KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.4)
PHU PHÂN PHÁT 10 HOẰNG THỆ (2)
8. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, nếu gặp những ai không nơi nương tựa, bị các thứ tối tăm ràng buộc, bịnh tật, ưu não, nguy ách thì con chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nguyện sẽ làm cho họ được an ổn, dùng nhiều điều lợi ích khiến họ hết khổ.
BI và TRÍ là thứ sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, chỉ do vô minh che lấp mà thành nhân ngã phân biệt. Song dù ở hoàn cảnh nào thì bản chất tốt đẹp kia vẫn không mất. Vì thế, ai gặp kẻ cô độc, bần hàn, đau khổ cũng thấy động lòng thương xót và muốn giúp đỡ. Song người hay gặp khổ nạn, tai ương, nghèo khổ thường là người thiện căn kém cõi. Nói THƯỜNG chứ không nói TẤT CẢ. Thiện căn kém thì tập nghiệp xấu cũng nhiều. Tham nhiều, sân nhiều, mà ngu si cố chấp cũng nhiều. Ngu si cố chấp nhiều nên nhận lãnh của người thì nhiều mà khi nào cũng sinh tâm ghét bỏ, ganh tỵ, oán thù. Cho một đòi hai, thêm trò gian dối lừa phỉnh. Chỉ biết cái gì là vừa lòng, chứ không phân biệt được cái gì là tốt cho mình, cái gì không tốt cho mình, nên khuyên lời phải ít chịu nghe.
Tâm xấu xa mờ mịt nên cảnh giới chung quanh không thể thuận lòng. Không thuận lòng thì sân hận và tham lam càng tăng trưởng. Nghĩa là, đủ thứ rối ren và rắc rối … Vì vậy, lòng tốt của mình đối với người dễ sinh giới hạn, lòng nhiệt tình của mình dễ bị lụi tàn. Việc nhiếp hóa thành thất bại. Để khắc phục điều đó, bà đã nguyện “Chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nguyện sẽ làm cho họ được an ổn, dùng nhiều điều lợi ích khiến họ hết khổ”.
LÀM NHIỀU ĐIỀU LỢI ÍCH để họ hết khổ là dùng nhiều phương tiện làm cho họ thay đổi những quan niệm sai lầm. Vì họ chỉ hết khổ thật sự khi tự họ nghĩ thiện và làm thiện. Thay đổi một tư kiến không phải là điều dễ làm. Không phải trong một đời mà có thể làm xong. Cũng không phải chỉ thuần những thuận hạnh mà có thể làm thay đổi đi một tư kiến. Có khi phải dùng cả những nghịch hạnh để mà nhiếp hóa. Cho nên, LÀM LỢI ÍCH không có nghĩa là làm cho người được sung sướng hạnh phúc. Có khi rồi cũng cần một sự đau khổ trong hiện tại là đằng khác. Chủ yếu là để người chuyển đi một tư kiến sai lầm, hầu có được một cuộc sống thiện về lâu về dài cho những kiếp sau.
9. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, phàm thành ấp hay tụ lạc nào mà con nhiếp giữ, nếu có các ác luật nghi hủy phạm giới cấm thanh tịnh của Như Lai thì điều phục được, con sẽ điều phục ; nhiếp thọ được, con sẽ nhiếp thọ. Vì cớ sao? Vì điều phục và nhiếp thọ thì chánh pháp được tồn tại lâu dài. Chánh pháp tồn tại lâu dài thì chúng sanh ở các cõi trời và người sẽ thêm nhiều, còn ác đạo thì giảm thiểu. Có thể khiến cho bánh xe pháp của Như Lai thường chuyển.
Hiện thân kiếp này của bà là vương phi nên bà nói “Phàm thành ấp hay tụ lạc nào mà con nhiếp giữ”. Song dù không là vương phi thì nơi nào bà đã đặt chân đến, nơi đó chính là nơi bà thực hành hạnh nguyện của mình, nên nói NHIẾP GIỮ.
ÁC LUẬT NGHI là những hành động đưa con người đến cái quả là bệnh tật, tai họa và đau khổ. Theo các kinh luận thì những công việc như bùa thuật, săn bắn, làm các nghề sinh sát, hàng rượu v.v… đều gọi là ác luật nghi. Ngoài ra nó còn chỉ cho những hành động phạm giới mà Như Lai đã đặt ra, như Phật tử tại gia mà phạm 5 giới của người tại gia, Tỷ kheo mà phạm 250 giới của Tỷ kheo v.v... Luận Câu Xá nói “Ác luật nghi là điều mà người trí quở trách nhàm chán nên gọi là ác hành. Vì không ngăn hành vi ác của thân và miệng nên gọi là bất luật nghi. Nó làm chướng ngại giới luật thanh tịnh nên gọi là ác giới”. Vì lẽ đó mà đây nói “Các ác luật nghi hủy phạm giới cấm của Như Lai”.
ĐIỀU PHỤC và NHIẾP THỌ đều mang ý nghĩa là dẹp đi các ác luật nghi ấy, không để nó có cơ hội phát triển. Song NHIẾP THỌ còn mang thêm tính THUẬN THEO. Không những chỉ bỏ đi các ác luật nghi mà còn quay về qui thuận Phật pháp. “Điều phục được thì con điều phục, nhiếp thọ được thì con nhiếp thọ” là, việc nào bà cũng gắng hết sức mình. Song thứ gì cũng phải tùy duyên. Không có duyên thì ngay cả Phật cũng bó tay nói là bà. Bà không phải là thứ quyết định mọi vấn đề mà chỉ là cái duyên hy vọng để cái quả gặt được trở nên tốt hơn. Vì thế, tùy sự tùy việc mà làm để đạt được kết quả tối cùng cho sự việc đó. Không đúng duyên thì trước mắt, bà cũng không điều phục, cũng không nhiếp thọ. Chờ gieo duyên, kiếp sau tính tiếp.
VÌ SAO là hỏi để hiểu vì sao phải điều phục và nhiếp thọ những thứ đó. Vì điều phục pháp ác và nhiếp thọ người qui thuận Phật pháp thì thiện pháp được tăng trưởng. Thiện pháp tùy thuận với chánh pháp. Chánh pháp nhiếp thọ thiện pháp. Thiện pháp còn thì chánh pháp còn. Chánh pháp còn thì thiện pháp còn. Nên nói “Điều phục và nhiếp thọ thì chánh pháp được tồn tại lâu dài”.
Pháp thế gian là pháp duyên khởi. Pháp này luôn liên quan mật thiết đến pháp kia. Cái xấu của pháp này kéo theo cái xấu của pháp kia. Cái tốt của pháp này cũng kéo theo cái tốt của pháp kia. Chặn đứng được pháp ác này thì sẽ chặn bớt được pháp ác khác. Pháp thiện này tăng trưởng thì pháp thiện khác cũng tăng trưởng. Vì thiện pháp tùy thuận với chánh pháp nên thiện pháp tăng trưởng thì chánh pháp tồn tại lâu dài.
Như chuyện ma túy xì ke chẳng hạn. Ma túy thì thường đi liền với trộm cắp, giết người, đĩ điếm, bệnh tật và tham nhũng. Ngăn chặn được ma túy thì cũng ngăn chặn được những thứ còn lại. Người sống thiện, không dính vào những việc xấu thì dễ gần gũi và chấp nhận giới luật cũng như những lời Phật dạy trong kinh hơn là những người phạm vào các giới luật v.v… Như người không nghiện rượu, không tà dâm v.v… thì dễ dàng chấp nhận 5 giới của Phật tử tại gia hơn là một chàng bợm nhậu hay một cô nàng đang ngoại tình. Do đó việc nhận lãnh chánh pháp của Như Lai cũng dễ dàng hơn. Nên nói “Có thể khiến cho bánh xe pháp của Như Lai thường chuyển”.
10. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất. Vì cớ sao? Vì để mất chánh pháp tức là mất Đại thừa. Để mất Đại thừa tức là mất Ba la mật. Để mất Ba la mật thì buông Đại thừa. Chư Bồ tát nào nếu đối với pháp Đại thừa không có tâm quyết định, nhiếp thọ chánh pháp không kiên cố thì chẳng thể kham nhận cảnh giới siêu vượt phàm phu, là tổn thất rất lớn.
Đây là lời hoằng thệ cuối cùng của bà : Nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất, là thọ nhận và gìn giữ chánh pháp không để mất. CHÁNH PHÁP là tất cả những gì mà Như Lai và chư vị Bồ tát đã nói và đã chứng. Phần nói là những thứ như kinh, luật, luận của Tam thừa. Phần chứng là phần thể nghiệm của bản thân về những gì được nói đó. CHÁNH PHÁP nói đây là chỉ cho Đại thừa. Vì Đại thừa thu nhiếp hết các thừa dưới mà phần thâm nghĩa của Đại thừa lại chính là Phật thừa. Song những gì thuộc về hữu vi như kinh, luật, luận, pháp môn thì vô thường. Chỉ có pháp vô lậu vô vi mới thường hằng bất biến. Vì vậy, chánh pháp hay Đại thừa nói đây là phần trực nghiệm chủng vô lậu của bản thân, là muốn nói đến phần thâm nghĩa của Đại thừa. Một khi trực nghiệm được phần thâm nghĩa của Đại thừa thì gom thâu đầy đủ. Tất cả pháp đều là Phật pháp.
ĐẠI THỪA là gì?
Trên văn từ định nghĩa, Đại thừa có rất nhiều nghĩa. Hãy nghe Bồ tát Long Thọ nói về nghĩa Đại thừa trong luận Thập Nhị Môn “Đối với Nhị thừa thì trên nên gọi là Đại thừa. Hay diệt trừ các khổ của chúng sanh cho việc lợi ích lớn nên gọi là Đại. Chư Phật là bậc tối đại mà thừa này hay đến nên gọi là Đại v.v… Phần thâm nghĩa của Đại thừa chính là KHÔNG. Nếu thông suốt nghĩa này là thông suốt Đại thừa, đầy đủ các Ba la mật, không có chướng ngại”.
Câu cuối là câu đáng để ta ghi nhận : Thông suốt nghĩa KHÔNG thì thông suốt ĐẠI THỪA, đầy đủ các Ba la mật. THÔNG SUỐT, nghĩa là phải tự mình trực nhận, tự mình kinh nghiệm qua. Còn chưa suốt được thì phải mượn phần văn tự sau để tạm thông về cái KHÔNG đó.
KHÔNG là chỉ cho cái KHÔNG của tâm mình. Những thứ cảm giác như vui, buồn … hay những dòng suy nghĩ mình đang sở hữu đây không phải là tâm mình. Phật gọi chúng là vọng tưởng. KHÔNG, nghĩa là LY hết những thứ đó đi. Nhưng không phải là trạng thái không tịch của các vị Nhị thừa, còn có cảnh giới để chứng đắc. Trạng thái không tịch đó, Tổ cũng gọi là vọng mà là vọng giác. Khi tâm không bị vướng vào hai thứ trên, nó sẽ trở lại trạng thái nguyên thủy của nó : Thanh tịnh, trùm khắp, với vô vàn công đức chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh. Đạt được cái KHÔNG đó là thâm nhập được cội nguồn chân thật của tất cả pháp. Cái không ấy chính là THỂ TÁNH của tất cả thế gian và mọi loài chúng sanh. Kinh luận gọi cái không ấy là tánh không, là chân như, là chân không diệu hữu, là Phật, là Như Lai. Phần thâm sâu của Đại thừa chính là cái KHÔNG này. Cái không ở NHÂN, gọi là tánh không hay Phật tánh. Cái không ở QUẢ, gọi là chân không diệu hữu hay Như Lai. Chính là Phổ Quang Như Lai mà phu nhân được thọ ký trong tương lai.
Nghĩa là, sau một quá trình dài vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp NHIẾP THỌ CHÚNG SANH trong tâm và NHIẾP THỌ CHÚNG SANH ngoài tâm, bà sẽ trở về được tâm chân thật của chính mình, gọi là thành Phật.
Như vậy, lời nguyện NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP CHẲNG ĐỂ MẤT với một dọc dài những danh từ và lý luận … gom lại chỉ có một ý nghĩa duy nhất : Mất chánh pháp thì không thể thành Phật với pháp hiệu là Phổ Quang Như Lai mà Phật đã thọ ký. Vì thế, từ khi phát những lời hoằng thệ này cho đến khi thành Phật, bà nhất quyết nhiếp thọ chánh pháp không để mất. Không mất nhiếp thọ chúng sanh trong tâm thì trí Phật được hiển lộ. Không mất nhiếp thọ chúng sanh ngoài tâm thì bi nguyện được tròn đầy. Bi trí cả hai đều đầy đủ thì viên mãn quả Phật.
Giờ nói về việc “Mất Đại thừa là mất Ba la mật”.
Trong luận Đại Thừa Khởi Tín, BA LA MẬT là đối tượng tu hành của hạng Giải Hạnh Phát Tâm. Là những người đã có niềm tin sâu sắc và thâm hiểu được ít nhiều về tánh Phật của mình dù chưa thực chứng được Phật tánh là gì. Pháp tu của những vị này là LY TƯỚNG, tức không còn đặt nặng vào những hình tướng bên ngoài như kính Phật, cúng dường Tăng hay chỉ dừng ở mức độ tàm quí và loại bỏ các niệm ác. Các vị đã bước qua giai đoạn phá trừ sự sanh khởi của tâm. Niệm thiện hay niệm ác đều buông, để đưa tâm về chỗ vô trụ vốn sẵn của nó.
BA LA MẬT, là cứu cánh hay đến bờ kia. Pháp nào đưa người tu đến bờ giác ngộ rốt ráo gọi là Ba la mật. Muốn được gọi là Ba la mật thì pháp ấy phải hội đủ 5 điều kiện : Không nhiễm trước, không luyến tiếc, không tội lỗi, không phân biệt và hồi hướng chân chính.
Với những điều kiện của BA LA MẬT trên, nếu không nhiếp phục được chúng sanh trong tâm và không có bi nguyện sâu dày thì khó mà thực hiện được các Ba la mật. Vì thế nói “Nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất vì để mất chánh pháp tức là mất Đại thừa. Để mất Đại thừa tức là mất Ba la mật”. Không thực hiện được các hạnh Ba la mật, tức buông phương tiện tu hành và buông luôn việc “đến bờ kia”, nên nói “Để mất ba la mật thì buông Đại thừa”.
“Đối với pháp Đại thừa không có tâm quyết định” là nói đến niềm tin của mình đối với Đại thừa chưa dứt khoát. Nay Đại thừa, mai Tiểu thừa, ngày kia đi làm việc phước thiện. Nay tu pháp này, mai lựa pháp khác v.v… chẳng trụ đâu được lâu, cứ “Phất phơ như lông trong hư không”. Tâm không quyết thì vui đâu gá đó. Làm việc gì cũng như sốt rét cách ngày, gặp khó liền nản, nên nói “Nhiếp thọ chánh pháp không kiên cố”.
Tu hành mà niềm tin không vững vàng thì trên sự chẳng thể khả quan, kết quả cũng không thể có. CẢNH GIỚI SIÊU VIỆT PHÀM PHU là chỉ cho phần thâm nghĩa của Đại thừa. Cảnh giới PHÀM PHU nói đây cũng chỉ luôn cho trạng thái không tịch của Nhị thừa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2018.
No comments:
Post a Comment