thể tìm thấy phiền não tức là tâm, hay trong tâm có phiền não, trong phiền não có tâm, tâm có phiền não và lìa tâm có phiền não.
- Nếu tâm là phiền não thì khi không phiền não chỉ còn sắc thân? Còn các phần khác biến đi đâu? Lúc đó ai ăn, ai nghe, ai nói... vậy thì chỉ có xác chết mới không phiền não. Còn các bậc thánh thì vẫn có phiền não?
- Trong tâm có phiền não, hay tâm có phiền não, thì không đợi duyên bên ngoài mới phát sinh phiền não. Tức phiền não là thường. Thường thì không thể có giải thoát.
- Trong phiền não có tâm, tức tâm được bọc trong phiền não? Vậy chỉ khi còn xác thân thôi mới mong thoát phiền não!
- Lìa tâm có phiền não, tức không có thọ, tưởng, hành, thức, vẫn có phiền não, thì thây người chết cũng có phiền não, mấy vị “quán 5 ấm giai không” cũng có phiền não? Lại nữa, lìa tâm thì lấy gì để biết có phiền não?
Phiền não ở đâu? Cũng không xác định được.
Hỏi: Phiền não phát sanh do tịnh và bất tịnh?
Đáp:
Tịnh bất tịnh điên đảo
Chúng thì không tự tánh
Sao nhân hai thứ này
Mà sanh các phiền não (6)
Tịnh và bất tịnh không có tự tánh. Sao lại nhân các thứ này mà sanh phiền não?
Hỏi: Sao biết không tự tánh?
Đáp: Chúng không tự tánh vì:
- Chúng được hình thành tùy theo quan niệm, suy nghĩ của từng người, tức chúng lệ thuộc vào cái khác mà dựng lập, thay đổi tùy duyên, không cố định.
Như có người cho tóc trên đầu là sạch, là đẹp. Nhưng cũng có người không thấy đẹp, nếu thấy tóc trên đầu đẹp, sao có thời gian phát sinh mốt cạo đầu mà chỉ những người chạy theo “cái đẹp” mới có đầu trọc?
Cũng là tóc mà nằm trong đồ ăn thì cho là bẩn. Nhưng cũng có người không thấy bẩn. Tức tùy sự chấp thủ của mỗi người, tùy điều kiện, tùy duyên mà sanh ra sạch hay bẩn, xấu hay đẹp. Xấu hay đẹp, sạch hay bẩn, tịnh hay bất tịnh... chúng tồn tại không gì ấn định chính xác, cố định.
- Chúng được lập nên do đối đãi với nhau, không cố định.
Như nói về sạch và bẩn. Đối với những người ngủ ở gầm cầu, la lết ngoài đường, thì với mức sống bình thường của chúng ta, được xem là sạch sẽ. Nhưng đối với đời sống vật chất cao, đầy đủ tiện nghi, môi trường sống sạch sẽ, thì mức sống hiện tại của ta sẽ bị nói là bẩn, là ô nhiễm. Tương tự với các ví dụ về hẹp–rộng, ngắn–dài, nóng–lạnh... cũng vậy. Các thứ nhị biên này muốn tồn tại luôn luôn phải dựa vào cái đối đãi với nó mà so sánh dựng lập nên.
Hỏi:
Sắc thanh hương vị xúc
Và pháp là sáu thứ
Như vậy sáu thứ ấy
Là căn bản ba độc (7)
Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là nền tản của phiền não, phải không?
Đáp: Các phần 8, 9, 10, 11, 12.
Sắc, thanh, hương, vị, xúc
Và pháp, thể sáu thứ
Đều không như diệm mộng
Như thành càn thát bà (8)
Như vậy trong sáu thứ
Sao có tịnh bất tịnh
Ví như người huyễn hóa
Cũng như cảnh trong gương (9)
Sáu thứ này không tự tánh. Tuy thấy có, nhưng chỉ như diệm, như mộng, như thành Càn-thát-bà, như người huyễn hóa, như bóng trong gương. Sao có thể có tịnh và bất tịnh?
Như cảnh hiện trong gương. Thực tế ngoài mặt gương phản chiếu thì tìm ra cái gì là tịnh là bất tịnh? Cảnh nào thì sờ vào cũng chỉ là mặt gương. Cũng như giấc mộng, hay các ảo giác được tạo nên do ánh nắng, do sương mù làm sao có thể nói là tịnh hay bất tịnh. Những gì được gán ghép cho chúng như xấu, đẹp... chỉ là sự dựng lập của chính chúng ta. Chúng không có các thứ đó. Rồi từ sự dựng lập này, ta mới khởi tham hay sân...
Hỏi: Tại sao nói chúng như mộng, như diệm, trong khi thấy chúng có thật đó.
Đáp: Chúng như mộng như huyễn, vì với cái thấy tột cùng của chư Phật thì chúng chỉ là bóng dáng của tự tâm, chỉ do tâm bất giác vọng hiện mà có trần, cảnh, căn thân, thế giới. Còn với cái nhìn cạn cợt hiện nay của ta, chúng như mộng như huyễn vì chúng không bền vững, không lâu dài. Ngay cả những thứ ta tưởng là bền chắc rồi cũng hủy hoại theo thời gian. Đó là quy luật của cuộc sống, có sanh ắt phải có diệt, có hợp thì phải có ly... Những gì đã qua đi thật đúng như giấc mộng, có gì là bền lâu vững chắc? Ta thử nhìn lại những gì đã qua, có cái gì quay ngược thời gian mà trở lại? Có cái gì có thể nắm bắt, ôm giữ một khi nó đã qua đi? Thời gian vài chục năm, một trăm năm nghe thì lâu xa nhưng ngoảnh mặt đã qua rất mau, ai trong chúng ta không từng nói: “Mới đó mà đã....”. Không như sóng nắng, không như giấc mộng là gì? Có đó mất đó... như huyễn như hóa không đúng hay sao! Ngày xưa Từ Thức lạc vào cõi tiên vài năm, trở lại trần gian đã vài trăm năm, cái gì là thật, cái gì là mộng? Đức Phật nói: “Các pháp chẳng thật, chóng diệt như điện, ấy là như huyễn”. Vì ta điên đảo mà cho là thật có, là bền vững nên trên cảnh mới sanh tâm, 3 độc mới khởi... Pháp có lỗi gì!
Hỏi: Nhưng có trường hợp ta không làm gì người, nhưng người cứ mắng ta chẳng hạn, sao nói là các pháp không lỗi gì. Nếu người không mắng ta thì ta đâu sân?
Đáp: Mỗi người có một cái miệng, và có quyền nói. Lại nữa, ai cũng được một đặc ân là sẽ nhận lại đầy đủ những gì mình đã gâp tạo... Khi người có quyền nói thì nói gì, làm gì là quyền của người. Mình cũng có quyền nghe, nghe gì hay không nghe là quyền của mình. Lục Tổ nói: “Thường tự thấy lỗi mình, cùng đạo tức tương đương”. Lỗi lớn nhất của chúng ta là đã duyên với 6 trần rồi sanh tâm thủ xả. Các pháp vốn “như thị”! Ngay cả khi người mắng ta thì người cũng “như thị”. Can gì đến ta. Hãy để cho pháp được yên ở bản vị của nó. Lại nữa, xét theo mặt duyên nghiệp thì sao bao nhiêu người, người không mắng, lại nhè ta mà mắng? Ta thật không lỗi ư, hay ta lỗi mà ta không thấy, trong hiện tại và trong cả quá khứ?
Tất cả chỉ là ảnh hiện trong gương, có cảnh vừa lòng có cảnh không vừa lòng, thì cũng chỉ là ảnh trong gương, không thêm, không bớt. Có thích thì cũng không thể nắm giữ khi nó đã hết duyên để hiện. Không thích thì cũng không thể xua đuổi khi nó chưa hết duyên để mất. Sanh tâm phân biệt, thủ xả thì có ích gì... Sao không bất động với nó, ngay cả với những pháp trần.
Chẳng nhân nơi tướng tịnh
Thì không có bất tịnh
Nhân tịnh có bất tịnh
Cho nên không bất tịnh (10)
Chẳng nhân nơi bất tịnh
Thì cũng không có tịnh
Nhân bất tịnh có tịnh
Cho nên không có tịnh (11)
Tịnh hay bất tịnh, xấu hay đẹp… tất cả đều nhân nhau mà giả lập. Chúng hình thành nên do chính sự phân biệt của chúng ta, từ các quan niệm, các qui định, các tập tục, được huân tập trở thành một việc tự nhiên trong cuộc sống, rồi từ kiếp này sanh kiếp khác. Gọi chung là “vọng tưởng tập khí từ thời vô thủy”. Suy cho cùng thì tất cả chỉ là sự suy luận dựa trên các kiến chấp, các vọng tưởng của mỗi người, chẳng có một căn cứ gì chính xác để “bảo trợ” cho các khái niệm đó.
Chúng ta lấy một ví dụ để hiểu tại sao nói “nhân tịnh có bất tịnh” và “nhân bất tịnh mới có tịnh”. Cái chúng ta thường gặp nhất trong cuộc sống chính là xấu và đẹp.
- Có người quan niệm rằng một ngôi chùa đẹp là một ngôi chùa thoáng, sạch, cấu trúc vĩ đại nhưng đơn giản. Vì vậy tất cả những gì nằm ngoài các chấp thủ trên, đều được xem là xấu hay chí ít là không đẹp.
- Có người cho rằng một ngôi chùa có quá nhiều tượng thì thật là mất thẩm mỹ! Vì vậy các ngôi chùa thoát ra khỏ các điều trên, đối với ông ta là chấp nhận được, là có thẩm mỹ.
- Nhưng cũng có hạng người chẳng bao giờ quan tâm rằng, chùa như thế nào là đẹp là xấu, mà chỉ quan tâm là trong đó có những gì biểu trưng được giá trị của nó hay không.
Trong ba trường hợp trên, rõ ràng hai trường hợp đầu, nhân tịnh mà có bất tịnh, nhân bất tịnh mà có tịnh. Riêng trường hợp thứ ba thì hoàn toàn không. Thành đã khởi có tịnh thì phải có bất tịnh, khởi bất tịnh thì ắt đã có tịnh. Không tịnh thì cũng không bất tịnh, không bất tịnh thì không tịnh. Chúng nhân nhau mà có nên thực tánh của chúng là không.
Cái nhìn của chúng sanh thường được dựng lập dựa trên các đối đãi này. Nên Đức Phật nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”. Vô minh là điên đảo có khác gì nhau.
Nếu không có tướng tịnh
Sao nhân đó có tham
Nếu không có bất tịnh
Sao nhân đó có sân (12)
Chúng sanh có bệnh là thấy cái gì đẹp, cái gì tốt, nói chung là hợp ý mình... thì muốn ôm giữ cho kỳ được. Cái gì không hợp ý vừa lòng thì cho là dở là xấu... rồi sanh bực bội, sân hận. Các thứ tịnh bất tịnh như trên đã nói, không thực có. Chỉ nhân nhau mà giả lập, sao lại nhân các thứ không thực này mà sanh đắm trước, sanh sân hận?
Hỏi: Vậy thực tướng của điên đảo là gì, có điên đảo không?
Đáp:
Với vô thường chấp thường
Ấy gọi là điên đảo
Trong không, không có thường
Chỗ nào có thường đảo (13)
Ở thế gian, cái gì làm mà không bình thường so với cái nhìn của đại đa số thì bị gọi là điên. Ở đây, thế gian vô thường mà chúng sanh cho là thường thì gọi là điên đảo. Nhưng thế gian thường hay vô thường thì thế gian cũng chỉ là bóng trong gương, như mộng như huyễn, sao lại đặt vấn đề là thường là vô thường. (Ở phần 8 và phần 9 đã nói).
Trong “không”, tức trong thực tướng của pháp thì không có thường cũng không có vô thường. Sao có thể có thường gọi là điên đảo?
Hỏi: Vậy không điên đảo à?
Đáp:
Nếu ở trong vô thường
Chấp vô thường không đảo
Trong không không vô thường
Sao có không điên đảo (14)
Còn như thế gian là vô thường, chúng ta cũng chấp nhận nó vô thường, chấp như vậy thì được gọi là không điên đảo! Nhưng thực tướng các pháp lìa thường lìa vô thường. Cái gì gọi là không điên đảo?
Bị chấp, chấp, người chấp
Và sở dụng trước pháp
Đều là tướng tịch diệt
Làm sao mà có chấp (15)
Thấy thế gian là thường hay vô thường là do sự chấp của mỗi người. Nhưng bị chấp, người chấp, chấp và sở dụng trước pháp, tất cả đều tồn tại trong quan hệ nhân duyên. Mất một, các cái khác không thể tồn tại, như đã nói trong phẩm “Phá hiệp”. Thực tánh của chúng là không. Nên nói là tướng tịch diệt.
Tất cả là tướng tịch diệt, sao lại có “chấp”?
Nếu không có pháp chấp
Nói tà là điên đảo
Nói chánh không điên đảo
Ai có việc như vậy (16)
Nếu không có sự chấp thủ, thì sự phân biết xuất phát từ đâu?
Do có sự chấp thủ, phân biệt mới nói đến tà, đến chánh. Nếu không phân biệt thì cái gì là tà, cái gì là chánh? Không phân biệt tà chánh, thì cái gì là điên đảo, cái gì là không điên đảo? Khi không có chấp tức không phân biệt thì mọi thứ đều ở yên bản vị của nó, vì tướng của chúng là tịch diệt.
Lại nữa:
Có đảo chẳng sanh đảo
Không đảo chẳng sanh đảo
Người đảo chẳng sanh đảo
Không đảo cũng chẳng đảo (17)
- Nếu khẳng định có điên đảo, thì điên đảo đã có. Cần gì sanh nữa!
- Nếu không điên đảo, thì cũng không sanh điên đảo, vì không có sự điên đảo.
Trong cả hai trường hợp có hay không điên đảo, đều không thể tìm thấy tướng sanh ra điên đảo, nên người điên đảo cũng không sanh điên đảo.
Người không điên đảo thì không điên đảo vì không có sự kiện điên đảo.
Nếu khi đang điên đảo
Cũng chẳng sanh điên đảo
Ông có thể quán sát
Cái gì sanh điên đảo? (18)
“Đang điên đảo” được lập nên là nhân sự kiện điên đảo. Chúng tồn tại trong quan hệ nhân duyên, nên không tánh. Không tánh thì không sanh, nên nói “Chẳng sanh điên đảo”. Không có tướng sanh thì cái gì sanh ra, và cái gì được sanh ra?
Hỏi: Như vậy điên đảo thật không sanh?
Đáp:
Các điên đảo chẳng sanh
Làm sao có nghĩa này
Vì không có điên đảo
Sao có người điên đảo (19)
Các điên đảo không tánh nên nói không sanh. Tức ngay khi sanh mà không sanh. Nếu chấp các điên đảo thật không sanh, thì lại không đúng. Nói không sanh là để phá có sanh, nhằm hiển bày thực tướng của điên đảo lìa có sanh, không sanh. Nếu nói không sanh mà chấp có pháp không sanh thì đã có pháp không sanh sanh.
Trong kinh Lăng-già, Đức Phật nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, Đại Bồ tát chẳng nên lập tông ấy...”. Ngôn ngữ được dùng để phá các sai lầm của chúng sanh, không phải là để “trụ” rồi thành thực tướng của pháp.
Không có điên đảo, không có đang điên đảo thì sao có người điên đảo.
Hỏi: Thế gian vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà cho là thường, lạc, ngã, tịnh, nên mới có điên đảo, có điên đảo mới có không điên đảo. Nếu thế gian thật là thường, lạc, ngã, tịnh, thì có phải là điên đảo không?
Đáp:
Ngã nếu thường lạc tịnh
Mà đúng là thật có
Thường lạc ngã tịnh ấy
Ắt không phải điên đảo (20)
Do thấy không đúng sự thật, mới gọi là điên đảo. Nếu thế gian đúng là thường, lạc, ngã, tịnh, mà thấy là thường, lạc, ngã, tịnh thì sao gọi là điên đảo được. Giống như hiện tại thấy thế gian vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nên các vị Nhị thừa mới được gọi là không điên đảo. Nhưng điên đảo hay không điên đảo đều chưa phải là thực tướng của thế gian. Thực tướng thế gian lìa điên đảo và không điên đảo. Thực tướng thế gian “tâm hành ngôn ngữ đoạn”, thì khởi tưởng cái gì là điên đảo, cái gì là không điên đảo, cái gì là thường, lạc… là vô thường, khổ... cái gì là thật có, cái gì là thật không?
Ngài Hàm Thị nói: “Chẳng thấy một pháp mới gọi là thấy thực tướng”. Ngay cả tự tâm hiện lượng mà còn thấy tướng tự tâm hiện lượng thì còn chưa phải thấy thực tướng, huống nữa là thấy có ngã, thường, lạc, tịnh.
Nếu chấp thế gian thật là thường, lạc, ngã, tịnh, thì thường, lạc, ngã, tịnh này có tánh, tức thường. Thường thì không có vô thường, không có vô ngã, khổ và bất tịnh. Không cần tu, không cần thiền định...
Nên dù thế gian đúng là thường, lạc, ngã, tịnh mà khởi tưởng là thật có thì lại rời xa thường, lạc, ngã, tịnh.
Hỏi: Nếu ngã thường lạc tịnh thực không thì sao?
Đáp:
Nếu ngã thường lạc tịnh
Mà thực là không có
Vô thường khổ bất tịnh
Việc ấy cũng nên không (21)
Nếu ngã, thường, lạc, tịnh, mà thật không, tức các pháp này hoàn toàn không hề tồn tại, thì cũng không có các vế đối đãi là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Giống như nói buồn, thì phải trải qua cảm giác vui, mới nói buồn. Nếu không hề trải qua cảm giác vui thì không thể nào biết cảm giác này là buồn. Mà chỉ biết nó là như vậy như vậy. Thực tế trên thế gain với cái nhìn hiện tại của chúng ta, thì thấy có vô thường, khổ... nên biết nếu khẳng định ngã, thường, lạc, tịnh thật không thì lại không đúng!
Như vậy điên đảo diệt
Vô minh ắt cũng diệt
Vì vô minh đã diệt
Chư hành v.v... diệt (22)
Như vậy điên đảo chấm dứt, tức sự phân biệt chấp trước chấm dứt. Sự phân biệt chấp trước có, chính là do mê lầm thấy không đúng gọi là vô minh. Một khi không còn điên đảo tức cái thấy mê lầm đã mất. Nên nói điên đảo diệt, ắt vô minh diệt. Vô minh diệt thì không còn khởi ba hành để luân chuyển nữa, tức vòng mắc xích nhân duyên cũng diệt.
Tóm lại:
Nếu phiền não tánh thực
Mà là có sở thuộc
Làm sao có thể đoạn
Ai hay đoạn tánh kia (23)
Nếu phiền não hư vọng
Không tánh không sở thuộc
Làm sao có thể đoạn
Ai hay đoạn không tánh (24)
- Nếu phiền não tánh thực, tức có tánh, thì thường trụ. Nếu thường trụ làm sao đoạn làm sao diệt được?
- Nếu phiền não hư vọng không thực, tức không tánh thì cũng không thể đoạn, không thể diệt. Không ai có thể diệt các hoa đốm trên không, khi hoa đốm có là do mắt bị bịnh. Một khi mắt lành thì hoa đốm tự mất. Chỉ khi sự phân biệt chấp trước không còn thì phiền não tự mất. Không cần đoạn không cần diệt. Mà sự chấp, người chấp và bị chấp tồn tại trong quan hệ nhân duyên, đâu có gì là cố định mà không thể buông bỏ.
Thiền Sư Nguyệt Am một hôm đến chơi Phong nguyệt đình, thấy có đề bài thơ:
Phong lai tùng đảnh thanh nan lập
Nguyệt đáo ba tâm đoạn dục trầm
Hội đắc phong tùng nguyên ngoại vật
Thủy tri giang nguyệt tư ngô tâm.
Đọc xong Sư liền nói: “Ai làm bài thơ này là kẻ mù”.
Như trên đã nói, “Dục trầm” là loại phiền não hư vọng, không tánh, làm sao có thể đoạn. Chỉ biết nó là hư vọng không theo – tức liễu được nó – thì nó tự mất. Khi thật sự biết nó hư vọng thì cũng như mắt lành bịnh. Lỗi của chúng ta là cho ngoài tâm thật có vật, trên vật lại sanh phân biệt, rồi sanh “dục trầm”. Sanh rồi lại thấy nó thật có nên cố đoạn. Không thật sao lại đoạn? Chỉ cần biết nó là vọng... không theo, thì có vật hay không vật, có pháp hay không pháp có can hệ gì!
“Biết vọng không theo” kiên trì từ năm này sang năm nọ không phải là để hết vọng, mà là để nhận ra rằng chúng thật là vọng. Chỉ khi chúng ta thực thấy rằng những suy nghĩ, những quan niệm tồn đọng chấp trước này là của chính chúng ta tự bày ra, tự vẽ vời rồi tự ôm lấy, thấy chúng thật là vọng, thấy các pháp thật như sương như mộng – không phải do nghe, do tin mà nói là vọng, là mộng – thì vọng tự dứt. Khi ấy cái gì là theo, là không theo?
Cũng vì cho các pháp “nguyên ngoại vật”, ngoài tâm có pháp nên mới phải đoạn, phải trừ mà trú vào chỗ tịch lặng, bỏ công hạnh, đánh mất tự tâm vốn tịch mà chiếu. Do cái thấy chưa thấu thoát nên bị thiền sư Nguyệt Am cho là mù. Nhưng nếu thật chưa liễu được vọng, thì phải cố mà buông mà đoạn... để có khoảng mà tịnh, không thì không phải kẻ mù mà là kẻ điên. Chỉ có điều, không nên lầm phương tiện với cứu cánh. Cứu cánh mà không phương tiện thì chúng sanh vẫn hoàn chúng sanh. Phương tiện mà lầm cứu cánh thì uổng công vô ích, phí cả đời tu. Rõ thật có mắt như mù.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/3/2018.
No comments:
Post a Comment