KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.8)
NGHĨA QUẢNG ĐẠI CỦA NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP (2)
- Các thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể gánh vác 4 thứ trọng trách dụ như đại địa kia. Thế Tôn! Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế. Các thiện nam tử, thiện nữ nhân kiến lập đại địa có thể gánh vác 4 thứ trọng trách. Vì tất cả chúng sanh mà làm người bạn không mời thỉnh, làm mẹ pháp ở thế gian, dùng đại bi để lợi ích và thương xót loài hữu tình. Cũng như đại địa là chỗ sanh ra 4 thứ báu.
Trên là nêu ra 4 loại Phật pháp từ cạn đến sâu. Đây là vô đề để qui kết trách nhiệm. Tu Phật thì phải đảm đương 4 loại Phật pháp đó, như đất đảm đương 4 thứ đại hải, cây cỏ v.v…
KIẾN LẬP ĐẠI ĐỊA là chỉ cho việc nhiếp thọ chánh pháp của người tu. Chính là xây dựng lại nền móng cũng như mở rộng mảnh đất tâm vốn sẵn đủ của mình.
Thói thường ở đời thì có thích mới có mời thỉnh. Không ai đi thỉnh thứ mình không thích. Song lợi ích cho chúng sanh thì không phải chỉ có thuận hạnh mà còn cả nghịch hạnh nữa. Nghịch hạnh thì chắc chắn không ai ưa, nên nói KHÔNG MỜI THỈNH. Song dù là thuận hay nghịch thì thiện nam tử hay thiện nữ nhân ấy đều mang lại lợi ích cho chủ nhân, nên nói là BẠN. Tóm lại, KHÔNG THỈNH MỜI mang ý nghĩa : Tùy duyên mà đến để làm lợi ích cho người.
Thói thường của người đời là người thân thì thứ gì cũng cho được, còn không thân thì tính toán ngược xuôi, thấy người khổ thì thương mà thấy người vui vẻ sung sướng lại cành nanh, ghét bỏ v.v… Đã tính toán và ghét bỏ thì khó mà nhiếp hóa được người. Vì thế, muốn nhiếp hóa chúng sanh bằng xương bằng thịt thì phải có ĐẠI BI. Đại bi là lòng thương xót rộng lớn. Không phải người thân của tôi tôi mới thương, không phải nghèo đói tôi mới cho, không phải người cùng khổ tôi mới đoái hoài. Chỉ cần có duyên chớ không cần thân hay sơ, nghèo hay giàu, cùng khổ hay vui sướng … Có duyên thì tùy duyên mà làm lợi ích cho người để dẫn người về đạo vô thượng. Như người mẹ với tấm lòng rộng mở bình đẳng đối với con cái. Dạy người những điều hay lẽ phải để người có cuộc sống an vui nên gọi là mẹ pháp.
Gánh vác 4 trọng trách thì sẽ cho ra 4 thứ đại báu. Sau sẽ nói về 4 thứ đại báu đó.
- Thế nào là bốn? Một là vô giá, hai là giá cao, ba là giá vừa, bốn là giá thấp. Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế. Thiện nam tử, thiện nữ nhân kiến lập đại địa, chúng hữu tình gặp rồi sẽ thu được 4 thứ báu rất là thù thắng trong tất cả báu. Thế nào là bốn? Các chúng sanh một khi đã gặp bạn lành thì hoặc thu được thiện căn của cõi trời người, hoặc chứng Thanh văn, hoặc chứng Bích Chi Phật, hoặc được thiện căn công đức của Vô thượng thừa. Đó gọi là nhiếp thọ chánh pháp. Thiện nam tử và thiện nữ nhân kiến lập đại địa, chúng hữu tình gặp rồi, liền có thể thu được 4 thứ đại báu. Thế Tôn! Xuất sanh đại báu đó gọi là chân thật nhiếp thọ chánh pháp.
4 thứ báu từ giá thấp đến giá cao là chỉ cho 4 pháp đã nêu trên. Thấp nhất là phước báu cõi trời người. Cao nhất là thiện căn công đức của Vô thượng thừa. Tức chỗ tột cùng của Đại thừa, là Nhất thừa.
BẠN LÀNH là chỉ cho thiện nam tử, thiện nữ nhân kiến lập đại địa, là chỉ chung cho các vị thiện tri thức. Dù là một bậc tôn trưởng cao cả, một người đầu đường xó chợ hay một đứa con nít … Người nào giúp mình thấy được lẽ phải của cuộc sống, người đó gọi là BẠN LÀNH.
Theo đây thì thấy, gặp được người dạy cho mình làm việc phước thiện hay tu hành là mình đang có được phước báu rất lớn. Thiền sư Thánh Nhất nói “Khi pháp bảo đến tai chính là nhờ kết quả của thiện nghiệp trong quá khứ mà ta có thể được nghe, rồi hiểu phước đức của mình và tôn kính pháp. Hạnh phúc thì vô biên và công đức thì vô lượng!”. Nhờ phước báu đã gieo trong quá khứ, mình mới nghe được những lời chỉ dạy chân tình. Nghe pháp mà đúng căn cơ trình độ của mình thì chắc ai cũng nếm qua cái mùi hạnh phúc vô biên rồi. Nhưng đó là mấy bài pháp không đụng đến ngã tướng của mình. Còn lời dạy nào đụng đến ngã tướng hay tật xấu của mình thì cái hạnh phúc kia sẽ bị bóp méo. Vì thế mình hay có khuynh hướng né xa những gì làm tổn thương đến mình. Tạo thiện nghiệp để được phước báu, nhưng khi phước báu đến tai mình lại chối bỏ. Rất là phí phạm!
Nghe được những lời dạy làm tổn thương mình mà bình thản được với những tổn thương ấy, rồi bỏ đi các thói xấu đang vướng phải mới thật là “Hạnh phúc thì vô biên và công đức thì vô lượng!”.
Như vậy người ban ra 4 thứ báu hay người nhận được 4 thứ báu đều là đang thực hành nhiếp thọ chánh pháp. Chỉ tùy thô tế mà có cạn sâu. Chỗ xuất sanh đại báu đó gọi là CHÂN THẬT NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP.
- Thế Tôn! Nói nhiếp thọ chánh pháp đó, không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh pháp. Chánh pháp tức là nhiếp thọ chánh pháp. Thế Tôn! Không khác Ba la mật, không khác nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật. Vì sao?
NÓI NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP ĐÓ là nói đến “Chân thật nhiếp thọ chánh pháp” vừa nói trên. Nếu là chân thật nhiếp thọ chánh pháp thì nó không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh pháp. Đây là muốn nói đến thực chất của 3 thứ đó, là chỉ cho cội nguồn chân thật nhất tâm, là TÁNH THỂ của vạn pháp. Cùng một cội nguồn nên chúng không khác. Do mê mà có mọi hình tướng khác nhau nên chúng không một. KHÔNG MỘT CŨNG KHÔNG KHÁC là khái niệm dùng để chỉ cho thực tánh hay thực tướng của vạn pháp như luận Trung Quán đã nêu bày.
NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP là chỉ cho hành động năng nhiếp thuộc về chủ thể. CHÁNH PHÁP là chỉ cho sở nhiếp, chính là pháp được nhiếp. Như người tu Thanh văn thừa thì nhiếp thọ chánh pháp thuộc về hành giả tu pháp Thanh văn đó. Còn pháp Thanh văn là chánh pháp. Chính xác hơn, tâm năng chứng thì NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP. Cảnh giới sở chứng là CHÁNH PHÁP. Trong 3 loại đại báu đầu, ngay cả cảnh giới sở chứng của các vị Duyên giác vẫn còn trong vòng năng giác sở giác. Chỉ có hàng Bồ tát thực chứng được cội nguồn chân thật của vạn pháp thì cái chứng ấy mới không còn năng sở. Phu nhân muốn nhấn mạnh đến chỗ thực chứng đó, là phần “NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh pháp. Chánh pháp tức là nhiếp thọ chánh pháp”. Đây là mức phải đến của người tu Đại thừa, cũng là cái nhân vô sanh để có quả là niết bàn Phật. Tuy chánh pháp có đến 4 nhưng rồi cũng qui về Nhất thừa, nên gọi là chân thật nhiếp thọ chánh pháp.
Vì sao đây lập lại 2 lần NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP? Là do chủ thể năng nhiếp có 2. Tuy đều là năng nhiếp chánh pháp nhưng trong 2 thứ năng nhiếp này, một là xuất sanh 4 loại báu, một là nhận được 4 loại đại báu đó. Là năng sở của nhau, nhưng cả hai đều là năng nhiếp của một cái sở là chánh pháp. Nghĩa là, loại năng nhiếp thứ hai vừa làm nhiệm vụ năng nhiếp chánh pháp vừa làm nhiệm vụ sở nhiếp của cái năng nhiếp thứ nhất. Vì thế nói “Nhiếp thọ chánh pháp đó, không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh pháp”.
KHÔNG KHÁC vì cùng một THỂ mà ra. Nói TỨC là như vậy. Ngay đó nhưng có thể chính đó mà cũng có thể chưa phải là đó. Khi chưa về được cội nguồn chân thật thì vẫn còn hai còn ba. Về được rồi thì thấy không hai không ba.
Như căn - trần - thức có chung một cội nguồn thanh tịnh là nhất tâm, song do bất giác mà biến hiện ra 3 thứ căn - trần - thức. Vì 3 thứ đó có hình thức không giống nhau nên nói KHÔNG MỘT, nhưng cả ba đều không ngoài cái THỂ chân thường, nên nói KHÔNG KHÁC.
Như nước bình thường và sóng. Hình thức của sóng khác nước nên có hai tên, nhưng cả hai đều là nước biển. Khi không có gió thì sóng chính là nước. Cái này không phải cái kia nhưng không lìa khỏi cái kia, nên nói là TỨC. Cái CÙNG chỉ cho cho cái KHÔNG KHÁC. Cái KHÁC chỉ cho cái KHÔNG MỘT. TỨC là như vậy.
Đây chỉ tạm dùng thí dụ và lý luận để hiểu sơ về điều phu nhân Thắng Man muốn nói, còn chỗ năng sở dứt bặt đó - đây nói KHÔNG KHÁC hoặc TỨC - là chỗ phải tự trực chứng lấy. Cái TÁNH THỂ ấy không thể dùng tri thức đây mà diễn tả được.
“Không khác Ba la mật, không khác nhiếp thọ chánh pháp” là muốn nói “Nhiếp thọ chánh pháp đó, không khác Ba la mật, không khác nhiếp thọ chánh pháp”. Ý nghĩa tương tự như đã giải thích trên.
VÌ SAO? là để giải thích phần “Nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật”. Vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp chính là Ba la mật? Vì Ba la mật là đến bờ kia. Chân thật nhiếp thọ chánh pháp chính là cái bờ đó. Nên nói nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật.
Sau là nói về 6 Ba la mật, qua đó hiển thị mặt nhiếp thọ chánh pháp liên quan thế nào đến Ba la mật.
- Thiện nam tử, thiện nữ nhân khi nhiếp thọ chánh pháp, nếu cần dùng BỐ THÍ để thành thục chúng sanh thì lấy bố thí để mà thành thục … Cho đến xả thân thuận theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ được an trụ trong chánh pháp, gọi là THÍ BA LA MẬT.
Hành giả khi tu hành hoặc làm lợi ích cho tha nhân đều trải qua phần bố thí này. Bố thí là phương tiện để đưa ta đến bờ kia. Phương tiện thì không có tính bất di bất dịch nên nói NẾU CẦN. Cần mới dùng, không cần thì thôi. Mục đích của việc bố thí này là để THÀNH THỤC CHÚNG SANH. Tùy duyên mà việc thành thục chúng sanh có hai :
1. Thành thục chúng sanh trong tâm : Chỉ khi đến được hạng BẤT ĐỘNG ĐỊA, là hạng không còn bị trí phân biệt chi phối, ta mới chắc là mình đã hết tham và hết sân. Còn trước đó, vẫn phải coi chừng. Nếu cần thành thục những niệm tham trong tâm thì khi bố thí không cần quan tâm đến đối tượng (Như Phật bố thí vợ con chẳng hạn). Cứ thấy còn tâm hẹp hòi, bỏn xẻn, còn sự tính toán thì phải bố thí ngay để phá đi tâm chấp thủ. Đối tượng được bố thí sẽ có nhân duyên với mình sau này.
2. Thành thục chúng sanh ngoài tâm : Việc bố thí nào thành thục được chúng sanh thì bố thí, không thành thục được thì không bố thí. Chẳng hạn cho nó tiền đi nhậu mà nhắm bảo nó bỏ rượu được thì hãy bố thí. Còn bố thí để nó thỏa mãn thêm cơn nghiện, rồi đâm đầu vào xe tải thì thôi, để tiền cúng dường cho chư vị đại đức cao tăng, cầu chư Phật gia hộ khiến nó gặp được chư vị Bồ tát đủ năng lực cứu nó còn hơn.
THÂN là chỉ cho thân thể của mình đây. Gồm có đầu, não, chân, tay v.v… XẢ THÂN là cho đi những thứ đó. Như bây giờ người ta hay đi hiến máu, cũng là một loại xả thân. Người nào xin mình một cánh tay rồi nói “Tôi nguyện sẽ tu cho đến khi thành Phật nếu được bà cho cánh tay của bà”. Nghe vậy mà mình tặng họ cánh tay liền, gọi là “Xả thân thuận theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ được an trụ trong chánh pháp”.
XẢ THÂN còn mang ý nghĩa là làm việc hết mình cho mọi người. Như mẹ xả thân cho con hoặc người ta yêu nhau rồi xả thân vì nhau. Xả thân nói đây cũng như vậy, nhưng không phải vì yêu thương nhau mà xả thân. Hình thức thì giống mà tinh thần thì khác. Xả thân là vì con đường tối thượng của mình đòi hỏi mình phải xả thân để tiêu trừ ngã chấp. Cái xả thân đó vô tình trở thành cái duyên khiến người động lòng cùng hướng về đạo vô thượng với mình.
Việc bố thí thành thục chúng sanh này không phải chỉ có trong một đời. Có bố thí là có gieo duyên. Có DUYÊN và có CHÁNH PHÁP TRÍ thì có ngày sẽ thành thục được người hữu duyên. Song do sự hạn hẹp vì điều kiện của người tu trong hiện tại mà có khi cần phải chọn cái trước mắt làm trước, cái chưa đủ điều kiện làm sau. Như trong kinh Niết Bàn Phật dạy, người có thể độ được trong đời này thì phải độ trước, kẻ chưa có điều kiện để đó từ từ độ sau …
Cái khó là phải biết rõ mình trong vấn đề ấy thế nào. Việc này đòi hỏi cần có chánh pháp trí. Muốn có chánh pháp trí thì phải có công phu. Thành loại bố thí để thành thục chúng sanh trong tâm rất cần thiết với mình. Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.
Phần Ba la mật dùng để thành thục chúng sanh này đặt nặng ở việc thành thục chúng sanh ngoài tâm. Thành thục chúng sanh ngoài tâm nhưng chính là để thành thục chúng sanh trong tâm. Đây là giai đoạn lấy đại bi để viên mãn đại trí.
Như nói thế giới này như huyễn. Nhưng đối duyên cần cho thân này để thành thục chúng sanh, mình chưa dám cho, thì cái như huyễn mình biết được đó chỉ mới trên mồm mép lý thuyết chứ thực tế thì chưa có gì như huyễn đối với mình. Nghĩa là, LÝ và SỰ của mình chưa hòa hợp viên dung. LÝ SỰ chưa viên dung thì cảnh giới SỰ SỰ VÔ NGẠI của chư Phật còn cách rất xa. Cho nên, giai đoạn dùng bi nguyện để thành thục chúng sanh đây chính là giai đoạn để người tu thực hiện phần LÝ SỰ VIÊN DUNG của mình. Vì thế phần bố thí đây gọi là BỐ THÍ BA LA MẬT. Bố thí mà đến được bờ kia.
CHÁNH PHÁP nói đây bao gồm 4 loại pháp Người, Trời, Thanh văn … Vì thế đi trên những con đường đó gọi là AN TRỤ CHÁNH PHÁP.
Thiền sư Ryokan nghe tin người cháu trai của ông phá tán tiền bạc sự nghiệp vào những chỗ ăn chơi trác tán. Ông trở về, người cháu vui mừng mời chú ở lại một đêm. Ryokan thiền định suốt đêm. Sáng hôm sau ông cột lại dây giày trước khi đi, nhưng vì run tay ông không làm được việc đó. Người cháu cúi xuống giúp chú làm tiếp công việc còn lại. Ông nói “Cám ơn con. Con người ai rồi cũng già và yếu dần. Con hãy bảo trọng lấy mình!”. Rồi ông từ giã cháu ra đi mà không hề có một lời nào về sự chơi bời phá tán của cháu. Nhưng kể từ sáng hôm đó, người cháu không còn đốt tiền vào những trò vô bổ nữa. Giúp người trở lại con đường chánh như vậy là một dạng của việc “Khiến người AN TRỤ TRONG CHÁNH PHÁP”.
- Nếu cần dùng GIỚI để thành thục chúng sanh thì thủ hộ 6 căn, tịnh thân, khẩu, ý cho đến tất cả mọi oai nghi. Tùy thuận ý họ mà thành thục họ, khiến họ có thể an trụ trong chánh pháp, gọi là GIỚI BA LA MẬT.
GIỚI là phần quan trọng không chỉ cho Tăng Ni mà còn cả cư sĩ nữa. Hiện nay nó chính là thứ đánh giá đạo hạnh của ngươi tu. Như bây giờ Phật tử mình đi cúng dường thì đương nhiên phải cúng dường cho chư Tăng Ni thanh tịnh. Thanh tịnh ở tâm thì mình khó biết, nhưng tối thiểu phải có cái thanh tịnh ở thân. Mình không thể cúng dường cho một vị Tăng đang có vợ, uống rượu bia, hút thuốc lá hay suốt ngày cắm đầu vào phim sex. Vì sao? Vì đạo Phật là đạo bỏ đi những tham dục của người đời. Mình cúng dường và tôn trọng chư vị cũng vì chư vị làm những việc mà mình không làm được. Do ý muốn của chúng sanh như vậy nên chí ít chư vị phải trang bị đầy đủ những thứ đó, để chúng sanh có chỗ nương tựa tôn kính, thích đến chùa cúng dường, lễ bái Tam bảo, nghe pháp và đủ lòng tin mà thực hành pháp đã nghe. Đó là “Tùy thuận ý họ để thành thục họ”.
Không vợ con, rượu bia, thuốc lá, không xem phim v.v… là THỦ HỘ CÁC CĂN mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thủ hộ được những thứ đó không chỉ ở mức độ thô mà còn tế hơn nữa, gọi là TỊNH THÂN, KHẨU, Ý.
Song phải nhớ, hình thức GIỚI cũng chỉ là phương tiện. Nó không mang tính bất di bất dịch. Vì có phá giới mà cần có giới để ngăn ngừa. Vì tâm còn nhiễu loạn nên phải dùng giới để nhiếp. Vì thành thục chúng sanh mà giới được lập bày. Nó chỉ là pháp Nhân Duyên. Trong cái duyên như thế thì nó như thế, còn giới không phải là chân lý để làm chuẩn cho tất cả mọi pháp ở thế gian, để khi nào hình tướng ấy cũng phải như vậy.
- Nếu cần dùng NHẪN để thành thục chúng sanh thì với người hay chữi mắng, hủy nhục, phỉ báng, nhiễu loạn thì dùng tâm không tức giận và nhẫn lực tối thượng của tâm lợi ích, cho đến sắc mặt cũng không đổi khác, tùy thuận ý họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ trong chánh pháp, gọi là NHẪN BA LA MẬT.
Tật chúng sanh của mình là hễ người đụng đến mình là mình trả đũa lại liền cho ngang cơ với người. Đây phu nhân Thắng Man khuyên, thiện nam tử thiện nữ nhân nào đang thực hiện nhiếp thọ chánh pháp thì phải bỏ đi cái tật hay trả đũa. Phải dùng tâm không tức giận và lực tối thượng của tâm lợi ích mà nhiếp hóa người hữu duyên. Trả đũa thì cứ đũa trả hoài. Hiềm khích thêm nhiều chứ chẳng thể nhiếp hóa được ai.
“Sắc mặt không đổi khác” nói đây là nói lên tình trạng bất động của người tu. Bất động nghĩa là không tức giận không buồn phiền với sự phỉ báng, chửi mắng đó. Bất động vì có sự thông cảm, hiểu biết, vì lòng bi rộng lớn, không phải bất động theo kiểu “làm cho lại gan” khiến người thêm tức tối, sân giận.
Việc tu hành cũng như việc ngoài đời, một khi mình đã có một mục đích hay một lý tưởng để theo đuổi, thì với giá nào mình cũng làm để đạt được mục đích đó. Nếu lý tưởng của mình là làm tất cả vì lợi ích của người thì cái lý tưởng ấy chính là NHẪN LỰC TỐI THƯỢNG của tâm lợi ích. Gọi là NHẪN LỰC vì cái lực ấy do tùy thuận theo ý người mà có. Nó chính là động lực để mình dẹp mọi tức giận, bất động trước mọi khó khăn mà chỉ biết đến mục đích duy nhất của mình : Vì lợi ích của người, vì con đường tối thượng của mình. Mình sẽ làm tất cả những gì khiến mục đích của mình thành công. Dù phải thí xả cả thân mạng để thành công mình còn phải làm, huống chỉ vài lời phỉ báng, hủy nhục? Thuận người mà cũng chính là thuận mình nên tuy NHẪN mà không có gì để nhẫn. Gọi là NHẪN BA LA MẬT.
- Nếu cần dùng TINH TẤN để thành thục chúng sanh thì với chúng sanh đó, chẳng khởi tâm giải đãi hèn kém mà phải khởi cái tinh tấn bậc nhất của đại lạc dục, với 4 oai nghi thì thuận theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ được trong chánh pháp, gọi là TINH TẤN BA LA MẬT.
CẦN DÙNG TINH TẤN là chỉ cho những chúng sanh lấy sự tinh tấn của người làm mẫu lý tưởng của mình. Như người thích thiện tri thức của mình phải ngồi thiền 3 cử một ngày thì hình tướng siêng năng ấy được lập bày, không thể lấy hình tướng nằm dài ngủ ngày ngủ đêm như tích của một vị thiền sư mà khuyến dụ được họ. Còn với người mà hình tướng không quan trọng, chỉ cần sự tinh tấn ở tâm mình thì dùng cái tinh tấn ở tâm mà nhiếp hóa họ. Người thích tụng kinh sám hối ba thời phải đủ, thì hình thức sám hối ba thời được lập bày v.v… Nói chung, mọi hình tướng tinh tấn được lập bày là vì thuận ý chúng sanh để nhiếp hóa họ, nên nói VỚI 4 OAI NGHI ... Còn bản thân những tướng đó không có thứ gì là chuẩn mực nhất định để mọi người phải giữ chặt. Duyên khởi là như vậy.
ĐẠI LẠC DỤC là chỉ cho cái dục hướng thượng, là chỉ cho ý muốn cầu Phật đạo và làm lợi ích cho tha nhân … Cái DỤC ấy không mang đến sự đau khổ mà mang đến sự an vui to lớn, bởi nó mang tính vị tha, không mang tính vị kỷ. Vị tha thì tùy thuận được với cội nguồn chân thật nhất tâm. Cội nguồn ấy vốn thường, lạc, ngã, tịnh nên cái DỤC ấy mang tính ĐẠI LẠC.
- Nếu cần dùng TỊNH LỰ để thành thục chúng sanh thì với chúng sanh đó, dùng tâm không tán loạn để thành tựu chánh niệm, những việc từng làm không bao giờ quên mất, thuận theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ trong chánh pháp, gọi là TỊNH LỰ BA LA MẬT.
TỊNH LỰ là chỉ cho thiền định. Đối cảnh mà không để cho ngoại vật làm lay động thì tâm không thể tán loạn. Đó là thành tựu chánh niệm. Có chánh niệm thì việc nào ra việc đó rõ ràng không hề lầm lẫn. KHÔNG QUÊN MẤT không phải là cái nhớ của ý thức, không muốn nhớ cũng cứ nhớ, mà là cái nhớ của chánh niệm. Như người thầy thuốc dùng thuốc trong hộc. Cần thì có thuốc, không cần thì thuốc được cất kỹ trong hộc. Kinh Hoa Nghiêm nói “Tổng Trì Đại Quang Minh Thân Vương được môn Đà La Ni Quang Minh Giải Thoát ghi nhớ tất cả pháp không quên mất”.
- Nếu cần dùng TRÍ TUỆ để thành thục, thì đối với chúng sanh nào vì lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì dùng tâm không nhàm mỏi, vì họ diễn nói tất cả các luận, tất cả minh xứ cho đến mọi thứ công xảo, khiến họ được chỗ tận cùng, tùy thuận ý họ mà thành thục họ khiến họ an trụ trong chánh pháp, gọi là TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
TRÍ TUỆ là chỉ cho trí Bát Nhã. Nó là dụng của Phật tâm sẵn có trong mỗi chúng sanh, do vô minh mà mình không thể sử dụng được nó. Những lời phu nhân đang nói đây cũng xuất phát từ loại trí ấy. PHÁP NGHĨA là nghĩa lý của kinh luận hoặc những hiểu biết trong cuộc sống có liên quan đến chánh pháp.
MINH XỨ là chỉ cho 5 minh. CÔNG XẢO MINH là một trong 5 minh đó. Nó chuyên về những thứ như kỹ thuật, công nghệ thế gian, văn tự toán số, thơ ca, ấn loát, các sách luận về địa, thủy, hỏa, phong v.v… Dùng các thứ này là để diễn nói cho người chứ không phải học những thứ đó mà thành Phật được. Vì sao diễn nói cho người? Vì người muốn như thế nên mình phải mượn những thứ đó để thu phục lòng người. Những thứ như công nghệ kỹ thuật thế gian là những thứ giúp người có phương tiện sống ở đời, nó thuộc mặt vật chất. Những thứ còn lại là vì theo tánh dục của người, thuộc về mặt tâm linh. Như người mê bói toán tử vi thì chỉ có tử vi bói toán mới khiến họ quan tâm. Mình phải giỏi mấy thứ đó mới có thể làm người tin tưởng và gần gũi mình. Có tin tưởng gần gũi, mới nhiếp hóa người về chánh pháp được.
Tử vi, bói toán hay sách luận địa, thủy v.v… bản thân nó không có lỗi, cũng không phải là tà pháp hay chánh pháp. Nó trở thành tà hay chánh, lỗi hay không lỗi là tùy duyên. Duyên ở đây là người sử dụng nó. Nếu mình sử dụng nó mà không nhìn đúng bản chất của nó thì nó thành lỗi. Còn sử dụng nó mà biết rõ bản chất của nó, dùng nó như một loại phương tiện tạm thời thì nó không lỗi. Vì thế, khi chưa có trí tuệ Phật thì rất cần phân rõ chánh tà, khi đã có trí tuệ thì tất cả pháp đều là Phật pháp.
Như số tử vi. Cái quyết định tốt hay xấu của một con người là những vì sao được ghi trong đó. Khi ta thấy những vì sao đó là thứ quyết định vận mạng của mình rồi cúng sao giải hạn để thoát khỏi tai ương, mà bỏ qua mặt đạo đức phước thiện trong hiện tại thì lúc đó tử vi trở thành tà pháp. Kiểu đó chính là mê tín dị đoan. Vì sao là tà pháp? Vì mình nhìn không đúng bản chất của nó. Nó khiến mình lầm nhân lộn quả. Lầm nhân lộn quả thì sẽ đọa vào 3 đường dữ, nên gọi là tà pháp.
Nếu biết những vì sao trong tử vi chỉ là những thứ đại diện cho một thói quen. Phật gọi là nghiệp tập. Những nghiệp tập trong quá khứ đã khiến mình có cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ trong hiện tại, được thể hiện qua sự kết hợp giữa những vì sao, mà cung phúc đức là thứ quyết định rất lớn, thì lúc ấy tử vi không phải là tà pháp. Vì sao nó không phải là tà pháp? Vì mình nhìn đúng bản chất của nó. Cái quyết định hạnh phúc và đau khổ của con người không phải là những vì sao mà chính là những nghiệp tập của chính mình. Vì thế tử vi không phải là thứ quyết định vận mệnh của mình. Nó chỉ là thứ giúp mình nhận rõ những thói quen tốt và xấu trong mình. Loại bỏ chúng đi hay khuếch trương chúng lên để cuộc sống của mình được hạnh phúc vui vẻ. Ngoại trừ loại định nghiệp thì mình phải chịu, còn lại đều có thể thay đổi bằng hành vi và ý nghĩ thiện của chính mình. Thấy đúng bản chất của nó như vậy thì nó không còn là tà pháp.
Như sao Địa kiếp ấn định cho tánh ích kỷ, nóng nảy. Gọi là tánh vì cái nóng nảy ấy đã thành thói quen. Phật gọi là tập nghiệp. Ai có loại sao đó trong bản mệnh thì tánh tình hay nóng nảy ích kỷ và thường gặp nhiều chuyện không hay. Dù nó kết hợp đúng bộ với các sao Thiên tướng v.v… thì nó vẫn tiềm ẩn mối nguy hại. Điều này không có gì thắc mắc. Ích kỷ và nóng nảy thì đưa đến kết quả gì ở cuộc sống này? Không được gì hết ngoài bịnh hoạn, đau khổ và tiềm ẩn tai ương. Muốn không bị ảnh hưởng bởi cái xấu của nó thì mình phải quăng nó ra khỏi bản mệnh của mình. Nghĩa là, mình phải làm chủ được tánh nóng giận và mở lòng với mọi người. Nói chung là xem xét vào chính bản thân mình để bỏ đi các tập nghiệp xấu, khuyếch trương những tập nghiệp tốt.
Sinh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm nhưng không phải cuộc đời nào cũng giống nhau. Là bởi còn tùy cái duyên phúc đức trong hiện đời. Lại còn tùy vào sự cảm ứng của ông Thầy với chủ nhân. Phải thầy dõm thì coi như xong. Cho nên, đặt niềm tin vào những thứ tương đối thì chỉ bấp bênh và khổ não. Không bằng cứ sống thiện và làm thiện, để ý gì đến những thứ ấy cho phiền phức.
Khiến họ được CHỖ TẬN CÙNG là giúp họ đạt được chỗ thâm diệu của môn công xảo cũng như nhận ra đúng bản chất của môn công xảo đó. Có gì không ngoài tâm mà phải bận tâm theo những hình thức đó? Theo tánh dục của tha nhân mà giúp tha nhân không lầm lẫn nhân quả ở thế gian, là giúp họ thành tựu an trụ trong chánh pháp.
Phần học pháp thế gian này, đến phần trí tuệ Ba la mật mới đề cập đến, vì nó đòi hỏi người tu phải có trí tuệ. Có trí tuệ thì dùng pháp mới không lầm lẫn. Không thì dụng pháp nhiếp hóa tha nhân một thời gian mình thành thầy bói lúc nào không hay, còn không thì lang thang đâu đó rồi quên mất đường về. Đó là dụng pháp nhiếp hóa người mà bị pháp nhiếp hóa mình.
Phải có cái trí nhận rõ được bản chất của sự vật thì mới không bị chúng kéo lôi. Thứ gì cũng chỉ là phương tiện, như huyễn như hóa, không có gì ngoài tâm. Chưa có trí tuệ mà dính vào mấy thứ này sớm thì sẽ bị ma Ba Tuần dẫn đường. Việc này hiện nay không phải là không có. Đây là do dụng pháp mà không biết đến căn cơ trình độ của mình. Nghe Phật dạy học tập ngũ minh là cắm đầu vào học mà không xem lại căn cơ của mình thế nào, không xem kỹ Phật dạy khi nào mới học mấy thứ đó. Vào thế giới nhân duyên mà khi hành xử, lại bỏ mất mặt nhân duyên của pháp nên đường tu có khi thành lỡ dở.
- Cho nên, bạch Thế Tôn! Không khác Ba la mật, không khác nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật”.
Đây là lời tổng kết của phu nhân Thắng Man sau khi nói về 6 Ba la mật. Trên nói về nhiếp thọ chánh pháp không khác Ba la mật. Rồi hỏi “Vì sao?” để giải thích. Giải thích xong, đây kết luận lại một lần nữa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2018.
No comments:
Post a Comment