Saturday, March 3, 2018

KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.10)




BIẾN DỊCH SANH TỬ VÀ PHẦN ĐOẠN SANH TỬ
- Như Phật Thế Tôn nói LỤC XỨ là chánh pháp trụ, chánh pháp diệt, biệt giải thoát, tỳ nại da, chánh xuất gia và thọ cụ túc. Vì Đại thừa mà nói 6 thứ này. Vì sao? Chánh pháp trụ là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa trụ thì chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa diệt thì chánh pháp diệt. Biệt giải thoát và tỳ nại da, 2 pháp này danh thì khác mà nghĩa lại đồng. Tỳ nại da là pháp học của Đại thừa. Vì sao? Vì cầu Phật rồi xuất gia mà thọ cụ túc. Cho nên, giới uẩn Đại thừa là tỳ nại da, là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.
“Chánh pháp trụ là vì Đại thừa trụ, chánh pháp diệt là vì Đại thừa diệt” nói lên tầm mức quan trọng và tính quyết định của Đại thừa đối với chánh pháp.
BIỆT GIẢI THOÁT là chỉ cho phần GIỚI, như 5 giới của Phật tử tại gia, 250 giới của Tỷ kheo v.v… TỲ NẠI GIA là một trong 3 pho tam tạng nói về LUẬT, cũng bao gồm những điều răn dạy như giới, nên đây nói “Biệt giải thoát và tỳ nại da, 2 pháp này danh thì khác mà nghĩa lại đồng”. Chúng là pháp học của Đại thừa. Nói chúng là pháp học của Đại thừa vì có cầu làm Phật mới xuất gia và thọ cụ túc. CỤ TÚC là giới của Tỷ kheo và Tỷ kheo ni, là giới cao nhất trong BIỆT GIẢI THOÁT.
GIỚI UẨN là chỉ cho sự nhóm họp của tất cả giới. CHO NÊN … là câu tóm kết về giới Đại thừa.
- Bạch Thế Tôn ! A La Hán thì không có xuất gia và thọ cụ túc. Vì sao? Vì A La Hán chẳng cầu Như Lai rồi xuất gia mà thọ cụ túc.
Chư vị La Hán ngày xưa, thấy vị nào cũng đầu tròn áo vuông không có vị nào mang tướng cư sĩ. Đây vì sao nói A La Hán không có xuất gia và thọ cụ túc? Chỉ vì các vị cầu quả A La Hán mà không cầu quả vị Phật. Vì cái cớ ấy mà nói các vị không xuất gia, không thọ cụ túc dù mấy thứ đó các vị làm đầy đủ.
- A La Hán có cái tưởng sợ sệt mà qui y Như Lai. Vì sao? Vì đối với mọi việc làm, A La Hán có cái tưởng sợ sệt như có người cầm kiếm muốn đến hại mình. Cho nên, A La Hán chẳng chứng được sự an lạc do xa lìa rốt ráo. Thế Tôn! Qui y mà chẳng nhờ qui y, như các chúng sanh không có qui y, cái gì cũng sợ sệt. Vì để an ổn mà cầu qui y. Thế Tôn! A La Hán cũng vậy, có tâm sợ sệt nên qui y Như Lai. Cho nên A La Hán và Bích Chi Phật sanh pháp vẫn còn, phạm hạnh chưa thành, chỗ làm chưa xong, còn có chỗ đoạn, vì chưa được cứu cánh, còn cách xa Niết bàn. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới chứng được Niết bàn, thành tựu vô lượng tất cả công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chỗ cần đoạn đều đã đoạn, rốt ráo thanh tịnh, làm chỗ chiêm ngưỡng cho loài hữu tình, siêu vượt cảnh giới Nhị thừa và Bồ tát. A La Hán thì chẳng như thế. Nói ‘được niết bàn’ chỉ là phương tiện của Phật. Cho nên, A La Hán còn cách xa Niết bàn.
Mấy vị không cầu Phật đạo chỉ cầu A La Hán vì các vị có tâm sợ sệt đối với thế gian, chỉ muốn cầu sự an ổn cho mình. Vì thế, qua được phần thọ ấm và tưởng ấm, các vị trụ luôn trong trạng thái yên lắng của hành ấm không chịu ra nữa. Trong khi muốn thành Phật thì phải trải dài sanh tử nhiếp hóa chúng sanh hữu duyên. Đó chính là quá trình tiếp duyên để thanh lọc phần tập khí ẩn sâu trong thức tạng của mỗi người. Vào ma đạo để thành Phật đạo. Kinh Duy Ma nói “Bồ tát thực hành phi đạo là thông đạt Phật đạo”. Vào phi đạo mà không để ma đạo làm nhiễm là thông đạt Phật đạo. Vì có tâm sợ sệt, không dám vào ma đạo để hoàn thành Phật đạo nên nói “A La Hán chẳng chứng được sự an lạc do xa lìa rốt ráo”. XA LÌA RỐT RÁO là xa lìa phần tập khí từ vô thủy vô minh, đây gọi vô minh trụ địa. Bởi phần vô minh trụ địa này chưa hết nên các phiền não sẽ sanh khởi khi tiếp duyên. Tâm đã hưởng được cái lạc của sự không sanh khởi mà giờ khởi lại thì thấy bất an. Quả là phiền não!
Như người nghiện rượu rồi cai rượu. Gọi là người hết nghiện khi đối duyên có rượu mà mình vẫn bình thản y nhiên. Cái bình thản đó là do thói quen uống rượu đã hết mà chủng tử mê rượu cũng bị dẹp bỏ hoàn toàn. Còn cai rượu, không tiếp duyên với rượu thì yên mà có rượu, lòng vẫn thấy lợn cợn thì chưa gọi là hết con ma rượu. Đó là vì thói quen uống rượu thì hết mà hơi hướm (tập khí) uống rượu bên trong vẫn còn. Tu Đại thừa chính là để thanh lọc luôn phần tập khí này.
Chúng sanh, như người nghiện rượu, tìm rượu uống để thỏa mãn cơn nghiện, thành cứ theo cái lực của thói quen ấy mà sanh tử vô hạn định. A La Hán thì như các vị đã cai rượu mà chưa hết tập khí uống rượu. Nên không có rượu thì các vị yên ả (vì không còn bị thói quen chi phối) mà thấy rượu thì sự sanh khởi của tâm lại thành hình. Đụng duyên thì không yên ổn, mà tới luôn như chúng sanh thì không được, nên các vị tính đường tránh duyên cho khỏe, nhập Niết bàn cho ăn chắc. Quá trình tu Đại thừa chính là đối duyên để trừ bỏ hẳn cái gốc tập khí bên trong này. Nói chính xác là để phá đi tâm phân biệt của mình. Hết tâm phân biệt thì nước hay rượu không khác nhau. Độ người hữu duyên cũng chính là độ ngay mình.
Võ Tắc Thiên đời Đường thỉnh 2 lão thiền sư vào cung rồi sai thị nữ hầu hạ tắm rửa cho 2 vị. Bà quan sát thấy thiền sư Lão An ở Tung Sơn thuộc phái thiền Nam Tông thì vui vẻ tự nhiên, còn Thần Tư thuộc phái thiền Bắc Tông thì không được tự nhiên. Bà khen “Nhờ tắm mới biết được bậc đại nhân”. Bậc đại nhân nói đây là chỉ cho thiền sư Lão An. Bởi lòng ông rỗng rang, không vướng vào ái dục cũng không vướng vào giới luật nên mọi thứ thành tự nhiên. Còn Thần Tư, vì tâm phân biệt chưa hết nên còn e ngại.
Qui y với Phật tâm của chính mình thì sẽ được 4 thứ không sợ. Song chư vị Nhị thừa chưa qui y được với Phật tự tâm mà chỉ mới qui y với Phật ngoài tâm, vẫn còn bị sự sợ hãi chi phối. Vì thế, tuy qui y rồi mà vẫn “Như các chúng sanh không có qui y” nên nói “Qui y mà chẳng nhờ qui y”.
- Bạch Thế Tôn ! Nói “A La Hán và Bích Chi Phật quán sát được 4 trí giải thoát rốt ráo, đắc tô tức xứ” là do Như Lai nói theo ý họ, chẳng phải là cái nói liễu nghĩa.
Phần LÝ Phật dạy Thanh văn và Duyên giác chưa phải là phần LÝ rốt ráo. LIỄU NGHĨA là chỉ cho phần LÝ rốt ráo, là nói về cội nguồn tột cùng.
4 TRÍ GIẢI THOÁT là chỉ cho 4 trí sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, chẳng còn thọ thân sau. Kinh sẽ giải thích rõ ở phần sau. TÔ TỨC XỨ là chỉ cho chỗ ngưng dứt ngơi nghỉ, chỉ cho trạng thái Niết bàn của hàng La Hán.
NÓI THEO Ý HỌ là tùy theo căn cơ của họ mà nói. Căn cơ của người chỉ mới tới đó thì chỉ nói tới đó thôi. Nói nữa, chúng ngán chúng đi hết thì mất cả chì lẫn chài. Đây là do tâm chúng sanh nhiều tầng nhiều lớp, nói thật không chịu nghe mà phải nói lòng vòng.
- Vì sao? Là để giải thích vì sao nói phần lý Phật dạy Thanh văn Duyên giác đó chưa phải là chỗ rốt ráo.
- Vì có 2 thứ tử. Một là phần đoạn tử. Hai là biến dịch tử. PHẦN ĐOẠN TỬ là sự tương tục của loài hữu tình. BIẾN DỊCH TỬ là, A La Hán, Bích Chi Phật, tự tại Bồ tát tùy ý sanh thân cho đến quả vị bồ-đề.
A LA HÁN là quả vị tối cùng của Thanh văn.
BÍCH CHI PHẬT là quả vị tối cùng của Duyên giác.
TỰ TẠI BỒ TÁT TÙY Ý SANH THÂN là chỉ cho các vị Bồ tát thuộc hàng Thập Địa. Các vị đã trực chứng được nhân Phật tánh nên có thể theo ý nguyện mà hiện thân tướng làm lợi ích chúng sanh, nên nói TỰ TẠI.
QUẢ VỊ BỒ ĐỀ là chỉ cho quả vị Phật. CHO ĐẾN QUẢ VỊ BỒ ĐỀ là chỉ cho hàng Bồ tát sát quả vị Phật.
Các vị đó chỉ mới qua được PHẦN ĐOẠN TỬ mà còn vướng phần BIẾN DỊCH TỬ.
PHẦN ĐOẠN TỬ là chỉ cho sự tương tục của loài hữu tình. Theo luận Thành Duy Thức, khi nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền não chướng làm duyên thì sinh ra cái quả dị thục thô phù trong tam giới với thân mạng sống lâu hay chết yểu. Do sức nhân duyên mà có sự hạn định đó nên gọi là PHẦN ĐOẠN SANH TỬ. Tức nhân duyên tụ thì có thân, nhân duyên tan thì thân mất như thân ta hiện nay với sự sống chết rõ ràng liên tục.
Khi nghiệp vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên thì sinh ra cái quả là thân mạng thù thắng vi tế. Do bi nguyện mà thân mạng này chuyển dịch không hạn định nên gọi là BIẾN DỊCH. Đây là do định lực vô lậu làm duyên trợ giúp chiêu cảm ra, nên diệu dụng khó lường. Thân biến dịch này chính là ý sanh thân của chư vị Bồ tát Thập địa cùng với thân của A La Hán và Bích Chi Phật.  
- Trong 2 thứ tử, do PHẦN ĐOẠN TỬ mà nói A La Hán và Bích Chi Phật sanh được cái trí TA SANH ĐÃ TẬN. Do chứng được quả hữu dư nên sanh được cái trí PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH, là chỗ mà tất cả ngu phu đều chẳng thể làm, 7 loại học nhân chưa thể thành tựu. Phiền não tương tục đã đoạn rốt ráo, nên được cái trí VIỆC LÀM ĐÃ XONG. Thế Tôn! Nói được cái trí CHẲNG THỌ HẬU HỮU là, A La Hán và Bích Chi Phật chưa thể đoạn tất cả phiền não, chẳng rõ tất cả trí thọ sanh. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật chưa đoạn hết hữu dư phiền não nên chẳng thể rõ tất cả thọ sanh.
Đây là giải thích về 4 danh xưng mà Phật đã gắn cho A La Hán. Nói TA SANH ĐÃ TẬN là tận được phần đoạn tử của chúng sanh, không phải tận được phần biến dịch tử. TA SANH ĐÃ TẬN mà gọi là TRÍ vì không có thứ gì ngoài tâm. Khi đạt được cái trí đó, tức an trụ được trong trạng thái thanh tịnh của tâm thì các chủng tử hữu lậu không còn sanh khởi biến hiện thành thế giới, thân và tâm như chúng ta đang thọ nhận hiện nay, nên nói SANH ĐÃ TẬN.
Nói PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH vì chứng được quả hữu dư. Quả hữu dư là chứng quả rồi mà còn dư lại một chút gì đó. Cái chút đó chỉ cho phần vô minh nghiệp tướng. PHẠM HẠNH là thứ có được sau khi hàng phục hết những hoặc nghiệp của chúng sanh. Thân, khẩu, ý không còn điều kiện tạo nghiệp nên nói PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH. Hữu dư phiền não là chỉ cho phần vô minh trụ địa.
Thanh văn có 4 bực là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Tuy là 4 nhưng thành 8 vì có phần ngay đó mà có phần hướng đến đó. Như quả Tu Đà Hoàn thì còn có phần hướng đến Tu Đà Hoàn. Trừ quả A La Hán là phạm hạnh đã thành. 7 quả còn lại đều trong giai vị hướng đến, tức phạm hạnh chưa thành tựu. Đó là 7 HẠNG HỌC NHÂN chưa thể thành tựu.
Không phải Phật, không phải 7 loại học nhân, không phải là Bồ tát, gọi là NGU PHU.
PHIỀN NÃO TƯƠNG TỤC là chỉ cho những thứ như vui, buồn, suy nghĩ v.v… là những sanh khởi của tâm khi đối duyên tiếp cảnh. Ngoài không tiếp duyên, trong thì phá bỏ sự sanh khởi của pháp trần nên phần phiền não tương tục này không còn. Loại phiền não tương tục này hết thì chứng được cảnh giới rỗng không an lạc của tâm. Ba nghiệp đã hàng phục nên không còn nhân duyên để có thân kế tiếp. Thân kế tiếp đó gọi là HẬU HỮU. Nên nói VIỆC LÀM ĐÃ XONG.
Song cái gọi là không còn thọ đời sau đó chỉ mới là chấm dứt thân phần đoạn của chúng sanh chứ chưa phải là chỗ rốt ráo không còn thọ đời sau. Vì không biết nên tưởng là không còn thọ thân sau, nhưng thật ra vẫn còn thọ thân sau. Đó là thân biến dịch. Thân biến dịch này là cái quả của vô minh nghiệp tướng kết hợp với nhân vô lậu mà thành.
Sau là nói rõ về PHIỀN NÃO để biết loại phiền não mà A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được chưa thực rốt ráo.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2018.

No comments:

Post a Comment