Friday, February 16, 2018

Thánh Tăng SIVALI
 
(Vị Sa-Môn đại phúc, ai thân cận được hưởng phúc lây).
 
Lúc Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha) còn trụ thế, vương quốc Kosala một thời được trị vì bỡi một vị vua anh minh, tên là Koliya Mahàli, và hoàng hậu nhân đức, tên là Suppavasa, nên toàn dân vô cùng an cư lạc nghiệp. Khi Hoàng hậu vừa thọ thai, thì lạ một điều là «nguồn lợi» của hoàng gia cũng bắt đầu gia tăng, sung túc.
 
Tương truyền rằng, hoàng hậu Suppavasa kể từ khi cấn thai thì dung nhan trở thành tươi nhuận, sinh lực dồi dào. Mỗi khi bà đặt chân ra ngoại thành, hoàng hậu thường bảo tùy tùng, đưa bà đến những nơi có dân chúng làm việc, để thưởng thức quang cảnh sinh hoạt.
 
Một hôm hoàng hậu thấy nông dân đem lúa ra gieo, bà liền bước lại xem, và đưa tay sờ những hạt giống. Lạ thay, những hạt giống ấy tất cả đều tự nhiên có màu vàng rất đẹp và no tròn, không thấy một hạt nào xấu lép cả. Rồi người ta đem gieo, thì chúng mọc rất nhanh, rồi lúa non cũng xanh tươi, mập mạp vô cùng.
 
Một lần khác, cũng trong dịp ngắm cảnh, hoàng hậu sờ vào bất cứ hạt giống trái cây, hay ngũ cốc nào, thì hạt giống ấy liền trở nên xinh tốt. Và kết quả sau khi gieo trồng, người dân đã gặt gái lượng trái, hay hoa màu rất dồi dào, có thể nói là gấp mười, gấp trăm lần những năm vấ vả canh nông trước.
 
Tin đồn loang ra khắp hướng, khiến thần dân vô cùng sung sướng, Họ thi nhau tìm đủ mọi cách để được hoàng hậu, sờ vào gia súc, hay vật liệu hành nghề của họ. Kết quả cũng giống như đối với cây trái hay ngũ cốc vậy. Sinh vật nào được đụng vào bàn tay của hoàng hậu, là sinh vật ấy trở nên sung mãn, sinh sản đầy đàn. Rồi trang trại hay công xưởng của những người dân ấy, mỗi ngày một thịnh vượng.
 
Còn hoàng hậu và nhà vua thì hằng ngày tiếp nhận không biết bao nhiêu hiến vật, do lân bang, bạn hữu, thân nhân, hay thần dân thành tâm tặng biếu. Về phía quần chúng thì mọi sinh hoạt đều thu hoạch dồi dào, đại đa số người dân, đều được dư giả cơm ăn áo mặc, sức khỏe đầy đủ, đời sống thanh bình. Chúng tôi không diễn tả dài dòng, quí độc giả cũng thừa biết là vương quốc Koliya thời gian ấy, hưởng thanh bình thịnh trị.
 
Hoàng hậu tuy mang thai nhưng mỗi ngày một khỏe mạnh. Bà chờ giờ phút lâm bồn. Nhưng đã qua chín tháng mười ngày, mà chẳng thấy dấu hiệu gì sinh nở cả, và hoàng gia bắt đầu lo ngại. Hoàng hậu liền yêu cầu nhà vua thỉnh Phật và chư tăng vào hoàng cung để làm phước, cúng dường thực phẩm.
 
Nhân dịp ấy, hoàng gia chẳng những đã hộ trì Tam Bảo dồi dào, mà nhà vua còn ra lệnh mở kho lấy tiền phát cho dân «nghèo», hay tổ chức những buổi «đãi cơm quần chúng», với những thức ăn mà thường dân hiếm khi được thưởng thức.
 
Trong thời gian làm việc phúc đức, có lần, hoàng hậu tuy mang thai, nhưng bà tình nguyện đứng múc các thức ăn cho dân chúng. Lạ thay, món ăn trong cái nồi nào mà bà đang múc, thì thấy không lưng, múc đến bao nhiều lần, nó vẫn còn đầy như cũ.
 
Tin đồn thấu đến tu viện. Một tỳ-khưu liền ra mắt bổn sư, và hỏi duyên cớ với đức Thế Tôn, thì được Phật cho biết rằng «Phép lạ dồi dào đó là do phúc đức của cái thai trong bụng hoàng hậu».
 
Như trên vừa nói, hoàng hậu mang thai đã hơn chín tháng mười ngày, mà việc sinh nở vẫn chưa biểu lộ dấu hiệu. Nhưng nhờ sức khỏe của hoàng hậu vẫn bình thường, và hài nhi trong bụng cũng chẳng có cử động gì làm cho bà khó chịu hay mệt mỏi, nên nhà vua cũng yên tâm. Mặt khác, hoàng hậu vốn là người thuần thục đạo đức, nên việc thường xuyên làm những phước thiện cũng khiến cho bà thỉnh thoảng quên đi tình trạng mang thai dai dẳng của mình…..
 
Ngày tháng trôi nhanh, hoàng hậu mang thai đã bảy năm, bảy tháng, và bảy ngày, mà bà vẫn trong tình trạng chờ đợi. Hoàng hậu có thói quen, cứ đúng thời kỳ cúng dường đức Phật và Thánh chúng, thì bà nhắc nhở nhà vua.
 
Hôm nay như thường lệ, bà lại nhắc chồng. Vương gia liền hoan hỷ dùng xe giá đi thỉnh Phật và chư tăng. Nhân tiện vương gia cũng yêu cầu Phật ban ân, chúc phúc để hoàng hậu được sinh nở, chấm dứt sự âm thầm lo ngại của mình, và của thần dân. 
 
Sau khi thọ trai xong, đức Phật liền dùng «thần nhãn» soi sâu vào quá khứ. Ngài biết rõ dư quả không tốt, từ một kiếp xa xưa của hoàng hậu và tiểu hoàng tử trong bụng bà, đã mãn, Phật liền chúc lành Hoàng hậu, bằng kệ ngôn như sau :
 
«Sukhinì vata hotu Suppavasa,
Koliyadhità sukhinì arogà,
Aroga putta vayatu».
 
Nghĩa là :
 
«Do phước báu nầy, xin cho hoàng hậu Suppavasa, ái nữ của vương tộc Koliya hãy được hạnh phúc, mạnh giỏi, và sinh một hoàng nam khỏe mạnh, xinh đẹp».
 
Lành thay, thọ thực xong, Phật và tăng đoàn vừa rời hoàng cung về chùa, thì Hoàng hậu Suppavasa hạ sinh một hoàng nam vuông tròn, khỏe mạnh và tuấn tú. Sự lâm bồn đã dễ dàng như một người «rót nước tử trong bình ra chậu». Để tỏ lòng tri ân lẫn kính ngưỡng, trước lời chúc lành của đức Phật, hoàng gia đã tái thỉnh Ngài cùng chư tăng vào hoàng cung thọ trai liên tiếp trong bảy ngày sau. Kinh Phật gọi cuộc trai tăng bảy ngày nầy, là «Vàyamangala» («Mừng sinh con»).
 
Trong lễ đặt tên, hoàng tử được mệnh danh là Sivali, nghĩa là «phúc đức tròn đầy» hay «phú túc», đúng như hiện tượng xảy ra, bắt đầu từ lúc hoàng hậu cấn thai, cả nước bỗng trở nên hưng thịnh, no đủ. Tức là việc làm của mọi tầng lớp dân chúng, từ nhà nông cho đến công, thương, trí thức…ngày xưa thì vất vả, nhưng lúc ấy lại không khó khăn nữa, mà thu hoạch rất nhiều, đời sống trở thành «lao động bình thường, mà gặt hái dồi dào, mỹ mãn».
 
Một hôm, Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất (Sàrìputta Thera), trên đường đi khất thực, ghé thăm hoàng tử Sivali, và nhân dịp kể lại cho hoàng tử nghe câu chuyện hoàng hậu mang thai ông rất lâu, và sinh muộn. Thấy hoàng tử có vẻ ngạc nhiên, Trưởng Lão liền giảng giải do nghiệp gì mà hoàng hậu có quả mang thai lâu như thế.
 
Tiền kiếp SIVALI.
 
Một lần trong quá khứ, tiền thân Sivali sinh làm vua, trị vì tại thành Ba-La-nại (Vàrànasì, Bénares, Ấn-Độ ngày nay). Vua đã ỷ mình hùng mạnh, đem quân gây chiến với lân bang, bắt nhiều tù binh, và bao vây thành trì nước bên cạnh. Vua xâm lăng còn ra lệnh cho toàn dân nước bị chiếm phải đầu hàng, nếu không chiến tranh sẽ tàn khốc hơn nữa. Nhưng dân nước bị bao vây nhất định không chịu phục, vì sợ phải nằm dưới sự cai trị khắc nghiệt của một ông vua ngạo mạng.
 
Kết quả, qua một thời gian dài, đời sống dân chúng tại nước bị trị vô cùng cơ cực, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Nhiều người bệnh hoạn và kẻ già phải bỏ mạng. Vua cai trị và hoàng hậu bên «thắng trận» chẳng đoái hoài gì đến nỗi khổ của họ. (Hoàng hậu kiếp trước ấy bây giờ chính là Suppavasa, mẹ Sivali).
 
Lúc ấy, có một vị Độc Giác (Pacceka Buddha) ngụ tại chùa Migadaya, nằm trên biên giới hai nước. Phật Độc Giác không nói pháp gì nhiều, Ngài chỉ chúc lành và khuyên dân chúng hai bên đừng thù hằn, gây oan trái lẫn nhau. Và nhấn mạnh, ai làm cho kẻ khác đau khổ, thì quả xấu chắc chắn sẽ đến với người ấy, không thể nào tránh được. Lời dạy ấy thấu đến tai hoàng hậu và nhà vua xâm lăng, khiến cho cả hai bắt đầu suy nghĩ….
 
Hơn nữa, sự bao vây thành trì ở một nước khác, càng kéo dài càng tốn kém. Nếu tinh thần dân chúng nước bị chiếm ấy mà rất cao, họ nhất định chịu chết chứ không chịu nhục, thì tình hình cai trị lại phức tạp hơn. Chưa kể ngày lụn tháng qua, quan quân phe thắng trận có thể trở thành kiêu binh, chễnh mãng, để lộ nhiều sơ hở, thì biến cố bất ngờ sẽ có thể xảy ra.
 
Biết đâu đám dân khổ cực kia, bị dồn vô chân tường, họ có thể trở thành liều mạng, tìm cách thích khách nhà vua tàn bạo hay thân thuộc hoàng gia, thì cuộc diện chính nước ông sẽ hỗn loạn, các hoàng thân nhân dịp ấy tranh giành ngôi báu, nguy hiểm cho một ông vua có sức mạnh quân sự bị «cầm chân» ở nước ngoài. Cuối cùng, vua «thắng trận» cảm thấy thượng sách là phải rút quân, và thả tù binh.
 
Nhưng như vậy không có nghĩa là vua xâm lăng sẽ không nhận quả xấu của những nghiệp bất thiện, mà ông đã tạo, gây khổ cho bao nhiêu người khác. Kiếp đó, khi hêt tuổi thọ, vua dữ sinh vào địa nguc Avichi (vô minh), để chịu khổ trong một thời gian rất dài….
 
Mặc dù sau khi mãn địa ngục Avichi, trong các vòng luân hồi tiếp theo, tiền thân Sivali đã thức tỉnh, tạo rất nhiều phúc đức, nhưng dư quả lưu lai của sự bao vây ấy vẫn còn. Và kiếp nầy Sivali và mẫu hậu đã chịu như thế.
 
Sau khi nhắc lại tiền kiếp, Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất (Sàriputta) đã hỏi hoàng tử Sivali (lúc đó mới 13 tuổi), xem «cậu» muốn chấm dứt sự luân hồi, ngay kiếp nầy hay không. Nếu hoàng tử muốn, thì hãy xuất gia, sống phạm hạnh trong cộng đồng tăng chúng của Phật, để tận trừ nguồn gốc luân hồi (sinh tử), hay nguồn gốc của khổ đau. Sivali vô cùng vui mừng, trước «lời mời» của Trưởng lão. Hoàng tử liền xin phép phụ vương và mẫu hậu cho «cậu» đi tu, và được chấp thuận.
 
Hoàng hậu Suppavasa là một tín đồ thuần thành cùa đức Phật. Bà vui vẻ tổ chức cuộc lễ tiễn đưa hoàng tử Sivali đi xuất gia. Đoàn người diễn hành rất đông, hộ tống Sivali đến tận tu viện, và dự lễ thọ giới của hoàng tử một cách trọng thể.
 
Trong khi xuống tóc, thọ giới Sa-Di (Sàmaṇera vinaya), trưởng lão Sàriputta khuyên «giới tử» Sivali nên lấy tóc làm đề mục, quán tưởng, về sự bất tịnh và vô thưòng của xác thân nầy. Sivali vốn có căn cơ trí tuệ từ kiếp trước. «Cậu» liền định tâm quán chiếu, theo lời khuyên của trưởng Lão. Tóc trên đầu «giới tử» vừa cạo xong (do Trưởng lão Đại Mục-Kiên-Liên, Mahà Moggallàna), thì Sivali đã đắc quả giải thoát, A-La-Hán (Arahatta). Đây là một Sa-Di A-La-Hán.
 
Một hiện tượng kỳ diệu, là từ đó về sau, chư tỳ khưu để ý thấy Thánh Nhân Sivali luôn luôn có đầy đủ thực phẩm, vừa thơm ngon vừa quí giá, vá các thứ cần dùng hằng ngày. Đồng đạo nào sống gần ông cũng được hưởng phước lây. Thánh nhân Sivali có mặt ở đâu, là ở đó người ta phát tâm cúng dường thực phẩm, hay mọi vật dụng dồi dào.
 
Hiện tượng sung túc ấy luôn luôn xảy ra cho Sa-Môn Sivali, không có trường hợp tùy điều kiện nào cả. Riết rồi nó trở thành một thông lệ, đến độ ai cũng tin rằng, «Ngài» Sa-Di Sivali không bao giờ thiếu thốn bất cứ món gì. Hễ ông có ý định đi đến nơi nào, là ở đó tự nhiện có cái xui khiến người ta cùng nhau chuẩn bị một cách chu đáo, những vật dụng tươi tốt hằng ngày, để cung cấp cho những buổi trai tăng hay làm phước theo Phật giáo.
 
Đến năm 20 tuổi, «Sa Di» Sivali thọ cụ túc giới, thì bốn món vật dụng lại càng phát sinh dồi dào hơn nữa. Ân đức và phúc lộc của vị tân tỳ-khưu Sivali nhiều như nước biển, không ai có thể làm cạn được.
 
Lần nọ, khi Thánh Tăng Sivali cùng đoàn tùy tùng, gồm 500 tỳ khưu, đã du hành xuyên qua một vùng rừng hoang, không có người cư ngụ. Chuyến đi kéo dài suốt bảy ngày. Nhưng một điều kỳ lạ, là cũng trong thời gian ấy lại có những đoàn thương nhân nhiều thiện tâm, chở đủ thứ dụng cụ, phẩm vật, cùng đồng hành, và họ rất cách biết hộ độ, cúng dường đến các hàng đạo sĩ du phương, nên tất cả tăng chúng đều không thiếu thốn vât thực, và các thứ vật dụng khác.
 
(Một nguồn kinh điển khác ghi, những đoàn thương nhân nhiều thiện tâm ấy vốn là chư thiên, hiện ra để làm phước. «Họ» không những cúng dường thực phẩm, nước uống, mà còn dùng thần thông biến hóa thành nhiều nhà cửa, tịnh thất đủ tiện nghi (Gandhakuti), dành cho Phật và chư sa-môn, hay thánh nhân nghỉ ngơi ban đêm nữa).
 
Nhưng «soạn dịch giả» của tập sách nhỏ nầy vẫn  hy vọng rằng, những đoàn thương nhân hảo tâm ấy là người thật. Nhờ phước đức của Thánh tăng Sivali đã tạo trong kiếp trước, mà họ ngẫu nghiên đồng hành, để giúp đỡ đức Phật và các bậc phạm hạnh về phương diện vật chất. -Tránh đi cho Phật giáo những chuyện hoang đường càng nhiều càng tốt.
 
Tương tự như thế, một lần khác Thánh Tăng Sivali và tăng đoàn phải đi ngang một sa mạc mênh mông, mà tất cả vẫn không bị thiếu thốn. Đức Phật biết rõ tiền kiếp Sivali đã làm quá nhiều thiện nghiệp, nhất là cung cấp sự sống với tâm không giới hạn, cho những ai cần đến. Do đó, kiếp nầy, ông không thể nào gặp cảnh khó khăn trong bốn món vật dụng, là thực phẩm, y phục, chỗ ngụ, và thuốc men.
 
Đức Phật đã thường nói «Sa-Môn Sivali là người nhiều phúc lộc nhất, trong số những sa-môn có phúc đức vô song». Phật tiết lộ như vậy, để làm an lòng nhiều phàm tăng, trước khi khởi hành một chuyến đi, vừa xa xôi vừa vất vả, dễ gây ra buồn chán.
 
Có lần, nhân nghe tăng chúng, bàn luận về phúc lộc vô biên của Thánh tăng Sivali, đức Phật đã nói :
 
«Etadagga bhikkhave mama
sàvakàna labhina yadida Sìvali».
Nghĩa là :
«Nầy chư tỳ khưu, Thanh Văn Sìvali
là đại đệ tử nhiều phúc lộc nhất của Như Lai»
 
Nhiều khi một chuyến hành trình như vậy, lại xuyên qua những vùng rộng lớn, hoang vu. Phật thưòng làm phấn chấn tinh thần các đệ tử, bằng một câu : «Có Sa-Môn Sivali bên cạnh, thì chư tỳ-khưu tăng đừng lo thiếu thốn». Và kết quả, lời nói của đức Phật đã nghiệm đúng.
 
Độc đáo hơn hết, là khi ấy có Phật đồng hành, với con số 30.000 tỳ-khưu tăng, để lặn lội đến thăm một Sa-Môn, tên là Khadhiravaniya Revata, em ruột của Trưởng tông đồ Xá-Lợi-Phất (Sàrìputta). Cả đoàn phải đi xuyên qua một vùng rừng rộng mênh mông và hoang vắng.
 
 Đệ tử thị giả hầu Phật là A-Nan-Đa (Ananda) đã tỏ ra lo ngại, ông sợ không thể tìm được thực phẩm giữa rừng, cho một số quá đông tăng chúng như thế. A-Nan-Đa (Ānanda) liền thỉnh ý Phật, để bổn sư hướng dẫn ông phải làm sao, giải quyết vấn đề thực phẩm đó.
 
Đức Phật chỉ nói câu sau đây, là A-Nan-Đa liền an lòng : «Đệ tử đùng lo, đã có Sivali cùng đi, thì những vật cần dùng hằng ngày sẽ không thành vấn đề nữa !». Phật còn dạy thêm, «Ngay cả chư thiên ham vui nhất trên cõi trời, cũng không quên việc hộ độ Sivali, và những ai trong đoàn hành trình của ông».
 
Theo Phật giáo, quả lành hay quả xấu của ai đã gieo trồng, thì chỉ người ấy sẽ gặt hái. Nhưng trường hợp của Thánh Tăng Sivali thì những người khác cũng được hưởng lây. Hiện tượng đó có thể cắt nghĩa bởi hai lý do sau đây : Thứ nhất, người gieo trồng (ám chỉ tiền kiếp Ngài Sivali) đã làm quá nhiều thiện nghiệp trong vô số quá khứ, vượt khỏi mức tròn đủ Ba-La-Mật bố thí cúng dường. Lý do thứ hai, những người hưởng lây cũng là những hàng tu sĩ, có nhiều hay ít phạm hạnh, giữ tròn giới luật, tâm thức hướng về thanh tịnh. Chứ không phải là những người hằng ngày say sưa trong ngũ dục.
 
Tiếng Phật gọi quả lành có thể chia sớt đó là «Nisandha pàla» (Thoát dịch là sự tràn trề của Nghiệp). Nếu «quả thường» của nghiệp xấu hay tôt (Vipàka pàla) chỉ được gặt hái bỡi người gieo trồng, thì «Sự tràn trề» của nghiệp xấu hay tốt ấy (Nissandha pàla), có thể «tràn» qua người khác, sống đầy đủ giới hạnh, hay kém giới hạnh hơn.
 
Quả tốt «tràn» qua người khác, như trường hợp Ngài Sivali trên đây, thì chúng ta vừa đọc. Còn quả xấu «tràn» qua người khác, thì chắc quí độc giả cũng thường chứng kiến, và biết. Đó là chuyện «giao du với người ác, sẽ bị vạ lây». Hiện tượng nầy cũng nhắc đến một Thánh Nhân nổi tiếng, như Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất (Sàrìputta) mà sự «tràn  trề» quả xấu trong một tiền kiếp vô cùng xa xôi (Túc Sinh Truyện tên Losaka) đã làm cho Ngài (Xá-Lợi Phất, Sàrìputta) trong kiếp chót, có lần đã khất thực không đủ ăn.
 
Theo Phật giáo, tìm kiếm nguyên nhân của một hiện tượng bất thường (hay kỳ lạ), là phải quay lại vô số chu kỳ luân hồi trong quá khứ. Trường hợp của Ngài Sivali, thì vào thời đức Phật Pudumuttara, tiền thân Sivali đã sinh làm một người nghèo, nhưng may mắn là được chứng kiến cảnh Phật ban cho một đệ tử tên Sudassana, cái vinh dự đãm trách việc chu toàn các vật dụng cho cộng đồng phạm hạnh, vì vị đệ tử đó là người có khả năng và phúc đức nhiều nhất.
 
Được kinh cảm và thích thú, nếu làm được vai trò đó, tiền thân Sivali đã phát nguyện hành thiện trên mọi phương diện, để có đủ phước đức chu toàn phạm hạnh ấy, nhất là trong những kiếp tái sinh sau nầy. Còn ngay trong kiếp hiện tại, cùng thời với đức Phật Pudumuttara, thì «ông» luôn luôn cố gắng mở toang tấm lòng, làm thật nhiều thiện nghiệp, cúng dường đức Phật và Thánh chúng, càng thường xuyên càng tốt. Và mỗi lần làm phước, tiền thân Ngài Sivali, đều phát nguyện «kiếp sau được dồi dào ân đức, để chia sớt đến xung quanh».
 
Đức Phật Pudumuttara biết rõ ước vọng của người phát nguyện sẽ được thành tựu mỹ mãn, nên Ngài dùng phép Anàgataṃsañàna (thần túc nhìn về tương lai), tiên đoán rằng «Vào thời Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni Cồ-Đàm (Buddha Sakya Muni Gotama, trải qua 100.000 kiếp trái đất ( Bhaddakappa), hậu thân của người nầy sẽ trở thành đệ tử ưu tú, trong số những Sa-Môn có nhiều phúc đức nhất của Phật». Từ đó, tiền thân Sivali không ngừng tinh tấn hành thiện, để sớm chu toàn nguyện vọng. Và sau khi hết tuổi thọ, tiền thân Sivali đã tái sinh lên các cõi trời, rồi hưởng phước rất nhiều.
 
Một chuyện tiền kiếp làm phước nổi bật khác nữa, là vào thời đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassì Buddha), cách Phật Thích-Ca Mâu-Nì Cồ-Đàm, khoảng 91 chu kỳ vũ trụ, tiền thân Sivali sinh làm một thương gia giàu có, tại thành phố Bandhumati. Lúc ấy, cả thành phố đang chuẩn bị một đại lễ cúng dường thực phẩm, đến đức Phật Tỳ-Bà-Thi và thánh chúng. Những thí chủ bỗng hay rằng họ thiếu sữa chua và mật ong, là hai món đặc biệt, thường dùng sau bữa ăn trưa.
 
Nhóm người thí chủ ấy lập tức thông báo với nhau khắp thành phố, để tìm hai món thiếu đó. Nhưng số lượng cần dùng không được đáp ứng, vì tay chân bộ hạ của nhà vua đã thu mua tất cả, làm tăng giá hai thực phẩm ấy, từ một đồng vàng cho một đơn vị, lên đến 100 đồng vàng. Lý do, nhà vua đồng thời cũng thi đua làm phước với cuộc «trai tăng hội» của dân chúng.
 
Tiền thân Sivali khi ấy làm chủ một hiệu buôn lớn. Cửa hàng của ông không thiếu bất cứ một phẩm vật nào. Ông rất ngạc nhiên khi thấy một khách hàng chịu mua với giá 200 đồng vàng cho một đơn vị mật ong, cộng với một đơn vị sữa chua. Chủ tiệm (tiền thân Sivali) liền ngạc nhiên hỏi duyên cớ, tại sao khách chịu mua giá cao như vậy. Người khách trả lời là «đắc mấy tôi cũng mua, vì để cúng dường đức Phật Tỳ-Bà-Thi và tăng chúng».
 
Nghe thế đại thương gia (tiền thân Sivali) liền cảm thấy ấn tượng, ông phát sinh hảo tâm, muốn làm việc thiện, cúng dường đến đức Phật, bèn nói rằng, «Cho tôi hùn phước với được không ?». Người khách hàng hoan hỷ đáp «Hướng dẫn kẻ khác cúng dường đức Phật, thì người hướng dẫn cũng có phước lây, vậy xin mời ông tham gia !». Thế là sau đó chủ tiệm (tiền thân Sivali) đã hăng hái hiến dâng dồi dào số lượng sữa chua và mật ong, cần dùng cho suốt cuộc lễ.
 
Trong khi cúng dường và trước mặt đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassi Buddha), tiền thân Sivali đã lập lại nhiều lần lời phát nguyện, là «Xin cho tôi tái sinh kiếp nào cũng được đầy đủ phúc đức, để chia xẻ vật dụng đến người khác». Đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Buddha Vipassì) biết nguyên vọng của người nầy sẽ thành tựu trong tương lai, bèn thọ ký rằng, «Thí chủ sẽ được như ý. Và phước báu nầy sẽ kéo dài đến 6 triệu 8 trăm ngàn năm».
 
Kể từ ngày ấy, tiền thân Sivali là đệ tử thuần thành của đức Phật Tỳ-Bà-Thi, và ông tu tập rất tinh tấn.
 
Kết quả cuối cùng, là «thiện tâm ba-la-mật chín muồi», đã đẩy tiền thân ông tái sinh vào thời đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni Cồ-Đàm (Buddha Sakya Muni Gotama), làm hoàng tử, tên là Sivali. Rồi hoàng tử xuất gia trở thành Sa-Di Sivali, rồi Tỳ-khưu Sivali. Và nhờ tinh tấn hành đạo, mà Sa-Môn Sivali trờ thành vị Thánh Bất Lai A-La-Hán Sivali, ngay lúc mới thọ giới sa Di.
 
Thánh nhân nầy lại có phúc đức vô biên, để làm phát sinh vật dụng, chu toàn cho bất cứ cộng đồng phạm hạnh nào đang sống bên cạnh ông. Ngay cả với con số tỳ-khưu, lên đến 30.000 vị, giữa một nơi hoang dã, không người cư ngụ. Thánh Tăng Sivalithật là một nhân vật phúc đức phi thường !
 
Ngày nay, tại những nước Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Tông), hình ảnh của Thánh Tăng Sivali tương trưng cho sự sung túc, không nghèo đói. Kinh nói về Thánh Tăng Sivali còn gọi là Kinh Paritta, nghĩa là kinh cứu nạn, nhất là ai thành tâm đọc kinh ấy, thì sẽ tránh được sự nghèo khó, hay đói rách.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.17/2/2018.

No comments:

Post a Comment