KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.12)
PHIỀN NÃO TRỤ ĐỊA & VÔ MINH TRỤ ĐỊA (2)
Vì sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên, A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu vì bị vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng thấy. Vì chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên thứ cần đoạn thì chẳng đoạn, thứ cần tận thì chẳng tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát, được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức. Bạch Thế Tôn! Vì được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát … Cho đến được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO.
LẬU HOẶC trong 3 cõi tuy đã hết nhưng chưa được lực lậu tận như Phật, nên nói A La Hán được lậu tận là LỜI NÓI THỪA. Vì còn phần Vô minh trụ địa nên sự giải thoát, thanh tịnh cũng như công đức của 3 địa vị ấy chưa được hoàn toàn. Chưa được hoàn toàn thì biết phần đoạn Khổ, biết Tập, tu Đạo, chứng Diệt của chư vị cũng không hoàn toàn.
Thắng Man lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Nếu chỉ biết HỮU DƯ KHỔ, đoạn HỮU DƯ TẬP, chứng HỮU DƯ DIỆT, tu HỮU DƯ ĐẠO thì gọi là diệt độ được ít phần, chứng được ít phần Niết bàn, hướng về Niết bàn giới. Nếu biết TẤT CẢ KHỔ, đoạn TẤT CẢ TẬP, chứng TẤT CẢ DIỆT, tu TẤT CẢ ĐẠO thì người đó ở nơi thế gian vô thường bại hoại này chứng được Niết bàn thường tịch thanh lương. Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa.
Đây là nói riêng về các vị A La Hán. Thấy khổ, tập, diệt, đạo nhưng chưa thấy được cội nguồn của khổ, tập, diệt, đạo nên chư vị nhập niết bàn mà bỏ công hạnh. Nếu thấy được cội nguồn của khổ, tập, diệt, đạo thì các vị biết sanh tử không khác Niết bàn. Tất cả đều là huyễn mộng chỉ từ tâm biến hiện. Thấy được tính huyễn mộng ấy của vạn pháp tức chư vị đang ở trong Niết bàn. Sanh tử tức Niết bàn thì chư vị không bỏ công hạnh của mình ở thế gian này. Công hạnh là chỉ cho việc “Làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa” nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa.
- Vì sao? Là để giải thích vì sao nói ngay thế gian đây mà chứng được niết bàn thường tịch thanh lương, không đợi phải nhập niết bàn mới có sự thường tịch thanh lương.
- Vì với các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng chứng được Niết bàn. Kẻ mà trí tuệ bình đẳng, giải thoát bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng mới chứng được Niết bàn. Cho nên, niết bàn gọi là ĐỒNG MỘT VỊ.
Vì pháp vốn bình đẳng. Thấy hạnh phúc hay đau khổ, sanh tử hay Niết bàn là do TRÍ PHÂN BIỆT của mình mà ra. Phá được trí phân biệt thì sẽ thấy được tánh bình đẳng của vạn pháp, sẽ nhận được TƯỚNG huyễn mộng của chúng, mà TÁNH của tất cả pháp chính là tâm chân thật của chính mình.
Nhận được tính bình đẳng của vạn pháp thì mới thật là chứng Niết bàn. Điều này cũng dễ hiểu. Còn có chỗ để tâm e ngại thì còn có chỗ để mình phiền não. Nếu ở địa ngục cũng như ở cực lạc, thấy nước cũng như thấy rượu, thấy đàn ông cũng như đàn bà, ngủ đường cũng như ngủ trong giường êm nệm ấm, đi bộ cũng như đi máy bay thì khổ não còn chỗ nào để xuất hiện? Song muốn đạt được điều đó thì phải nhận ra được cội nguồn nhất tâm. A La Hán chỉ thấy được khổ, tập, diệt, đạo như những pháp thực hữu, mà chưa nhận ra được cội nguồn của những tướng dường như thực hữu đó, nên Niết bàn của chư vị chưa phải là Niết bàn chân thật rốt ráo.
- Sao nói “Một vị là vị giải thoát”? Bạch Thế Tôn! Nếu vô minh trụ địa chẳng đoạn, chẳng hết thì chẳng được niết bàn đồng một vị đó.
Muốn được Niết bàn chân thật thì phải phá đi trí phân biệt.
Muốn phá trí phân biệt thì phải biết chắc rằng trí phân biệt mình đang có đây không có thực thể, chỉ do tự tâm thanh tịnh bất giác mà sinh phân biệt.
Muốn thông được những điều đó thì phải nhận cho được cội nguồn nhất tâm. Nhận được cội nguồn này, nhà Thiền gọi là kiến tánh, là chứng nhập được mặt THỂ TÁNH của vạn pháp. Kinh đây gọi là TRÍ TÁNH KHÔNG. Trí tánh không này chính là nhân vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chứng nhập được cái nhân đó là phá vỡ được một phần vô minh trụ địa, nhập vào địa vị Bồ tát của hàng Thập địa. Tiếp tục nương cái nhân đó phá dần trí phân biệt để viên mãn Phật quả. Đó là lý do nói “Vô minh trụ địa chẳng đoạn chẳng hết thì chẳng được Niết bàn đồng một vị”. ĐOẠN là chỉ cho chỗ hành của các vị Bồ tát từ quả vị Sơ Địa trở lên. HẾT là chỉ cho quả Phật viên mãn.
- Vì sao? Vì Vô minh trụ địa chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng hà sa số tất cả pháp lỗi lầm đáng đoạn mà chẳng đoạn, đáng hết mà chẳng hết. Vì có hằng hà sa số tất cả pháp lầm lỗi chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng hà sa số các pháp công đức chẳng biết chẳng chứng. Cho nên, vô minh trụ địa làm chỗ sanh cho tất cả các pháp đáng đoạn và các tùy phiền não.
Đây là nêu ra sự tai hại khi không phá trừ phần Vô minh trụ địa. TÙY PHIỀN NÃO là chỉ cho phần chủng tử (tập khí) phiền não.
HẰNG SA là cát sông Hằng. HẰNG SA SA SỐ là chỉ cho số lượng quá nhiều, không tính đếm được như cát sông Hằng, tương đương với từ vô lượng.
- Từ đó mà sanh chướng tâm phiền não, chướng chỉ phiền não, chướng quán phiền não, chướng tịnh lự phiền não…, cho đến chướng tam-ma-bát-để phiền não, gia hạnh, trí, quả chứng, lực, vô úy v.v… Có hằng hà sa số tất cả phiền não, chỉ bồ đề của Như Lai và trí kim cang của Phật mới có thể đoạn.
TỪ ĐÓ, là từ Vô minh trụ địa đó mà sinh ra mọi thứ khác. Vì sao những thứ như chỉ, quán v.v… là thứ giúp mình phá bỏ vô minh, quay về bản tâm thanh tịnh mà đây nói từ đó sanh… ? Vì chính từ vô minh trụ địa mới nảy sinh sở tri, phiền não. Có sở tri và phiền não mới phải xuất hiện các pháp đối trị như chỉ, quán v.v… mới có cái quả là quả chứng, lực ... Nếu không có vô minh thì không có phiền não, không phiền não thì không lập chỉ, quán v.v... nên nói TỪ ĐÓ MÀ SANH.
Do cái này mới sanh cái kia, còn bản tâm thanh tịnh vốn không có mấy thứ đó. Nên dù là thuốc trị bệnh chăng nữa, một khi mình còn phải dụng đến chúng thì những thứ đó vẫn còn là những vụn vàng làm xốn con mắt thanh tịnh. Nên gọi chúng là CHƯỚNG.
Những thứ như QUẢ CHỨNG, LỰC, VÔ ÚY không phải là pháp trị bệnh mà chúng là cái quả tất nhiên phải có khi tâm đã hết sở tri và phiền não. Song khi chưa thành Phật thì những thứ này chưa đầy đủ viên mãn như ở Phật. Cái chưa viên mãn đó tương ưng với tâm chưa sạch vô minh. Chưa hết vô minh hoàn toàn thì sự chấp thủ vi tế vẫn còn. Nếu thấy những thứ đó là quả chứng, đương nhiên sẽ sinh tâm chấp thủ. Chấp thì mọi thứ sẽ thành ma. Nên đây cũng phải liệt kê ra để người tu biết mà cẩn trọng. Phải xả đến tận cùng mọi thứ : Không chỉ bệnh mà cả thuốc trị bệnh nữa mới thật là người hết bệnh. Đây là lý do vì sao ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói “Giữ giới cùng nhẫn nhục. Chiêu tội chẳng chiêu phước”.
BỒ ĐỀ không khác TRÍ KIM CANG. Song nói đến trí là muốn đến cái dụng của nó. Kim cang là thứ vững chắc cắt được mọi thứ, nên mượn hình ảnh đó để nói về trí lực đoạn phiền não vi tế của Phật, gọi là trí kim cang. ĐOẠN ĐƯỢC nghĩa là đưa tất cả những thứ đó về chỗ vô trụ.
Sở đắc được thứ gì thì tâm chấp thủ thứ đó rất mạnh. Sở đoản dễ bỏ, sở trường không phải dễ. Song tin được những điều đây, rồi thực hành theo niềm tin đó để buông xả dần mọi thứ, không phải là trí tuệ Phật thì không làm được. Vì thế đây nói “Chỉ bồ đề của Như Lai và trí kim cang của Phật mới có thể đoạn”. BỒ ĐỀ CỦA NHƯ LAI, là chỉ cho việc chứng tánh của hàng Bồ tát Thập địa. TRÍ KIM CANG, là nói đến trí kim cang của địa vị Bồ tát kế Phật, phá hoàn toàn phần vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa hết thì những cành lá của nó là 4 trụ địa và khởi phiền não mới thật sự hết.
- Các khởi phiền não, tất cả đều nương nơi vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa làm nhân duyên. Bạch Thế Tôn! Khởi phiền não này sát na sát na cùng với tâm tương ưng, còn vô minh trụ địa là tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay.
Phần này đã giải thích trên. Khởi phiền não là loại phiền não do tiếp duyên đối cảnh trong hiện tại mà có. Còn Vô minh trụ địa là nền tảng để khởi phiền não xuất hiện. Nó có từ vô thủy đến nay.
- Bạch Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà bồ đề Như Lai và trí kim cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y trì nơi Vô minh trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại địa hoại thì những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng hà sa số tất cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng. Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn thì hằng hà sa số tất cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật nên đoạn cũng đoạn theo.
Đây nêu bày: Muốn quả diệt thì phải diệt nhân. Nhân diệt thì quả mới thật diệt.
- Hằng hà sa số các pháp nên đoạn cùng tất cả phiền não và khởi phiền não đều đã đoạn, nên có thể chứng được hằng hà sa số các Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn. Với tất cả pháp, chứng được thần thông vô ngại, được các tri kiến lìa tất cả lỗi, được các công đức, làm đại pháp vương. Đối với pháp tự tại thì chứng được cảnh giới của pháp tự tại. Chính là tiếng rống của sư tử : Ta sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, chẳng còn thọ hậu hữu. Cho nên, bạch Thế Tôn! Vì là tiếng rống sư tử nên chỉ y nơi liễu nghĩa một bề ký thuyết.
Vô minh trụ địa diệt thì 4 trụ địa và phiền não đều diệt, pháp thân hiển lộ hoàn toàn, nêu bày tướng và dụng không thể nghĩ bàn. Tri kiến của Phật là tri kiến như thật, thấy đúng bản chất của vạn pháp, vì thế nói “Được tri kiến lìa tất cả lỗi”. PHÁP TỰ TẠI là chỉ cho pháp thân. Phải chứng nhập được hoàn toàn cội nguồn chân thật đó thì mới có thể rống lên tiếng rống của sư tử là sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn thọ thân sau.
Gọi là TIẾNG RỐNG SƯ TỬ vì Phật từ trong trú xứ tam muội vương của chư Phật ra, miệng được vô ngại giải thoát, nương nơi 10 lực quảng đại, độ chúng sanh không sai thời, bày oai đức với các nghị luận sư của ngoại đạo tà giáo, giác tỉnh chúng hữu tình mê muội, mở đường cho kẻ tà kiến … Những thứ ấy giống như những đức tính mà một sư tử chúa đối với bầy thú quanh mình, nên mượn hình ảnh sử tử để ví dụ.
- Thế Tôn! Chẳng thọ hậu hữu có 2 thứ. Thế nào là 2?
Hỏi là để giải thích về 2 thứ “Chẳng thọ hậu hữu”.
1. Chư Như Lai dùng lực điều ngự hàng phục 4 ma ra khỏi các thế gian, được sự chiêm ngưỡng của mọi hữu tình, chứng pháp thân thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn. Với cảnh sở tri, được pháp tự tại tối thắng vô thượng hoàn toàn không có sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng, đầy đủ 10 lực, vào được cảnh giới tối thắng không có sợ hãi. Với tất cả pháp quán sát không ngăn ngại, chính là tiếng rống của sư tử, chẳng còn thọ hậu hữu.
Cái KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ nhất là của chư Phật. Chư Phật dùng lực điều ngự của mình để hàng phục 4 ma. ĐIỀU NGỰ là điều phục và chế ngự. 4 ma là chỉ cho những thứ cướp đi thân mạng cũng như tuệ mạng của người tu. Đó là phiền não ma, ngũ ấm ma, tử ma và thiên ma. Hàng phục được 4 loại ma này thì ra khỏi các thế gian. THẾ là chỉ cho sự dời đổi (như thời gian). GIAN là chỉ cho phương hướng (như không gian). Những gì có tính cách như thế đều gọi là thế gian. Theo nghĩa ấy thì thế gian không phải chỉ dùng cho cõi mình đang ở đây mà còn chỉ cho cõi Sắc, Vô sắc, thậm chí Niết bàn của hàng Nhị thừa cũng chưa thoát khỏi 2 chữ thế gian này, nên nói là CÁC.
Cảnh giới sở chứng của Phật không giống như của hàng Nhị thừa. Cái khác nhau ấy nằm ở chỗ : Niết bàn của A La Hán và Bích Chi Phật vẫn còn là đối tượng của một cái năng chứng. Nói rõ hơn, dù là trạng thái thanh lương bặt mọi suy lường chăng nữa, trạng thái ấy vẫn là đối tượng của một cái năng biết. Vẫn là cảnh giới thuộc thức ấm. Thức ấm chưa không thì chưa phải là cảnh giới của chư Như Lai. Phần này đặt nặng cho người có công phu.
Những gì là đối tượng của cái biết đều gọi là CẢNH SỞ TRI. Từ những hình tượng thô mình thấy đây cho đến cảnh giới chứng nhập rỗng không của tự tâm, đều gọi là cảnh sở tri. Nếu đúng là cảnh giới chứng nhập của Phật thì cảnh giới ấy không phải là đối tượng của cái biết. Bởi biết hay bị biết đều hòa tan vào biển pháp thân. “Không sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng” là diễn tả cảnh giới đồng chư Phật nói đó.
THẬP LỰC là 10 lực của Phật. Đó là 10 loại trí lực biết như thật các pháp từ nghiệp báo và sự thọ báo của chúng sanh cho đến những sai khác vi tế của mọi cảnh giới thiền định.
CẢNH GIỚI TỐI THẮNG là chỉ cho pháp thân Phật. KHÔNG CÓ SỢ HÃI là để nói về sự khác biệt giữa Phật và A La Hán. Một khi pháp thân được hiển lộ hoàn toàn thì có được 4 cái không sợ này. Bởi lúc đó đã sạch tất cả lậu hoặc, thành tựu được tất cả mọi loại trí thông suốt cả thế gian và xuất thế gian.
2. A La Hán và Bích Chi Phật đã qua được vô lượng sanh tử sợ hãi, hưởng được cái lạc của sự giải thoát, rồi khởi nghĩ “Ta nay đã lìa được sanh tử sợ hãi, chẳng còn chịu sự khổ não”. Bạch Thế Tôn! A La Hán và Bích Chi Phật quán sát như vậy và cho là không còn thọ hậu hữu. Song chẳng chứng được đệ nhất tô tức xứ.
Loại KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ hai là chỉ cho chỗ chứng của các vị Nhị thừa. Các vị không còn bị sanh tử phần đoạn chi phối nên nói qua được vô lượng sanh tử. Từ vô thủy đến nay trải qua không biết bao lần sanh tử nên nói VÔ LƯỢNG SANH TỬ. Sanh và tử là hai đầu mút của một cuộc đời. Ai cũng sợ sự khổ não và đau đớn của đói nghèo, bịnh hoạn, tai nạn và những bất trắc trong cuộc đời này mà cái đáng sợ nhất là chết, nên nói SANH TỬ SỢ HÃI. Không còn bị trói buộc trong những thứ đó gọi là GIẢI THOÁT. Giải thoát được sanh tử thì hết các sợ hãi, nên nói HƯỞNG ĐƯỢC CÁI LẠC của sự giải thoát. Tuy nhiên, thoát được những thứ đó cũng chưa phải là chỗ dừng dứt cuối cùng, nên nói “Chẳng được đệ nhất tô tức xứ”. ĐỆ NHẤT TÔ TỨC XỨ là chỉ cho Niết bàn Phật.
QUÁN SÁT như vậy, chỉ cho thứ chư vị vừa khởi nghĩ “Ta nay đã lìa được sanh tử sợ hãi, chẳng còn chịu sự khổ não”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2018.
No comments:
Post a Comment