Saturday, August 5, 2017

Kinh Bồ Tát Tòng Đâu Thuật Thiên Hàng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ.

 
***

QUYỂN 1

PHẨM THỨ 1: THIÊN CUNG

Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, đức Phật ở giữa rừng Song thọ, phía Bắc thành Ca-Tỳ-La-Bà-Đâu, thuộc dòng họ Thích Ca, sắp xả thân mạng để nhập Niết-bàn. Vào giữa đêm mồng tám tháng hai, Ngài đích thân gấp Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng và A-đà-la-bạt-tát làm ba lớp rồi trải trong kim quan mà nằm lên trên, chân xếp chồng lên nhau, lấy bát, tích trượng trao cho A-Nan.
Tám vua ở nước lớn đều đem năm trăm tấm vải trắng tẩm hương chiên-đàn đặt hết trong kim quan, dùng năm trăm tấm vải quấn kim quan lại rồi đem năm trăm cỗ xe chở hương tô-du để rưới trên vải trắng.
Bấy giờ, Đại Phạm Thiên Vương đưa các Phạm chúng đứng bên phải, Thích Đề Hoàn Nhơn dẫn chư thiên Đao Lợi đứng bên trái, đại Bồ tát Di-Lặc và các Bồ tát có thần thông ở mười phương đứng phía trước Ngài.
Khi sắp nhập Kim-cang tam muội nghiền nát thân xá-lợi, Thế tôn nghĩ rằng: “Lành thay pháp bất tư nghì! Ta đã chuyển pháp chân thật ấy ở thế giới Ta-bà”.
Sau khi suy nghĩ như vậy, thế giới khắp mười phương chấn động sáu cách. Khi ấy, Thế tôn trong kim quan duỗi ra cánh tay vàng, hỏi A-Nan:
– Tỳ kheo Ca-Diếp đã đến chưa?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn, chưa.
Thế tôn lại hỏi:
– Tỳ kheo Ngưu Úc đã đến chưa?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Vị ấy đã bát Niết-bàn trên cõi trời, chỉ đem đến ba y và bình bát.
Phật bảo bốn chúng:
– Nay Ta vĩnh viễn diệt độ.
Ngài liền vén vải vào trong kim quan, im lặng không nói, như vậy ba lần, rồi Ngài thò tay ra hỏi A-Nan và bốn chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cùng tám vua nước lớn, trời, rồng, quỷ thần, A-tu-la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la gà, Càn thát bà, nhân và phi nhân:
– Thế nào, này A-Nan! Kinh Phương Đẳng đại thừa Ma Ha Diễn mà Ta đưa ra từ đầu đến cuối, ông có thông đạt hết không?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Con biết.
Phật nói như vậy ba lần và hỏi A-Nan:
– Khi ở cung trời Đao-Lợi, Ta giảng pháp cho mẫu hậu Ma-Gia, ông có biết không?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Con không biết.
Phật hỏi A-Nan:
– Thế nào, này A-Nan! Khi ở trong cung, Ta nói pháp cho rồng, có vô số ức ngàn con rồng đều đắc đạo, lưu lại toàn thân xá lợi một trăm ba mươi trượng, ông có biết không?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Con không biết.
Phật dạy:
– Thế nào, này A-Nan! Ta ở trong thai mẹ mười tháng. Ta nói cho các Bồ tát về pháp bất thối chuyển khó có, là hạnh bất tư nghì, ông có biết không?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Con không biết.
Phật dạy A-Nan:
– Ông hãy lắng nghe cho rõ và suy nghĩ cho thật kỹ. Bây giờ Ta sẽ phân biệt rõ ràng từng chi tiết về hạnh khó có của Bồ tát đại sĩ.
A-Nan bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Con xin muốn được nghe.
Phật dạy A-Nan:
– Cách đây về phương Đông-nam một ức một vạn một ngàn sáu mươi hai hằng hà sa cõi, có thế giới tên Tư Lạc, Phật hiệu là Hương Diễm Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn, hiện bát Niết-bàn mà đến cung trời Đao Lợi này; trải qua vô số a tăng kỳ kiếp đã ba mươi sáu lần làm Đại Phạm Thiên Vương, ba mươi sáu lần làm thân Đế Thích, ba mươi sáu lần làm Chuyển luân vương; chúng sanh được độ không rơi vào Nhị thừa và các đường ác. Vì sao? – Vì tất cả đều do thần thông trí tuệ của Phật cảm vời ra.
Thế nào, này A-Nan! Như Lai có ở trong thai hay không ở trong thai?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Thân Như Lai không ở trong thai.
Phật dạy A-Nan:
– Nếu Như Lai không ở trong thai thì làm sao nói Như Lai mười tháng ở trong thai để chỉ dạy giảng pháp?
A-Nan thưa:
– Bạch Thế tôn! Có ở trong thai là hư tịch, còn không ở trong thai cũng lại là hư tịch.
Khi ấy, Thế tôn dùng thần túc hiện trong thân mẫu Ma-Gia nằm, ngồi, kinh hành, trải đại cao tòa ngang rộng tám mươi do-tuần, lan can bằng vàng bạc, dùng lụa trời, lọng trời treo trên hư không, trỗi những kỹ nhạc không thể tính kể; lại dùng thần túc đi từ phương Đông đến thế giới Ta-bà này có cả một vạn tám ngàn cõi, Bồ tát đại sĩ đều đến vân tập.
Phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc cũng vậy.
Ở phương dưới có sáu mươi hai ức cõi, các Bồ tát dùng thần thông đến dự đại hội.
Phương trên có bảy mươi hai ức không giới Bồ tát cũng đến tập họp ở trong thai.
Bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đứng dậy, đến bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Các đại sĩ Bồ tát đến đây vân tập là muốn nghe Ngài nói pháp bất tư nghì, các môn tam muội: môn Không tam muội, Đạo tánh tam muội, Chơn thật tam muội, Hư không vương tam muội, Thệ tập chữ tam muội, Thọ tánh tam muội, Hành tích tam muội, Hàng ma tam muội, Trừ uế ô tam muội… Cả ức ngàn na do tha tam muội như vậy thì hôm nay Như Lai nhập vào thai với tam muội nào để nói pháp bất tư nghì cho các đại sĩ?
Phật dạy Văn Thù:
– Ông hãy quán sát Bồ tát các nơi Nhất trụ, Nhị trụ, cho đến Thập trụ nhất sanh bổ xứ; tất cả đều đứng theo địa vị của mình, không có lẫn lộn nhau. Vì sao? – Vì nay Ta sắp nói pháp bất tư nghì cho các đại sĩ. Đại chúng này đều thanh tịnh, không tạp nhiễm, dù cho các vị nhỏ nhất cũng không ô uế.
Bấy giờ, Thế tôn nói kệ với âm thanh thanh tịnh:
– Xưa nay vô số kiếp
Thành vô số thân Phật
Nay nhập lại bào thai
Muốn độ các chúng sanh
Thân hành tịnh, không ác
Khẩu hành không dối trá
Ý hành luôn từ bi
Đạo Bồ tát thanh tịnh
Thương xót loài chúng sanh
Luôn ở bốn sông lớn
Chấp thường và đoạn diệt
Hồi hướng đạo Bồ-đề
Được thân này rất khó
Đừng sanh tưởng ô uế
Nghĩ thân như gò mã
Nơi dã-can rình rập
Kẻ ngu quá chấp trước
Đắm vào ái không bỏ
Thân này không trở lại
Ngày đêm dục rúc rỉa
Chín khổ là then chốt
Như bình đẹp đựng phân
Bị khát dục hành hạ
Vì sao sanh khổ não
Như biển chứa các sông
Kẻ ngu cho là thật
Thân chẳng phải kim cang
Đừng làm nhiều ác hạnh
Thọ thân thì phải chết
Sao không mau hành đạo
Nếu người sống ức kiếp
Họ còn phải bỏ dục
Huống sống chẳng đủ trăm!
Sao không biết dừng lại?
Người ngu luôn khen mình
Thân này nhờ phước trước
Mình nên hưởng khoái vui
Nhưng chưa vui liền chết
Dục này không lâu dài
Người trí không nắm giữ
Người nào muốn bỏ dục
Tuệ quán mười vô tưởng
Dục là pháp chẳng thật
Sanh diệt như bọt nước
Là vật ảo thuật tạo
Biến hiện rất nhiều hình
Kẻ ngu cho là thật
Tìm sự thật không được
Tánh không vốn nó không
Đầu cuối không sanh diệt
Phân biệt định vô tưởng
Dẹp sạch lậu chúng sanh
Văn Thù! Ông nên biết
Hội vô lậu mười phương
Ta nhập định lưu ly
Giảng rộng pháp phương đẳng
Hà sa Phật mười phương
Nói như Ta không khác
Thương các loài quần manh
Ở mãi trong nhà lửa
Ra khỏi thai, vào lại
Chết đây lại sanh kia
Chư Bồ tát mười phương
Chứa hạnh hằng sa kiếp
Dù ở cõi Ta-bà
Kiếp năm trược khổ não
Như mười phương cõi Ta
Phương ấy bằng cõi này
Xoay tròn trong năm đường
Thọ khổ đau đớn này
Giải không tướng vô định
Cũng không có bổn tế
Nghĩa hàn toàn một tướng
Tánh nó vốn không tịch
Luôn tưởng không sanh diệt
Hữu dư và vô dư
Xưa Ta phát nguyện lớn
Thọ thai khắp năm đường
Trong hóa, thấp, noãn, thai
Cũng nói pháp hiếm có
Ai đắm trước năm ấm
Dạy họ vô sở hữu
Mười hai pháp móc nhau
Si, hành gốc sanh tử
Rơi trong bốn điên đảo
Dạy họ bốn chân thật
Khổ đế không có đế
Tập, tận, đạo cũng vậy
Dục, ngã, giới, kiến, thọ
Cũng giống như bốn ái
Phân biệt tánh chân thật
Hư không tịch vắng lặng
Tuy qua bờ sanh tử
Không trụ vào Niết-bàn
Nay ở trong thai mẹ
Nói pháp độ quần sanh
Trong quốc độ Ta-bà
Có vô số hằng sa
Ở trong thai nói pháp
Cứu độ a tăng kỳ
Hư không không ranh giới
Cõi Phật cũng như vậy
Chúng sanh thọ thần thức
Tánh chân thật khác nhau
Đem huệ sáng giáo hóa
Tùy theo loại mà độ
Hoặc hiện thân để độ
Nghe tiếng được giải thoát
Hoặc tư duy về khổ
Tập đế tận gốc đạo
Tư duy bốn ý chỉ
Đoạn ý, bốn thần túc
Năm căn và năm lực
Lấy bảy giác làm hoa
Tám phẩm đạo hiền thánh
Dùng để trang nghiêm thân
Phân biệt ngã không kia
Vô tưởng tịch tịnh huệ
Không mong cầu đều có
Luôn trụ không, vô huệ
Sơ nhập hữu giác định
Quán ba mươi bất tịnh
Nghịch thuận đều tỉnh giác
Nhập định giải vô quán
Chín định nhập lần lượt
Phân biệt không giác quán
Lại vui diệt tận đạo
Sơ định đủ năm pháp
Ý hỷ lạc đã diệt
An ổn nhập bốn pháp
Các đại sĩ trí tuệ
Không hành theo điều này
Vì các ma phiền não
Ứng trực trước chúng sanh
Qua nhiều kiếp thiền định
Thân gầy như cây khô
Xông ướp hương Tam thiền
Năm chi không rời rã
Huệ Phật không thể lường
Là hữu, là bất hữu
Bậc Vô thượng chánh giác
Không sanh, cũng không tử
Khi thành Phật đến nay
Ta du quán Tam thiền
Nếu nhập vào Tứ thiền
Không nói nhưng được độ
Ta quán cõi hư không
Chúng sanh không chỗ tựa
Thần – lực – trí chư Phật
Mới biết tận nguồn gốc
Những vị học đoạn lậu
Chưa phân biệt được hết
Phẩm đạo rất thâm diệu
Nhị thừa không thể biết
Ta quán bằng thiên nhãn
Huệ nhãn và Phật nhãn
Do bốn thức thọ hình
Nếu hóa hiện trong đó
Địa, thủy, hỏa hình sắc
Cũng không thể quán thấy
Chư Phật có thần lực
Mới đến bờ bên kia
Các cõi Phật mười phương
Hằng sa a tăng kỳ
Lấy đạo huệ làm gốc
Dạo ở cõi hư không
Nếu như dùng nhục nhãn
Quán không giới chúng sanh
Miệng thở hơi ra vào
Vô số chúng sanh vào
Khi ấy những loài này
Đều được thành kiến đạo
Nên biết pháp thân Phật
Chơn thật không nghĩ bàn
Phật chủ tướng ba cõi
Thương cứu thảy chúng sanh
Cõi Dục – Sắc – Vô sắc
Để chứng được đạo huệ
Không còn lòng dâm, nộ
Và dòng họ nhà si
Thấy hình liền nhập đạo
Đâu cần học, vô học
Vô lượng các cõi Phật
Thành đạo đều khác nhau
Có vị từ hữu tưởng
Có vị từ vô tưởng
Không tu tập lại nữa
Chơn như bốn Thánh đế
Bồ tát thanh tịnh quán
Nhập thiền không chướng ngại
La-hán, Bích-chi Phật
Nhập định đều khác nhau
Đời đời không còn sanh
Thì đâu có gốc sanh
Kẻ ngu si chấp trước
Cho sanh đó là ngã
Chúng ta tự xưng ngã
Không thấy có ngã sở
Bồ tát hành Tứ thiền
Duyên-giác không thể biết
Bồ tát nhập Sơ thiền
Ba mươi hạnh vô lậu
Trăm bảy định tam muội
Thở ra vào đều đặn
Nhị định bảy mươi hai
Tự quán vô ngã tưởng
Dù qua bao kiếp khổ
Cũng không lìa thiền hành
Bốn trụ đoạn các lậu
Mới đạt Nhị thiền này
Vì do dự sáu trụ
Nhập định như sóng nước
Tám vạn bốn ngàn hạnh
Vẫn còn không kềm chế
Vốn ta đối sáu trụ
Thối chuyển mười hai kiếp
Luôn sanh khởi tưởng lạc
Luân hồi vực sanh tử
Được đức Phật Định-Quang
Ký biệt tâm kiên cố
Lập chí không thối lui
Nên mới đạt Tam thiền
Đoạn trừ bảy vạn cấu
Diệt sạch hết gốc rễ
Sư tử vô úy bước
Xiển dương đại pháp điển
Dạo hết các cõi Phật
Lễ lạy, thờ cung kính
A tăng kỳ quá khứ
Chư Phật đức Thế tôn
Đều ở cõi của mình
Thệ nguyện làm Phật sự
Dù tâm không thối chuyển
Nhưng luôn sợ sa-đọa
Cả ức ngàn chúng sanh
Không làm động mảy lông
Hành vượt qua bát trụ
Thẳng vào đạo Bồ-đề
Những thú vui tham đắm
Diệt hẳn, không tưởng nhớ
Trừ thầy, tổ, mẹ cha
Còn lại không luyến nhớ
Mới thành hạnh Nhất thiền
Gọi: Thí độ vô cực
Tập quán không ai bằng
Cửu địa thông bổn huệ
Không nhập vào diệt tận
Đến nơi tòa thành Phật
Làm duyên cho chúng sanh
Đi đến dưới cây Phật
Độ cả a tăng kỳ
Tập họp tại đạo tràng
Mười phương vô lượng cõi
Chư đức Phật Thế tôn
Đều duỗi thả tay phải
Lành thay Đại Sư tử!
Mười lực, vô sở úy
Nhập sâu vào Tứ thiền
Thương xót loài quần manh
Xin mau ra khỏi thiền
Để độ người chưa độ
Cứu thoát người chưa thoát
Bốn thức xứ tối tăm
Khao khát vị thiền duyệt
Không trái lời Phật dạy
Rồi liền tự ngợi khen
Lại tự mình suy nghĩ
Do thân này tạo ra
Chắc chắn nhập Niết-bàn
Để độ cho chúng sanh
Chư Phật đều hiện ra
Lành thay Thích Ca Văn
Lập ra ý nguyện lớn
Đừng sanh tâm thối lui
Chuyển pháp luân vô thượng
Đánh vào trống đại pháp
Người nghe mau giải thoát
Qua kiếp số không khó
Kiện trí, vô ngại trí
Biện trí, thông đạt trí
Đạo trí, minh huệ trí
Đoạn trí, vô sanh trí
Bất khởi tận diệt trí
Tiêu trí, chín bậc trí
Vô úy Sư tử trí
Điện khổng âm hưởng trí
Đoạn tọa bất động trí
Đại bi vô ngại trí
Thân tướng trang nghiêm trí
Bạt khổ mẫn hộ trí
Kiết giải vô phược trí
Thọ biệt thủ chứng trí
Hàng ma phá quân trí
Thành vô ngã mạn trí
Ý dõng tinh tấn trí
Thí bất vọng báo trí
Hành nhẫn thọ nhục trí
Kim cang thập lực trí
Trụ kiếp bất động trí
Tập chúng hòa hợp trí
Tối thượng đạo sư trí
Tàm quý pháp phục trí
Bồ tát thệ nguyện trí
Thần túc biến hiện trí
Cảnh giới vô ngại trí
Đoạn ý diệt kiết trí
Thanh tịnh chiếu minh trí
Tự thức túc mạng trí
Huyền giám tha tâm trí
Phụ mẫu chân tịnh trí
Phân thân sát độ trí
Xử thai vô uế trí
Thức định bất loạn trí
Nhất hướng tín thọ trí
Nhập định quán sát trí
Phân biệt thân tướng trí
Tam thập bất tịnh trí
Diệt tai trừ hoạn trí
Bồ tát thứ đệ trí
Siêu việt giáo hóa trí
Diệt thập nhị duyên trí
Duyên giác thời ngộ trí
Thanh văn thọ hóa trí
Xuất thập nhị nhập trí
Quán huệ vô ngại trí
Thọ đạo huyền giám trí
Nhất dạ vi kiếp trí
Dĩ kiếp vi nhật trí
Niệm Phật Phật hiện trí
Sát độ thanh tịnh trí
Vô hữu Nhị thừa trí
Độc bộ vô úy trí
Duyệt khả chúng ý trí
Sở tác dĩ biện trí
Bất tạo tiền hậu trí
Diệt cố vô tận trí
Nhập định trừ tưởng trí
Quán nội ngoại thân trí
Như Lai thọ huệ trí
Hiền thánh mặc nhiên trí.
Khi đức Phật nói kệ này, cả ức trăm ngàn vô lượng chúng sanh đều tiến hết vào Tín địa. Lại có mười hai na-do-tha Bồ tát ở Quán hạnh địa, không trụ vào Tam trụ mà thành tựu cõi Phật.
Ở phía bên phải có bảy vạn bảy ngàn ức chúng sanh đạt đến A-duy-việt trí bất thối chuyển.
Phật dạy Văn Thù:
– Nay giữa đại hội này không có một người nào có cáu bẩn, ô uế xen lẫn, bị thối chuyển. Vì sao? – Vì tất cả đều là những hàng lợi căn, không còn sanh tử, không còn bị trói buộc, không vướng mắc, không diệt, không sanh, tu đạo thanh tịnh, thọ chứng thành tựu, mong muốn ưa thích nghe chánh pháp bất khả tư nghì của chư Phật. Các vị đã chiến thắng chúng ma, khử trừ tâm kiêu mạn, bên ngoài mặc dù giáo hóa a tăng kỳ chúng sanh trong các cõi Phật nhưng bên trong tâm du hý vô lượng trăm ngàn tam muội, những tam muội ấy là:
– Sư tử phấn chấn tam muội
– Siêu hành đăng vị tam muội
– Quảng tấn siêu bộ tam muội
– Đồng chơn nhạo pháp tam muội
– Tứ đạo sanh diệt tam muội
– Vô tưởng đẳng hành tam muội
– Vãng nghệ bất thối đạo tràng tam muội
– Quán sát chúng tâm tam muội
– Niệm nhất sanh bổ xứ tam muội
– Vô hình tượng tam muội
– Địa trung dõng xuất tam muội
– Giải phược chiến đấu tam muội
– Đảnh thọ tối thắng tam muội
– Chúng sanh hỷ kiến tam muội
– Nhập bất tư nghì tam muội
– Phật giới bất tư nghì tam muội
– Pháp giới trừ uế bất tư nghì tam muội
– Thánh chúng bất tư nghì tam muội
– Chúng sanh khởi diệt bất tư nghì tam muội
– Long lực hưng giáng bất tư nghì tam muội
– Tại chúng thượng trung vương bất tư nghì tam muội
– Dõng mãnh hàng phục oán bất tư nghì tam muội
– Thọ mạng vô lượng bất tư nghì tam muội
– Tại ngũ đạo năng thọ khổ bất tư nghì tam muội
– Chư Phật hiện tại bất tư nghì tam muội
– Tứ sự cúng dường bất tư nghì tam muội….
Các vị ấy trang nghiêm thân với một ức một ngàn tam muội như vậy.
Lại còn có Tốc tật bất tư nghì tam muội. Trong một ngày, các vị ấy xuất gia hành đạo, đến dưới gốc cây thành Phật, giáo hóa chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật.
Lại có Lưu trú đãi duyên bất tư nghì tam muội, được sống lâu vô lượng a tăng kỳ kiếp. Chúng sanh nào có duyên thì được độ vào cảnh giới Vô dư Niết-bàn, nhưng Như Lai không vào Niết-bàn, mà lại tạo nhân duyên để hành Bồ tát đạo.
Lại có Thật lực bất tư nghì tam muội, nghĩa là từ cõi Phật này đến cõi Phật kia trong khoảng thời gian chốc lát như người khảy móng tay mà đã thọ ký cho vô lượng hằng hà sa chúng sanh và cũng làm cho họ trong ngày đó đều thành Phật.
Đó là thần lực của Bồ tát ở trong thai.
***

PHẨM THỨ 2: DU BỘ

Bấy giờ, Bồ tát Di-Lặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa pháp y, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, thưa Thế tôn:
– Lành thay! Lành thay! Như Lai đã nói pháp bất tư nghì. Nay trong chúng đây có vị thấy đạo, có vị chưa thấy đạo, có vị trụ vào Tín địa, có vị chưa trụ vào Tín địa, có Bồ tát từ cõi trời Quang Âm, trời Hạp, trời Ba Lợi Đà, trời A Ba Na Ma, trời A Hội Đản Tu, trời Đạo A, trời Tu Càn, trời Tu Phất Kỳ Hâu, trời Kiết Ma, cho đến trời Nhất Cứu Cánh, trời Hóa Tự Tại, trời Tha Hóa Tự Tại; hoặc có Bồ tát ở Không xứ, Thức xứ, Bất dụng xứ, cho đến Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ. Các vị ấy làm sao nhập vào thai để giáo hóa?
Thế tôn dạy:
– Ông chớ nên hỏi như vậy. Vì sao? – Vì Như Lai không bao giờ nói nghĩa như thế. Ta hỏi ông, ông hãy trả lời ngay cho ta. Thế nào, này Di-Lặc! Hư không có hình chất hay không có hình chất?
Di-Lặc trả lời:
– Bạch Thế tôn! Không có hình chất.
Thế tôn hỏi:
– Thế nào, này Di Lặc! Nếu hư không không có hình chất thì tại sao chúng sanh có sanh, có già, có bệnh và có chết?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Với Nhất nghĩa đế thì không có sanh, già, bệnh, chết. Do đó mà hư không không có hình chất.
Phật dạy Di Lặc:
– Nếu nó không có hình chất thì những chúng sanh này ai trao và ai nhận? Vì sao Bồ tát đến dưới gốc cây có lúc kinh hành, có lúc nhập định? Làm sao Bồ tát quán thân tướng của mình và quán thân tướng người khác? Làm sao Bồ tát hiện đi bảy bước, tự xưng mình thành Phật chiến thắng quân ma? Và làm sao Bồ tát tu sửa đạo tràng để mời thỉnh chúng sanh trong mười phương?
Di-Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Như vậy, nếu hư không không hình chất thì thân tướng của Như Lai cũng là danh hiệu giả, cho đến nghĩa nhất cứu cánh đều không và không có sở hữu?
Phật hỏi Di Lặc:
– Nếu Bồ tát hành về không thì làm sao đi đến mười phương để giáo hóa chúng sanh?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Bồ tát hành về không vì không thấy quốc độ, cũng không thấy có Phật. Chính Phật không phải Phật thì làm sao có địa, thủy, hỏa, phong và thức giới? Vì ngã, người, thọ mạng đều là không tịch. Do đó mà không có thai phần.
Phật dạy Di Lặc:
– Ông ở cõi trời Ba mươi ba nói pháp không hành cho các thiên chúng, trong số đó có ai thấy đạo, và ai chưa thấy đạo?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Chúng trời ấy do tưởng thường, tưởng lạc, tưởng tịnh, tưởng chấp ngã là ngã, cho nên không có sự thấy đạo và cũng không có bậc thấy đạo.
Phật dạy Di Lặc:
– Chư thiên kia hữu sắc hành ấm hay vô sắc hành ấm? Hữu báo ứng ấm hay vô báo ứng ấm? Có phá hữu ấm hay không phá hữu ấm? Có thọ nhập ấm hay không thọ nhập ấm? Thanh hưởng ấm hay không thanh hưởng ấm? Có trung gian ấm hay không trung gian ấm? Có bỉ thử ấm hay không bỉ thử ấm? Có cứu cánh ấm hay không cứu cánh ấm? Có mặc nhiên ấm hay không mặc nhiên ấm? Thế nào, này Di Lặc! Ở cõi trời nói chơn pháp cho chúng trời, ông có nói danh hiệu của các ấm này hay không?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Không.
Thế tôn dạy:
– Thế nào, này Di Lặc! Chư Phật mười phương đã thọ ký cho ông thành đạo Vô thượng chánh chơn, như vậy có đạo chánh chơn hay không có đạo chánh chơn?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Không có đạo chánh chơn.
– Nếu có đạo chánh chơn thì đây cũng là danh hiệu giả. Nói về Di Lặc cũng là tên giả. Cũng như bổn tế của tự tánh cũng là danh hiệu giả. Sắc thân của Như Lai, tự thân ấy là không tướng, tự tướng cũng không, gốc ngọn thì gốc ngọn không, bỉ thử thì bỉ thử cũng không. Vậy làm sao ông biết chắc có biệt hiệu là Di Lặc? Nói tánh thì tự tánh không, nói hữu thì chính hữu là không. Nói vô thì chính vô là không. Vô vốn thường trụ, làm sao khiến cho nó bất trụ? Nói trụ thì chính trụ là không. Nói tự tướng thì tự tướng không. Nói ấm thì chính ấm là không. Nói thai thì chính thai ấy là không, cho đến đạo tràng nói hành thì hành ấm không. Bạch Thế tôn! Do đó mà không có sự thấy đạo và chưa ai thấy đạo.
Phật lại dạy Di Lặc:
– Sự thấy đạo và người không thấy đạo thì có quả chứng hay không có quả chứng? Là tánh hữu vi hay chẳng phải tánh hữu vi? Là tánh vô vi trong hữu vi hay tánh vô vi trong vô vi? Là tánh vô lậu trong hữu lậu hay tánh vô lậu trong vô lậu? Là tánh hữu tận trong Dục giới hay tánh vô tận trong Dục giới? Là tánh hữu tận trong cõi Sắc, cõi Vô sắc hay là tánh vô tận trong cõi Sắc, cõi Vô sắc? Không giới là tánh diệt thức hay không giới chẳng phải tánh diệt thức; cho đến hữu vi không, vô vi không, tự tánh không. Hữu cho hữu là không, vô cho vô là không, đại không, thủ không, một tướng vô tướng không. Hữu dư Niết-bàn không, Vô dư Niết-bàn không, là tánh chứng đắc hay chẳng phải tánh chứng đắc?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Pháp chứng đắc chẳng phải pháp, phi pháp không phải pháp chứng đắc.
Phật dạy:
– Thế nào, này Di Lặc! Nếu pháp hữu vi chẳng phải vô vi, pháp vô vi chẳng phải hữu vi, vậy sao ông nói pháp có chứng đắc là không chứng đắc và pháp không chứng đắc cũng không chứng đắc?
Di Lặc bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Theo đệ nhất nghĩa thì trong pháp hữu tướng, vô tướng tìm cầu hữu vi chẳng phải vô vi hay tìm cầu vô vi chẳng phải hữu vi?
Phật dạy Di Lặc:
– Nay Ta hỏi ông: Căn luận chân thật, chẳng phải Vô căn luận, vậy thì hữu vi vô vi từ đâu sanh? Nếu có thì tên nó là gì?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Hư không là tánh tịch diệt. Chữ nghĩa, tên gọi đều chẳng phải chân thật, đó là Vô căn luận, chứ chẳng phải Hữu căn luận.
Phật dạy Di Lặc:
– Vậy làm sao nghĩa căn sanh ra Vô căn luận?
Di Lặc thưa:
– Bạch Thế tôn! Đối với nghĩa thế tục thì căn là pháp tánh, vô căn là chứng tịnh, bất động cũng không phải bất động, là một tướng, vô tướng, cho đến pháp hữu vi – vô vi, pháp hữu lậu – vô lậu, pháp hữu đối – vô đối, pháp sắc – pháp vô sắc, pháp khả kiến – pháp bất khả kiến, bất trụ cũng không phải bất trụ. Đó là nghĩa của vô căn.
Phật dạy:
– Lành thay! Bồ tát hành về không đã hiểu rõ về vô căn, bất sanh không phải bất sanh; vị lai chưa đến, hiện tại không trụ; quá khứ đã diệt; không chấp trước, không đoạn; không trụ, cũng không phải không trụ.
Khi ấy, trong đại hội có Bồ tát tên Phân Biệt Thân Quán, bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Con nghe Như Lai nói nghĩa Vô căn: nói có thân tướng, nói không có thân tướng; nói có tự tánh không, nói không có tự tánh không. Vậy nói về nghĩa vô căn là từ trong Như mà sanh hay không phải từ trong Như sanh ra? Nghĩa vô căn có sanh diệt hay không có sanh diệt? Pháp hữu đối hay chẳng phải pháp vô đối? Pháp hữu sắc hay pháp vô sắc? Pháp hữu vi hay pháp vô vi? Pháp hữu lậu hay pháp vô lậu? Pháp hữu tướng hay pháp vô tướng? Có thân quán hay không thân quán?
Phật dạy Bồ tát Phân Biệt Thân Quán:
– Cái gì là thân? Cái gì là quán? Thân làm sao để hành quán này?
Bồ tát Phân Biệt Thân Quán thưa:
– Bạch Thế tôn! Địa, thủy, hỏa, phong là thân ấm. Thức phân biệt là quán.
Phật dạy:
– Nói địa thì tự thể của địa là không, nói thủy thì tự thể của thủy là không, nói hỏa thì tự thể của hỏa là không, nói phong thì tự thể của phong là không, nói thức thì tự thể của thức là không, nói không thì tự thể của không là không… thì cái gì là thân, cái gì là quán?
Bồ tát Thân Quán thưa:
– Bạch Thế tôn! Đúng vậy. Theo như lời của Ngài nói: Nếu pháp giới hư không đều không tịch, không có Phật mà nói Phật, không có Pháp mà nói Pháp, không có Tăng mà nói Tăng, không có đời này, đời sau, không có tội, không có phước thì sẽ khác với Đại sư dạy không?
Phật dạy Bồ tát Phân Biệt Thân Quán:
– Khi nhập vào định Diệt tận, ông có thấy Nhãn quán Sắc, cho đến Ý quán Pháp không?
Bồ tát Thân Quán thưa:
– Bạch Thế tôn! Không. Vì sao? – Vì trong định diệt tận không sanh cũng không diệt.
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói thì: Nhãn quán Sắc. Sắc chẳng phải sắc của ngã, ngã chẳng phải sắc của nó. Thức chẳng phải thức của ngã, ngã chẳng phải thức của nó… cho đến Xúc.
Thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều như vậy. Vì pháp chẳng phải pháp của ngã, ngã cũng chẳng phải pháp của ngã nên đối với nghĩa vô căn nó không tăng không giảm.
Nếu căn thanh tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Nếu tướng không mà thanh tịnh thì cho đến cứu cánh không cũng đều thanh tịnh.
Nếu một mà thanh tịnh thì không có hai.
Nếu năm ấm tịnh, hành tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Nếu hữu đối tịnh, vô đối tịnh, sắc tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Nếu Bồ tát tịnh, sáu trần tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Nếu quyến thuộc tịnh, dòng họ tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Nếu địa tịnh, trụ tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Đó là nghĩa vô căn của đại Bồ tát.
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Nếu khổ tịnh, không khổ không lạc tịnh thì đạo cũng thanh tịnh. Nếu môn tịnh, chủng tịnh, sanh tịnh thì đạo cũng thanh tịnh. Đó là nghĩa vô căn của đại Bồ tát.
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Nếu đạo tràng tịnh, quốc độ tịnh, chúng sanh tịnh thì đạo cũng thanh tịnh. Đó là nghĩa vô căn của đại Bồ tát.
Nếu căn tịnh, lực tịnh, giác ý tịnh, đạo phẩm tịnh thì đạo cũng thanh tịnh.
Thế nào, này Bồ tát Thân Quán! Nay Ta hỏi ông, ông hãy trả lời cho Ta: Như Lai tu sửa đạo tràng, ngồi dưới gốc cây thọ vương, làm thế nào để phân biệt những loài chúng sanh theo pháp hữu ký hay pháp vô ký? Nếu pháp hữu ký thì là dơ cấu của trần lao, còn pháp vô ký cũng là dơ cấu của trần lao. Vậy chẳng lẽ nên lấy vô ký để thọ ký cho chúng sanh sao?
Bồ tát Thân Quán thưa:
– Pháp hữu ký chẳng phải dơ cấu của trần lao, mà pháp vô ký cũng chẳng phải trần lao. Vì sao? – Vì dơ cấu trần lao là pháp thấp hèn mà pháp hữu ký vô ký là pháp cao thượng. Vậy không thể lấy vô ký mà đối trị với trần lao. Vì sao? – Vì pháp trần lao là hạt giống Như Lai.
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Thôi, thôi! Ông chớ nói như vậy. Ông nói trần lao là pháp sanh tử, sao bây giờ lại nói là hạt giống của Như Lai?
Bồ tát Thân Quán thưa:
– Bạch Thế tôn! Thân của Như Lai là biến hóa chứ chẳng phải chúng sanh. Nếu là biến hóa thì không có cõi chúng sanh trong trần lao. Giả sử chúng sanh mà có thân Như Lai thì dơ cấu trần lao chẳng phải là hạt giống Như Lai sao?
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói. Vì mượn danh hiệu tên chữ để có trần lao nhưng trong đệ nhất nghĩa không có trần lao.
Phật dạy Bồ tát Thân Quán:
– Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn thường dùng thiên nhãn quán ý thức sanh niệm trong một a tăng kỳ chúng sanh khắp mười phương thế giới: Có người nhiều tâm dục, có người ít tâm dục; có người nhiều tâm sân, có người ít tâm sân; có người nhiều tâm si, có người ít tâm si. Người có tâm giải thoát, người không có tâm giải thoát. Người có tăng thượng mạn, người không có tăng thượng mạn. Người dễ cứu cánh, người khó cứu cánh… Những hạng người này Bồ tát đều biết, đều quán hết tất cả rồi đến độ họ.
Làm thế nào mà Bồ tát dùng thiên nhãn quán biết người dục ít, biết người dục nhiều? Nghĩa là trong số người ấy, Bồ tát hiện hình dâm nữ nói việc dâm dục với họ, làm cho họ khoái lạc khó quên, nhìn không nhàm chán, khiến cho ý dục của họ càng thêm hỷ lạc. Sau đó từ từ nói với họ rằng: “Thân là ô uế, vô thường, vô ngã, khổ, không, chẳng phải là thân; dục là hầm lửa thiêu cháy tâm thức…” để họ nhàm chán, lo sợ, không còn dâm dục nữa. Những chúng sanh này ở trong thai liền được thọ ký đạo vô thượng.
Này Bồ tát Thân Quán! Ông nên biết rằng: nếu như chúng sanh này không sân giận, ngu si, đoạn dục thì họ được đắc dạo. Hoặc có Bồ tát kết bạn cùng với bọn người ấy, nói nghiệp sát sanh để họ khoái lạc khó quên: “Ôi, vui thay! Sát sanh là làm giảm tuổi thọ của ông, còn tôi thì tăng tuổi thọ”. Sau đó từ từ nói cho họ nghe rằng: “Sát sanh thì mắc tội rất nặng”, nói cho họ một trăm lẻ tám tội nặng sát sanh rất là khổ não, đau đớn, rồi dìu dắt họ vào đạo, không còn chút dục si. Những người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát kết bạn cùng với chúng, người kia nói mười đạo bất thiện, thân giáo, khẩu giáo, ý giáo đều bất thiện, cho chơn thật là hư ngụy, vô thường cho là thường, không cho là thật có, không có thân nói rằng có thân, khổ cho là vui, không có thế gian nói rằng có thế gian. Sau đó, từ từ nói với họ về vô lượng biện tài, trí sâu rộng lớn, thấu triệt hết tất cả pháp, dựng cờ pháp cho họ rồi từ từ dẫn vào rừng trí huệ: “Các người nên biết, nếu có ai còn nghi ngờ về ta thì nên lấy lửa trí huệ đốt tâm nghi ngờ của người ấy. Nếu người bố thí tay cầm của cải, có người thọ nhận mà hiểu rõ ba việc ấy là không, không có sở hữu, người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng”.
Thấy người giữ giới, giới phẩm thành tựu, không phạm một mảy may nào, hiểu rõ tất cả là không tịch, vắng lặng, không có sở hữu, người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có chúng sanh lòng nhẫn nhục, không sân giận, nếu có người đến cắt, xẻ, giết nhưng lòng không chút tưởng giận, cho đến đầu, mắt, tủy, não vẫn không chút thương tiếc. Người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có chúng sanh tâm như kim cương, không có gì làm cản trở, hư hoại được, giả sử có người dùng lời dịu ngọt dụ dỗ: “Kiếp số khó lường, luân hồi trong sanh tử khó có thể tránh khỏi, sao không tự độ mà lại thay thế chịu khổ nhọc cho chúng sanh kia”, nhưng tâm Bồ tát vẫn tiến lên, không bao giờ thối chuyển để rơi vào sanh tử. Người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có người hành thiền, tâm thức bất động, ma Ba-tuần ở trên hư không làm sấm sét dữ dội, nhưng tâm Bồ tát không bị lay động một mảy lông nào cả, huống chi làm cho vị ấy thối bỏ đạo thiền. Vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Nếu có chúng sanh phân biệt các hành, điều này có thể hành, điều kia không thể hành. Nếu người nào tham đắm, yêu mến thân thì liền nói cho họ về bốn pháp ý chỉ, phân biệt rõ ràng về kho tàng cốt yếu của các pháp, rao bày, giảng nói vô lượng pháp giới. Người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Từ tam muội, thấy các loài chúng sanh đầy khắp cả vô lượng vô hạn tăng kỳ hằng hà sa cõi ở phương Đông, rồi đem lòng từ bi thương xót muốn họ được giải thoát. Ví như lấy từng hạt cát trong sông Hằng đi qua hằng hà sa cõi thả xuống một hạt, như vậy cát sông Hằng tận nhưng tâm từ không tận. Bồ tát phát nguyện kiên cố khó lay động. Giả sử có người đến lấy thân Bồ tát, tháo cắt xẻ từng miếng để đầy khắp ba ngàn đại thiên quốc độ nhưng Bồ tát thấy máu biến thành sữa, giống như mẹ yêu con. Đó là Bồ tát hành Từ tam muội, người này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập Bi tam muội với lòng từ bi thương xót muốn các loài chúng sanh trong vô lượng vô hạn tăng kỳ hằng hà sa cõi ở phương Nam được giải thoát, lấy từng hạt cát trong sông Hằng đi qua hằng hà sa cõi thả xuống một hạt, như vậy cát sông Hằng tận nhưng tâm bi không tận; kham chịu thay thế những chúng sanh bị khổ kia. Tất cả đều là sự thề nguyền kiên cố của Bồ tát. Chúng sanh nào thấy với tâm thanh tịnh thì xa lìa các khổ, đoạn hẳn vọng tưởng, vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Hỷ tam muội, với lòng nghĩ nhớ đến hỷ, muốn cho các loài chúng sanh ở vô lượng vô hạn a tăng kỳ hằng hà sa cõi ở phương Tây được giải thoát, lấy từng hạt cát trong sông Hằng, cứ qua hằng hà sa cõi thì thả xuống một hạt, như vậy cát sông Hằng tận mà tâm hỷ không tận. Nếu chúng sanh ấy nhập vào hỷ tâm thì tự mình vui thích. Đây đều là Bồ tát phát tâm kiên cố và ở trong thai thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Xả tam muội, sợ vô lượng vô hạn a tăng kỳ hằng hà sa chúng sanh ở phương Bắc có hạnh sứt mẻ lủng chảy, liền nuôi dưỡng, ủng hộ, không cho họ bị chìm đắm; lấy từng hạt cát trong sông Hằng, cứ đi qua hằng hà sa cõi thả xuống một hạt, như vậy cát sông Hằng tận nhưng tâm xả không tận. Đây đều là Bồ tát thệ nguyện kiên cố, vị này ở trong thai thành đạo vô thượng.
Đối với lòng đại từ đại bi, tu pháp chân thật của Bồ tát thì chẳng phải sở hành của La-hán, Bích-chi Phật. Bồ tát muốn cho tất cả chúng sanh khắp bốn phương một khi nghe âm thanh liền tìm tiếng mà đến. Đây đều là thệ nguyện kiên cố của Bồ tát, vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
***

PHẨM THỨ 3: THÁNH ĐẾ

Phật dạy đại Bồ tát, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni Ưu bà tắc, Ưu bà di, trời, rồng, quỷ thần, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Tỳ xá giá, Cưu bàn trà, Phú đa na ma niệu xá a niệu…:
– Nay Ta sẽ nói cho các người về Hiền thánh đế của đại Bồ tát. Hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ. Vì sao? – Vì từ số a tăng kỳ kiếp ta tu tập đạo quả, chết đây sanh kia, luân hồi trong năm đường nhưng không bao giờ bỏ Hiền thánh đế của Bồ tát.
Bồ tát tu tập Thánh đế như thế nào? – Nghĩa là có Bồ tát từ lúc mới phát tâm cho đến khi ngồi đạo tràng tu hành pháp vô ngại, không chấp vào sự chứng thiền, diệt tận các tưởng ác. Hoặc có Bồ tát nhập vào địa Sơ thiền, thấy hạnh thanh tịnh, xấu hổ để rồi nhàm chán, xả bỏ để mà tiến bộ, sắp bước lên lục trụ, siêng năng tinh tấn đạo nghiệp, nhập vào địa Nhị thiền, tâm hoát nhiên đại ngộ, giống như trăng sáng xua tan mây. Tự quán trong thân mình, tâm phát thệ nguyện là kiên cố hay không kiên cố. Tự đem tâm của mình mà quán tâm chúng sanh, ai dễ độ, khó độ cũng đều biết tất cả. Bấy giờ tâm Bồ tát rất là vui vẻ: “Ta chắc chắn sẽ thành Phật không có nghi ngờ, quốc độ được thanh tịnh, trừ dơ cấu cho chúng sanh, chiến thắng quân ma, chuyển pháp luân hiền thánh vô thượng. Ôi, vui thay! Phước báo sở nguyện ta đều được thành tựu!”.
Bấy giờ Bồ tát nhập vào định Bất loạn, lấy tâm cân nhắc tâm, đem thân cân nhắc thân, liền được thành tựu thánh đạo thần túc. Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, lễ lạy thờ phụng cúng dường chư Phật Thế tôn, nghe thọ pháp thâm sâu mà không trở ngại, không lo sợ, rồi đến nhập vào Tam thiền, quán các sắc tướng đều là không, không có sở hữu. Khi trụ vào Tam thiền, quán các loài chúng sanh đều có thể phân biệt được rõ ràng: họ chết đây sanh kia, chết kia sanh đây; tự biết đời trước và cũng biết họ từ đâu đến; đây là dòng Sát-lợi hay dòng Bà la môn, dòng cư sĩ hay trưởng giả; người tu hành, người không tu hành; đáng thọ quả, không đáng thọ quả; hơi thở ra vào, chẳng phải hơi thở ra vào; đây là bốn ý chỉ, bốn ý đoạn, căn lực, thần túc, giác ý, tám chánh đạo… Người này nhất định ở nước ấy, chỗ ấy, trong chúng sanh ấy mà thành Phật. Tất cả hạng người trên, Bồ tát đều biết cả. Đó gọi là Bồ tát ở địa Tam thiền đắc tâm thanh tịnh.
Lại nữa, đại Bồ tát ở trên địa Tam thiền mà mong muốn bát trụ, tuy trông mong nhưng không đắc. Ngày đêm siêng năng tinh tấn cầu cho tâm được thanh tịnh, nhập vào trong Tứ thiền, trước mắt tự thấy chư Phật mười phương nói cho nghe pháp bất thối chuyển của Tứ thiền, giải thoát vô ngại, hành bốn thần túc, có thể phân một thân thành vô số thân, lấy vô số thân hợp lại thành một thân, nhập vào Hỏa Quang tam muội, biến khắp ba ngàn đại thiên thế giới, làm cho chúng sanh ấy thấy Hỏa Quang tam muội nên lòng kinh sợ đến nỗi rợn tóc gáy, tự đến chỗ Bồ tát mà quy y. Nhờ lực tam muội mà được giải thoát.
Bấy giờ trong Tứ thiền phân biệt chơn như, pháp tánh, tâm lui trở lại tu tập hạnh lục trụ. Bồ tát tự nghĩ: “Nay ta chưa đắc địa bất thối chuyển thì làm sao đắc bát trụ?”. Thế rồi ở trong Tứ thiền siêng năng tu tập, làm thanh tịnh hạnh cho chúng sanh, thay thế chịu khổ cho họ. Mặc dù hành pháp như vậy nhưng không tự khen ngợi, trừ bỏ tâm kiêu mạn, không còn chấp ngã, tu sáu tư niệm. Mặc dù hành đạo ở chín đường chúng sanh nhưng tâm không đắm nhiễm, quyến luyến sanh tử, tâm hoát nhiên đại ngộ, đạt được bất thối chuyển. Đó là đại Bồ tát đối Thánh đế mà đắc tâm thanh tịnh.
Thế rồi Bồ tát nhập vào Không xứ tam muội, quán tâm thức của loài chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới này, tu pháp thanh tịnh, xa lìa những sự trói buộc, không còn thương tiếc gì cả, có thể tự mình sống một kiếp, hai kiếp, cho đến vô số kiếp, ở trong số kiếp ấy giáo hóa chúng sanh, người sống người chết từ từ hướng dẫn họ đạt đến đạo thanh tịnh. Vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Thức xứ tam muội, quán cõi đi đến của các thần thức trong ba ngàn đại thiên thế giới này, dù thiên đạo, nhân đạo, ngạ quỷ đạo, súc sanh đạo, địa ngục đạo, người dễ độ, khó độ,… vị Bồ tát này đều biết cả. Vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Bất dụng xứ tam muội, quán các loài chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới là vàng, xanh, đỏ, trắng, nhiều hay ít thì tự nhàm chán không muốn ở lâu. Vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Có Bồ tát nhập vào Phi tưởng phi bất tưởng xứ tam muội, quán cõi đi đến của các thần thức trong ba ngàn đại thiên thế giới này: người sống, người chết, xanh vàng đỏ trắng, cao thấp… đều làm cho chúng sanh ấy biết sự chấm dứt của thọ mạng. Vị này ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
Thế rồi Bồ tát nhập vào đại hư không, đại tịch tịnh tam muội, quán cõi đi về của các loài chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới này, trên đến vô biên vô tận cõi, tư duy phân biệt tất cả pháp là không có. Đó gọi là đại Bồ tát ở trong thai thành đạo vô thượng.
Rồi Bồ tát nhập vào vô hình giới tam muội, quán khắp các loài chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới, sự trói buộc của tâm, không còn tự trói buộc nữa, thần thức không có hình tướng nên thức được quán cũng không có hình tướng. Với pháp vô hình, ở trong thai liền thành đạo vô thượng.
***

QUYỂN 2

(đang cập nhật)
***

QUYỂN 3

PHẨM THỨ 6: TƯỞNG VÔ TƯỞNG

Bấy giờ đức Thế tôn nói với Bồ tát Di Lặc:
– Trong chúng hội hôm nay đều cùng một hạng thuần là Nhất sanh bổ xứ. Nay Ta sẽ nói về Thức – Tưởng – Thọ ; Vô thức – Vô tưởng – Vô thọ. Lúc ấy, Bồ tát nói Thức – Tưởng – Thọ như thế nào? Thế là Bồ tát phân biệt nói về Thức – Tưởng – Thọ:
Thức chẳng phải Tưởng, chẳng phải Thọ.
Thọ chẳng phải Thức, chẳng phải Tưởng.
Tưởng chẳng phải Thọ, chẳng phải Thức.
Tưởng chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Thọ chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Thức chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Phi thức chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Phi tưởng chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Phi thọ chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Vì sao Thức chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại? – Lúc Bồ tát nhập Vô ngại định giáo hóa chúng sanh có Thọ, Thức. Từ Hữu trụ địa đến Vô trụ địa, Thức này chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại..
Đại Bồ tát lại giáo hóa chúng sanh có Tưởng từ Trụ địa đến Vô trụ địa.
Bồ tát giáo hóa chúng sanh có Thọ từ Trụ địa đến Vô trụ địa.
Bấy giờ tôn giả Đại Ca Diếp liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, bạch trước Phật:
– Bạch Thế tôn! Ý tâm thức thọ tưởng có gì khác nhau?
Phật dạy Ca Diếp:
– Biết thân là biết có sai khác, vì là chúng sanh từ chân lên đến đầu có những chi tiết đều có tên riêng của nó. Như đã nói trong kinh ví dụ về cây, thì rễ, vỏ, thân, cành, lá đều gọi là cây. Vậy thì tâm ý thức thọ tưởng cũng thế.
Đại Ca Diếp bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Tưởng là pháp bên ngoài, Thọ là pháp bên trong. Vậy sao cho là một?.
Phật dạy Ca Diếp:
– Tưởng từ bên ngoài đến, từ bên trong ra.
Ca Diếp bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Tưởng từ bên ngoài đến, làm sao biết được? Nếu bên ngoài vô hình thì bên trong tưởng do đâu mà sanh? Nếu vật bên ngoài không hại, thì bên trong làm sao biết đau?
Phật dạy Ca Diếp:
– Việc này không phải như vậy. Vì sao? – Vì Thức này chẳng phải ở bên ngoài, chẳng phải ở bên trong, chẳng phải hai bên, chính giữa. Chỗ Thức trụ chẳng phải chỗ Thức trụ. Ngoại Tưởng, ngoại Thọ tức là pháp bên trong, chẳng phải pháp bên ngoài. Nếu đại Bồ tát nào tin hiểu một cách sâu xa về pháp bên trong, bên ngoài, chính giữa thì mới có thể hiểu rõ chỗ Thức trụ. Đây là chúng sanh, đây là phi chúng sanh, cho đến pháp Hữu – Vô chẳng phải đây chẳng phải kia, liền nhập vào Vô ngại độc bộ tam muội.
Ca Diếp bạch Phật:
– Hôm nay nghe thuyết pháp, lòng con càng thêm nghi ngờ. Vì sao? – Vì theo Phật đã nói thì Tưởng cũng là Thọ, Thọ cũng là Tưởng. Pháp thức phân biệt về Thức cũng là Tưởng, cũng là Thọ Tưởng. Tưởng từ không Thọ. Thọ từ không Thức. Thức từ không Tưởng. Không chẳng phải là Thức không, Thức không chẳng phải là Thọ không, Thọ không chẳng phải là Tưởng không. Như dụ về cây thì điều này không đúng.
Phật dạy Ca Diếp:
– Ta sẽ đem ví dụ khác nói cho ông. Người trí theo ví dụ này đều được hiểu rõ:
Thuở xưa có vị vua tên là Đặc Dị. Vua có bốn người con: một tên Hỷ Duyệt, hai tên Trường Thọ, ba tên Bách Tuế và bốn tên Vô Úy.
Đứa con Trường Thọ ấy chưa đầy một tháng thì đã qua đời.
Đứa con Hỷ Duyệt thì thân thể mọc đầy mụt nhọt, ai thấy đều ghê gớm, cha mẹ rất lo lắng, luôn luôn buồn rầu.
Đứa con Bách Tuế thì chưa tới một trăm ngày lại qua đời.
Đức con Vô Úy thì môi sứt, mũi hỉnh, răng thì không trật tự, ai thấy đều phát sợ.
Như vậy, Thọ – Tưởng – Thức cũng thế, không khác nhau bao nhiêu.
Phật dạy Ca Diếp:
– Ta sẽ nói cho ông về Thức – Tưởng – Thọ và phân biệt từng pháp một:
Chín mươi mốt kiếp về quá khứ có vị vua tên Trí Huệ, chuyên thực hành Thập thiện, lấy chánh pháp để trị dân. Ông ta không phiền não, theo dõi ý hành của chúng sanh. Khi biết chúng sanh kia có những ý niệm không giống nhau, ông liền sai Thị thần đi tra xét đất nước. Những ai bị mù thì đưa hết họ vào cung đình. Sau khi nhận lệnh vua, vị quan Thị thần đi tuần tra đất nước và đưa được năm trăm người mù về trong sân cung điện Vua lại dắt năm trăm con voi xếp trước điện và sai mỗi người mù tự mình rờ con voi.
Những người mù khi ấy, người thì rờ vòi (mũi) voi, người thì rờ tai voi, người thì rờ đầu voi, người thì rờ chân voi, người thì rờ bụng voi, người thì rờ đuôi voi.
Vua hỏi các người mù:
– Con voi giống như cái gì?
Người rờ vòi thì nói voi như cái sừng.
Người rờ đầu thì nói voi như cái vò.
Người rờ tai thì nói voi như cái sàng.
Người rờ bụng thì nói voi như cái giỏ tre.
Người rờ chân thì nói voi như cây trụ.
Người rờ đuôi thì nói voi như cây chổi.
Khi ấy, những người mắt sáng đứng bên cạnh thấy vậy đều cười cho những người mù kia không biết được hết tướng của con voi. Những người mù ở chỗ vắng cùng nhau bàn luận và họ đều cho mình là nói đúng rồi cùng tranh cãi. Chúng sanh kia cũng vậy, thấy pháp Thức – Tưởng – Thọ đều không giống nhau.
Phật dạy Ca Diếp:
– Ví như có người bày ra một trăm vị thức ăn, nào: tấm, gạo, đậu, lúa mạch lớn nhỏ, mè,… Người nào ăn trúng tấm, gạo thì không biết có loại thuộc đậu hay lúa mạch khác. Này Ca Diếp, đây cũng vậy, pháp Thọ – Tưởng – Thức đều khác nhau, nhưng quán về pháp của chúng thì không sai không khác.
Khi ấy, Thế tôn liền nói với Ca-Diếp bằng kệ:
Thấy trán biết có đầu
Thấy khói biết có lửa
Thấy mây biết có mưa
Quán hành biết thể tánh
Hư không không vết chân
Bóng nước không bắt được
Pháp sư nói cùng tận
Kiết sử tận Niết-bàn
Tưởng tận trong vô tưởng
Thọ diệt cũng không thọ
Thức diệt không có thức
Đạo phạm hạnh vô thượng
Ta từ vô số kiếp
Thường bị thức lừa gạt
Đời nay và đời sau
Không gặp chỗ an lạc
Hiện Ta ở trong thai
Phân biệt tướng các pháp
Không thấy tên tưởng thọ
Huống sẽ có pháp thức.
Khi Thế tôn nói kệ này có năm trăm Tỳ kheo đắc Bất khởi pháp nhẫn. Có ngàn chúng sanh tâm lạc không hành, tâm được tự tại trong cảnh giới Vô dư y Niết-bàn.
***

PHẨM THỨ 7: TRỤ BẤT TRỤ

Bấy giờ, trong hội có Bồ tát tên Vô Trụ Pháp Hành đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất , chấp tay bạch trước Phật:
– Lành thay! Lành thay! Đại chúng trong đại hội này đều thích được thiện lợi, được nghe nghĩa pháp vô lượng của Như Lai. Những gì xưa kia con thệ nguyện, nay mới được nghe.
Và ở trước Phật nói kệ khen:
Hư không, không biên giới
Diễn giảng nghĩa vô lượng
Hữu – vô không sanh diệt
Vắng lặng không thọ tưởng
Chư Phật ở quá khứ
Tu thí, giới, nhẫn nhục
Nhập định, tâm không loạn
Huệ quang chiếu thế gian
Đức ấy không thể lường
Phi hữu cũng phi vô
Âm vọng rất thanh tịnh
Vô thường không sánh bằng
Mật âm thấu vạn ức
Do đây được thành Phật
Tiếng trống pháp nghe xa
Mỗi tiếng đều khác nhau
Giống như vua Chuyển luân
Nghĩ liền mưa bảy báu
Tiếng Phật vang rất xa
Mưa báu bảy giác ý
Sửa sang đạo tràng Phật
Trang hoàng cây quả đạo
Bất trụ không bất trụ
Từ bi cứu chúng sanh
Tâm niệm ứng với thân
Không từ nan kiếp khổ
Chỉ Như Lai mười phương
Ban ấn mở kho pháp
Chúng ta nay được nghe
Được trụ bờ vô vi
Lành thay! Lực Như Lai
Rộng lớn không bờ đáy
Không còn chỗ mở buộc
Pháp chơn tế thật tướng
Đời phiền não cõi Dục
Giáo hóa người ngu si
Phật chứa nghĩa sâu kín
Hiện lưu bố chúng sanh
Cương giới không bờ mé
Đều đắc đạo vô thượng.
Sau khi dùng kệ khen Phật xong, Bồ tát Vô Trụ ở trước Phật thưa:
– Bạch Thế tôn! Năm ấm quá khứ, vị lai, hiện tại thanh tịnh bất trụ hay không bất trụ, cho đến ba mươi bảy phẩm phạm hạnh bất trụ hay không bất trụ? Cảnh giới trước, sau, giữa, cứu cánh tịnh bất tịnh không là bất trụ hay không bất trụ. Ta không tạo tác, chẳng phải không tạo tác, chẳng phạm hạnh, chẳng phải không phạm hạnh. Cúi xin đức Thế tôn nói về trụ bất trụ.
Phật dạy Bồ tát Vô Trụ:
Tướng sắc là bất trụ không phải bất trụ.
Tướng thọ là bất trụ không phải bất trụ.
Tướng tưởng là bất trụ không phải bất trụ.
Tướng hành là bất trụ không phải bất trụ.
Tướng thức là bất trụ không phải bất trụ.
Pháp bên trong thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ. Pháp bên ngoài thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ. Pháp trong ngoài thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ. Từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi nơi đạo tràng luôn đoạn trừ các vọng tưởng, làm thanh tịnh Nhất thiết trí là bất trụ không phải bất trụ.
Trừ sạch các cấu bẩn cho chúng sanh thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Nhập Kim cang tam muội, giữ ý chí kiên cố thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Làm sát na lợi thân thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Du hý trăm ngàn tam muội thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Không dừng ở địa phàm phu, không vào nhà Hiền Thánh thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Không tự khen ta đã thành đạo quả thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Ba mươi hai tướng đại sĩ, phóng ánh sáng lớn chiếu xa đến vô lượng thế giới khắp mười phương ; tất cả chúng sanh tìm đến ánh sáng ấy đều được nghe pháp thâm diệu của Như Lai ; theo ý nghĩ của họ mà có lời nói thượng – trung – hạ, khiến cho tất cả đều đầy đủ để phân biệt rõ các pháp trụ là bất trụ, mà bất trụ cũng bất trụ.
Sắc, thọ, tưởng, hành thức, mười hai nhân duyên, bốn vô ngại huệ, không, vô tướng, vô nguyện, bốn thiền, bốn vô lượng huệ thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Dùng lực thần túc vào trong năm đường thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Nhập giải thoát môn, giới thân, định thân, huệ thân, giải thoát thân, giải thoát tri kiến thân thanh tịnh là bất trụ không phải bất trụ.
Phật dạy Ca Diếp:
– Ta sẽ nói ao tám vị pháp cam lồ thanh tịnh. Thế nào là tám? – Như Ta ngày nay ngồi tự tại nơi giảng đường, phía Đông thấy ao thanh tịnh, xung quanh có hành lang bằng bảy báu. Ngay lúc ấy, Ta cũng không nói khổ – tập – diệt – đạo cho chúng sanh. Ai uống được nước ao này thì đều thành đạo quả. Đó gọi là do thần lực của Bồ tát làm ra. Ở phương Nam, Tây, Bắc cũng như vậy.
Ta xưa thành Phật thì bốn phương theo bên phải, chứ chẳng phải theo bốn góc mà thành Phật. Bốn góc thành Phật là thị hiện thành Phật không thật. Vì sao? – Vì trải qua vô số a tăng kỳ kiếp đã thành tựu tám vị pháp. Thế nào gọi là tám?
– Một: vị hỷ.
– Hai: vị tận.
– Ba: vị định.
– Bốn: vị đáo.
– Năm: vị tịnh.
– Sáu: vị tướng.
– Bảy: vị bất động.
– Tám: vị bất cứu cánh.
Đó là tám vị trong ao.
Nếu đại Bồ tát nào uống nước cam lồ này thì không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sẽ thành đạo vô thượng. Từ mới phát tâm cho đến khi ngồi dưới đạo thọ rửa sạch tâm cấu bẩn, vĩnh viễn không còn gì cả. Ai có nước tám giải thoát trong ao bảy giác ý từ sơ tâm đến giải thoát: chưa đến, khoảng giữa, đã đến mà ở giữa của hai địa. Như vậy mới gọi là Bồ tát.
Nếu Bồ tát từ ao nước tám vị mà phân biệt hỏi mùi vị của nó: đây là vị chẳng phải vị, đây là đạo chẳng phải đạo, tai không phân biêt tiếng, mũi không phân biệt hương, lưỡi không phân biệt mùi vị. Phân biệt rõ ràng là vô sở hữu, vì các pháp điếc. Đó là đại Bồ tát tịnh tu hạnh thanh tịnh.
***

PHẨM THỨ 8: BÁT CHỦNG THÂN

Phật dạy:
– Các đại Bồ tát bậc học, vô học và bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đến đây hội họp đều được tất cả chúng sanh cúng dường.
Hoặc có chúng sanh ở Kiến địa, Bạc địa, Tịnh địa, Như Lai địa, Bích Chi Phật địa, Bất thối chuyển địa, Đạo tràng địa, Thuyết pháp địa. Nhờ tám địa này mà thành Vô thượng Đẳng chánh giác.
Kiến địa là gì? – Là Bồ tát phát tâm hướng lên ngôi Vô thượng Bồ-đề.
Lại có Bồ tát từ lúc mới phát tâm cho đến lúc ngồi dưới cây Thọ vương, tự điều phục tâm dục của mình, chiến thắng quân ma thì nhập định tam muội ngay chỗ ngồi. Tam muội ấy là:
– Khử tật đố tam muội
– Tâm thắng tam muội
– Bí tàng tam muội
– Trừ si tam muội
– Oai thần phục tam muội
– Như chư Phật Thế tôn vô ngôn giáo tam muội
– Thị hiện biến hóa tam muội.
Khi ấy, tệ ma Ba-tuần đến quấy nhiễu Phật. Nếu không phải sức của chính mình để đến thì đều nhờ oai thần của Như Lai ấy cảm vời ra. Vì sao? – Vì muốn biểu hiện pháp thế tục yếu kém, còn pháp đệ nhất nghĩa thì thù thắng. Vì sao? – Vì nếu tệ ma Ba-tuần nổi sân giận, la hét làm chấn động mặt đất thì Phật dùng Nhẫn tam muội nên không sao bị lay động, còn khiến cho vô số tệ ma Ba- tuần ngã lăn ra đất, giống như dế, đĩa, kiến và ruồi,… không thể nào hành động được. Bọn tệ ma Ba-tuần y như vậy. Nếu con ma nào có đến cũng không thể nào động đến mảy lông Ta được.
Khi ấy Thế tôn dùng oai thần nhập vào định tam muội, làm chấn động đến tệ ma trong cảnh giới của một đức Phật. Các ác ma này tuyên bố:
“Sa môn Cù-Đàm tâm rất yếu mềm, không phải ý chí của trượng phu , vậy mà ở chỗ rất đáng sợ này lại muốn cầu Phật đạo” .
Phật dạy đại chúng:
– Tệ ma Ba-tuần ấy là do Ta tạo ra. Tâm ma ấy là tâm thiện hay tâm ác?
Lúc đó có vị trời tên Câu Tỳ, bạch Phật:
– Phật chiến thắng ma không phải là lực của ma, mà là thần lực của Phật. Vì sao? – Vì loài chúng sanh ấy không hiểu pháp thế tục mà lại dùng pháp đạo. Vì muốn giáo hóa các chúng sanh ấy nên Ngài chiến thắng cho ma đến. Trong đó chúng sanh thấy các ma, lòng không ưa thích nhìn thấy rõ ràng sự việc. Cả ngàn vạn chúng sanh lập tâm bất thối chuyển.
Lại nữa, đại Bồ tát từ Đao Lợi thiên sanh vào mười phương cõi, không sanh theo thấp sanh, noãn sanh, hóa sanh, thai sanh giáo hóa chúng sanh. Những Bồ tát này thành tựu căn vô ký nên chúng sanh được giáo hóa cũng thành tựu căn vô ký. Vì sao? – Vì là cảnh giới Phật A-Súc.
Hoặc có đại Bồ tát từ thế giới Nhẫn sanh vào cõi Phật Bắc Phương Quang Ảnh, thành tựu căn hữu ký và vô ký. Chúng sanh được giáo hóa cũng đều thành tựu căn hữu ký và vô ký. Đó là chúng sanh ở cõi Phật Diệu Quang của thế giới Dục Lạc.
Hoặc có đại Bồ tát từ khi mới phát tâm cho đến lúc thành Phật, giữ tâm một bề không có tư tưởng nào cả và không sân, không giận, mong muốn sanh vào cõi Phật Vô Lượng Thọ. Tất cả chúng sanh đều sanh vào cõi đó. Bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đều cùng một màu vàng ròng.
Về phương Tây, cách Diêm Phù Đề này mười hai ức na-do-tha có cõi nước tên Giải Mạn, dân trong quốc độ ấy ưa thích ca hát ; y phục, trang sức, hương hoa, trang hoàng giường cửa bằng bảy báu. Đưa mắt về phía Đông thì giường báu cũng chuyển theo, nhìn về phía Tây, Nam, Bắc đều cũng chuyển như vậy. Tất cả chúng sanh đều phát tâm muốn sanh về cõi Phật A-Di-Đà, nhưng họ đều bị đắm nhiễm vào cõi Giải Mạn nên không thể nào tiến lên để sanh vào cõi Phật A Di Đà. Trong ức ngàn vạn người có một người có thể sanh vào cõi Phật A Di Đà. Vì sao? – Vì tâm họ không chấp trước, giải đãi, ngã mạn. Những chúng sanh này tự mình không sát sanh, cũng không bảo người khác sát sanh. Do có những phước báo như vậy nên họ sanh vào cõi Vô Lượng Thọ.
Hoặc có đại Bồ tát đầy đủ sáu độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và giải thoát trí huệ, sanh vào cõi Phật Dõng Dước ở phương Nam, cách Diêm Phù Đề này một ức cõi Phật. Những chúng sanh ấy không có tư tưởng si, ái, dâm, dục. Vì sao? – Vì họ đã đoạn diệt hết ba mươi sáu hành động dâm dục ở cõi Dục, chủng tánh được thành tựu, việc làm đều thanh tịnh, giống như ánh sáng mặt trời không bị mây che.
Chúng sanh cõi này hành mười hai hạnh đầu đà. Mười hai hạnh ấy là gì? – Là ngày đêm ba thời, kinh hành, ngồi thiền không sai giờ giấc, ngồi dưới gốc cây, ở trong gò mã, ở nơi đất trống, ở chỗ hang đá không có người , sống chỗ nguồn suối, có lúc ăn một bữa, không ăn, mặc pháp phục tề chỉnh không mất oai nghi, có lúc nói pháp, có lúc không nói pháp, kinh hành xoay vòng biết vừa đủ, pháp để nói là: “Thiểu dục là chơn đạo, đa dục là phi đạo, dừng tâm định ý, hiểu pháp không – vô tướng – vô nguyện” . Đó là những sự tu hành của đại Bồ tát ở cõi Dõng Dước. Chúng sanh ấy chuyên học về Nhất thừa, không có La-hán, Bích Chi Phật thừa, có đầy đủ tướng tốt, ca ngợi chánh pháp, hiểu về không, vô ngã.
Khi ấy, Thế tôn liền nói kệ:
Tất cả hành đã diệt
Thức là pháp bên ngoài
Có sanh đều có diệt
Niết-bàn rất an lạc
Cúi lạy Phật Dõng Dước
Đấng pháp vương đệ nhất
Ngồi dưới cây Diêm Phù
Ban đầu phá lưới dục
Nói pháp độ quần sanh
Cúng dường các ruộng phước
Ngồi dưới cây tư duy
Phạm thiên đến khuyến thỉnh
Xin Ngài ra khỏi thiền
Thương xót kẻ ngu si
Khi ấy Phạm Thiên Vương
Tay cầm đàn lưu ly
Ca ngợi công đức Phật
Giọng êm ả dịu dàng
Với ức trăm ngàn kiếp
Có người phát tâm đạo
Tâm đạo gốc Bồ tát
Ức kiếp có một lần
Xin mau ra khỏi thiền
Chuyển pháp luân vô thượng
Như hoa Ưu-đàm-bát
Lâu xa có một lần
Có Phật chiếu thế gian
Trừ tăm tối trần lao
Thế giới Phật Dõng Dước
Nghe thí, giới thanh tịnh
Không giống cõi Năng Nhẫn
Cứng cõi khó giáo hóa
Tư duy đạo thiền định
Diệt thân không thọ chứng
Ba chuyển, năm ngại pháp
Dây mười hai mắc xích
Đạo nghiệp ba mươi mốt
Mười sáu tâm từ bi
Tỏa phóng ánh sáng lớn
Chiếu khắp các cõi Phật
Sau khi nói kệ xong, đức Phật dạy đại chúng trong hội:
– Về phương Đông-bắc, cách thế giới Năng Nhẫn này năm trăm hằng hà sa cõi có nước tên Quả Thục, Phật hiệu Hoa Anh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn, hiện đang giảng pháp, lời nói đầu đều thiện, lời nói giữa đều thiện, lời nói cuối cũng đều thiện, ý vị thâm thúy, đồng tu phạm hạnh. Chúng sanh cõi ấy không có thai sanh, hóa sanh, thấp sanh và noãn sanh. Tất cả đều sanh từ hoa sen, có từ – bi – hỷ – xả, một trăm lẻ bảy thần túc định ý khó có và đều cùng nhau tu tập tam muội Vương tam muội. Tam muội ấy là:
– Thủ Lăng nghiêm tam muội
– Giác đạo tam muội
– Oai nghi cấm giới tam muội
– Trừ chúng sanh khổ bổn tam muội
– Tự chiếu quang minh tam muội
– Giác vị chúng sanh tam muội.
Một trăm lẻ bảy tam muội như vậy.
Quán thân bên trong, quán thân bên ngoài, quán trong ngoài thân ; pháp trong, pháp ngoài, pháp trong ngoài ; định trong, định ngoài, định trong ngoài ; tư duy phân biệt, quán rõ vô hình, vô tưởng, vô niệm. Đại Bồ tát nhập vào môn giải thoát, quán tất cả pháp đều không tịch, vô hình.
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Hư không, không biên giới
Âm vang nói diệu pháp
Bồ tát cõi Quả Thục
Đấng tối thắng Hoa Anh
Không sanh bốn bào thai
Mà sanh từ hoa sen
Tưởng không ta không người
Tuổi thọ không thể lường
Quốc độ bằng bảy báu
Cũng như Diêm Phù Đề
Vua Chuyển luân bảy báu:
Voi, ngựa, ngọc nữ báu
Giữ kho, bốn bộ binh,
Ma ni, xe báu vàng
Đi đâu cũng không ngại
Ma ni báu cõi ấy
Chiếu khắp một cõi Phật
Chiếu vô biên cũng vậy
Cõi ấy không nhật nguyệt
Tinh tú và lửa sáng
Phân biệt bốn diệu đế
Đạo vô thường, khổ, không
Khiến các chúng sanh ấy
Vô sanh đoạn diệt tưởng
Nói kệ xong, đức Phật dạy đại chúng:
– Về phương Tây-bắc, cách Diêm Phù Đề này bảy vạn hằng hà sa cõi, có cõi nước tên Bảo Lưu Ly, Phật hiệu Huệ Thành Tưu, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn hiện đang nói pháp, lời nói đầu thiện, lời nói giữa thiện, lời nói cuối thiện. Chúng sanh cõi ấy có tánh nhu hòa, quán đạo vô thường, xa lìa ba tai hại, không dâm – nộ -si, không có ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ với đại chúng:
Các nhập đường phiền não
Gây bốn loại điên đảo
Tất cả đều diệt tận
Như hư không không tướng
Tuổi thọ đến vô số
Không có ai chết yểu
Hành bốn pháp vô úy
Chứng quả không lay động
Ai sanh trong cõi ấy
Hành từ chứng tam muội
Như Ta – Thích Ca Văn
Dõng mãnh vượt kiếp số
Cho nước, của, vợ con
Không tưởng, không luyến tiếc
Này Phật tử các ông
Phát nguyện sanh cõi ấy
Không có pháp Thanh văn
Rõ nhân duyên thành Phật
Ở trong trăm ngàn kiếp
Siêng năng tu đạo đức
Trong mười sáu phần này
Chưa đạt được một phần
Quán tánh pháp các pháp
Huệ thông đạt vô ngại
Diệt sạch tâm chấp ngã
Liền trụ địa Vô sanh
Các chúng sanh cõi ấy
Lập chí rất kiên cố
Phá hữu, không trụ hữu
Pháp bổ xứ đã học
Này Phật tử các ông
Hiểu rõ không chỗ hành
Xả thiền, nhập Sơ thiền
Mới biết khổ chúng sanh
Trung gian chín vô ngại
Tướng thiền không thể lường
Tâm chúng sanh thanh tịnh
Ý niệm không giống nhau
Đã lìa vực năm đường
Phật nhật chiếu ba cõi
Lành thay được lợi lớn
Cảm động các cung trời
Đồng chơn Nhất thiết trí
Giáo hóa không mỏi mệt
Chúng sanh đắc tâm từ
Luyến mộ đạo vô thượng
Trải qua vô số kiếp
Bỏ thân, lại thọ thân
Luân hồi trong sanh tử
Được thoát khỏi trói buộc
Hương chiên đàn tứ đế
Hương cây Mật-tế-bặc
Sức trí huệ tam muội
Phá hoại chúng binh ma
Hết một niệm quá khứ
Lấy tam muội gì đoạn
Hết hai niệm vị lai
Trừ bằng định, đạo nào
Hết ba niệm hiện tại
Diệt tận cốt còn gốc
Hết một niệm quá khứ
Chín vạn ức trần cấu
Do không tịch tịnh định
Đạt đến không, không bờ
Vị lai dứt chín kiết
Tâm định không niệm tưởng
Tịch nhiên đạt Phật đạo
Luôn trụ vô sở trụ
Ba chín kiết hiện tại
Cầu pháp vô quái ngại
Diệt trừ tâm ý thức
Dần dần trụ vô ngại.
Nói kệ xong, đức Phật dạy đại chúng:
– Về phương Tây-nam, cách thế giới Năng-Nhẫn này ba mươi hai hằng hà sa cõi, có nước tên Vô Tưởng, Phật hiệu Nhất Trụ Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn, hiện đang nói pháp, lời nói đầu đều thiện, giữa đều thiện, cuối đều thiện, ý nghĩa thâm thúy, phân biệt rõ về năm ấm: sắc – thọ – tưởng – hành – thức, sáu tình, sáu trần, tu tướng vô thường, chánh niệm tỉnh thức. Pháp ban đầu là tư duy phá hoại về thân. Thân này chẳng thật có, cho bốn con rắn là nhà. Thân này như độc làm hoại đạo thiền của con người. Thân này như voi, tâm không vừa đủ. Thân này như rồng thích ở vực sâu. Đạo Phật vô vi, thanh tịnh không tỳ vết, như hoa sen trong nước mà không nhiễm bùn dơ, như mặt trời chiếu trời đất làm che lấp tất cả ánh sáng của đom đóm. Trong các núi cao, núi Tu Di là trên hết. Trong ánh sáng của các vì sao thì ánh sáng mặt trăng là trên hết. Như Lai hiện ra đời vì đuốc pháp là đệ nhất.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ:
Đoạn cấu, diệt trừ tưởng
Tâm trói buộc được mở
Ý niệm định tịch nhiên
Tịnh hạnh được đầy đủ
Trong một ý một niệm
Đoạn diệt cấu kiết sử
Trừ bỏ hẳn kiếp khổ
Chấm dứt không tái sanh
Đạo không tịch vô thượng
Như có, như không có
Người, ta và các pháp
Tưởng như mộng, ảnh, huyễn
Bồ tát tu khổ hạnh
Kiếp số khó lường được
Muốn nói hết căn bổn
Chẳng một, chẳng hai hình
Nếu có người trí tuệ
Giảng nói vô lượng nghĩa
Một nghĩa có ức câu
Mỗi câu đều khác nhau
Hư không lấp đầy được
Nhưng nghĩa ấy không cùng
Ta từ xưa đến nay
Hành sáu độ vô cực
Bố thí trừ xan tham
Thiền định cũng như vậy
Kiếp thiêu, tâm không động
Không đến cõi Phật khác
Nhờ thần lực cảm vời
Trụ kiếp mà giáo hóa.
Nói kệ này xong, Thế tôn liền dùng định ý để tự trang nghiêm thân, nói với đại chúng:
– Về phương Đông-nam, cách thế giới Năng Nhẫn này Ba mươi ba hằng hà sa cõi, có cõi nước tên Lưu Ly, Phật hiệu Tín Giải Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn hiện đang nói pháp, lời nói đầu đều thiện, giữa đều thiện, cuối đều thiện, phân biệt hạnh kiết tường của bốn đạo. Bảy lần sanh, còn lại ba lần không sanh trở lại thì ở ngay hiện đời mà bát Niết-bàn, đoạn khổ – tập – diệt – thủ đạo chứng đắc.
Khi ấy, có vị trời tên Nhãn Tịnh ở trong chúng còn hồ nghi: “Nay ta nên hỏi Như Lai về ý nghĩa đó để cho bạn đồng tu của mình đều được khai ngộ”. Thế rồi thiên tử đứng dậy, quỳ dài chấp tay bạch trước Phật:
– Cúi xin đức Thế tôn nói cho chúng con về nghiệp dâm – nộ – si của đại thừa bình đẳng. Quá khứ, vị lai, hiện tại những chúng sanh si ám nào nhập vào môn giải thoát?
Phật dạy Bồ tát Nhãn Tịnh:
– Lành thay! Lành thay! Đây chính là con mắt khai thị tất cả. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ. Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông. Thế nào, nhãn là sắc phải không?
Thưa:
– Không phải .
Phật lại hỏi:
– Là phi sắc ư?
Thưa:
– Không phải.
Phật hỏi:
– Là sắc, là phi sắc ư?
Thưa:
– Sắc không có chỗ trụ.
Phật dạy Bồ tát Nhãn Tịnh:
– Như vừa rồi ông nói: sắc ấy chẳng phải sắc, là sắc, là phi sắc, sắc không có chỗ trụ thì vì sao đặt danh từ để nói là sắc?
Bồ tát Nhãn Tịnh thưa:
– Tánh sắc hư mục, hiện tại diệt không trụ, quá khứ không hiện. Đời này qua đời sau vĩnh viễn đoạn tận không còn nữa, cho nên nói Vô-dư Niết-bàn.
Phật hỏi Nhãn Tịnh:
– Thức này từ xưa đã có hay từ đâu sanh? Ngày nay bốn chúng diệt cấu bẩn ba đời, vậy thì đi về đâu?
Nhãn Tịnh thưa:
– Xưa vốn từ không mà đến, nay trở về không. Trước không, sau không thì có thay đổi gì khác không?
Phật dạy:
– Không. Ông nên biết rằng: thật tướng của các pháp trước không thể cùng, sau không thể tận.
Phật dạy Bồ tát Nhãn Tịnh:
– Ta từ vô số a tăng kỳ kiếp luôn tu hành phước nghiệp, nghĩ đến tất cả chúng sanh bị đắm chìm mà thương xót cho sự đau khổ của họ, muốn độ họ giải thoát. Vì sao? – Vì nay ở trong thai, dục mà Ta diệt thì Ta đã diệt sạch hoàn toàn, kết quả nguyện thành ngày nay đã đạt được.
Chúng sanh cõi ấy không lấy việc thành Phật hay không thành Phật cho đây là mối khổ lụy. Vì sao – Vì chúng sanh cõi ấy lập ý dõng mãnh, không ở hữu thai, không ở vô thai, không ở hóa sanh, công đức thành tựu, chẳng phải giác, chẳng phải phi giác.
Thế nào là giác và thế nào là phi giác?
– Tất cả chúng sanh ngu si Ta đều giác ngộ cho ho, đó gọi là giác. Tất cả những người giác ngộ đoạn trừ hết kiết sử, đó gọi là phi giác.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ:
Biết Phật hiện nơi đời
Phóng xa ánh sáng lớn
Khổ tập diệt kiết sử
Đứng yên không dám gần
Giả sử đất chấn động
Ba cõi nát như bụi
Nhiếp tâm nhập định ý
Các tướng đều khác nhau
Niệm Như Lai chí chơn
Trừ tưởng không nhập định
Vào trở lại chúng sanh
Tạo nhân lại tạo duyên
Tinh tấn trí huệ lớn
Giáo hóa kẻ ngu si
Hướng dẫn chúng sanh này
Để độ kẻ chưa độ.
***

PHẨM THỨ 9: TOÀN THÂN XÁ LỢI

Khi ấy, đức Thế tôn dạy đại chúng:
– Ta nhớ công đức mà xưa kia Ta đã hành xả thân lại thọ thân chẳng phải một chẳng phải hai. Nay Ta sẽ nói cho ông về pháp nhất hành. Sao gọi là pháp nhất hành?
– Đại địa chủng này dày tám mươi bốn vạn ức dặm mới có gió lớn dày tám mươi bốn vạn ức dặm, dưới gió có lửa dày tám mươi bốn vạn ức dặm, dưới nước có lửa dày tám mươi bốn vạn ức dặm, dưới lửa có cát dày tám mươi bốn vạn ức dặm, dưới cát có cõi Kim cang dày tám mươi bốn vạn ức dặm. Toàn thân xá lợi của chư Phật đều trong cõi Kim cang ấy.
Cõi Kim cang dày tám mươi bốn vạn ức dặm, phía dưới có xá lợi thân vụn nát của chư Phật đều ở trong cõi ấy. Cõi ấy có cõi Phật Diệu Âm, Phật hiệu Bất Trụ Như Lai, đầy đủ mười hiệu, hiện đang thuyết pháp, lời nói đầu đều thiện, lời nói giữa đều thiện và lời nói cuối đều thiện ; tịnh tu phạm hạnh, thành tựu quốc độ. Xá lợi Phật ấy rất cực nhỏ, có thể hiện thân Phật có quyến thuộc đệ tử vây quanh để giáo hóa. Như ngày nay Ta ở trong thai giảng pháp, chúng sanh ấy không thấy Ta. Chúng sanh của Ta không thấy cõi kia, phá Hữu đến Vô, luôn luôn vắng lặng, tánh trụ vào chỗ vô ngại. Đó gọi là do một xá lợi chiêu cảm ra.
Phật lại dạy các đại chúng:
– Phía dưới thân vụn xá lợi dày tám mươi bốn vạn ức dặm có cõi tên Thanh Tịnh, Phật hiệu Biến Quang, có đầy đủ mười hiệu. Phật ấy hiện đang thuyết pháp, đầu giữa cuối đều thiện, tịnh tu phạm hạnh. Mỗi màu sắc ánh sáng của Phật ấy khác nhau, mỗi ánh sáng đều hóa thành mỗi đức Phật, mỗi đức Phật đều nói hết sáu độ vô cực.
Sáu độ đó là gì? – Là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ ; dùng phương tiện thiện xảo điều phục tâm thức, không ngu si, không dâm, không ham muốn ; quán sát rất rõ về các pháp giống như trăng xua tan mây ; tự quán thân mình như ta không khác, tâm đắc không định, đều được thành tựu tất cả ; ngồi ngay thẳng nơi đạo tràng, ca ngợi xiển dương chánh pháp, tâm không sợ hãi.
Cách cõi Phật Quang Minh này về phương dưới tám mươi bốn vạn ức dặm có cõi tên Thí Vô Tận Tàng, Phật hiệu Quán Trợ Như Lai, đầy đủ mười hiệu hiện đang thuyết pháp, lời nói đầu giữa cuối đều thiện, luôn tu phạm hạnh, bố tí tài vật. Người nào tuân theo đều đắc đạo quả. Đó gọi là sự bố thí hiếm có của Như Lai.
Dưới thế giới Vô Tận có thế giới Pháp Cổ dày tám mươi bốn vạn ức dặm, Phật hiệu Thiện Kiến, đầy đủ mười hiệu, hiện đang giảng pháp. Chúng sanh cõi Phật ấy không có nhiều tên, đều cùng một chữ, một họ ; nghe pháp hiểu ngay không cần phải suy nghĩ lại. Chính cõi ấy mới có toàn thân xá lợi. Ức ngàn vạn đức Phật ở quá khứ đều lưu xá lợi lại nơi đây. Xá lợi ở cõi ấy Ta cũng có phần, chẳng phải một chẳng phải hai. Xá lợi Phật ấy không có trụ xứ, cũng chẳng phải không trụ, qua lại xoay vần trong hằng hà sa cõi ; tướng ánh sáng đầy đủ, theo căn cơ chúng sanh mà giáo hóa, không có ai biếng nhác, đoạn diệt ba mươi mốt ức kiết sử và hai vạn hai ngàn vọng tưởng ràng buộc ; có mười tám pháp bất cộng thù thắng, thị hiện giáo hóa, thọ chứng Vô úy.
Khi ấy Thế tôn nói kệ:
Ta từ vô số kiếp
Qua lại đường sanh tử
Xả thân lại thọ thân
Không lìa sanh bào thai
Nghĩ việc Ta trải qua
Nhớ rõ không sai sót
Thường làm thân chó trắng
Xương chất ức Tu-Di
Lấy kim đâm xuống đất
Đều gặp thân thể Ta
Huống gì chó màu khác
Số ấy không thể lường
Ta luôn nhiếp tâm mình
Không cho nó buông lung
Như người đứng Tu Di
Giữ bình thuốc bất tử
Người ở dưới nâng bình
Rót thuốc không rớt ngoài
Trong lúc gian nan ấy
Bị thổi theo gió núi
Thân phàm phu như bụi
Chỉ trừ người Bát trụ
Hai người giữ bình này
Ai là người tối thắng
Người ở dưới chánh niệm
Luôn sợ ngã hai bên
Thọ lạc không mất nghĩa
Nên gọi đạo thần túc
Người trên đại từ bi
Nói ngay không tra cứu
Ý thức đều khác nhau
Thành đạo cũng như vậy
Ta ở cõi khổ nhẫn
Thành Phật giống người dưới
Tích hạnh A tăng kỳ
Mới đạt thành Phật đạo
Cõi này đến cõi kia
Trải ngàn ức như vậy
Như kim quăng xuống biển
Thò tay liền lấy được
Không huệ cầu tháo nước
Nhiều kiếp không lấy được
Người ngu si thế gian
Không phân biệt thiện ác
Núi Tu Di bốn báu
Nói là đống than khói
Đại bàng vua loài chim
Lại cho là ve, muỗi
Trùng ở dấu chân bò
Không thấy biển rộng lớn
Nhật quang là ngựa hoang
Người ngu cho ngọn lửa
Pháp ấy Ta đâu tạo
Người ngu tự làm ra
Thức ra vào liên tục
Tinh luyện thuật đạo thành.
Khi ấy, Thế tôn liền đọc chú:
– Y nhĩ ma nhĩ, trà thệ ly thệ thuần đồng xí ly xí ly.
Bấy giờ, Đại Thiên Vương Tỳ sa Môn liền đứng dậy, đầu mặt đảnh lễ chân Phật, thưa:
– Con luôn ủng hộ thiện nam, thiện nữ, người thiện hành pháp, ủng hộ ba ánh sáng ba bóng của thân người ấy. Ba ánh sáng ba bóng là gì? – Như ngày nay con thống lãnh chúng La-sát, là bóng của thân, bóng thân của thân, bóng của bóng. Ảnh của thân là gì? Bóng thân của thân là gì? Bóng của bóng là gì?
Khi ấy Thế tôn nói kệ:
Thân do bốn đại hợp
Địa, thủy, hỏa, phong thành
Qua lại ở xoay vần
Ở cũng không thấy ở
Thân và thân của thân
Hết đời lại thoát thân
Nghĩa ba câu bóng bóng
Như Phật lưu thần quang
Vải gói thuốc Ma-kỳ
Cách xa mùi vẫn thơm
Pháp giải thoát của Phật
Thanh tịnh không tỳ vết
Bóng thân thân giáo hóa
Độ người không được độ
Ai thấy pháp thân tướng
Nhập định niệm thân thân
Bóng bóng không hồ nghi
Đều thành đạo Vô thượng.
Khi ấy, Đề Đầu Lại Tra muốn ủng hộ các Pháp sư liền nói chú:
– Y hê, ma hê, Diêm phù, Diêm lam phù đột đột lặc xí. Ta sẽ ủng hộ Pháp sư trong ức ngàn trăm vạn do-tuần để không có ai quấy nhiễu vị ấy được.
Tỳ Lâu lặc Xoa thiên vương liền đứng dậy thưa trước Phật:
– Con cũng sẽ ủng hộ Pháp sư chân thật.
Và liền nói chú:
– Già lê, già lê, ni trĩ, cứu bát trĩ , làm cho trong ức trăm vạn do-tuần không có ai làm hại quấy nhiễu cả.
Tỳ Lâu Bác Xoa Vương liền đứng dậy, đầu mặt lạy sát chân Phật và thưa:
– Bạch Thế tôn! Con sẽ ủng hộ vị Pháp sư chân chánh.
Và liền nói chú:
– Xá nhĩ, xá nhĩ, bát bà thiên ma lâu hê, khiến cho trong trăm ức do-tuần không có ai đến quấy nhiễu.
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Hoa thơm sắc tuyệt đẹp
Cảm động các cõi Phật
Do Phật không tưởng niệm
Thành Phật luôn hướng đạo
Sức nhẫn không biên giới
Phá hữu – vô ba thừa
Tướng toàn thân xá lợi
Rất nhỏ như bụi trần
Cứu giúp cả hằng sa
Không đọa ba đường ác
Phật hiện kiếp cần khổ
Che chở hành đại bi
Chúng sanh không biên giới
Để thành đạo vô thượng.
Khi ấy, trong đại hội có ba mươi hai ức chúng sanh liền phát tâm Vô thượng bình đẳng.
***

PHẨM THỨ 10: THƯỜNG – VÔ THƯỜNG

Bấy giờ, trong đại chúng có Bồ tát tên Quán Kiến Vô Thường đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Lành thay! Lành thay! Bạch Thế tôn! Ngài hãy mau nói nghĩa này. Chánh pháp của chư Phật không thể nghĩ bàn. La-hán, Bích Chi Phật không thể nào theo kịp. Vốn nó không có chơn tánh, không thể cùng tận. Như Lai hiện thân ra một vào một, biến hóa đủ cách, khi làm nát thân xá lợi, hoặc giữ toàn thân xá lợi, hoặc ẩn mất không hiện, hoặc lưu bố trong thế gian, hoặc hiện cảnh giới một đức Phật, hoặc hiện rất nhiều cảnh giới chư Phật, thần thông biến hóa, đạo lực tự tại, kỳ lạ đặc biệt như cõi hư không. Thường cũng là vô thường, vô thường cũng vô thường. Trụ cũng vô trụ, vô trụ cũng vô trụ. Biến đổi chẳng phải một. Nguyện muốn nghe Như Lai nói về nghĩa thường, vô thường. Như ngày nay con ở trong cửu địa là thường hay vô thường?
Khi ấy, Thế tôn dạy Bồ tát Thường Vô Thường:
– Nay Ta hỏi ông, ông hãy đem tánh chân thật để trả lời cho Ta. Thế nào, này tộc tánh tử! Sắc là thường phải không?
Trả lời:
– Thưa không.
Thế tôn hỏi:
– Sắc là vô thường phải không?
Trả lời:
– Thưa không.
Thế tôn hỏi:
– Sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô thường , phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thế nào, này tộc tánh tử! Sắc là hữu dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Sắc là vô dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Sắc là hữu dư, vô dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Sắc chẳng phải hữu dư, chẳng phải vô dư, phải không?
Trả lời:
– Thưa không.
Phật dạy:
– Tộc tánh tử! Thọ – tưởng – hành – thức là thường phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức là vô thường phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức là thường, là vô thường phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức là hữu dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức là vô dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành – thức là hữu dư vô dư phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Thọ – tưởng – hành thức chẳng phải hữu dư chẳng phải vô dư, phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Phật hỏi Bồ tát Thường Vô Thường:
– Niết-bàn là tịnh phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Niết-bàn là bất tịnh phải không?
Trả lời:
– Thưa không .
Thế tôn hỏi:
– Niết-bàn là tịnh bất tịnh phải không?
Trả lời:
– Thưa không.
Phật dạy Bồ tát Thường Vô Thường:
– Thật tánh của Niết-bàn thật sự đứng ở chỗ nào:
Trả lời:
– Đứng mà không có chỗ đứng.
Phật hỏi:
– Phi hữu chúng sanh, phi vô chúng sanh phải không?
Trả lời:
– Thưa không.
Phật dạy:
– Duyên vị đoạn từ năm tụ tánh cho đến ba mươi bảy phẩm, không, vô tướng, vô nguyện.
Duyên vị đoạn không lìa, chẳng phải không lìa, không sanh chẳng phải không sanh, cho nên đứng mà không có chỗ đứng.
Vì sao? – Vì tánh tự nhiên là không. Đây không, kia không, trong không, ngoài không, Niết-bàn không. Như Lai xuất hiện nơi đời năm trược không thấy có sanh diệt chấp đoạn. Không thấy có định có loạn. Không thấy trì giới phạm giới. Không thấy có nhẫn có sân. Không thấy tinh tấn giải đãi. Không thấy có phiền não định tâm (ý). Không thấy có ngu si trí tuệ. Không thấy có ý thức tư tưởng. Không thấy đạo – tục – ba la mật. Không thấy cõi Phật thanh tịnh. Không thấy tịnh tu đạo tràng. Không thấy có chúng sanh đoạn cấu. Đó gọi là Bồ tát đứng mà không có chỗ đứng.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ:
Phạm hạnh tâm thanh tịnh
Phá hoại cảnh giới ma
Ức nhẫn đạo vô thượng
Yên định không nghĩ bàn
Ta từ vô số kiếp
Luôn đứng không chỗ đứng
Một lòng nhập không huệ
Thân trang nghiêm các tướng
Đương lai tộc tánh tử
Và những người hiện tại
Sẽ đứng không chỗ đứng
Hiểu tánh thường vô thường
Các trần các chướng ngại
Hoại nghiệp thiện của Ta
Rửa sạch hết trần cấu
Như vàng không tỳ vết
Huệ là tướng thế gian
Hướng dẫn người mắt mù
Khiến cho người ngu si
Hiểu rõ pháp chơn như
Đạo nhân duyên vô vi
Thông đạt sáu thần thông
Kho đại pháp vô tận
Ban bố người thấp kém
Thích thọ ba giải thoát
Ba đời không chấp trước
Hiện tại tất cả pháp
Hết cấu, nhập định Phật
Đại huệ quang Như Lai
Đoạn trừ pháp nghi ngờ
Tướng si trong lặng tịnh
Hiểu đạo không, vô thường
Bao nhiêu người cho thường
Dính chặt trong sanh tử
Không lìa pháp hữu vi
Bị phiền não trói buộc
Pháp sáu độ ba tuệ
Trân báu và vợ con
Dứt ái không thương tiếc
Xuất gia đạt thành đạo
Người có niệm thiện ác
Những hạng sơ, trung, hạ
Luân chuyển trong năm đường
Tánh sanh diệt không thật
Khổ vốn vô lượng số
Đời đời không dừng nghỉ
Trống pháp vang ngàn cõi
Chấn động cảnh giới ma
Loài quần sanh các ngươi
Nương tựa sáu thần thông
Thân tùy theo tâm niệm
Đến chỗ không chướng ngại
Năm tháng tu đạo hạnh
Ngày đêm không trái thời
Chứa đức như Tu Di
Thành tựu chứng quả Phật
Sanh diệt như huyễn hóa
Cũng như bóng trong gương
Thọ nhập ba mươi sáu
Nhập định mới thành đạo
Tánh chơn thật Như Lai
Không nhiễm không chấp trước
Hành từ vượt bảy độ
Các báu tự anh lạc
Ba mươi hai ức kiết
Trói buộc không thể mở
Cốt dùng kiếm trí huệ
Chặt đứt không còn gì
Lại lấy tám giải thoát
Như vị pháp cam lồ
Để kẻ khát ái kia
Sung mãn không còn nghĩ
Xưa Ta chưa thành thiền
Luôn ở trong ngu si
Kết chặt bốn điên đảo
Cầu giải thoát khó được
Nhập Tứ vô ngại thiền
Tự tại không sợ sệt
Định tâm ý vững chắc
Tận đời không tái sanh.
Khi Thế tôn nói kệ xong, có tám mươi bốn ức chúng sanh phát tâm đạo chánh chơn vô thượng, đối với tín hành không thối chuyển.
***

QUYỂN 4

PHẨM THỨ 11: TÙY HỶ

Khi ấy, trong đại hội có Bồ tát tên Đảnh Vương, dẫn hai vạn năm ngàn người từ thế giới An Trụ ở phương Đông đến. Ông ta bước đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ đức Phật và lui qua ngồi một bên, bạch Phật:
– Con nghe Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn ở trong thai giáo hóa có vô lượng thần biến, có cung điện bảy báu được trang hoàng rất nhiều vật báu, được chư Phật Thế tôn tôn trọng cung kính. Chư Phật Thế tôn quá khứ, tương lai và hiện tại chưa từng nói pháp khó có này. Tướng pháp chơn tế không thể cùng tận, luôn thực hành những hạnh khổ cực từ vô số kiếp. Trong thời gian đó cũng có sanh có diệt. Con muốn nghe biết tất cả những quốc độ khác nhau mà thần đức Như Lai đã giáo hóa, luôn hành bình đẳng nhập vào đạo vô vi, bát giải đồng chơn, phạm hạnh thanh tịnh để cho chúng con không còn sự nghi ngờ.
Phật dạy:
– Lành thay! Lành thay! Này đại sĩ Đảnh Vương, những điều ông hỏi thật sâu xa khó nghĩ, có nhiều lợi ích cứu độ những người mê lầm, phước nhiều không thể tận.
Bấy giờ, Thế tôn liền dùng sức thiền định tam muội duỗi cánh tay vàng xuống hai mươi hai ức cõi Phật ở hạ phương bưng thần tháp bảy báu của Thi Khí Như Lai, tháp ngang rộng một vạn tám ngàn do-tuần. Bên ngoài vách tháp có hành lang bằng bảy báu. Nước ao, vườn, trái cây cũng đều bằng bảy báu. Ao sau vườn có bờ bằng vàng bạc. Trong ao ấy tự nhiên có nước cam lồ tám vị, có vô số trăm ngàn loại chim kỳ lạ: uyên ương, nhạn, le le… Tiếng chim kêu rất hay và mọi người cùng nhau vui chơi rất thú vị.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ với Bồ tát Đảnh Vương:
– Quá khứ Phật Thức Khí
Thần tháp bằng bảy báu
Cây hoa rất nhiều màu
Hoa vàng, thân bằng bạc
Ao nước có tám vị
Người đói khát no đủ
Phước cúng được quả báo
Đạt công đức trong thai
Lại sau Phật diệt độ
Đấng bổn nguyện Tùy Thi
Tháp bảy báu Phật ấy
Khắp cả hằng sa cõi
Có rất nhiều châu báu
Khoái lạc cũng khó lường
Đức Phật thủ diệt độ
Bậc tối thắng đệ nhất
Cũng có tháp bảy báu
Đầy khắp cõi hư không
Người mắt sáng hiểu biết
Cung phụng tâm cung kính
Dẹp mạn không cống cao
Không tham đắm lợi dưỡng
Quả báo ao bảy báu
Dứt tưởng không chấp trước
Cũng trong thai giáo hóa
Lưu bố vô số kiếp
Sau Phật bát Niết-bàn
Câu Na Hàm Mâu Ni
Thần đức đại thông đạt
Độ thoát hơn ba Phật
Giáo hóa các đệ tử
Ba thừa không dứt đoạn
Rời khỏi phương Đông này
Trong thai hiện biến hóa
Khuyến khích kẻ hậu lai
Dẫn dắt vào nhãn tịnh
Lại Phật Ca Diếp tôn
Ngồi thẳng ức trăm kiếp
Chư thiên làm quyến thuộc
Tịch tịnh không lay động
Cũng có tháp bảy báu
Ở cõi Phật Kim Cang
Cứu hộ kẻ đọa lạc
Không rơi vào đường tà
Ta nay Thích Ca Văn
Dõng mãnh hiện một mình
Chuyên tâm giữ ý chí
Không vướng đường sanh tử
Cõi Phật tuy xấu ác
Nhưng độ không thể lường
Nay ở bào thai mẹ
Lấy thần biến làm vui
Chúng sanh cõi Dục giới
Đọa lạc vào vạc dầu
Dìu dắt họ ra khỏi
Giống như con thiêu thân.
Bấy giờ, Thế tôn dùng thần lực biến ba ngàn đại thiên thế giới sáng rực màu vàng ròng, khiến cho chúng trong đại hội đều thấy thế giới an lạc. Các đại Bồ tát ở đó đều ngồi trên hoa sen bảy báu. Đệ tử quyến thuộc ở đây đều màu vàng ròng, họ ăn uống bằng thiền định giải thoát, giới luật oai nghi chưa từng sai trái.
– Thế nào, này Bồ tát Đảnh Vương! Ai đến cõi Phật vừa hiện du hóa để cúng dường, phụng thờ thì phước ấy nhiều không?
Bồ tát Đảnh Vương thưa Phật:
– Rất nhiều, rất nhiều, bạch Thế tôn! Vì sao? – Vì cúng dường một cõi Phật phước ấy khó lường, huống chi nhiều cõi Phật như vậy.
Phật dạy:
– Nếu có Bồ tát vượt qua bất thối chuyển ở Nhất sanh bổ xứ, ở trong thai hiện thần thông biến hóa, ai cung kính Bồ tát này thì đức ấy rất tối thắng. Vì sao? – Vì Bồ tát này đã làm Phật sự không thể nghĩ bàn.
Phật lại dạy Bồ tát Đảnh Vương:
– Nay Ta sẽ nói cho ông về tám đường chánh để trừ bỏ tám điên đảo:
Hằng hà sa các cõi Phật khắp mười phương xây đầy tháp bảy báu, nhưng không bằng cúng dường Bồ tát Bát chánh đạo này với y phục, thức ăn uống, giường chiếu, ngọa cụ, thuốc thang, hương viên, hương bột, hương vụn, chiên đàn, gấm lụa, vòng hoa, những vật trang hoàng thân… thì phước ấy rất nhiều.
Có đại Bồ tát có thể đối với bốn loài sanh: thai, hóa, thấp, noãn mà phân biệt bốn ý chỉ trong một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày; một tháng, hai tháng cho đến bảy tháng; một năm, hai năm cho đến bảy năm; một kiếp, hai kiếp cho đến bảy kiếp. Nếu có chúng sanh phụng thờ cúng dường trước tháp bảy báu cho đến Bồ tát Bát chánh đạo thì không bằng người cúng dường cho Bồ tát Tứ ý chỉ, phước ấy rất nhiều.
Nếu Bồ tát Nhất sanh bổ xứ ở trong thai chuyển pháp luân Vô thượng bao hàm hết tất cả sự biến hóa, vô số đại sĩ thần đức qua lại xoay vần không bị chướng ngại, rồi trở lại hợp lại một người không giác tri. Nếu có chúng sanh cúng dường phụng thờ, không thương tiếc những gì của bản thân, giống như ngày nay Ta đã trải qua ba a tăng kỳ kiếp đoạn trừ diệt tưởng, đây là thân cuối cùng vào thai để giáo hóa, chứng quả thần thông, đều được giải thoát.
Giống như quả chín, nó biến đổi không dừng, thân Phật là không, không có giới – định – huệ – giải nhưng mùi hương của Ngài xông ướp bằng đạo đức oai nghi, không làm mất mười hai hạnh đầu đà. Một phần khổ này là cảnh giới của Ta.
Khi ấy, Bồ tát Đảnh Vương đến trước Phật tán thán với kệ:
– Thức là gốc sanh tử
Là đường đến Niết-bàn
Tự tại trong bào thai
Du hí vô lượng cõi
Bốn sanh thành cõi Phật
Biến mười sáu thần túc
Đạo vốn không một tướng
Thệ nguyện đều như nhau
Chúng sanh bị trói buộc
Hiện có người tốt xấu
Vô hình không thể thấy
Nay mới được quán sát
Các thân Phật quá khứ
Dạy bảo không bờ bến
Pháp bát đạo vô thượng
Chuyên về độ quần manh
Kinh pháp hình xá lợi
Hiện thần thông nơi đời
Để người ta dẫn dắt
Được nghe bất tư nghì
Sáu thần tháp báu Phật
Kho báu, đài bảy báu
Mỗi mỗi phân biệt kỹ
Ý nghĩa không thể lường
Xưa kia Phật hành đạo
Như không, không chấp trước
Nay ở bào thai mẹ
Thọ hóa chẳng phải một
Đắc tánh chơn như Phật
Cũng trụ tánh như thật
Trừ bỏ tâm kiêu mạn
Lạy đấng không, vô tánh
Mỗi ánh sáng xá lợi
Chiếu khắp các cõi Phật
Thọ hóa như hằng sa
Là do thần đức Phật
Quốc độ cách đây xa
Nhuận đạo cam lồ Phật
Nay muốn về cõi xưa
Tuyên dương pháp Như Lai.
Nói kệ xong, Bồ tát Đảnh Vương đi nhiễu Phật ba vòng và lạy Phật, lui ra.
***

PHẨM THỨ 12: NGŨ ĐẠO TẦM THỨC

Bấy giờ đức Thế tôn muốn thị hiện chỗ mà thức sẽ đi đến là: hướng đến thức đạo, thức tục, thức hữu vi, thức vô vi, thức hữu lậu, thức vô lậu, thức hoa, thức quả, thức báo, thức vô báo, thức trời, rồng, thức quỷ thần, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhơn và phi nhơn, trên lên đến thức hai mươi tám tầng trời, dưới đến thức ngục Vô cứu.
Khi ấy Thế tôn ở trong thai hiện dây móc xích bằng hài cốt đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới.
Phật dạy A-Tư-Đà:
– Ông có thể phân biệt thức của hài cốt này không?
A Tư Đà thưa:
– Không phân biệt được. Vì sao? – Vì chưa được thấu triệt, sức tu hành chưa đạt.
Phật dạy Bồ tát Di Lặc:
– Trong cõi trời này ông chưa đắc thần thông ư?
Di Lặc bạch Phật:
– Có điều thành tựu, có điều chưa thành tựu.
Phật dạy Di Lặc:
– Ông hãy quán sát dây móc xích hài cốt để cho tất cả chúng sanh biết nơi mà thức đến. Hãy phân biệt, xác định rõ ràng để không còn nghi ngờ.
Khi ấy, Bồ tát Di Lặc liền đứng dậy, cầm thần gậy bảy báu kim cương gõ vào dây móc xích hài cốt để nghe tiếng của xương cốt ấy. Ngay khi ấy, Bồ tát Di Lặc bạch Phật:
– Người này qua đời vì nội kết sân giận quá nhiều nên thức đọa làm loài rồng.
Lại gõ vào xương và nói:
– Người này kiếp trước hành đầy đủ mười điều thiện nên được sanh lên cõi trời.
Lại gõ vào xương, nói:
– Người này đời trước phá giới phạm luật nên sanh trong địa ngục.
Cứ như vậy, Bồ tát gõ xương: hữu lậu – vô lậu, hữu vi – vô vi, trên là hai mươi tám tầng trời, dưới đến địa ngục Vô cứu và biết nơi thức đi đến, biết quả báo thiện ác, hành quả báo của nghiệp trắng đen; trong đó chỉ có một toàn thân xá lợi là không bị sứt mẻ.
Khi ấy Di Lặc lấy gậy gõ vào để suy tìm thức này nhưng lại không biết thức của ai . Gõ như vậy ba lần, Di Lặc thưa trước Phật:
– Thần thức của người này con không thể biết được. Chẳng lẽ Như Lai nhập Niết-bàn rồi sao?
Phật dạy Di Lặc:
– Ông là người vào đời tương lai sẽ tiếp nối quả vị Phật, sẽ được thành Phật, đắc đạo Vô thượng, vậy sao gõ vào xá lợi mà ông không biết thức của ai?
Di Lặc bạch Phật:
– Phật bất tư nghì, không thể hạn lượng vì chẳng phải cảnh giới của chúng con để có thể đo lường. Nay con có điều nghi ngờ, cúi xin Thế tôn hãy nói thần thức của năm đường để cho hết thảy mọi người được biết chỗ thiện ác mà họ đến để không còn ai nghi ngờ gì cả. Với Như Lai, nay xá lợi này không có sứt mẻ, xin Ngài hãy nói thức ấy để chúng con biết.
Phật dạy Di Lặc:
– Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại đều lưu bố xá lợi, chẳng phải cảnh giới của các ông phân biệt. Vì sao? – Vì xá lợi này tức là xá lợi của Ta, làm sao có thể tìm kiếm thần thức của Như Lai được! Nay Ta sẽ phân biệt rõ cho ông về thức thượng – trung – hạ của Như Lai. Dù là Bồ tát nhưng đều khác nhau:
Bồ tát Sơ trụ chưa tạo được sức căn đức mà chỉ đắc thần thông.
Bồ tát Nhị trụ thì dùng thiên nhãn nhìn biết nơi mà thức hướng đến là thối hay bất thối địa. Cũng nhìn thấy người ở cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, hoặc nhìn thấy chúng sanh ở vô số hằng hà sa cõi Phật phương Đông cúng dường chư Phật, phụng thờ không bị chướng ngại. Còn biết kiếp số mà họ thọ ký là một kiếp, hai kiếp, cho đến trăm ngàn ức kiếp.
Hoặc có Bồ tát ở địa tam trụ nhìn thấy xá lợi thì biết nơi thức đi đến là Hữu dư Niết-bàn hay Vô dư Niết-bàn. Như Lai không thấy chỗ đi đến của hành thức, tứ trụ.
Bồ tát Tứ trụ thấy thức pháp của Sơ trụ, Nhị trụ, Tam trụ, nhưng không thấy chỗ đi đến của thức pháp xá lợi bậc Ngũ trụ.
Phật dạy Di Lặc:
– Bồ tát Ngũ trụ phân biệt phẩm hạ.
Đối với Lục trụ thì thấy hoặc không thấy nơi thức đi đến. Bồ tát Bất thối chuyển lên đến Nhất sanh bổ xứ thì không biết ý nghĩ của Như Lai khi Ngài cất bước chân.
Bồ tát kế thấy Bát trụ, Thất trụ, Lục trụ nhưng lại không biết ý nghĩ của Nhất sanh bổ xứ khi cất bước chân, huống chi muốn gõ vào móc xích xương cốt để phân biệt. Việc này không thể làm được.
Phật dạy Di Lặc:
– Ông nên biết điều này, mười hiệu: Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn chỉ có Phật mới biết ý nghĩ theo thần thức của Phật.
Khi ấy, Thế tôn nói với đại chúng bằng kệ:
– Luân hồi vực năm đường
Thần thức ấy rất khổ
Tai, mũi, thân tâm dơ
Không thể nào xa lìa
Thức tưởng kết thêm cấu
Lấy đạo trí huệ chặt
Huệ chiếu chỗ tối tăm
Được đến trường Vô úy
Thức Phật đều thấy pháp
Những bộ xương xá lợi
Giả sử nát như bụi
Rất nhỏ không thể thấy
Như Lai biết rõ ràng
Pháp thiện ác báo ứng
Thức Phật rất vi diệu
Chẳng phải, chẳng không phải
Vừa nói độ vạn ức
A tăng kỳ chúng sanh
Di Lặc lại thành Phật
Cũng sẽ bỏ xá lợi
Vốn do mẹ sanh ra
Thai pháp cũng như nay.
Nghe Phật nói xong, đại Bồ tát Di Lặc đi nhiễu Phật bảy vòng, đầu mặt lạy sát chân Ngài rồi về chỗ cũ.
***

PHẨM THỨ 13: CHƯ PHẬT HÀNH TỀ VÔ SAI BIỆT

Bấy giờ, đức Thế tôn liền thị hiện tướng kỳ lạ đặc biệt: biến tất cả Bồ tát thành Phật có đầy đủ tướng ánh sáng. Tất cả mặc dù khác nhau nhưng đều thuyết pháp cùng một giọng nói, phân biệt vô thường, đời đời đều trở về không.
Đức của các Ngài khó lường được và cung kính tôn trọng nhau, có đầy đủ oai nghi lễ độ và chỉ nói pháp vi diệu, không có bớt thêm, co, duỗi, cúi, ngước. Các vị đều ngồi cao tòa bằng bảy báu cực đẹp, có màn trướng bằng the lụa.
Đầu tiên: nói pháp độ vô số toàn là nam, không có nữ.
Nói pháp lần thứ hai: độ toàn nữ, không có nam.
Nói pháp lần thứ ba: độ toàn người chánh kiến.
Nói pháp lần thứ tư: độ toàn người tà kiến.
Nói pháp lần thứ năm: độ nam nữ chân chánh bằng nhau.
Nói pháp lần thứ sáu: độ tà chánh cũng bằng nhau.
Ngay khi ấy, tất cả pháp đều được thành tựu, không còn ngã sở và đạo quả được thành thục.
Theo thường pháp của chư Phật nói là nói về nghĩa lý.
Thần túc thứ ba có tám vạn bốn ngàn pháp môn không hành, tám vạn bốn ngàn pháp môn vô tướng, tám vạn bốn ngàn pháp môn vô nguyện. Mỗi pháp môn đều có vô lượng nghĩa. Giống như thân người trí huệ có một ngàn cái đầu, mỗi đầu có ngàn cái lưỡi, mỗi lưỡi có một ngàn nghĩa. Nếu muốn đạt hoàn toàn nghĩa của ba pháp môn thì đối với trăm ngàn phần chưa đạt được một. Đây là kho tàng bí mật tinh túy của chư Phật. Được như vậy là đều nhờ kiếp trước đã thành tựu trong sự học.
Khi ấy, dù khác nhau nhưng chư Phật đều đồng thanh nói kệ:
– Nguyện xưa của chúng ta
Nay đã được thành quả
Thân vàng, lời thanh nhã
Các tướng đều đầy đủ
Muốn cầu huệ vô cực
Thành tựu không còn nghi
Lành thay, đấng ba cõi
Tối thắng không ai bằng
Xưa Ta ở Đâu Suất
Chọn lựa nơi thọ sanh
Giáng xuống vào thai mẹ
Kết duyên chư Như Lai
Những chúng sanh không duyên
Nói Ta không thành đạo
Trong thai dạy chúng sanh
Trong thời gian thành Phật
Kinh Ta nói trước sau
Tám mươi bốn ức voi
Sức voi và sức người
Chở vác không thể nổi
Nay Ta phải hoan hỷ
Ghi nhớ đừng quên mất
Nói pháp chưa thành đạo
Trong thai giảng chánh pháp
Phật hành không sai khác
Tất cả đều bình đẳng
Chỉ Phật mới biết Phật
Công đức nghĩa nhiều ít
Muốn đắc tư nghì Phật
Việc làm phải kỳ diệu
Trải qua vô số kiếp
Không đạt được mảy lông.
Sau khi nói kệ này, Thế tôn thuyết pháp lần đầu tiên toàn là nam, không có nữ, và ngay trên tòa họ đắc bất thối chuyển, có lòng tin kiên cố, không thể nào làm trở ngại được.
Bấy giờ, Thích Ca mâu Ni thâu oai thần trở lại giống như trước và nói kệ:
– Chứng quả Bát chánh đạo
Không thầy tự nhiên ngộ
Một mình dạo ba cõi
Tự đạt đạo Niết-bàn
Pháp vốn không một tướng
Đại biện tài mau lẹ
Nay Ta đã chứng quả
Dứt ái không chấp trước
Vốn tánh pháp năm ấm
Không thấy có thiện ác
Dùng thần lực cứu khổ
Thản nhiên đạo tịch diệt
Các ông trong hội này
Thệ nguyện đã thành tựu
Chưa đắc, nay đã đắc
Vui thay, nghiệp lành này
Dây nhân duyên làm ngại
Trừ sạch không còn gì
Pháp la võng của Ta
Tự nhiên bị hủy hoại
Ngu si không thấy chơn
Tự đọa bốn sắc duyên
Chưa quán sát kỹ càng
Phân biệt gốc tướng khổ
Như nay Ta thành đạo
Công phu nói không hết
Phật rống tiếng sư tử
Kiếp lửa, kiếm ác cướp
Đúc nặn chúng sanh khổ
Lấy màu nhuộm tơ trắng
Nhẫn nhục chịu khổ hại
Đến chết không trả thù
Giữ tâm như hư không
Thay đổi không lâu dài
Đối với đời bấy giờ
Tội ngũ nghịch khổ não
Khó dạy, không thể độ
Chư Phật không cứu được
Tìm gốc làm hiện duyên
Chỉ dẫn chỗ vô vi
Phá tâm ương ngạnh ấy
Chuyên nhất được giải thoát
Giáo pháp nói lần đầu
Không sanh, không khởi diệt
Đều hướng về Phật đạo
Không ai bị đọa lạc.
Khi Phật nói kệ này xong, các chúng nam, chúng nữ, chúng chánh, chúng tà đều có lòng tin rốt ráo, đắc địa bất thối chuyển.
Phật dạy các đại Bồ tát:
– Các ông muốn thấy Như Lai dùng thần lực giáo hóa đạo bất tư nghì, pháp tánh thuần thục, không có người nam, người nữ, rành mạch về nghĩa lý thọ thân người nữ, không được Phật thọ ký. Ma, Thích, Phạm vương không có tướng chân thật. Các ông có muốn biết bốn chúng này được thọ ký thành Phật không?
Khi ấy, Bồ tát tên Vô Tận Ý đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải chấm đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Con chưa hề nghe Như Lai nói pháp về bốn hạng người này được thành Phật. Nay mới khai diễn đại nghĩa.
Và lại bạch Phật:
– Xả thân thọ thân liền thành Phật sao?
Phật dạy Vô Tận Ý:
– Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ, Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông: Chín mươi mốt kiếp về quá khứ có Phạm thiên vương tên Đại Biện Tài, thông suốt xưa và nay, thường thích nhàn cư, ngồi trong cung trời suy nghĩ: “Nay ta có thể giáo hóa cung nữ và các Phạm vương ở đây. Khi Ta được thành Phật đều có chư thiên đi theo, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, đồng thời thành Phật không vui sao?”.
Nghĩ như vậy xong, Phạm thiên vương liền ở thiên cung, đến cây Trí Độ, ngồi ngay thẳng tư duy, nhất ý nhất tâm, chánh niệm tỉnh giác, không có tưởng niệm gì khác, liền thành Phật với ba mươi hai tướng đại nhân và tám mươi vẻ đẹp.
Quyến thuộc của chư thiên tu hành chánh pháp Tỳ kheo, đắc A-la-hán và tất cả đều là hàng lợi căn. Chúng thiên nữ ấy có người đắc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, không còn sanh trở lại thế gian này nữa, rồi liền bát Niết-bàn. Đó gọi là Phạm thiên vương không xả thân thọ thân mà thân hiện tại được thành Phật đạo.
Phật dạy Bồ tát Vô Tận Ý:
– Bảy mươi sáu kiếp về quá khứ có thiên vương thứ sáu – thống lãnh ba ngàn đại thiên thế giới – tên là Hại Ác. Từ tầng trời thứ sáu trở xuống đến tự tại vô ngại, ở cung trời ấy trải qua vô số biết bao sự tư duy, hối hận những việc xưa kia hủy báng Tam bảo, ngăn cản đạo quả. Giả sử Ta thọ báo, đọa vào ba đường, không rời khỏi đường ác, thì nay Ta có thể sửa đổi tâm làm ác và cùng với quyến thuộc chư thiên trong thiên cung này tu phạm hạnh, cầu đạo Vô thượng, tiến tới thành Phật, không phải vui sao?!
Lại suy nghĩ: “Cảnh giới mà Ta cai quản có vô lượng vô số thiên nữ vui chơi, không gì vui hơn đây. Giả sử Ta thành Phật thì cũng giống như cõi này, dần dần giải đãi” .
Lại tới kiếp số loài ma có tri thức tu hành, bước lên địa vị Thập trụ, giảng nói công đức của Phật, xuất gia tu đạo, có các tướng đầy đủ. Tâm ma khai mở, sửa đổi, tâm tánh nhập vào thiền định, không có dấy nhiều tưởng niệm, căn tánh mau lẹ. Ngay đó, liền ở thiên cung mà chứng đạt tam minh, trang nghiêm cõi Phật, không còn tái sanh nữa, liền thành Vô thượng chí chơn Chánh đẳng Chánh giác, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả cõi ma, không chỗ nào mà không thấy.
Khi ma thành Phật, có ba ức thiên tử tâm tự sanh niệm, cho rằng: do ma huyễn hóa chứ chẳng phải đạo chân thật và hết thảy rút lui trở về cung. Mười sáu ức thiên tử đều đến thân cận, phụng thờ, cúng dường như Phật không khác. Và ngay nơi tòa chứng bốn quả. Đó là Đại thiên vương Hại Ác, không xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.
Phật lại dạy Bồ tát Vô Tận Ý:
– Sáu mươi mốt kiếp về quá khứ, ở phương Đông có Thích Thiên Tử tu thiên nhãn, tâm thanh tịnh, thích thiền định, luôn muốn xuất gia tiến đến Phật đạo. Pháp của chư thiên ấy bị suy nên có điềm ứng và không bao lâu qua đời.
Chư thiên từ từ giảm sút sự ham thích ngủ nghỉ, thân thể dơ bẩn, hoa tự khô héo, không thích tòa báu, thức ăn không ngon, rồi liền đi ra sau vườn tắm rửa, giặt giũ. Với thân trời này, mắt thấy rất xa. “Làm thế nào có Phật để đến lễ lạy, viếng thăm, cung kính cúng dường, được thọ cấm giới của Phật, và liền ngay thân này đắc thành Phật đạo” . Nghĩ vậy xong, ngồi ngay thẳng tư duy, dùng thiên nhãn thấy phương trên có Phật hiệu Vô Lượng Không Hành, thế giới thanh tịnh, hiện đang nói pháp, đầu giữa cuối hoàn toàn thiện.
Thế rồi Thích thiên tử dùng thần lực khoảng như người co duỗi cánh tay, đến chỗ Phật ấy lễ lạy sát chân, lui qua đứng một bên và khen Phật bằng kệ:
“Tướng sáng chiếu mười phương
Chiến thắng bọn ma oán
Giảng nói con đường đạo
Dứt nghi, không còn lầm
Người phạm hạnh thanh tịnh
Đều nhờ hạnh tối thắng
Tùy cơ nói chơn pháp
Không trái pháp bổn hạnh
Con là chủ chư thiên
Muốn tu đạo thanh tịnh
Cúi xin Phật thương xót
Được đến chỗ an ổn” .
Bấy giờ, Thế tôn dạy Thích thiên tử:
– Lành thay! Lành thay! Ông phát tâm rộng lớn, muốn được cứu vớt khổ của chúng sanh: người chưa đắc được đắc, người chưa đạt được đạt, người chưa thành tựu muốn được thành tựu, muốn cho người mù được mắt sáng, người điếc được nghe, người gù lưng được thẳng, người không có tay chân được có tay chân. Ông hãy trở về bổn cung, ngồi dưới cây đạo, phân biệt các hành là pháp trụ hay pháp tán.
Nghe xong, Thích thiên tử lạy trước Phật. Khi ấy, ông ta biến mất, trở về cung trời. Quyến thuộc chư thiên đều quy về nương tựa, làm cho công đức của ông ta càng tăng trưởng, tướng suy hao đã tiêu mất sạch. Ông ta ngồi thẳng thâu nhiếp thân, tâm ý bất động, liền đắc thành Vô thượng Chí chơn Đẳng chánh giác, hướng dẫn chín mươi ba ức thiên nữ chứng bốn đạo quả. Đó gọi là Thiên Đế Thích không xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.
Phật dạy Bồ tát Vô Tận Ý:
– Năm mươi bốn ức hằng hà sa kiếp về quá khứ có thế giới tên Hỏa Diệm, Phật hiệu Vô Dục Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn nói pháp độ người , khéo tu phạm hạnh, biết rõ về pháp Tứ đế, bố thí cho tất cả. Nhân dân cõi đó đều thọ thân nữ, hiểu rõ vô thường, khổ, không, vô ngã, phân biệt về thọ nhập, không còn phiền não, nhàm chán thân khổ này ; cùng nhau phát thệ nguyện rộng lớn, mặc áo giáp vô úy muốn cứu độ chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật, quăng trừ các xấu ác, lập ý chí kiên cố, đạt đến Bất thối chuyển ; cùng nhau thực hành hiểu rõ về pháp không, vô tướng, vô nguyện. Trong một lúc, trong một ngày thông đạt Tam đẳng, liền thành Phật đạo, các tướng đầy đủ, sống chết tự tại, lấy nhỏ nhập vào lớn, lấy lớn nhập vào nhỏ. Trong một ngày độ vô lượng a tăng kỳ chúng sanh, giáo hóa chúng sanh vào Vô dư y Niết-bàn. Đó gọi là bất xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.
Bấy giờ muốn tuyên lại nghĩa này, Thế tôn nói kệ:
– Pháp tánh như biển lớn
Không nói có đúng – sai
Kẻ phàm phu, hiền thánh
Bình đẳng không cao thấp
Chỉ do tâm dơ nhiếp
Thủ chứng như trở tay
Đạo thành vua ba cõi
Xiển dương tiếng sư tử
Pháp biệt không có pháp
Không có hạnh nam nữ
Nay đời năm trược này
Hiện có phần thọ thân
Đoạn diệt kẻ chấp thường
Làm chướng ngại kiếp số.
Khi Thế tôn nói kệ này xong, có tám vạn bốn ngàn ức chúng sanh lập chí kiên cố và tất cả đều nguyện thành Phật, không còn tái sanh.
***

PHẨM THỨ 14: HÀNH ĐỊNH BẤT ĐỊNH

Bấy giờ, trong hội có Bồ tát tên là Thường Tiếu, đạt sáu thông, có oai đức và thần lực tự tại, biện tài vô úy, chấm dứt phần sanh tử, không còn chấp trước việc gì, những điều nói ra đều được tin dùng, hiểu rõ các pháp không, như huyễn hóa, như mộng, như sóng nắng, như lá đỏ trong nước mà loài thú ngu si cho là nước thịt, cuối cùng không lấy được, như tiếng vọng trong núi ; hiểu rõ các pháp không sanh không diệt, muốn đoạn trừ tất cả sự nghi ngờ của chúng sanh, nên liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Cúi xin Thế tôn, con có chút nghi ngờ. Nếu được cho phép con mới dám thưa. Trí tuệ của Đại thánh Như Lai vô ngại, trước biết do nhân duyên quá khứ mà trói các hành, sau làm rõ nguyên lý thành bại và nhân duyên hợp tan của vị lai. Hành nghiệp thiện ác là do phát tâm khác nhau. Nay con nghe Như Lai ở trong thai giáo hóa chúng sanh là các hành có sai khác, có đối không đối, có quả báo không có quả báo, có hành đen trắng, không có hành đen trắng. Lại có chúng sanh từ khi mới phát tâm trải qua vô số kiếp mà không được thành tựu, hoặc có chúng sanh chỉ sáng phát tâm mà chiều liền thành Phật. Cúi xin Thế tôn hãy nói cho, con rất muốn nghe.
Thế tôn dạy Bồ tát Thường Tiếu:
– Theo lý lẽ mà ông hỏi đều là do oai thần của Như Lai cảm vời ra. Muốn thành tựu các pháp thì không đoạn thật tánh của Như Lai, trước cũng như sau. Vì sao? – Vì pháp tánh của Như Lai không thể nào nắm bắt, giữ gìn được, cũng chẳng phải phạm vi A-la-hán, Bích Chi Phật biết được.
Khi ấy, Thế tôn dùng thần lực xuất ra tướng lưỡi rộng dài, ánh sáng tướng lưỡi chiếu a tăng kỳ kiếp cõi Phật, tận cùng phương Đông, khiến cho chúng sanh năm đường thấy ánh sáng ấy tìm đến chỗ Như Lai. Ngay giữa chặng mày, Thế tôn lại xuất ánh sáng tướng lông trắng, trên chiếu tám mươi bốn ức hằng hà sa cõi chúng sanh.
Bấy giờ, Thế tôn nói kệ cho Bồ tát Thường Tiếu:
– Ba mươi mốt âm vang
Nghiệp báo được trong sạch
Bốn mươi tám trần cấu
Trời hành năm mươi năm
Bồ tát tóc bảy báu
Phát sanh tâm chúng sanh
Bốn loại cây đạo quả
Tâm thức định không loạn
Kẻ thiếu trí vô phước
Mắc khẩu nghiệp rất nhiều
Ăn uống biết vừa đủ
Đi đứng đúng oai nghi
Bình đẳng thương tất cả
Mới gọi đạo Bồ tát
Đời năm trược ba cõi
Điên đảo vướng cõi ma
Phá hoại gốc nghiệp thiện
Như bóng không rời hình
Căn tánh có lanh chậm
Tới lui lòng do dự
Phát nguyện độ chúng sanh
Công đức trọn đầy đủ
Thành tựu thân mười lực
Thế tục pháp hữu vi
Tư duy khó lường được
Vừa chết lại tái sanh
Như lửa cháy núi rừng
Tâm niệm đốt chánh pháp
Lan đến a tăng kỳ
Thân mặc giáp thệ nguyện
Dõng mãnh độ kẻ dữ
Tiêu diệt chúng quân ma
Lỗ chân lông thân người
Hơn sáu mươi bốn vạn
Người trí huệ biết rõ
Các nghiệp báo nhỏ nhặt
Người lợi căn Diêm Phù
Thọ thân rất xấu xí
Từ mỗi lỗ chân lông
Rịn chảy không kín đáo
Thân Kim cang Như Lai
Chân lông ba mươi bảy
Kín đáo không rịn chảy
Không bị lửa thiêu cháy
Ma và quyến thuộc ma
Sa môn, Bà la môn
Phạm thiên và chúng Thích
Thần lực bọn quỷ thần
Muốn đụng lông tóc Phật
Việc này không thể được
Hư không thành địa giới
Nhật nguyệt có thể rơi
Muốn đụng lông tóc Phật
Không thể nào làm được
Đây là nghiệp pháp tục
Chẳng phải tướng vô vi
Thọ hành chịu nghiệp quả
Các tướng đều khác nhau
Thân Phật thể Kim cang
Ngoài hành theo báo nghiệp
Là quả báo thế tục
Lìa xa pháp vô vi
Tướng Phật pháp chân thật
Không hiện ra bên ngoài
Muốn biết tướng trong Phật
Như dùng thần túc vậy.
Nói kệ xong, đức Thế tôn dạy Bồ tát Thường Tiếu:
– Duyên báo duyên duyên báo
Chí đạo vô ngại báo
Tam bảo chơn tánh báo
Hành thú Niết-bàn báo
Thế tục vô trước báo
Nhất hướng cứu cánh báo.
Đó là đệ nhất nghĩa của đại Bồ tát, không nhiễm, không chấp trước, không thể nắm bắt, không vướng vào cõi Dục mà cũng không lìa cõi Dục. Quá khứ có, vị lai có, hiện tại có. Chẳng phải quá khứ có, chẳng phải vị lai có, chẳng phải hiện tại có, không sanh không diệt. Qua trăm ngàn kiếp, đại Bồ tát đã thông đạt, không còn chướng ngại, khiến cho mọi tầng lớp chúng sanh đều hiểu rõ cái không đó vốn có quả báo để thành tựu khẩu nghiệp, thông đạt cả âm thanh.
Hoặc có đại Bồ tát trong phút chốc có thể làm cho ba ngàn đại thiên thế giới hóa thành thủy giới, giống như Tỳ kheo đắc thiền quán vô lượng thủy giới. Con trùng, rùa, ba ba trong thủy giới ấy không xúc chạm nhau. Do chứa công đức nhiều kiếp nên không hư không hoại. Đó gọi là đại Bồ tát nhập vào Thủy giới tam muội.
Hoặc có chúng sanh thấy Bồ tát nhập định cho là nước, rồi lấy gạch, ngói, đá, cây cỏ quăng vào. Bồ tát nhập định, tâm như hư không, không biết có người đến xúc não. Đó là đại Bồ tát nhập vào lực của thủy giới.
Hoặc có Bồ tát thiền định nhiếp tâm nhập vào Hỏa giới tam muội, khiến cho ba ngàn đại thiên quốc độ này bùng cháy. Chúng sanh ngu si nói rằng Bồ tát gặp lửa kiếp thiêu, chạy tán loạn nhưng không tránh được lửa. Mặc dù lửa cháy đỏ nhưng Bồ tát thấy mát mẻ không nóng. Đó là đại Bồ tát nhập vào Hỏa quang tam muội. Oai thần của tam muội này không thể so lường. La hán, Bích Chi Phật cũng không thể đạt được.
Hoặc có Bồ tát nhập năm phần pháp thân, tâm định bất động, khiến ba ngàn đại thiên thế giới nào bò – bay – máy – cựa cho đến trùng, kiến đều dùng oai thần tiếp đỡ chúng, nên chúng không gặp phiền não, bảy ngày được an ổn. Sau khi qua đời, tất cả đều sanh lên cõi trời. Trong một ngày nói pháp mà hóa có mặt khắp mọi nơi, trong đó người nào thấy thần đức của Như Lai thì trần cấu đều được trừ sạch, muốn gì được nấy, hoặc sanh vào cõi chư Phật ở phương khác. Đó là nhờ đại Bồ tát nhập năm phần pháp thân định tâm ban cho.
Có Bồ tát nhập vào Bất động sư tử phấn tấn tam muội, khiến cho ba ngàn đại thiên thế giới chấn động sáu cách. Chúng sanh trong đó đều quy phục, tu hành thanh tịnh, mặc áo tàm quý, bỏ tâm kiêu mạn, hướng dẫn chúng sanh đến tám con đường chân chánh, trừ khử bảy mươi bảy tâm chấp ngã. Cấu nhiễm chất chứa lâu đời chỉ trong nhất thời đều trừ sạch cả. Đó là do đại Bồ tát nhập vào Phấn tấn vô úy tam muội cảm vời ra.
Có đại Bồ tát nhập Tán thân định ý, phân biệt thức tụ từ đâu đến và đi về đâu. Mỗi mỗi đều phân biệt rõ ràng là không, vô tịch nhiên. Trước – sau – giữa đều không có đầu mối. Đó là do đại Bồ tát nhập Tán thân định ý tam muội mà cảm vời ra.
Có đại Bồ tát nhập Nhẫn đảnh tam muội, có thể làm thân này biến thành con trùng không có chân tay đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Chúng sanh thấy chẳng biết đó là gì nên nói là đống thịt. Nếu ai lấy ăn thì mùi vị như cam lồ và đều làm no đủ cho chúng sanh bị đói khát. Đó là do đại Bồ tát nhập Nhẫn đảnh tam muội mà cảm vời ra.
Có Bồ tát dùng Thần lực tam muội khiến núi sông, đá, vách trong ba ngàn đại thiên thế giới này hóa thành cam lồ, giống như đường phèn, ăn vào không biết ớn, khiến cho bốn chứng bệnh nặng kiết sử của chúng sanh vĩnh viễn lành hẳn không còn trở lại. Chúng sanh phát nguyện: “Nguyện muốn sanh về thế giới vô tận” . Đó là nhờ thần lực của đại Bồ tát cảm vời ra.
Lại nữa, đại Bồ tát nhập vào Độc bộ tam muội, làm cho tất cả chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới này thấy Bồ tát đi cất bước chân, hạ chân xuống. Ai gặp Bồ tát đi bộ thì có thể ngăn chận người tội không còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đây đều do thân – khẩu – ý Bồ tát thanh tịnh và phát nguyện cứu độ đạt đến nơi cứu cánh, không bao giờ quay trở lại. Đó là nhờ vô lượng tâm nguyện phước lành của đại Bồ tát cảm vời ra.
Lại nữa, đại Bồ tát dùng thần thông định nhập vào Nhạo pháp tam muội, khiến cho các loài chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới này đều quay về, đến chỗ Bồ tát để cầu xin xuất gia, tu phạm hạnh vô thượng, phát tâm giống nhau, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, theo thường pháp của chư Phật về pháp oai nghi, cấm giới, giáo thọ thì có thể tức thời ở vào Minh huệ địa. Minh huệ địa là nơi hành pháp của Bồ tát Bát trụ, chẳng phải nơi Nhị thừa tu tập. Đó gọi là nhờ thần lực của đại Bồ tát cảm vời ra.
Lại nữa, đại Bồ tát dùng đại bi của Phật nhập vào Vô ngại đinh, khiến cho các loài quần manh trong ba ngàn đại thiên thế giới này cùng làm cha mẹ, anh em, bạn bè, dòng họ, tri thức, ai không có của cải thì cho của cải, cung cấp các vật cần dùng cho đến quốc thành, vợ con, voi ngựa, vàng bạc, trân bảo, xe cộ, mã não, bạch châu, hổ phách, thủy tinh, lưu ly, bích thạch, trân bảo lẫn lộn, y phục, thức ăn uống, giường mùng, chiếu chăn, thuốc thang, hương hoa, phấn xoa… đều cho họ sung túc. Những người được sự giáo hóa trong đó đều đầy đủ, làm chúng sanh phát tâm ở trong địa Nhạo pháp.
Sao gọi là địa Nhạo pháp? – Nghĩa là ai hợp với đạo Tu-đà-hoàn thì có pháp chân thật cốt yếu để đoạn ba kiến pháp.
Ai hợp với đạo Tư-đà-hàm thì còn bảy đời nữa thành đạo.
Ai hợp với đạo A-na-hàm thì nói thiện pháp không có năm ấm che lấp.
Ai hợp với đạo A-la-hán thì nói Niết-bàn thọ chứng không trở ngại.
Ai hợp với đạo Bồ tát thì nói pháp Lục độ đảnh nhẫn, phát tâm tiến lên.
Ai hướng đến Phật đạo thì nói cứu cánh tịnh Nhất thiết trí, trang nghiêm Phật giáo chúng sanh. Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác cúng dường, lễ lạy, thờ phụng chư Phật Thế tôn, được đắc sáu thần thông:
– Mắt có thể thấy thấu triệt.
– Tai có thể nghe thông suốt
– Tự biết đời trước
– Biết tâm người khác.
– Thân có thể bay.
– Các trần cấu đều đoạn sạch, không còn nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng.
Đó gọi là nhờ thần lực của đại Bồ tát nhập Nhạo pháp tam muội mà cảm vời ra.
Có đại Bồ tát nhập vào Kim cang tam muội, khiến cho ba ngàn đại thiên thế giới biến thành bảy báu, cứu giúp, ban bố cho người nghèo khổ. Ai xin thức uống cho thức uống, ai xin thức ăn cho thức ăn và rồi nói cho họ về quả báo của sự xan tham. Hễ người nào xan tham thì chết đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nghèo khổ, áo không đủ che thân, bị người ghét bỏ, hoặc làm nô tỳ, làm người ở mướn, hoặc đọa làm súc sanh gánh vác mang nặng.
Bồ tát nói cho họ về hạnh không dâm dục thì được sanh lên trời. Dâm là ô uế, chết đọa vào đường ác như núi đao, rừng kiếm, xe lửa, lò than, địa ngục thiết chủy, địa ngục hắc thằng, địa ngục phất thỉ, núi băng, cối giã,… chịu vô lượng khổ. Hoặc vào trong ngục hoa sen đỏ, gió thổi lửa đốt xương cốt phân ly.
Trong đó Bồ tát nói vô thường, thân không tồn tại lâu dài như đánh đá thấy lửa, như sấm sét qua trước mắt, huyễn hóa chẳng phải một thì vì sao chịu khổ, tinh thần suy sụp mà không mong cầu thoát khỏi.
Bồ tát nói pháp chân thật cho họ như vậy để người tội đều được hết khổ. Đó gọi là nhờ đại Bồ tát dùng định ý đại bi tam muội của Phật mà cảm động đến.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Chúng sanh muốn giải thoát
Cửa năm đường ba cõi
Tinh tấn không giải đãi
An trụ đạo vô vi
Như người xây nhà cửa
Không cây gỗ mà thành
Chủ yếu trước ban đất
Rồi dựng trụ, xây tường
Phật đạo như hư không
Không do một hạnh thành
Giữ ý thật kiên cố
Ruộng tâm không quyến luyến
Hằng sa Phật quá khứ
Vị lai cũng không tận
Có vị lần lượt thành
Có vị được siêu việt
Ta dạy ngộ chưa ngộ
Khiến đến tám chánh đạo
Nghe rồi không thọ nữa
Pháp này do ai tạo
Xưa ta xả tưởng thân
Kiếp số không cho khó
Không thầy mà tự ngộ
Là đạo sư tất cả
Đạo sư hiện ra đời
Không duyên, không thần thông
Cốt độ người chưa độ
Thị hiện thành vô vi.
Khi Thế tôn nói kệ này xong, có năm mươi sáu ức hằng hà sa chúng sanh đoạn diệt vọng tưởng, không còn ưa thích nghiệp của thế tục và đồng thời phát nguyện cầu đạo vô thượng.
***

QUYỂN 5

PHẨM THỨ 15: CHÚNG SANH NHẬP LỤC ĐẠO

Lúc bấy giờ đức Thế tôn nhập Vô lượng biến quán định ý, quán sát đại chúng còn có điều nghi ngờ. Muốn giải nghi, Ngài hiện chân thật bằng cách nhấn ngón chân phải xuống đất. Ngay lúc đó hiện ra chúng sanh trong lục đạo đứng xếp hàng ngay thẳng.
Thế tôn nói với đại chúng:
– Các ông có thấy chúng sanh trong lục đạo này không?
Đại chúng đều thưa:
– Bạch Thế tôn, thấy ạ.
Khi ấy, trong đại chúng có Bồ tát tên Tự Tại đã đắc Vô lượng pháp môn hư không tạng, có trí huệ biện tài ứng đối vô ngại. Đây là vị đứng đầu trong mười sáu Thánh tử của Hiền kiếp này. Bồ tát đi khắp mười phương cõi để thi hành Phật sự.
Bồ tát đứng dậy, trịch bày vai phải, chân phải sát đất, chấp tay bạch trước Phật:
– Bạch đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn! Con rất muốn nghe nói về quả báo hành nghiệp của chúng sanh trong sáu đường. Những điều con hỏi hơi cạn cợt, cúi xin Ngài chỉ dạy.
Khi ấy, giữa đại chúng Thế tôn mỉm cười với khuôn mặt hiền hòa. Theo thường pháp của chư Phật Như Lai, Phật không phải cười suông, mà cười thì đều có nhân duyên:
Như nếu có chúng sanh nào sanh vào trời Phạm thiên thì khi ấy Phật mỉm cười.
Có ai sắp làm Chuyển luân Thánh vương thì Phật mỉm cười.
Có ai làm ngục tốt hoặc làm vua Diêm La thì khi đó Phật cũng cười.
Có ai thọ thân ngạ quỷ, Phật cũng cười.
Có ai làm vua loài súc sanh, Phật cũng cười.
Bấy giờ, nơi giữa miệng Thế tôn phóng ra ánh sáng năm màu, chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, rồi thâu ánh sáng trở lại nhập vào đỉnh đầu và Ngài dạy Bồ tát Tự Tại:
– Những điều ông hỏi chính là điều mà do oai thần của Như Lai ứng tiếp, cũng là do chư Phật mười phương hộ trì nên có thể đưa ra câu hỏi như vậy. Nay Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông về nhân duyên hành nghiệp của chúng sanh trong sáu đường. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.
Bồ tát Tự Tại thưa:
– Bạch đức Thế tôn! Con xin được muốn nghe.
Phật dạy Bồ tát Tự Tại:
– Ông hãy đưa mắt nhìn về phương Đông, có cõi trời Phạm, trời Đại Phạm, trời Thanh Tịnh Phạm và cho đến trời Sắc Cứu Cánh. Các chúng trời này đầu tiên tu hành phạm hạnh đều có chủng tử Phật, tu các công đức. Vì tham phước báo, đắm nhiễm, chìm theo năm dục nên đạo quả theo nhân duyên mà đều thọ thân trời, tính phước của Phạm thiên rất nhiều. Nay Ta sẽ nói rõ ràng cho ông: như Chuyển luân vương có bảy báu tùy tùng đầy cả ba ngàn đại thiên thế giới.
Bảy báu đó là:
1- Voi báu: có ba mươi hai ngà, màu lông trắng tinh, chân đạp trên hoa sen và có thể bay được.
2- Ngựa báu: thân màu xanh biếc, lông cổ bờm ngựa màu đỏ, có thể bay được. Đi đến đâu đều không bị chướng ngại và biết tâm niệm của người.
3- Châu báu: ánh sáng thấu triệt khắp nơi, chiếu khắp cả hư không, cho đến chiếu khắp bốn thiên hạ.
4- Luân báu (xe báu): xe có ngàn căm, điêu khắc chạm vẽ không hình nào giống hình nào. Báu thứ tư này không có thức.
5- Ngọc nữ báu: là người đẹp nhất trong phái nữ, tánh hạnh dịu dàng, đoan trang thùy mị, hiếm có ở thế gian, không cao không thấp, không trắng không đen. Thân có mùi thơm Ưu-đàm-bát-la liên hoa, miệng có mùi thơm Ngưu đầu chiên đàn, cung kính, khiêm nhường, từ tốn, biết tâm ý của Thánh vương.
6- Thần báu giữ kho: khi vua cần báu thì tay cầm thần khí cụ giơ lên hư không mà viết thì thành báu, lấy hay thôi tùy vua.
7- Chủ binh báu: khi Thánh vương xuất hành cần bốn bộ binh. Vua bảo chủ binh báu rằng: “Nay ta muốn đi xem xét đất nước. Hãy mau tập hợp binh chúng trước cung điện của ta. Chớ để trễ giờ. Nhận lệnh vua, chủ binh báu quay nhìn về phía Đông thì binh voi đã tập hợp thẳng hàng ở phía Đông. Liếc mắt nhìn về phía Nam thì binh mã đã tập hợp thẳng hàng ở phía Nam. Quay nhìn lại phía Tây thì binh xa đã tập hợp thẳng hàng ở phía Tây. Quay nhìn phía Bắc thì bộ binh đã tập hợp thẳng hàng ở phía Bắc.
Chuyển luân Thánh vương tùy ý cỡi voi, hoặc ngựa đến Phất Can Tiệp Châu, Uất Đàn Viết, Đề Câu Da, Vi Đề, dạo đi khắp bốn phương nhưng chân không đạp đất. Qua trăm năm, ngàn năm, ngàn trăm năm hưởng phước tự nhiên.
Thân của Chuyển luân Thánh vương khắp cả bốn thiên hạ nhưng không bằng thân Đế Thích. Vì sao? – Vì nơi Đế Thích thống lãnh có cung điện bảy báu, có quyến thuộc, ngọc nữ ngồi trong điện đường bảy báu, hưởng thú voi cõi trời. Nhìn Đông quên Tây, nhìn Nam quên Bắc, khoái lạc không thể tả.
Dù thân Đế Thích như vậy nhưng cũng không bằng Thiên Vương thứ sáu. Thân có ba mươi tướng, thần đức tự tại, tùy theo tâm niệm biến hóa đủ thân hình, binh chúng tùy tùng không thể đếm xuể, công đức phước nghiệp bố thí vô ngại.
Như hạng Lục thiên vương khắp bốn thiên hạ nhưng không bằng một Đại Phạm Thiên Vương, có công đức rộng lớn, trông coi ba ngàn đại thiên quốc độ. Chúng Phạm thiên nhiều vô lượng, không thể tính đếm, sống rất lâu, hơn một Hiền kiếp thọ mạng mới hết.
Bấy giờ, Thế tôn dạy Bồ tát Tự Tại:
– Ông đưa mắt nhìn về phương Nam thì sẽ thấy vô số Chuyển luân Thánh vương đứng sắp hàng ở phía Nam. Công đức của Chuyển luân Thánh vương rất nhiều, như đã nói ở trên. Họ giữ năm giới, mười điều thiện, cung kính phụng thờ bậc Hiền thánh, giữ giới của tiên nhơn, bát trai thanh tịnh, căn tướng hợp nhau, thương xót mọi người, không có tâm làm tổn hại, hưởng quả báo phước ấy khó lường, cho nên được kế thừa ngôi vị Chuyển luân vương.
Phật dạy Bồ tát Tự Tại:
– Ông đưa mắt nhìn về phương Tây thì thấy Sư tử vương đứng thẳng ở phía Tây, theo sáu việc, đứng bất động, lông trắng tinh, ngực vuông vức. Đó là do phước báo đức hạnh của kiếp trước. Mặc dù thọ thân súc sanh nhưng phân biệt rõ về thiện ác. Chân đạp hoa sen không dính bụi đất. Không bao giờ sát sanh, ăn thịt uống máu. Một khi sư tử rống lên thì loài bay trên không đều rơi xuống đất, loài thú chạy phải nép mình. Trong năm giới, sư tử cũng không phạm quá ba, cho nên đạt được phước báo như vậy. Mặc dù đọa làm súc sanh nhưng khi chuyển xả thân đều được thành đạo,
Phật dạy Bồ tát Tự Tại:
– Ông quay nhìn về phía Bắc thấy ngạ quỷ ở cung điện bảy báu, quyến thuộc tùy tùng đều ăn tự nhiên pháp vị cam lồ. Tuy gọi là ngạ quỷ nhưng đều theo ủng hộ loài người để tu thiện. Nó cũng có thần túc đi đến các cõi Phật, lễ kính chư Phật, vâng giữ chánh pháp, đứng biết đứng, đi biết đi, cảm động tùy thời, không tuân giữ thường pháp, dạo qua cõi Ta-bà này để cùng hội họp với chúng thiện. Không bao lâu chuyển xả thân thì thành đạo.
Phật dạy Bồ tát Tự Tại:
– Ông quay nhìn xuống dưới thấy vua Diêm-la lấy năm việc để cai trị, luôn luôn chân chánh. Năm việc đó là gì? – Trước mặt tội nhân chất vấn hỏi:
“Trong nhân gian có Phật, có Pháp, có Tăng Tỳ kheo, có cha, có mẹ không?”.
Tội nhân trả lời:
“Thưa đại vương thật có”.
Khi ấy Thánh vương nói kệ hỏi:
– Gông cùm, xiềng xích sắt
Vạc dầu, trụ đồng cháy
Nước dương đồng, kềm, xoa
Đền trả không bao lâu
Tự tạo gốc nhân duyên
Nghiệp báo chẳng phải ai
Cả cha mẹ, anh em
Chẳng ai thế chịu khổ
Ta muốn học xuất gia
Giữ giới không vi phạm
Hành chánh pháp bình đẳng
Ngày vẫn ba lần nấu.
Hỏi năm việc xong, vua Diêm-la liền ra lệnh và giao phó cho ngục tốt tùy theo tội nặng nhẹ mà sử trị.
Trong số tội nhân ấy, ai nghe tiếng Phật pháp thì tội diệt phước sanh, trở lại làm người, tu hành thanh tịnh. Đó gọi là báo ứng của chúng sanh trong lục đạo.
Nghe Phật dạy xong, Bồ tát Tự Tại lạy sát chân Phật rồi trở về vị trí cũ.
Khi ấy, trong hội chúng có tám ngàn ức chúng sanh ở chỗ không vui, đọa trong sáu đường đều phát Vô thượng tịch diệt không vô và xa lìa sanh tử..
***

PHẨM THỨ 16: CHUYỂN PHÁP LUÂN

Vì muốn thị hiện vô lượng di thể báo ứng của chư Phật để tất cả Bồ tát có thần thông, bậc học, vô học và bốn chúng – Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di – Thế tôn hiện sanh thọ báo chuyển đại pháp luân. Sự báo ứng này, Sa môn, Bà la môn, Ma, Phạm thiên chẳng thể nào chuyển được. Ngài liền dùng thần lực, từ lỗ chân lông trên thân phóng ánh sáng chiếu xa đến các cõi Phật khắp mười phương, mỗi vầng ánh sáng đều có ba ngàn đại thiên cõi Phật, mỗi cõi Phật đều có hóa Phật, mỗi hóa Phật đều có ba ngàn đại thiên loài chúng sanh, mỗi chư Phật và chúng hội ấy nói vô tận pháp tạng, có vô lường kỳ diệu, không pháp nào sánh bằng. Pháp chơn tế thâm sâu được nói ra đầu giữa cuối đều thiện, diệt trừ dâm – nộ – si, lấy nước bát giải rửa trừ tâm cấu.
Khi ấy, trong ao chư Phật hóa làm cao đài bảy báu, cách đất bảy nhận. Trên cao đài trải cao tòa báu, bốn góc đều treo kinh báu, ở giữa dùng đủ thứ báu treo xen lẫn nhau, treo lọng lụa, tràng phan năm màu đỏ huyền, khoái lạc không thể tả. Ngay trên tòa, chúng sanh nghe tạng pháp vô tận, ngồi thẳng tư duy, tâm không tán loạn. Tất cả đều muốn nghe pháp bí mật tinh túy của Như Lai.
Theo thường pháp của chư Phật, Thế tôn lại phóng ánh sáng nơi nhục kế chiếu lên đến vô số ức cõi Phật. Cõi Phật trên Không giới có Phật hiệu là Bảo Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn, thấy ánh sáng từ nhục kế của Thích Ca Văn Phật, liền nói với các hội Bồ tát cõi mình rằng:
– Phương dưới có Phật hiệu Thích Ca Văn Ni Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn, hiện đang ở trong thai mẹ rộng nói pháp tạng thâm sâu vô thượng, hướng dẫn cho các Bồ tát có thần thông khắp mười phương. Các ông hãy đến đó lễ lạy thăm hỏi và đem lời thăm hỏi của Ta đến Thích Ca Văn Ni: “Đức Phật giáo hóa có dễ dàng không? Đi lại có khỏe mạnh không? Chúng sanh ở đó có dễ độ không?”. Đến đó các ông phải giữ gìn, thâu nhiếp oai nghi. Chúng sanh cõi đó nhiều phiền não, đầy lòng kiêu mạn.
Khi đó, các Bồ tát cõi này cả mười bảy vạn vạn ức vị, mặc pháp phục đàng hoàng, lễ sát chân Phật rồi biến mất, đến cõi Ta-bà. Đức Thích Ca Văn Ni Phật lại dùng thần lực định tâm làm cho các Bồ tát này không thấy Thích Ca Văn Ni và che xung quanh bốn mặt của đạo tràng thuyết pháp. Các Bồ tát tìm kiếm Thích Ca Văn Ni từ cõi Diêm Phù Đề đến khắp ba ngàn đại thiên cõi nhưng không thấy. Các đại Bồ tát ấy nói với nhau rằng:
– Ở trên cõi thượng hư không của chúng ta cách đây rất xa, ánh sáng mà ta thấy vừa rồi chẳng lẽ do Thích Ca Văn Ni Phật nhập Niết-bàn nên phóng ánh sáng này? Chẳng lẽ chúng ta đã mất thiên nhãn thông rồi ư? Vì sao? – Vì đã đi tìm khắp các thế giới mười phương mà không biết Ngài ở đâu cả.
Các vị Bồ tát suy nghĩ: “Chúng ta đành phải trở về thôi”.
Nghĩ vậy xong, tất cả đều không thể nào đến cõi Phật của mình và rất lo sợ đến nỗi rợn tóc gáy. Vì cho rằng đã mất thần túc nên lòng chán nản, mệt mỏi, không thể tham cứu pháp môn tạng vô tận. Vì sao? – Vì đó đều là oai thần của đức Thích Ca Văn Ni khiến ra như vậy.
Biết rõ tâm của các Bồ tát ấy, đức Phật dùng thần túc tiếp các Bồ tát ở trong thai mẹ. Bấy giờ các Bồ tát cung kính làm lễ, thưa hết những lời dạy thăm hỏi của Phật mình và ngồi qua-’ một bên.
Khi ấy, đức Thích Ca Văn Ni hiệu Đát Tát A Kiệt lại dùng thần túc phóng ánh sáng lớn chiếu thế giới Diệm ở phương Đông. Nước ấy tên Kỳ Đặc, Phật hiệu Thâm Nghĩa Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn hiện đang nói pháp đầu giữa cuối đều thiện.
Thấy ánh sáng này, Phật ấy nói với các Bồ tát:
– Các công hãy chuẩn bị sửa soạn đến chỗ Thích Ca Văn Ni Phật ở cõi Ta-bà để nghe tạng pháp vô tận được nhiều lợi ích. Vì sao? – Vì Bồ tát cõi đó đều là Nhất sanh bổ xứ, chắc chắn có pháp kỳ diệu khó nghĩ bàn.
Các đại Bồ tát cung kính vâng lời Phật, lễ sát chân Phật rồi bỗng nhiên biến mất, đến chỗ Thích Ca Văn Ni Phật ở cõi Ta-bà, đầu mặt lạy sát chân Ngài rồi lui qua một bên. Phật dùng thần đức cho mời ma Ba-tuần, được cảm ứng nên khiến cho ma đến. Thế tôn biết chúng sanh tập hợp, chư thiên trỗi nhạc ca tụng vô lượng phước nghiệp của Như Lai, Phật dạy Văn Thù Sư Lợi:
– Hãy ngưng nhạc chư thiên lại. Ta sắp nói pháp đây.
Phật dạy chúng hội từ xa đến rằng:
– Khi Phật xuất hiện nơi đời ức vạn ngàn kiếp, khi ấy mới có hoa Ưu-đàm-bát. Đại Bồ tát nào lậu tận, có thần thông, biết pháp căn bản, trừ vọng tưởng, bỏ ý niệm, thì gọi là hữu tận. Không thấy lậu tận, không tưởng pháp thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát nghĩ:
Thân bị trói buộc, không đến bờ bên kia thì gọi là hữu tận; có thể bỏ tưởng về thân, không còn bỉ thử thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát đã cởi bỏ trói buộc, không trụ vào chơn tế thì gọi là hữu tận; không còn bị tưởng trói buộc, đạt được về tưởng là không – vô ngã thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát luôn luôn quán các thế giới rõ ràng không thật có thì gọi là hữu tận; phân biệt hư không không có thật, không thấy hữu độ vô độ, thế giới rất nhiều, thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát tu hành mười sáu pháp thù thắng, cứu độ a tăng kỳ chúng sanh thì gọi là hữu tận. Mười sáu pháp thù thắng tự tánh nó là không tịch, không thấy độ, không thấy không độ thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát tu hành khắp nơi, chịu khổ cho chúng sanh mà không lấy làm mệt khổ, đó gọi là hữu tận. Không thấy chúng sanh, quốc độ thanh tịnh, không một không hai, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát vâng giữ giới, tu pháp nhập ba môn giải thoát, đó gọi là hữu tận. Không thấy chúng sanh giới khuyết thiếu hay giới trọn vẹn, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát hiểu rõ, phân biệt nghĩa từng câu, nghĩa từng chữ, ứng phó không ngại, đó gọi là hữu tận. Không thấy nghĩa của câu, phân biệt nghĩa chữ, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát phân biệt cõi trời, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, ở trong đó Bồ tát cứu vớt hết thảy, khiến được giải thoát thì gọi là hữu tận. Mặc dù ở trong năm trược nhưng không nhiễm, không bị nhiễm cũng không chấp trước, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát bỏ tham, cống cao, không có tăng thượng mạn, cũng không tự ti, tu hành thanh tịnh thì gọi là hữu tận. Pháp tánh là không tịch, không có tâm tự đại, không thấy ngã mạn với pháp được mất, không thấy siêng năng thọ chứng đạo quả, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát trang nghiêm cây Phật, diễn xướng vô số âm thanh thanh tịnh vang khắp mười phương, phá hoại tham lam chấp trước để hành bố thí thì gọi là hữu tận. Không thấy thế giới thành bại, sanh diệt, có tham trước thì gọi là vô tận.
Đại Bồ tát dùng tâm Kim cang phá kiết ba cõi, từ sơ phát tâm cho đến ngôi Bất thối chuyển không thấy đoạn diệt làm chướng ngại chúng sanh, đó gọi là hữu tận. Sự chấp trước về ngã, không còn có ngã, không còn ngã sở. Thế nào là ngã? – Là tự ngã không thật có; ngã cũng không có ngã, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát diệt trừ tên họ, không chấp vào pháp thế tục, nói đó là ngã sở chẳng phải ngã sở, là cha, là mẹ, là anh, là em, dòng họ của ta rất tối thắng, dòng họ của người khác không bằng, ta là tộc tánh tử, còn kia chẳng phải là tộc tánh tử…, người chấp danh hiệu ấy gọi là hữu tận. Từ khi mới phát tâm cho đến lúc thành Phật không thấy có chứng thành, cũng không thấy Phật. Giả sử tên tự danh hiệu cũng đều là không tịch, không thấy có không tịch. Thế nào là không? Ai tạo ra không này? Không tự nó không có không, thì làm sao nói không? Đó gọi là vô tận.
Pháp đại Bồ tát nói từng chữ, nói từng câu, nói từng nghĩa, từ vô minh đến hành, cho đến sanh tử. Vô minh, ái, thủ là pháp làm nhơn duyên bất tận. Mê hoặc, điên đảo bị vô minh trói buộc, từ chỗ tối vào chỗ tối mà có thể cứu vớt ra được, đó gọi là hữu tận. Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh duyên Lão tử, ưu bi, khổ não. Sự trói buộc dính mắc đều diệt trừ.
Không bị dính mắc thì Vô minh diệt, Vô minh diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt, Thức diệt thì Danh sắc diệt, Danh sắc diệt thì Lục nhập diệt, Lục nhập diệt thì Xúc diệt, Xúc diệt thì Thọ diệt, Thọ diệt thì Ái diệt, Ái diệt thì Thủ diệt, Thủ diệt thì Hữu diệt, Hữu diệt thì Sanh diệt, Sanh diệt thì Lão tử, ưu bi, khổ não diệt.
Lão tử, ưu bi, khổ não duyên sanh, Sanh duyên Hữu, Hữu duyên Thủ, Thủ duyên Ái, Ái duyên Thọ, Thọ duyên Xúc, Xúc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Thức, Thức duyên Hành, Hành duyên Vô minh.
Lão tử, ưu bi, khổ não diệt thì Sanh diệt, Sanh diệt thì Hữu diệt, Hữu diệt thì Thủ diệt, Thủ diệt thì Ái diệt, Ái diệt thì thọ diệt, Thọ diệt thì Xúc diệt, Xúc diệt thì Lục nhập diệt, Lục nhập diệt thì Sanh sắc diệt, Danh sắc diệt thì Thức diệt, Thức diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Vô minh diệt. Hiểu rõ pháp tánh diệt hay không diệt, cũng không thấy diệt, cũng không thấy không diệt. Sao gọi là diệt diệt? – Không diệt, đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát phân biệt hiểu rõ về pháp khởi pháp tận; khởi không biết từ đâu đến, diệt không biết đi về đâu. Khởi cũng không khởi, tận cũng không tận, đó gọi là vô tận.
Hiểu rõ khởi – tận đều không có xứ sở, giống như hư không, không vướng mắc. Sao gọi là vô trước? – Vì không thấy vô trước, vô trước hoàn toàn không có, đây là vô trước. Đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát muốn đắc tổng trì tam muội, bốn huệ vô ngại, đêm ngày kinh hành, toàn thân nhẹ nặng, đầu tiên tập pháp quán cách mặt đất, ban đầu như quả A-ma-lặc, lần lần như quả Tỳ-hê-lặc, chuyển lần lên như quả Ha-lê-lặc, cách đất bằng bóng của ngón chân, từ từ cách đất bằng bóng của bảy người. Đây là thiền của thế tục mà kẻ phàm phu, tiên nhơn học. Đối với sự học ấy mà Bồ tát trụ thì gọi là hữu tận. Tâm thông suốt, không chướng ngại, không trụ vào năm thần thông, chẳng phải không trụ năm thần thông, hiểu rõ pháp tánh của các pháp là tự nhiên, vô minh và chơn tế đều tự nhiên cũng không tự nhiên.
Sao gọi là tự nhiên? – Là không thấy tự nhiên, không có tự nhiên. Đó gọi là vô tận.
Đại Bồ tát lấy không mà diệt tưởng, không thọ sắc, không bị mọi tầng lớp chúng sanh sai sử, ở nơi thanh vắng ngồi tư duy, không thấy tạo sắc, không thấy không tạo sắc, một lòng chỉ hướng đến cửa Niết-bàn, đó gọi là hữu tận.
Niệm thân là vô thường, nên bố thí, trì giới, định tâm, không lo sợ bị đọa lạc, chìm đắm trong sanh tử. Mặc dù ở trong sanh tử nhưng giống như chim bay trên hư không, không thấy dấu vết, biết tất cả là vô sở hữu, đó gọi là lửa tắt, chỉ còn đống tro, không còn hơi nóng. Tìm người chủ và chất liệu của lửa không phải người, không phải ta, không phải thọ, không phải mạng. Quán sát phân biệt ai đã tạo tác. Thức cũng không phải thức, tìm nơi mười tám giới, nhập cũng không có nguồn gốc. Một trăm lẻ tám phiền não đều vô sở hữu, qua lại đều thông suốt, không thấy, không thể thấy, không nắm giữ, không thấy có người nắm giữ. Thế nào là nắm giữ? – Là nắm giữ mà không có gì để nắm giữ. Đó gọi là vô tận.
Bấy giờ, trong đại chúng có Bồ tát tên Kim Sắc, đắc lục thông, thấu triệt, thâm hiểu Phật huệ, công đức vô lượng, quyền biến muôn hình vạn trạng, muốn hỏi Như Lai về nghĩa vô tận nên liền đứng dậy trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Bạch Thế tôn! Sao gọi là vô tận?
Phật dạy Kim Sắc:
– Pháp vô tận của đại Bồ tát không nói, không lời thì làm sao thấy, nghe, nói về pháp vô tận?
Bấy giờ, Thế tôn dùng kệ nói với Bồ tát Kim Sắc:
– Hư không không hình tướng
Tìm sanh không nguồn gốc
Thai phần không thể lường
Như sông chảy vào biển
Bảo tàng pháp vô tận
Cha mẹ Phật ba đời
Muốn tìm tận nguồn gốc
Chính là tâm mê hoặc
Hiểu rõ pháp tướng không
Dứt sạch hết bụi trần
Thành Phật thân Kim cang
Đầy đủ tướng trang nghiêm
Phân biệt thân Phật không
Không chấp trước trong ngoài
Dầu giảng vô tận báu
Ức vạn không nói một.
Khi Như Lai nói vô tận bảo, các Bồ tát bậc học và vô học ngay nơi chỗ ngồi phát tâm hướng đến tạng pháp vô tận. Chư thiên, rồng, nhơn và phi nhơn đều phát tâm Vô thượng, lập bất thối chuyển.
***

PHẨM THỨ 17: NĂM THẦN THÔNG

Bấy giờ trong đại hội có Bồ tát tên Diệu Thắng, có đầy đủ sáu độ, đầy đủ phương tiện thiện xảo, giáo hóa chỗ nào cũng đều hoàn tất, vào nơi đâu ai nấy cũng vui vẻ, chánh quán định tâm làm ruộng phước cho thế gian. Nếu thiện nam thiện nữ nào gặp đại Bồ tát này thì các ác đều được tiêu trừ sạch mà còn có lòng vui thích.
Vị ấy tư duy về pháp môn bình đẳng bất nhị, luôn luôn coi pháp như huyễn, như hóa, như mộng, cứu độ quần sanh tu hành đạo Phật, không thấy có người và ta.
Khi ấy, Bồ tát Diệu Thắng đứng dậy chấp tay thưa trước Phật:
– Lành thay! Bạch Thế tôn! Bồ tát có năm thần thông làm sao biết được để phân biệt hành động ấy? Tu tập pháp gì để đắc đạo thần thông?
Phật dạy Diệu Thắng:
– Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ, Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông về trí huệ thần thông.
Bồ tát Diệu Thắng thưa:
– Cúi xin đức Thế tôn chỉ dạy, con rất muốn nghe.
Phật dạy Diệu Thắng:
– Trong cõi Dục này, thiện nam thiện nữ không cần có nhãn thông mà vẫn có thể thấy thấu triệt các chúng sanh trong một Diêm Phù Đề, đến cả thô tế, đẹp xấu, màu xanh, vàng, đỏ, trắng, thành quách, nhà cửa, núi cao, cây cối. Hoặc có người nam người nữ với con mắt có thể thấy hai thiên hạ, ba thiên hạ, bốn thiên hạ, không cần có nhãn thông cũng thấy.
Hoặc có người nam người nữ không cần có nhĩ thông mà tai thông suốt, nghe tiếng nam tiếng nữ, tiếng ngựa, tiếng xe trong thiên hạ, nghe âm thanh vọng lại đều có thể phân biệt biết được. Không cần nhĩ thông mà hiểu rõ một cách rõ ràng.
Hoặc có người nam người nữ không tập không học mà tự mình biết được kiếp trước: “Ta từ chỗ đó đến sanh nơi thế gian này, cha ta họ đó, mẹ ta họ đó”. Anh chị em, dòng họ, chủng tộc nào cũng đều biết rõ.
Hoặc có người nam người nữ không tu tập thần thông mà biết tâm người làm thiện hay hành ác: người này đi đến đường ác, người kia đi đến đường thiện; người này sanh cõi trời, người kia sanh vào cõi người; người này sanh vào ngạ quỷ, người kia sanh vào súc sanh; đây là chúng sanh hữu duyên, kia là chúng sanh vô duyên.
Hoặc có người nam người nữ thân có thể bay được, vòng quanh qua lại. Không tu thân thần thông mà có thể bay không bị chướng ngại; đi trên hư không như đi trên đất, đi trên đất như đi trên hư không.
Phật dạy Diệu Thắng:
– Năm loại người này chẳng phải thần thông chân thật, là chúng sanh đã thối lui pháp.
Hoặc có người nam người nữ tu Nhãn thánh thông, trừ sắc đoạn cấu, niệm bất động rốt ráo về đạo môn. Đạo môn là gì? – Là tam không định, có thể thấy được một thiên hạ, hai thiên hạ, ba thiên hạ, bốn thiên hạ.
Hoặc có người nam người nữ tu Nhĩ thánh thông tịch nhiên nhập định, nghe một thiên hạ, hai thiên hạ, ba thiên hạ, bốn thiên hạ, tiếng nam tiếng nữ, tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng chuông, tiếng trống, phân biệt rõ ràng, biết tiếng hay tiếng dở, biết tiếng sanh lên cõi trời, biết tiếng sanh làm người, biết tiếng sanh vào ngạ quỷ, biết tiếng sanh loài súc sanh, biết tiếng sanh vào địa ngục, biết tiếng chúng sanh có duyên, biết tiếng chúng sanh không có duyên… Tất cả các thứ tiếng đều phân biệt, hiểu rõ một cách tường tận.
Hoặc có người nam người nữ tu đạo thanh tịnh, trừ khử nhơ nhớp của thức, trong ngoài không tỳ vết, đắc ý thánh thông, tự biết được đời trước một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, cho đến vô số a tăng kỳ kiếp từ đâu đến. Cha mẹ, anh em, quốc độ thanh tịnh đều nhận biết rõ ràng
Hoặc có người nam người nữ tu sáu thần thông, biết rõ về pháp tánh, nhớ mãi không quên, ý định giác ngộ đạo, phân biệt tam minh, tâm định không tán loạn, liền có thể biết được tâm niệm người khác một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, cho đến vô số a tăng kỳ kiếp đã từ đâu đến. Tất cả mọi sự đều biết rõ. Biết rõ cha mẹ, anh em, quốc độ thanh tịnh, tên họ, chủng tộc.
Hoặc có người nam người nữ tư duy quán pháp, lấy tâm giữ thân, lấy thân giữ tâm, ăn biết vừa đủ, ngủ nghỉ tỉnh thức, ý tưởng như hư không, không để ý đến dâm – nộ – si, cho thân này là vô ngã, tâm và pháp thanh tịnh. Ý thức theo định rồi mới có thể động thân tâm, tập định dần dần với một tiếng trống, hai tiếng trống, cho đến bảy tiếng trống; dạo đi nột thiên hạ, hai thiên hạ, cho đến ba ngàn đại thiên thế giới; vào đất như đi trên không, không bị chướng ngại bởi núi, sông, tường đá.
Hoặc có người nam người nữ sắp thành Phật thì dùng sức trí huệ để trừ bỏ dơ cấu của chúng sanh, ngồi thẳng tư duy dưới gốc thọ vương, tự phát thệ nguyện: “Nếu ta không thành Phật thì không đứng dậy”, như xưa kia Ta ngồi dưới cây Diêm phù, ba mươi tám ngày ngồi quán cây tư duy. Khi phát lời thệ này làm cảm động cả trời đất, khiến chấn động sáu cách, ác ma Ba-tuần đem binh chúng đến mưa cát đá, sấm sét gầm thét… nhưng không thể nào làm lay động một sợi lông của Ta. Vì sao? – Vì lòng từ bi thấm nhuần thương xót khắp chúng sanh cho nên được thành Phật với sáu thần thông siêu việt.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Thần thông phàm phu đắc
Giống như loài chim bay
Có lúc gần lúc xa
Nhưng không lìa sanh tử
Thần thông Phật vô ngại
Chân thật không cấu bẩn
Niệm liền đến mười phương
Qua lại không mệt mỏi
Vì thương xót chúng sanh
Đắc thần thông không ngại
Năm thông của tiên nhơn
Thối chuyển không thành tựu
Thần thông Ta kiên cố
Quyết vào cửa Niết-bàn.
Khi đức Thế tôn nói pháp này cho Bồ tát Diệu Thắng có bảy mươi ức chúng sanh xả bỏ năm thần thông của thế tục mà đạt được sáu thông huệ.
***

PHẨM THỨ 18: THỨC TRỤ XỨ (CHỖ THỨC TRỤ)

Bấy giờ trong đại chúng có Bồ tát tên Phổ Quang – đầy lòng đại từ đại bi, có thần túc tự tại, ưa thích công đức sâu mầu, đã thành tựu từ vô số a tăng kỳ kiếp, cứu vớt chúng sanh, nhổ dứt nguồn gốc khổ, đắc sáu thần thông, ở chỗ nào làm Phật sự đều không bị gián đoạn – liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Bạch Thế tôn! Con đã nghe Như Lai phân biệt về sáu thần thông không chướng ngại, biến khắp cả mười phương thế giới chư Phật, làm cho chánh pháp của chư Phật bình đẳng không có sai biệt. Pháp thức này trụ hay không chỗ trụ? Thức của sáu thần thông, thức của pháp là một pháp hay nhiều pháp? Nếu thức là một pháp thì thân sắc Như Lai với thần túc đạo tràng được dạo qua các cõi Phật. Thức đưa đến thân hay thân đưa đến thức? Nếu thân đưa đến thức thì không có sáu thần thông. Nếu thức đưa đến thân thì đây gọi là một pháp, không thân không thức. Cúi xin đức Thế tôn nói cho con về nghĩa này.
Phật dạy Bồ tát Phổ Quang:
– Theo nghĩa của ông hỏi là hỏi theo đệ nhất nghĩa hay hỏi theo thế tục nghĩa? Nếu hỏi theo nghĩa thế tục thì thức pháp rất nhiều, không có tướng nhất định. Còn như hỏi về đệ nhất nghĩa thì không thân không thức. Vì sao? – Vì nếu phân biệt về pháp thức thì tự tánh nó không tịch, không đến không đi, cũng không nhiễm trước. Ông hỏi về thân sắc vàng thì đây là pháp hữu vi do năm ấm thành tựu, chẳng phải pháp tự nhiên, chẳng phải đệ nhất nghĩa. Pháp sắc thân Phật đối với đệ nhất nghĩa thì không có mất. Nay Ta sẽ nói cho ông về pháp tướng của thức:
Bồ tát hành sáu thần thông, thân thức đều có một lượt, chẳng phải thức có trước, thân có sau, chẳng phải thân có trước thức có sau. Vì sao? – Vì pháp tướng tự nhiên, thức không lìa thân mà thân cũng không lìa thức.
Giống như hai con trâu cùng chung một cái ách: Nếu con bò đen ở trước, con bò trắng ở sau thì cày trồng trọt không thành. Nếu như con bò trắng đi trước, con bò đen đi sau thì cày trồng trọt cũng không thành. Chẳng phải bò đen đi trước, bò trắng đi sau; chẳng phải bò trắng đi trước, bò đen đi sau thì cày trồng trọt mới thành.
Thần túc đạo quả cũng như vậy, thân và thức cùng sanh một lượt, không có trước sau hay chặng giữa. Sắc thân của Như Lai có trước có sau có chặng giữa. Đây là pháp thế tục chứ chẳng phải là đệ nhất nghĩa. Đối với pháp không tịch thì không có nhiều.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Thể thân sắc Như Lai
Được cung kính ba đời
Làm trọng trách cho người
Đấng tôn quý vô thượng
Các chúng trời Đao Lợi
Đêm ngày rải hoa hương
Phạm thiên và quyến thuộc
Trổi nhạc để làm vui
Ở trong trăm do-tuần
Khắp cả cõi hư không
Lớn tiếng khen: Lành thay!
Thức Phật không thể thấy
Không có trong, ngoài, giữa
Vì kẻ ngu thế gian
Mà hiện pháp lục thông
Vô số Phật quá khứ
Tướng ánh sáng giống đây
Muốn cầu gốc thức pháp
Tịch diệt không thể thấy
Đạo lục thông Bồ tát
Hiện tận không có tận
Niệm trong hơi thở ra
Không chấp hữu ba cõi
Quán trong ngoài thân tịnh
Kim sắc: không, không chấp
Thức pháp cũng như vậy
Không khứ, lai, hiện tại
Tánh năm ấm thanh tịnh
Không thân này, thân sau
Phân biệt tướng rõ ràng
Được đến nơi an ổn
Tướng thức có sáu điều
Cũng gọi là lục chứng
Sáu thức không chỗ trụ
Sanh diệt không cùng tận
Giống như bọt trên nước
Vừa diệt lại sanh ngay
Thức pháp tự nhiên không
Theo dòng nước muôn nơi
Những gì xưa Ta tạo
Thân thức đủ hai điều
Đi một mình không bạn
Nói pháp vô thượng đạo
Các pháp, thức là gốc
Luôn luôn đi theo thân
Tuy trụ mà không trụ
Giáo hóa người khổ não
Mắt thấy sắc hiện tại
Thức chướng ngại ở giữa
Chẳng phải sắc nhập nhãn
Không phải nhãn nhập sắc
Phân biệt pháp đây – kia
Nhờ thức biết thiện ác
Tự thức không biết pháp
Nhĩ – thanh, tỷ – hương riêng
Sáu nghiệp duyên sanh riêng
Nên tạo thành thiện ác
Thanh không đến với nhĩ
Tỷ, khẩu, ý cũng vậy
Nhơn duyên tướng mỗi pháp
Vô trước, không, vô pháp
Tám phẩm đạo Hiền thánh
Ba mươi bảy hành quán
Cõi hư không tịch nhiên
Không tướng, không có nguyện
Nghiệp có quả trắng đen
Quả báo biết rõ ràng
Muốn cầu thật tướng thức
Không thấy có chỗ trụ
Trang nghiêm quốc độ Phật
Tứ đẳng, vô sở úy
Hiểu rõ các pháp: không
Thức diệt, hành cũng diệt
Bồ tát thành đạo quả
Pháp không, nay ba đời
Thức như đạo huyễn hóa
Không trụ bên đây – kia
Thức diệt về hư không
Giả gọi không chân thật
Sơ nhập Tứ không định
Trừ tưởng không ràng buộc
Dựng cao ngọn cờ pháp
Xiển dương pháp tướng thức
Thức trước khác thức sau
Cũng không xa lìa thức
Đấng đệ nhất ba cõi
Mới hiểu rõ tánh thức
Như người trên đỉnh núi
Thấy thông suốt bốn phía
Phân biệt hạnh ác thiện
Thiên nhãn thông đệ nhất
Thấy xa mười phương cõi
Người có mắt trí tuệ
Như xem ngọc trên tay.
Khi đức Thế tôn nói kệ này, có tám mươi bốn ức chúng sanh muốn được xả ly tướng sáu thức pháp, không muốn sanh tử luân hồi trong năm đường, phát tâm thệ, phát tâm thệ nguyện lớn, trụ vào Vô thức địa.
***

PHẨM THỨ 19: THIỆN QUYỀN

Bấy giờ trong đại chúng có Bồ tát tên Cử Thủ, bạch trước Thế tôn:
– Bạch Thế tôn! Con muốn nghe vô số sự quyền biến hóa không thể tính kể của đại Bồ tát.
Phật dạy:
– Đại Bồ tát thường thực hành thiện quyền, chẳng phải bên này, chẳng phải bên kia, chẳng phải hai bên, chẳng phải chặng giữa. Tùy theo sự giáo hóa thích hợp mà nói nghĩa, nói câu, tư duy nghĩa lý, trang nghiêm cõi Phật, lục độ vô cực cho đến tưởng tri diệt, dùng phương tiện hướng dẫn không bị chướng ngại, không tự cống cao ngã mạn, dung mạo đoan chánh, đẹp đẽ, pháp phục tề chỉnh đàng hoàng, thọ nhận của tín thí biết vừa đủ, quang tướng trang nghiêm, nói năng thanh tịnh, làm cho một chúng sanh trụ được ức kiếp. Tất cả những gì để lại phía sau đến phương khác giáo hóa. Phân thân như vậy khó có thể nào lường được. Giáo hóa cho người không hiểu biết, hiện đại thông ở cảnh giới của quỷ thần và sai quỷ thần ấy hóa độ chúng sanh, truyền trao dạy lẫn nhau không làm mất đạo giáo.
Lại nữa, thiện quyền làm hình tượng Phật có tướng ánh sáng rực rỡ, được thấy và nghe thuyết pháp lời nói đầu giữa cuối đều làm an ổn khoái lạc, thiền định giác đạo, trí huệ sáng suốt, giải thoát. Khế kinh, Kệ kinh, Ký kinh, Thọ quyết kinh, Xử kinh, Xuất yếu kinh, Quảng trường kinh, Tụ kinh, Sanh kinh, Quảng phổ kinh, Vị tằng hữu, Hiện kinh, Chuyển kinh, Thí dụ kinh, Nhơn duyên kinh, tùy theo chân lý của người nghe mà nói pháp thâm sâu để họ hiểu về không và vô ngã. Tâm niệm của chúng sanh không giống nhau thì có thể làm cho tất cả nhập vào giải thoát môn.
Ví như suối nguồn, đê, ao, năm sông đều có mỗi tên nhưng tất cả đều chảy về biển cả, không còn cái tên xưa nữa. Cũng như núi Tu Di đứng sừng sững khó bị lay động, chim muông đủ màu sắc đến đó nương ở nghỉ ngơi thì đều hòa một màu, không còn màu sắc cũ nữa.
Đại Bồ tát giáo hóa chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật cũng như vậy. Tâm thức của chúng sanh suy niệm không giống nhau, có rất nhiều tư tưởng nhưng đều có thể làm cho tất cả đạt đến giải thoát môn, tưởng định ý diệt. Lúc đó không còn niệm riêng mà là đồng một giải thoát như nhau. Đó gọi là đại Bồ tát quyền biến giáo hóa thích hợp không thể nghĩ lường.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Như nông phu làm ruộng
Chọn lựa đất màu mỡ
Gieo trồng đúng thời vụ
Tháo nước theo thời tiết
Chăm bón mạ thành tựu
Không bị nạn sương, sâu
Cuối cùng thu hoạch quả
Cất chứa không lo sợ
Pháp chơn thật Bồ tát
Ruộng lục độ vô cực
Tiêu trừ tâm xan tham
Tưới bằng nước cam lồ
Thiện quyền đạo phương tiện
Hiểu rõ pháp đến đi
Hướng dẫn loài chúng sanh
Được đến nơi bất diệt
Sanh tử bệnh phiền não
Thiêu đốt căn thiện tâm
Thiện quyền phương tiện cứu
Hiểu rõ pháp đến đi
Nếu người muốn xuất gia
Lấy cấm giới làm đầu
Không chấp pháp tốt đẹp
Hành quyền đạo Bồ tát
Mất mạng không tiếc thân
Không phạm, dù mảy lông
Thân như đống cỏ đất
Bị người ta vứt bỏ
Nhẫn như núi An minh
Kiên cố không chướng ngại
Hộ giới phương tiện đạo
Chê khen không tăng giảm
Ra tối, ở chỗ sáng
Đạo thiện quyền Bồ tát
Hiện thân ở nhân gian
Vì thương xót tất cả
Mà hiện thân rất nhỏ
Ra vào không trở ngại
Chư Phật ngòi đạo tràng
Diệt kiết sử không sanh
Thì được đến đạo tràng
Trừ sạch các kiết sử
Cũng như đại đạo sư
Dẫn các người đi buôn
Vào biển lấy chân châu
San hô, châu pha lê
Minh nguyệt bảo tùy ý
Được an ổn về nước
Cha mẹ và anh em
Quyến thuộc, bọn tôi tớ
Vui vẻ và sung sướng
Như định trừ bỏ tưởng
Những Bồ tát hành quyền
Tìm cầu tạng Vô tận
Biết rõ chân châu đẹp
Làm anh lạc đeo thân
Thiện quyền: đạo sư trưởng
Lục độ là vợ con
Tâm tứ đẳng che đậy
Bụi trần không vướng lòng
Đời rất nhiều kẻ ngu
Keo kiệt không bố thí
Chứa của ngàn vạn ức
Nói đó là của ta
Đến khi sắp qua đời
Mắt thấy quỷ thần ác
Gió đao xẻ thân hình
Không còn thở ra vào
Thức tham theo các ác
Thọ báo rất đau khổ
Dẫn đến chỗ nhận tội
Hối hận không kịp nữa
Phật dùng quyền trí độ
Nói pháp cho người kia
Lợi căn tự xét tội
Tâm hối, không che dấu
Nghe pháp được độ thoát
Đạo thiện quyền Bồ tát
Như người mù bẩm sanh
Không biết màu đỏ vàng
Gặp bậc thầy Thánh giỏi
Điều trị bằng thuốc pháp
Xưa nghe có năm màu
Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen
Đã được biết mắt sáng
Không biết xanh, vàng, đỏ
Đạo thiện quyền Bồ tát
Phân biệt đến cùng tột
Dẹp sạch bát nạn pháp
Bất sanh cũng bất diệt.
Khi Thế tôn nói kệ này xong, có trăm ức cư sĩ hành đạo Thiện quyền hoàn toàn đạt đến vô vi, trụ vào Vô trụ địa.
***

QUYỂN 6

PHẨM THỨ 20: VÔ MINH

Bấy giờ, trong đại hội có Bồ tát tên Trí Thanh Tịnh, phân biệt rõ về không, không sanh già bệnh chết, người dâm nộ si nhiều, người dâm nộ si ít; phân biệt rõ ràng chúng sanh có ba bậc khác nhau, trong hạng người đó có những bệnh nặng gì, bị bệnh nặng đó là tà kiến.
Bồ tát Trí Thanh Tịnh đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Như Lai Vô sở trước Đẳng chánh giác không việc gì không biết, không điều gì không thấy, quá khứ đương lai hiện tại, từ loài người đến côn trùng, tâm nghĩ pháp gì, miệng nói lời gì, thân làm thiện ác, giới cấm sâu xa, oai nghi giới luật, biết nhiều biết ít, biết nặng biết nhẹ… Những gì con hỏi chẳng phải không, chẳng phải bất không; chẳng phải hữu, chẳng phải bất hữu; chẳng phải hữu không, chẳng phải hữu hữu. Chúng sanh thuộc ba tụ, ai là nhẹ, ai là nặng, ai là hiện báo, ai là sanh báo, ai là hậu báo. Thế nào là tưởng tri diệt, thế nào là Niết-bàn, thế nào là Vô dư?
Phật dạy Bồ tát Trí Thanh Tịnh:
– Lành thay! Lành thay! Ta rất vui khi ông hỏi nghĩa này. Vì thương xót tất cả, được nhiều lợi ích mới ở trước Phật hỏi pháp bình đẳng. Ông hãy về lại chỗ ngồi, Ta sẽ giải nói cho ông về cú nghĩa loại đầu, giữa, cuối. Nếu nghiệp đen thì thọ quả báo đen, nghiệp trắng, nghiệp trắng thọ quả báo trắng. Ta sẽ phân biệt rõ ràng để ông biết.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Như người trồng cây trái
Hạt đắng, quả cũng đắng
Bị tội mắc báo đen
Chịu khổ vô số kiếp
Giống ngọt, được quả ngọt
Trở lại thọ báo ngọt
Hương thơm rất ngon ngọt
Được hưởng báo thanh bạch
Như người ở ao nước
Trong ngoài đều thanh tịnh
Không gió, không bụi dơ
Thơm đẹp được mát mẻ
Có chúng sanh nào thấy
Ưa thích không thể xa
Phật đạo hạnh thanh tịnh
Giống như cỏ khác đậu
Những chúng sanh báo đen
Đọa ba đường ác nạn
Theo dòng nước lên xuống
Nổi trôi chỗ ách nạn
Khi ấy phiền não khổ
Tự chịu không ai thay
Chẻ xương thấu tủy não
Thiêu đốt không thể lường
Đã đến ngục Vô cứu
Ý ngộ cầu giải thoát
Bị vô minh che lấp
Không thấy ánh sáng huệ
Như người đi lạc đường
Về Nam cho là Bắc
Suốt ngày tâm không ngộ
Tuy nghe cũng không tin
Chịu tội khổ não nặng
Đau đớn càng tăng thêm
Lâu sau tội tuy hết
Bị người đời khinh ghét
Thân thể hôi, xấu xí
Như heo nằm vũng phân
Lần lượt vào vạc sôi
Chết rồi sống trở lại
Vốn do ngu si tạo
Thọ báo như bóng hình
Thiện ác đều tương ứng
Phân loại theo chúng sanh
Vô đạo, không bè đảng
Hành cũng có cao thấp
Giữ giới sanh lên trời
Không thí, phước rất ít
Ăn cơm sợ người thấy
Xấu hổ không lộ diện
Tuy có chúng thiên nữ
Âm nhạc không hòa nhã
Luôn luôn đi dạo chơi
Sợ gặp thiên thần đẹp
Nếu giới, thí đầy đủ
Cam lồ, y, thực đến
Kỹ nhạc vây xung quanh
Như trăng sáng trong sao
Luôn luôn đi dạo chơi
Tùy tùng tự trang nghiêm
Nhạc trời tự nhiên trỗi
Đây do ở nhơn gian
Đủ trì giới, bố thí
Phước báo như hình bóng
Chư thiên tuy hưởng phước
Cũng có kiếp số nạn
Khi gần sắp qua đời
Mới biết pháp suy tàn
Niệm thiện chuyển rất ít
Còn phải chịu làm thân
Luân hồi trong năm đường
Trải qua vô số kiếp
Thiện ác chịu quả báo
Không riêng giàu hay hèn
Trong ấy bậc vượt lên
Như Ta, Thích Ca Văn.
Khi Phật nói kệ này rồi, trong đại chúng có chư thiên và người gồm bảy vạn bảy ngàn ức na-do-tha đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn.
Bấy giờ, Thế tôn dạy Bồ tát Trí Thanh Tịnh:
– Đại Bồ tát Nhất sanh bổ xứ dùng quyền phương tiện sanh trong nhà bần tiện, muốn được thị hiện trừ kiết sử vô minh, ở trong thai mười tháng, khi mới sanh hiện không có tay chân, cha mẹ thấy vậy cho là quỷ nên đem quăng nơi đồng hoang, không muốn cho ai thấy. Vì sao? – Vì Bồ tát quyền hóa muốn cho cha mẹ cùng quyến thuộc ngu si thấy được ánh sáng của đạo. Sau đó vài tháng, người mẹ lại mang thai, đủ mười tháng sanh một cậu bé đoan nghiêm tuấn tú, hiếm có trên đời, nhưng vừa mới sanh ban ngày thì tối chết. Cha mẹ kêu khóc đấm ngực, ngước lên trời kêu:
“Thần núi, thần cây sao không thương tôi? Trước đây sanh một đứa con nhưng không có tay chân, đành phải quăng vào đồng hoang. Nay sanh một đứa con đẹp đẽ, tướng mạo không ai bằng, giống như thiên thần, nhưng lại sanh ban ngày thì tối chết. Ruột gan tôi đứt đoạn, phải làm sao bây giờ?! ”.
Qua vài tháng, người mẹ lại mang thai, đủ mười tháng sanh một bé trai nhưng ba đầu tám chân, bốn mắt, tám tay, ai thấy cũng rợn tóc gáy. Cha mẹ quyến thuộc muốn bỏ mà đi, Bồ tát quyền hiện cho họ không đi được. Cha mẹ hỏi:
“Con là trời, là rồng, quỷ thần, A tu la, Càn thác bà, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người hay là phi nhơn?”
Bấy giờ, cậu bé nói với cha mẹ bằng kệ:
– Chẳng trời, quỷ, Dạ xoa
Tu luân, Ca lầu la
Vì trừ ngu cha mẹ
Quyền sanh nhà mẹ cha
Con trước không tay chân
Cũng chính là thân con
Sáng sanh, chiều lại chết
Bậc bát trụ vô thượng
Nay con thọ thân hình
Ba đầu, tám tay chân
Sao lại bỏ con đi?
Đi đến cửa địa ngục
Khổ địa ngục đầy đủ
Mười tám vạc dầu sôi
Mỗi vạc dầu sôi ấy
Có mười sáu vạc nhỏ
Chịu khổ vô lượng kiếp
Muốn ra khỏi rất khó
Cha mẹ người ngu si
Không biết pháp chơn tánh
Tà kiến thờ cúng thần
Cho là thoát khổ nạn
Như ngọn lửa hừng hực
Lại thêm củi, cỏ khô
Thiêu đốt gốc căn lành
Muốn diệt cũng chưa khó
Nay con làm thân lại
Hiện thân đẹp đẽ xưa
Đạo vững tâm kiên cố
Tu tập ba thông huệ
Từ a tăng kỳ kiếp
Thề độ người chưa độ
Giữ giới, nguyện không quên
Thác sanh nhà cha mẹ
Trước sau bỏ thân mạng
Số ấy như vi trần
Trải qua bao nhiêu chỗ
Đều nhờ phước giúp đỡ
Bao nhiêu loài quần sanh
Dấu chân đi khác nhau
Sẽ hoan hỷ độ họ
Cũng độ bằng khủng bố
Tùy theo niệm chúng sanh
Để họ được toại nguyện
Bệnh chúng sanh chẳng một
Cho uống thuốc cam lồ
Cho đi vào đường chánh
Không để vào đường tà
Chư thiên hưởng phước lạc
Cam lồ trừ bệnh: vui
Không trái Thánh giáo: vui
Giải thoát Niết-bàn: vui
Khi Bồ tát nói kệ này, cha mẹ dòng họ và những người trong hội đều phát tâm Vô thượng bình đẳng.
***

PHẨM THỨ 21: KHỔ HẠNH

Bấy giờ, các chúng hội Bồ tát, trời, rồng, quỷ thần, A tu la, Càn thát bà, Ca lầu la, Ma hầu la già, Khẩn na la, nhơn, phi nhơn, bậc học vô học và bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Như Lai quán sát biết tâm niệm của các chúng sanh là muốn thưa thỉnh Như Lai nói sự thành tựu rốt ráo về vô lượng khổ hạnh, làm thế nào để phát tâm được thành Phật đạo. Biết tâm niệm của họ, Phật liền nói cho họ về hạnh khổ cực xưa kia.
Phật dạy các Bồ tát:
– Hãy lắng nghe pháp tướng chân thật của Ta nói, không phải do thế tục mà đắc đạo, cũng không lìa thế tục mà đắc đạo; không theo chơn đạo, cũng không lìa chơn đạo. Vì sao? – Vì trong cái đen có cái đẹp của trắng, vì trong tục có cái đẹp của đạo. Khổ vui cùng có. Vì sao? – Vì xưa kia Ta học đạo rất trực tín, không nghi ngờ, được làm vua mặt trời, mặt trăng. Cung điện mặt trời ngang dọc năm mươi mốt do-tuần. Cung điện mặt trăng ngang dọc bốn mươi chín do-tuần. Mặt trời phóng ánh sáng một ức một ngàn ánh sáng. Mặt trăng tỏa một ức ánh sáng. Ta là thiên tử của mặt trời, mặt trăng nên cho rằng thường trụ, không hư, không hoại, từng đi qua hằng hà sa ức vạn cõi, làm thiên tử mặt trời, làm thiên tử mặt trăng, đến khi mạng hết mới biết chẳng phải thật, chẳng phải chân.
Sau đó thọ mạng giảm dần, làm đại thần mặt trời mặt trăng tên là Hà Già La, cung điện ngang dọc hai mươi lăm do-tuần, kế làm Tỳ Lê Ha Ba Đề (loài rồng), cung điện ngang dọc hai mươi do-tuần.
Lại làm Ương Già La, cung điện ngang dọc mười chín do tuần.
Lại làm Hê Mỗ, cung điện mười chín do tuần.
Lại làm Hàm Mi, cung điện mười lăm do tuần.
Năm đại thần này đứng hai bên mặt trời mặt trăng. Qua vô số trăm ngàn kiếp làm năm vì sao này đoạn tận rồi bị đọa lạc, cũng không chân thật, rồi thọ mạng của họ giảm dần.
Ta từng làm sao Mão cùng với bạn sáu người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Tất với bằng đảng năm người, độ bốn mươi lăm.
Ta từng làm sao Tuy, bè đảng ba mươi người, độ ba mươi.
Ta từng làm sao Sâm, đơn độc một mình độ mười lăm.
Ta từng làm sao Tỉnh, bè đảng hai mươi người, độ bốn mươi lăm.
Ta từng làm sao Quỷ, bè đảng ba mươi người độ bốn mươi.
Ta từng làm sao Liễu, bè đảng bốn mươi người, độ mười lăm.
Bồ tát nên biết, bảy vì sao này đứng ở phía Đông.
Ta từng làm sao Tinh, bè đảng năm người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Trương, bạn bè hai mươi người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Dực, bạn bè hai mươi người độ ba mươi lăm.
Ta từng làm sao Chẩn, bạn bè năm người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Giác, đơn độc một mình độ ba mươi.
Ta từng làm sao Cang, cũng đơn độc một mình độ mười lăm.
Ta từng làm sao Để, bạn bè hai mươi người độ ba mươi lăm.
Bồ tát nên biết, bảy sao này đứng ở phương Nam.
Ta từng làm sao Không, bạn bè bốn người độ ba mươi lăm.
Ta từng làm sao Tâm, bạn bè ba người độ mười lăm.
Ta từng làm sao Vĩ, bạn bè ba người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Ky, bạn bè bốn người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Đấu, bạn bè bốn người độ ba mươi lăm.
Ta từng làm sao Ngưu, bạn bè ba người độ mười sáu.
Ta từng làm sao Nữ, bạn bè ba người độ ba mươi.
Bồ tát nên biết, bảy vì sao này đứng ở phương Tây.
Ta từng làm sao Hư, bạn bè bốn người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Ách, đơn độc một mình độ mười lăm.
Ta từng làm sao Thất, bè đảng hai người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Bích, bạn bè hai người độ ba mươi lăm.
Ta từng làm sao Khuê, bạn bè hai người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Lâu, bạn bè hai người độ ba mươi.
Ta từng làm sao Vị, bạn bè ba người độ ba mươi.
Bồ tát nên biết, bảy vì sao này đứng ở phương Bắc.
Từ vô số kiếp Ta làm vua mặt trời mặt trăng, hoặc làm quan thần qua lại xoay tròn, hình hài khô bại, không phải đạo chân thật. Sau đó đến nhân gian làm vua Chuyển luân Thánh vương, vua nhỏ đủ miền, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ cầu đạo thanh tịnh cho là chân thật. Nhưng tất cả đều là việc làm trống không, không hợp với đạo chân thật.
Xưa kia có một thời Ta vào núi cầu đạo, thấy các tiên học gồm năm người đều nhóm họp ở một chỗ:
Có người co một chân, chấp tay đứng, chuyển thân nhìn theo mặt trời.
Hoặc có người thờ mặt trăng, chấp tay đứng, chuyển thân nhìn theo mặt trăng.
Có người nằm trên gai góc, hoặc nằm trên cát đá.
Có người giữ giới học theo gà, bò, ngựa, nai.
Có người từ trên đỉnh núi gieo mình xuống vực sâu.
Có người ôm đá, tự trầm mình xuống sông sâu.
Có người dùng năm thứ lửa tự đốt thân để cầu được sanh lên trời.
Có người xẻ từng bộ phận của thân để tìm chỗ ở của thần.
Có người mổ đỉnh đầu để lấy tủy não đốt đem cúng dường chư thiên.
Có người quăng mình vào dầu sôi nước nóng.
Có người ở bên phải của dòng sông giết vô lượng chúng sanh.
Có người ở bên trái dòng sông đốt hương để cho những chúng sanh qua đời đó được sanh lên cõi trời.
Có người tự suy nghĩ: “Nay ta độ cha mẹ trước”, nên đem cha mẹ quăng trong lửa, rồi xướng lên: sẽ sanh lên cõi Phạm.
Có người ăn phân bò, có người ăn hạt cỏ.
Có người bảy ngày ăn một lần, hoặc có khi không ăn, hình hài khô gầy.
Có người bện lá cây để làm y phục.
Có người nối xương để làm y phục.
Có người lấy đầu lâu để làm đồ đựng thức ăn.
Có người nằm trên gai, kim nhọn, rồi chích vào tim để giữ tâm trụ.
Có người nhóm họp lại một chỗ, cùng nhau mổ bụng để rửa ruột trừ đi sự dơ bẩn, nói rằng để sanh lên cõi Phạm thiên.
Những sự khổ hạnh xưa kia của Ta không thể lường được, học đạo sáu năm dưới gốc cây thọ vương, mỗi ngày ăn một hạt mè, hạt gạo, chim chóc làm ổ sanh con trên đỉnh đầu của Ta. Loài rắn, trăn quấn lấy thân Ta. Người thợ săn quăng ném gạch đá, có lúc chặt chẻ phá hoại thân thể, có lúc dùng gậy đâm vào bụng cho đến rốn,…chịu trăm ngàn vạn khổ như vậy mà không cho là khổ. Vì sao? – Vì lúc bấy giờ Ta cho là đạo chân thật, thật ra chẳng phải là đạo chân thật.
Ở trên hư không có vị trời chấp tay thưa Bồ tát rằng: “Sức chịu đựng rất to lớn, có thể phá nát các kiết sử, xin Ngài hãy nghĩ đến thành Phật, cẩn thận đừng thối lui!”.
Hằng hà sa chư Phật quá khứ không giống như Bồ tát tuyệt thực để cầu đạo. Điều này làm cho thiên thần cảm động mới sai những cô gái dâng bát sữa. Uống xong, khí lực bình phục, tư duy bảy ngày chiến thắng quân ma. Phạm thiên xuống thỉnh: “Xin hãy thành Phật để xiển dương đại pháp, để nói đạo chân thật, đừng vào Niết-bàn”.
Niết-bàn là không sanh, già, bệnh, chết. Xưa kia Ta đã từng tu khổ hạnh như vậy.
Bấy giờ, trong chúng hội ca ngợi là điều chưa từng có và tất cả đều phát tâm đạo bình đẳng vô thượng.
***

PHẨM THỨ 22: TỨ ĐẠO HÒA HỢP

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ tát tên Biến Quang, trí huệ thông đạt, trụ vào địa vị Bất thối chuyển, lòng thệ nguyện rộng lớn không thể nào lường được. Được chư Phật khen ngợi chẳng phải một, chẳng phải hai, có công đức vô lượng với hằng hà sa Phật, chứa nhóm hạnh vô úy, thường dạo đi vô lượng cõi Phật, cùng học với tám vị:
1- Bồ tát Bất Tà Kiến
2- Bồ tát Trực Ý
3- Bồ tát Chúng Tướng
4- Bồ tát Khuất Thân
5- Bồ tát Giải thoát
6- Bồ tát Giải Phược
7- Bồ tát Ấn Khả
8- Bồ tát Thệ Nguyện.
Từ vô số kiếp đã trụ vào Tận địa, đắc bất thối chuyển.
Bấy giờ, Bồ tát Biến Quang thưa Phật:
– Làm thế nào đại Bồ tát nhập vào bốn loại đạo mà không có trước sau, đắc thành đạo Vô thượng Đẳng chánh giác? Bồ tát ngày đêm tư duy thấy dục như lửa, tưởng tri niệm đều tận những hành pháp điên đảo; thấy lợi pháp đầu tiên được quả A-na-hàm, thì ngay ở cung trời ấy thủ đạo minh chứng. Như vậy không bao lâu, có lúc Bồ tát ở địa vị trên quán sát xuống cõi Dục giống như đống bọt nước, đoạn trừ ba kiết sử, xa lìa ba ác đối với hữu, vô hữu. Hoặc có Bồ tát đắc căn đắc lực, lập chí tự tại, phá hữu diệt vô, không còn bốn đẳng tâm, kia đây đều bình đẳng không có tưởng ngã, chẳng quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng có Đẳng chánh giác. Vậy những chúng sanh (?) này đối với đạo Vô thượng có gì sai khác?
Phật dạy:
– Lành thay! Những câu hỏi này Ta sẽ phân biệt rõ ràng đầy đủ cho ông.
Sao gọi là nhân duyên của nhân duyên Bồ tát.
Sao gọi là nhân duyên của nhân duyên? – Sự xúc chạm của vòng xuyến nơi hai tay gọi là nhân duyên của nhân duyên.
Người kia dạy ta tiếp thu nhờ nơi âm thanh tiếng nói giáo hóa, gọi là Thanh văn, không có thầy, không có trí, không nhờ kia đây, nên gọi là Phật Duyên giác.
Lại nữa, đối với đạo này đạo kia, đại Bồ tát học hỏi quyết nghi với nhau, được chứng hay không chứng đều trôi theo năm đường. Đó gọi là Giác, cũng không thấy giác, cũng không thấy không giác, không một, không hai, đó là không hai nhập.
Đại Bồ tát bổn hạnh tu tập hiểu rõ Duyên giác, với hữu dư, vô dư kiết sử đều đoạn hẳn, đó là không hai nhập.
Tất cả tầng lớp chúng sanh hiểu rõ đều là vô thường. Thân chẳng phải của ta, trong ngoài đều là trống không. Đó là không hai nhập.
Ân đức của Phật lan rộng khắp nơi không bờ bến, lấy khổ tập đạo để đạt đến vô vi, đó là không hai nhập.
Tứ đẳng đại bi che trùm hết tất cả, chúng sanh ngu si được đến đạo chân thật, đó là không hai nhập.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Thanh văn, Bích Chi Phật
Là tên mượn để gọi
Như người đại chiến thắng
Thắng giặc là trên hết
Không ai sánh bằng Phật
Một mình vào ba cõi
Điều tâm chiến thắng ma
Sức nhẫn đến Niết-bàn
Luân chuyển khổ sanh tử
Mạng như lửa đá mài
Trải qua ức trăm ngàn
Không biết khi nào thoát
Phật vốn không danh hiệu
Vì do người tôn trọng
La hán, Bích Chi Phật
Chỉ một không có hai
Như Phật Định Quang kia
Thọ ký Ta vô thượng
Sau chín mươi mốt kiếp
Ở trong Hiền kiếp này
Bậc tối thắng thứ tư
Hiệu là Thích Ca Văn
Đời vạc sôi năm trược
Không hiếu thuận cha mẹ
Sát hại A-la-hán
Không vâng lời Phật dạy
Những nơi Ta từng ở
Chẳng một, chẳng hai đường
Trong sáu đường phiền não
Trải qua vô số kiếp
Đầu, giữa, cuối không ngủ
Kinh hành tu đạo đức
Kỉnh tâm tự giác ngộ
Lìa chấp trước ba hữu
Hạnh nguyện xưa của Phật
Không xả thủ diệt độ
Một thân, một thần thức
Giống mình không có khác
Cực khổ trong số kiếp
Tinh thần bị suy sụp
Vì họ, không vì mình
Nên được thành Phật đạo
Ta là Nhất thiết trí
Dạy cho người chưa dạy
Huệ thông không chấp trước
Một tiếng dứt nghi ngờ
Ba đời Tu-đà-hoàn
Đạt đến đạo vô vi
Huống chi người đệ nhất
Theo Phật không còn nghi
Các đệ tử của Ta
Hữu học và vô học
Tứ đẳng cứu vớt khổ
Không khởi, không sanh diệt
Vốn do tư tưởng sanh
Lại do tư tưởng diệt
Phi ngã tư tưởng sanh
Phi ngã tư tưởng diệt
Hành vốn do có căn
Trôi nổi chẳng một mối
Căn đoạn dứt tư tưởng
Không còn niệm căn bản
Khi Thế tôn nói kệ xong, có mười hai na-do-tha chúng sanh đều phát tâm đạo bình đẳng vô thượng.
***

PHẨM THỨ 23: Ý

Bấy giờ trong hội chúng có Bồ tát tên Căn Liên Hoa, huệ thí vô ngại, thực hành bốn tâm bình đẳng kiên cố khó lay động, đi đứng nằm ngồi không mất oai nghi lễ độ. Từ vô số kiếp đến nay luôn tu hành phạm hạnh, thiền định không tán loạn, phân biệt rõ ràng về thiện ác, quán sát chúng sanh có tâm dâm nộ si hay không có tâm dâm nộ si. Dù nhiều hay ít gì cũng đều biết rõ, dạo đi qua các cõi Phật, cúng dường phụng thờ chư Phật Thế tôn. Khéo dùng phương tiện thị hiện vô thường, vô ngã, vô thân, vô thọ mạng, vô nhân; đi biết đi, đứng biết đứng, có lòng từ bi thương xót hết thảy mọi loài.
Khi ấy Bồ tát Căn Liên Hoa đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Lành thay, bạch Thế tôn!
Ý của bốn đạo ở chỗ nào?
Ý hữu vi hay ý vô vi?
Ý là quả hay ý là phi quả?
Ý là hữu đối hay vô đối?
Ý có thể thấy hay không thể thấy?
Ý là quá khứ, vị lai, hiện tại hay chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại?
Ý là pháp của tiên nhơn, hay chẳng phải pháp của tiên nhơn?
Ý là pháp hữu vi hay là pháp vô vi?
Ý là pháp hữu lậu hay là pháp vô lậu?
Đối với quả báo ba pháp thì ý ở đâu?
Ý ở trong đen hay quả báo đen?
Ý ở trong trắng hay quả báo trắng?
Ý ở trong không đen không trắng, hay trong quả báo không đen không trắng?
Ý ở hành pháp thô, hay hành pháp tế?
Thế tôn dạy Bồ tát Căn Liên Hoa:
– Lành thay! Lành thay! Này Bồ tát Căn Liên Hoa! Nghĩa mà ông hỏi là thương xót tất cả, khai hóa pháp tâm ý thức cho chúng sanh, thị hiện ánh sáng cho người mù tối. Nay ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.
Bấy giờ Thế tôn nói kệ:
– Tối thắng không ai bằng
Thanh tịnh không vết dơ
Mặt đẹp như hoa sen
Không bị bụi làm dơ
Sống ở đời hữu vi
Bị khổ nạn ba cõi
Ta không, kia cũng không
Ý tịch không tâm thức
Như nước trong đồ đựng
Tùy theo tướng của vật
Quá khứ vốn chẳng có
Hiện tại hành thiện ác
Vị lai pháp sẽ hoại
Ý này vốn chẳng phải
Bồ tát hành đại bi
Cũng hiện đối – vô đối
Rửa trừ bệnh dơ nhớp
An ổn đạo cứu cánh
Người bị năm cái che
Khiến tâm bị chướng ngại
Như trời chiếu thiên hạ
Thường bị năm việc che
Khói bụi trần Tu-luân
Bít lấp pháp căn môn
Ý vốn không thiện ác
Theo hành động đã tạo
Tịch diệt, không, vô pháp
Như nhánh nhiều trái, gãy
Ví như cây chuối ấy
Lột mãi không có lõi
Thân người do bốn đại
Tìm ý không ý căn
Ý ở trong ba đời
Ba đời không có ý
Phân biệt thức tâm pháp
Tìm cầu không thật có
Ý pháp không hình tướng
Không thể nói ý ấy
Tâm nghĩ rất nhiều điều
Sanh diệt không đứt đoạn
Quá khứ nghĩ thiện ác
Vị lai sẽ thọ báo
Hiện tại hành đã đủ
Ý tạo chẳng phải ai
Một niệm chín mươi ức
Nghiệp có thiện có ác
Chỉ một niệm tạo ra
Diệt trừ không thể hết
Huống chi ngày tháng kiếp
Nghiệp thiện ác đã tạo
Người trí sẽ hộ thân
Kiên cố không lay động
Như kẻ phạm tội kia
Bưng bát dầu đầy tràn
Nếu rớt một giọt dầu
Càng thêm bị tội lớn
Hai bên trỗi âm nhạc
Sợ chết không dám nhìn
Bồ tát tu tịnh quán
Giữ ý như kim cang
Chê khen và não loạn
Tâm ý không lay động
Hiểu không xưa nay tịnh
Không kia, đây, chặng giữa
Pháp chơn như bốn đế
Hướng đến cửa Niết-bàn
Những việc xưa Ta tạo
Kết nối gốc thân căn
Chẳng tính thầy, đệ tử
Có thể tính đếm được
Vô số ức ngàn kiếp
Đem thân đền nợ tội
Thân voi ngựa lục súc
Không được sanh làm người
Dù được làm thân người
Bị điếc, đui, câm, ngọng
Phật hiện chiếu thế gian
Biên địa không thấy Phật
Khổ năm vạc nước sôi
Thuần ác không nghe thiện
Điên đảo theo tà pháp
Trong chơn tánh đạo suy
Ta từ vô số kiếp
Giữ hạnh như bát dầu
Yêu thân tự giữ gìn
Đưa đến chỗ vô úy
Chín mươi sáu loại đạo
Như đom đóm trong đêm
Phật nhật chiếu thế gian
Trừ bỏ các tối tăm
Có Phật người đời vui
Có thuốc người bệnh vui
Có bảo người nghèo vui
Thành Phật Niết-bàn vui
Khổ hạnh nhẫn nhục vui
Ta không chấp sắc vui
Xan tham bố thí vui
Giữ giới không phạm vui
Được nghe Phật dạy vui
Tư duy thiền định vui
Hữu – vô bình đẳng vui
Khó gặp được gặp vui
Địa ngục bát nạn khổ
Vô cứu đệ nhất khổ
Hạt giống mục nát khổ
Gieo mạ không lên khổ
Sanh thiên rồi đọa khổ
Chánh kiến đảo điên khổ
Rồng Nan, bạt nan khổ
Quấn núi Tu Di khổ
Kiếp thiêu lửa cháy khổ
Trạo hối cầu Phật khổ
Nhất hạnh hướng nhất đạo
Nhất tâm không thối lui
Một thân tu đạo đức
Cuối cùng thành nhất thật
Tu nhất, không lìa nhất
Đoan nghiêm nhất biết nhất
Giữ nhất, không lìa nhất
Nên nói đi một mình.
Khi Thế tôn nói kệ này, có mười sáu na-do-tha chúng sanh đạt được dấu đạo ban đầu, trừ bỏ trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh, với Vô sở trước nhập vào định tam muội.
***

PHẨM THỨ 24: ĐỊNH Ý

Bấy giờ trong hội chúng có Bồ tát tên Trì Không, đầy đủ tướng tốt, nhập vào bốn pháp môn, biện tài số một, tu trì cõi Phật, mỗi cõi Phật đều lưu thân lại để giáo hóa, thị hiện sanh diệt tùy theo căn cơ cao thấp của con người, âm thanh nói năng có khi ngọt có khi đắng, nói rõ ràng về quá khứ, vị lai, hiện tại. Ở trước mặt người hỏi thì một khi trả lời bằng vạn ý, ý nghĩa thâm thúy khó có thể lường được.
Bấy giờ, Bồ tát Trì Không đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, thưa trước Thế tôn:
– Bồ tát làm thế nào để độ chúng sanh khổ đau?
Phật dạy Bồ tát Trì Không:
– Bồ tát làm thế nào để chúng sanh nghe tiếng khổ, hạnh khổ thì khổ đoạn, khổ diệt, không còn thấy nguồn gốc của khổ nữa. Con đường đưa đến khổ là do ân ái sanh ra, những sợi dây ân ái làm trói buộc tâm người. Lấy hai mươi pháp hạnh làm thuốc trị liệu, không còn theo gốc khổ, chất chứa hành nghiệp nhiều kiếp, diệt rồi sanh trở lại. Chúng sanh tà kiến cho là đạo chân thật, chuyển nhập định ý tam muội thanh tịnh. Thanh tịnh không vết dơ, không kia không đây. Tâm thức khai ngộ, dần dần được định ý. Lành thay sự lợi ích của Ta, an ổn khoái lạc không gì bằng. Tâm ý thức bị trói buộc lần lần mở ra, gọi đó là đạo chân thật, còn đây chẳng phải đạo chân thật. Vì sao? – Vì pháp hư ngụy lừa dối chẳng phải bổn hạnh của Phật. Những gì xưa kia chư Phật hành là chân thật. Ngoài Ta ra, không có pháp chân thật nào hơn những pháp mà Phật đã hành, đó là bốn bất tư nghì. Bốn bất tư nghì là gì?
– Bồ tát giữ ý có thể làm cho ba ngàn đại thiên thế giới cõi Phật đều bằng bảy báu, rồi làm trở lại như cũ. Đó là bất tư nghì thứ nhất.
– Như Ta ngày nay ở trong bào thai mẹ dẫn dắt cho vô lượng a tăng kỳ chúng sanh, người chưa độ được độ, người chưa đến được đến, trừ bỏ đi những dơ bẩn để đạt đến vô cấu. Đó là bất tư nghì thứ hai.
– Xưa kia Ta thệ nguyện cốt yếu là độ người đau khổ để đến nơi không còn khổ. Một người khổ, chưa độ được thì Ta không bao giờ vào Niết-bàn. Đó là bất tư nghì thứ ba.
– Thân Phật vô lượng, Đông – Tây – Nam – Bắc có thể dung chứa hết. Một mình không có bạn bè, tự tánh pháp không, quán chúng sanh rồi tự quán tánh của mình, đây đẹp kia xấu, đây tịnh kia bất tịnh, đây là địa thủy hỏa phong, đây là của ta, kia chẳng phải là của ta, đây khổ kia không khổ, đây vui kia không vui, đây thường kia vô thường, đây là đời này kia là đời sau, làm phước được phước, tạo tội chịu tội.
Khi ấy Thế tôn nói kệ:
– Thân như tro, đất, phân
Do bốn đại tạo thành
Không phong thủy trang nghiêm
Thì địa thủy ly tan
Hỏa diệt trong chốc lát
Thì thức không chỗ trụ
Tội nhiều chứa gốc khổ
Đây do thức tạo nên
Nay Ta biết bổn thức
Bỏ ngươi, ngươi không thật
Vải năm màu rực rỡ
Làm hư hoại tâm người
Như người thở ra vào
Hành pháp không dừng lâu
Hiểu biết vô thường, khổ
Không đây, kia, chặng giữa
Một tiếng ứng vạn ức
Hiển bày giáo đệ nhất
Thân vô thường, khổ, không
Hiểu rõ các pháp tướng
Trở về trụ lục tịnh
Hiểu không, vô tướng, nguyện
Thân chẳng phải của ta
Như Phật dạy chúng sanh
Thân còn tâm thức lìa
Nếu Phật không như vậy
Làm sao phân thân dạy
Báo tội phước theo trước
Nguyện đều được thỏa mãn
Nay thọ, sau không thọ
Hiện tại cũng như vậy
Tội giết hại cha mẹ
Cũng hiện, cũng không hiện
Giống như việc đánh cầu
Thần thức bị ô nhiễm
Hoặc nghịch hoặc hối hận
Một lòng hướng Niết-bàn
Bậc đại sư vô vi
Xả thân bỏ tục lụy
Pháp vốn không nhân duyên
Quả báo như hình bóng
Như có cũng không có
Tà kiến nói chân thật
Bị lưới si quấn trói
Từ đen vào lại đen
Không phân biệt pháp trắng
Giới nhẫn có năm hạnh
Không sợ, không bị sợ
Định lực chấn đại thiên
Thắng ma như điều binh
Người cầu đạo vô thượng
Có người thối, người tiến
Như sông chảy về biển
Đến nhiều, đạt thì ít
Gặp được duyên đại bi
Thiện quyền vượt bờ kia
Phật là Nhất thiết trí
Không nhiễm, không chấp trước
Ta vốn hành nghiệp khổ
Bỏ nước, thành, vợ con
Quên cha mẹ, sư trưởng
Không tiếc thân mạng mình
Như người giữa đồng hoang
Khao khát cần nước uống
Gặp sông, suối, ao, giếng
Lấy uống không còn khát
Người thọ thân tứ đại
Có định không định xứ
Huống thức không thiện ác
Thức thọ báo rõ ràng
Nhà bảy báu trì giới
Có trăm vạn thiên nữ
Nhạc trỗi để vui chơi
Không bao giờ sầu ưu
Lực Phật Nhất thiết trí
Thấm nhuần khắp mọi người
Trước đạt năm thần thông
Nhuần gội pháp cam lồ
Xưng dương bốn cú nghĩa
Không trước, sau, chính giữa
Pháp này nối pháp khác
Thông pháp tánh trong ngoài
Những gì Ta đã tạo
Bị ác sử trói buộc
Luân hồi trong năm đường
Mà cho là nhà cửa
Cảnh trời như lửa xẹt
Tìm kiếm không có thật
Rùa mù tìm bọng cây
Có lúc còn được gặp
Một khi ta mất mạng
Ức kiếp khó lại được
Biển rộng lớn sâu thẳm
Ba trăm ba mươi sáu
Nếu quăng kim vào biển
Tìm kiếm còn khi được
Một khi ta mất thân
Khó được hơn đó nữa
Người giữ luật, trì giới
Ở đời khó gặp được
Trong ức ngàn vạn kiếp
Phật như hoa Ưu-đàm
Những chúng sanh hữu duyên
Được Phật giáo hóa đạo
Đoạn trừ các kiết sử
Vĩnh viễn không bị vướng.
Khi Phật nói kệ này xong, có hai mươi na do tha chúng sanh lập tín căn kiên cố, không còn nghi ngờ và đều phát tâm đạo chân chánh vô thượng.
***

PHẨM THỨ 25: QUANG ẢNH

Khi ấy ở trong thai, đức Thế tôn giảng rộng về đại thừa bất khả tư nghì. Vì sắp diệt độ nên Ngài thị hiện đức bóng ánh sáng, làm cho chúng hội đều cùng một màu, giống như màu vàng ròng của Phật không khác. Chư thiên, rồng, thần, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu La Già, nhơn, phi nhơn và bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di có người hướng đến quả, có người đã đắc quả cũng đều một màu. Ai nấy đều muốn nghe Như Lai nói về bóng ánh sáng nên định ý gây dựng công đức, giải thoát vô ngại, có bốn biện tài, ứng đối rất mau lẹ, tưởng tri đều diệt tận, cứu giúp và gánh nặng cho mọi người, đi đứng nằm ngồi không mất oai nghi. Theo pháp chư Phật thường giảng nói về khổ – tập – diệt – đạo, dìu dắt chúng sanh vào bốn ý chỉ (tứ niệm xứ), thành tựu đoạn ý, giác lực, sư tử vô úy, tám con đường của bậc Thánh, không – vô tướng – vô nguyện.
Bấy giờ, trong hội chúng có Bồ tát tên Hiền Quang, đứng dậy trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn phóng ánh sáng này chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới; ánh sáng được hóa này, có giống như Phật hóa không? Công đức của sức Phật chẳng phải một, chẳng phải hai, ánh sáng này tiếp xúc không thể cùng tận. Hai đức hạnh này có khác nhau không? Cúi xin đức Thế tôn giải thích những mối nghi ngờ để cho người chưa tin dứt hẳn hồ nghi.
Bấy giờ đức Thế tôn dạy Bồ tát Hiền Quang:
– Những điều ông hỏi đều là do thần lực của Như Lai. Vì sao? – Vì ánh sáng thần diệu của Như Lai là để cứu độ chúng sanh nên không bị chướng ngại. Từ cõi Diêm Phù Đề lên đến trời Quả Thật, ánh sáng chiếu xa, giảng nói sáu độ vô cực: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Đúng như thần lực của Phật độ thoát chúng sanh, không còn kia, không còn đây. Vô số a tăng kỳ chúng sanh được cứu độ đều là nhờ ánh sáng mát dịu của đức Phật che chở.
Khi ấy, ánh sáng tự nhiên vang tiếng nói kệ:
– Quá khứ vô số Phật
Đều phóng ánh sáng này
Mỗi mỗi vầng ánh sáng
Nói sáu độ vô cực
Giới, nhẫn, giải thoát môn
Thích pháp để tự vui
Trước nói ba không định
Kế tiếp thành tựu đạo
Những người bị ba độc
Không trói, không bị trói
Bốn mươi tám kiết sử
Không cứu, không được cứu
Chẳng thật người hành đạo
Những nơi đã trải qua
Sống an vui ba chỗ
Dấu chân thần rất quý
Đi qua rất cao thượng
Đạt đến bờ vô vi
Lập hạnh không thối chuyển
Vô úy sức oai thần
Được thần quang tiếp độ
Hơn trăm ức vạn lần
Như mỗi ánh sáng kia
Phân làm số bụi trần
Một bụi là các cõi
Vô số không thể lường
Sức Phật không cùng tận
Chẳng có cũng chẳng không
Ánh sáng giảng nói pháp
Độ thoát a tăng kỳ
Pháp thân tự nhiên không
Trong ngoài hạnh thanh tịnh
Tám vạn tư phiền não
Định tâm không tán loạn
Xưa Ta chín mươi hai
Kiếp số khó thể lường
Ngồi thẳng dưới gốc cây
Hành đạo không thối lui
Trời, người, tu luân, quỷ
Năn nỉ hỏi nghĩa Ta
Ánh sáng lại tiếp độ
Độ thoát vô ương số
Quá khứ Phật Thức Khí
Phóng ánh sáng dạy sau
Ai vào ánh sáng ấy
Tiêu diệt khổ ba độc
Tiếp Phật Duy Vệ Tôn
Thần đức không thể lường
Cũng lại phóng ánh sáng
Cứu vớt người khổ não
Câu Na Hàm Mâu Ni
Đấng ra khỏi ba cõi
Hiện ở núi Tiên nhơn
Ánh sáng luôn rực rỡ
Câu Lưu: trời trong trời
Không vướng, không bị nhiễm
Tịch diệt nhập Niết-bàn
Phóng quang sau giáo hóa
Ca Diếp Bổn Vô Tôn
Độ người không thể lường
Cũng lấy đức ánh sáng
Độ người chưa được độ
Ta, Thích Ca Mâu Ni
Nói pháp ở trong thai
Thân đây, ánh sáng kia
Biến khắp các cõi Phật
Đối với người tiểu tiết
Không thể nào lường nổi
Chỉ Phật lường được Phật
Công đức không khác nhau
Chư Phật ở vị lai
Đều hiện phóng ánh sáng
Hiện để độ chúng sanh
Ánh sáng trước, pháp sau.
Khi Thế tôn nói kệ này xong, có bảy trăm bảy mươi ức chúng sanh nghe Phật nói thần đức quang minh này, ngay tại chỗ ngồi đều phát tâm Vô thượng bình đẳng.
***

QUYỂN 7

PHẨM THỨ 26: PHÁ TÀ KIẾN

Bấy giờ Thế tôn nhập Chánh định tam muội, phân thân biến hóa, phóng ánh sáng lớn để muốn cho các đại Bồ tát và bốn bộ chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di phá tan cảnh giới của ma, trụ vào chánh địa.
Ngài dạy đại chúng:
– Ta nhớ về quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, Ta tu hành khổ hạnh trong núi cùng với sư tôn năm ngàn người ở phía Nam núi Tuyết, phía Bắc thành Thanh Tịnh. Ta là đệ tử nhỏ nhất trong chúng ấy, tụng đọc kinh điển, toán số kỹ thuật, thiên văn địa lý đều điêu luyện. Theo thường pháp của chúng ấy, nếu có đệ tử nào sở học đã thành tựu thì nên báo ân thầy.
Lúc ấy Ta một thân một mình, không có tiền của, bảo vật để dâng lên thầy nên quỳ lạy, xin muốn xuống núi vào xóm làng đi xin. Thầy không cho phép. Xin nài ba lần như vậy nhưng thầy vẫn không cho. Vì sao? – Vì Ta thông hiểu rõ ràng các kinh điển đứng đầu trong chúng. Thầy nói với Ta rằng:
“Ta có kho tàng kinh điển bí mật quý báu, ngươi chưa đọc tụng sao lại rời ta để vào nhân gian đi xin?!” .
Khi ấy thầy đưa quyển kinh cứ một câu có năm trăm chữ, bảo Ta tụng thuộc lòng. Chưa được vài ngày Ta đã học thuộc và thưa trước thầy:
“Thầy hãy cho phép con xuống núi đi xin để báo ân thầy”
Thầy cũng không cho và nói với Ta rằng:
“Ông nên học hỏi văn thư bí sấm về mặt trời, mặt trăng, sao, tai họa, yêu quái, họa phước, núi lay đất chuyển. Những điều này ông cũng chưa biết, sao lại muốn rời ta để vào nhân gian đi xin?”
Rồi thầy đưa quyển kinh, cứ một câu kinh gồm một ngàn chữ, bảo Ta học thuộc. Chưa được mấy ngày, Ta đã được thành tựu và bạch thầy đi xin hòng để báo ân thầy. Thầy cũng không cho, nói rằng:
“Ta có quyển kinh cứ một câu kinh gồm vạn chữ. Những quý báu trong kinh ông cũng chưa tụng đọc, vì lý do gì mà muốn rời ta để đi xin?”
Thế rồi thầy lại đưa kinh bảo Ta tụng đọc thuộc lòng. Chưa đến vài ngày Ta đã thông đạt về kỹ thuật, tai họa, sự vận hành của các sao và tất cả đều được thông suốt. Khi ấy, thầy khuyên Ta nên ở lại và không còn kinh nào để đưa cho Ta học nữa.
Ta liền từ tạ thầy xuống núi, vào thôn xóm đi xin, thấy năm ngàn Phạm chí dị học ở một làng lớn, cùng nhau cúng tế trời.
Theo pháp cúng tế trời thì phải giết năm trăm con bò, năm trăm con dê, năm trăm con lạc đà, năm trăm con ngựa, voi mạnh nhất có sáu ngà, năm trăm người nữ, một cây gậy bằng vàng, một bồn rửa bằng vàng, vải trắng một ngàn xấp, vàng bạc tiền đều phải năm vạn. Những vật báu này sau khi được cúng cho trời thì sẽ đưa cho thầy.
Bấy giờ Ta xuống núi với y phục dơ nhớp, bụi bặm. Trước đây ở trong núi tu khổ hạnh lâu năm, mặc áo da nai, nghe năm ngàn vị Phạm chí dị học thiết đại lễ đàn nên Ta liền đến đó. Khi ấy sư trưởng hỏi Ta:
“Nếu kinh điển kỹ thuật nhiều thì mới cho ngồi trên, còn kinh điển ít thì cho ngồi dưới” .
Vị sư ấy không biết gì cả, không thông đạt bí yếu sấm ký nên cho Ta ngồi trên, nhưng sư ấy lại tức giận nói:
“Đây là người như thế nào, đáng lẽ trân bảo đủ mọi vật phải thuộc về ta, sao bị người này chiếm đoạt? Nếu đời sau gặp nhau, ta quyết phải báo thù, giống như đã chiếm đoạt của ta ngày hôm nay” .
Bấy giờ Ta liền nói:
“Tà kiến điên đảo chẳng phải chân thật, phân biệt rõ ra thì chỉ có vô vi mới nói là Niết-bàn, không sanh – già- bệnh – chết, không đây, không kia, chặng giữa. Quán tự tướng của nó là thanh tịnh, bốn vô sở úy, làm phước thì sanh lên trời, bị tội thì đọa địa ngục, xan tham thì làm ngạ quỷ, mắc nợ thì làm súc sanh, quả báo thiện ác giống như bóng theo hình” .
Khi ấy, tâm thức của năm trăm người được khai sáng, liền thỉnh Ta làm thầy. Những voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà…sắp bị giết, Ta lại không giết. Còn gậy vàng, bồn rửa vàng, đáng lẽ Ta nhận nhưng Ta liền đem đưa cho vị thượng tọa tức giận kia. Năm trăm người nữ được gởi trở lại cho chủ thờ cúng. Năm vạn tiền vàng Ta chỉ lấy năm trăm thôi. Năm vạn tiền đồng Ta cũng chỉ nhận năm trăm, còn lại gởi cho chủ thờ cúng.
Ta đi từ thôn này đến thôn khác, từ nước này qua nước nọ, dần dần đến bên ngoài cửa phía Đông của thành Thanh Minh. Ta thấy năm trăm Phạm chí tuổi cao đức lớn, học đạo ngày ngày đứng dưới lửa mặt trời thiêu đốt, thân thể xấu xí dơ bẩn. Ta liền lấy năm trăm tiền vàng đưa mỗi người một đồng, từ biệt họ vào thành. Ta thấy người trong thành lấy nước thơm rảy lên đất để khử trừ bụi dơ, treo tàng phan, bảo cái và mọi người sắp thẳng hàng trong tư thế đoan nghiêm, chuẩn bị ra ngoài thành.
Đi tới một tí, Ta thấy một cô gái cầm bảy cành hoa. Khi ấy, Ta nhìn xung quanh tìm hương kiếm hoa nhưng không có. Ta hỏi cô gái ấy:
“Tôi muốn hoa trên tay của cô” .
Cô ta trả lời:
“Hoa này đã có chủ. Đức Phật sắp vào thành, tôi đem hoa này dâng lên Phật” .
Không thể được rồi, Bồ tát lại dùng quyền phương tiện nói với cô gái:
“Tôi có năm trăm tiền báu, tôi mua mỗi hoa một trăm tiền, nếu được thì cô bán” .
Thế rồi Ta đưa tiền ra, cô ta tham của báu nên lấy năm cành hoa đưa cho Ta. Đi được khoảng mười bước, cô ta tự nghĩ: “Người này có tướng mạo đoan nghiêm mà lại mặc y phục bằng da nai, vì ham năm cành hoa của ta mà không tiếc tiền bạc. Điều này chắc chắn có lý do”.
Thế rồi cô ta quay lại kêu:
“Này ông ơi! Ông dùng hoa ấy để làm gì vậy?” .
Ta trả lời:
“Để dâng lên Phật” .
Nghe đến danh hiệu Phật, cô ta liền lấy hai cành hoa còn lại đưa cho Ta. Ta ra khỏi thành, thấy đức Phật đàng xa, chư thiên và nhân dân đông nghẹt cả đường, không có một chỗ đất hở trống nào để lễ lạy. Trước Phật có một vũng nước bằng cho một người đứng. Ta liền trải tóc trên vũng nước ấy và ca ngợi Phật với bài kệ:
“Phá tâm ái kiêu mạn
Diệt được dục nộ si
Chân tướng sáng đệ nhất
Xin Phật thấu lòng con
Thệ nguyện xưa con cầu
Ngày nay được thấy Phật
Nay rải năm cành hoa
Nguyện đắc bất thối chuyển
Hai cành hoa còn lại
Cô gái gửi cúng Phật
Vô thượng Đại đạo sư
Thương xót đạp tóc con” .
Khi ấy, Quang Minh Như Lai thấy Ta tịnh tâm phát nguyện rộng lớn, không có gì có thể trở ngại, phá hoại được, liền dùng kệ khen Ta:
“Đồng tử phát tâm lớn
Đồng hoang cứu muôn người
Nguyện lớn không tự có
Trồng nhiều gốc công đức
Qua vô số kiếp sau
Đời năm vạc năm trược
Thành Phật độ chúng sanh
Danh hiệu Thích Ca Văn
Ba mươi hai tướng sáng
Đấng kỳ diệu loài người
Thọ huệ xưng Phật rồi
Đất chấn động sáu cách
Chư thiên, người thế gian
Thấy Ta được thọ ký
Thường muốn diệt các sử
Đều nguyện sanh cõi Ta”.
Bấy giờ Quang Minh Như Lai liền đạp trên tóc Ta đi qua, Phật dùng thần lực nhận năm cành hoa của Ta và đem thân Ta để trên hư không. Hai cành hoa còn lại Phật để trên hai bên vai. Xưa kia tu hành phá tất cả những vật dụng của năm ngàn Phạm chí cúng trời thờ lửa, dạy họ hành chánh kiến, tám pháp bình đẳng, ngồi nằm kinh hành mỗi bước đều làm lợi ích độ thoát chúng sanh. Từ đó đến nay, chưa từng bị đọa vào ba đường, tám nạn, thế trí biện thông, biên địa, sau Phật.
Bấy giờ trên chỗ ngồi, chúng sanh cõi ma cho thường là đoạn diệt, nói khổ là vui, vô thường cho là hữu thường, không có thân nói rằng có thân, tu tập bốn điên đảo, không có trí tuệ để nhận biết rõ ràng, bị năm triền cái che lấp, tham đắm vào lợi dưỡng.
Muốn độ những người tà kiến này, Thế tôn nói kệ:
– Tà kiến, đạo không thật
Như loài trùng Thiết thôi
Đục xương vào tủy não
Đau đớn vô số kể
Lợi dưỡng hoại đạo đức
Người trí không làm vậy
Thân hành tâm kiên cố
Tịnh trừ pháp vô minh.
Khi Thế tôn nói pháp chân thật về cú nghĩa, vị nghĩa, tự nghĩa cho những người tà kiến này thì có vô số trăm ngàn chúng sanh phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn.
***

PHẨM THỨ 27: VĂN THÙ THÂN BIẾN HÓA

Bấy giờ Thế tôn Vô sở trước Đẳng chánh giác nhập vào Thượng tôn định ý tam muội, quán sát các đại Bồ tát quá khứ, vị lai, hiện tại có kiếp số nhiều ít, sẽ từ một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn vô số ức kiếp thủ bát Niết-bàn.
Có đại Bồ tát cúng dường chư Phật, thành tựu công đức, giáo hóa chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật.
Có đại Bồ tát từ lúc đồng chơn hành bát trụ, không có vợ con, dập tắt tư tưởng dâm dục, tự tại ở địa vị của mình, không cha mẹ, anh em mà đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Phật dạy Văn Thù Sư Lợi:
– Về thuở xa xưa cách đây bảy mươi chín kiếp, tại thế giới Hoa Quang, ông ở trong thai thuyết pháp toàn thân xá lợi. Nhân dân cõi ấy cao ngàn do tuần, thân của Phật cao vạn do tuần. Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc trên dưới rộng vô lượng, không có giới hạn, không thể tính kể, dù thầy tính, đệ tử tính cũng chẳng thể nào lường được, căn bổn thanh tịnh, vốn ông ở nơi đó. Thân Phật phóng ánh sáng, thị hiện thần túc để cho đại chúng đồng loạt được thấy Như Lai làm lợi ích chúng sanh.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ:
– Văn Thù vốn thành Phật
Trong thai hiện biến hóa
Thân cao vạn do tuần
Tướng ánh sáng rực rỡ
Mắt như hoa sen xanh
Môi miệng đỏ lửa sáng
Bốn mươi răng trắng thẳng
Mắt nháy ngước lên xuống
Chư thiên, rồng, quỷ thần
Đem hương hoa cúng lạy
Nay Ta ở thai này
So với cõi của ông
Đối với mười sáu phần
Không bằng một mảy lông
Đức biến hóa Như Lai
Thông đạt không chướng ngại
Hương giữ giới lan xa
Chư Phật đều khen ngợi
Các đại chúng đến đây
Muốn hỏi pháp khó có
Cúi đầu trước mặt Ngài
Để trừ lưới nghi ngờ.
Bấy giờ, đại Bồ tát Văn Thù Sư Lợi ngay trên tòa ngồi, dùng định lực thần túc giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay, tiếp thế giới Hoa Quang để bên trong thai mẫu của Thích Ca Mâu Ni cõi Ta-bà.
Thế giới của hai đức Phật không chướng ngại nhau, vẫn hiện đầy đủ các tướng hảo của thân Phật, ngồi dưới thọ vương giảng nói pháp tối thắng thâm sâu.
Bồ tát cõi ấy cũng đến gần gũi Thích Ca Văn Phật, cúng dường thừa sự hương hoa, tràng phan, bảo cái. Đệ tử Bồ tát của Thích Ca Văn Ni cũng đến cõi kia cúng dường lễ bái.
Âm thanh nói pháp vi diệu thâm sâu của hai vị Phật khai thông với nhau, không có chướng ngại. Đức Phật kia nói vô sanh thì ở đây cũng nói như vậy. Ta nói về định tâm thì bên kia cũng nói như vậy. Ý, đoạn, căn, lực, giác đạo hai bên giống nhau. Bên kia nói khổ – không – vô ngã, bên đây cũng vậy.
Khi ấy Văn Thù Sư Lợi nói kệ:
– Quán trong ngoài thanh tịnh
Duyên diệt, tưởng cũng vậy
Các cõi Phật mười phương
Thần đức không khác nhau
Đều do căn chúng sanh
Hiện có diệu, không diệu
Cho ta thành thân Phật
Cõi này rất là nhỏ
Vì chúng có nghi ngờ
Hiện biến hóa trong thai
Thân ta như vi trần
Nay ở cõi Phật kia
Ba mươi hai tướng sáng
Hiện khắp cả mọi nơi
Xưa làm thầy của người
Nay lại làm đệ tử
Đạo Phật rất rộng lớn
Thanh tịnh không tăng giảm
Ta muốn thấy thân Phật
Hai Ngài không cùng đứng
Cõi này hiện giáo hóa
Cõi ta hiện thân Phật
Cõi kia có kiếp thiêu
Cõi ta không hư hoại
Lực Phật biến khắp nơi
Tâm chúng sanh chẳng một
Chúng hội nghe ta nói
Ngoài đây ra còn có
Cõi Phật tên Vô Khuyết
Phật hiệu Thăng Tiên Tôn
Quốc độ nhiều gấp bội
Thanh tịnh không vết nhơ
Quốc thành bằng bảy báu
Đất thủy tinh lưu ly
Ao bát giải cam lồ
Rực rỡ ánh sáng lớn
Đức Phật Thăng Tiên ấy
Chẳng phải người nào khác
Chúng hội ai muốn biết
Đó chính là thân ta
Sát đây lại còn có
Cõi nước tên Cứu Cánh
Phật hiệu Đại Trí Huệ
Bồ tát nhiều vô lượng
Không có hàng nhị thừa
Bích Chi và Thanh văn
Bồ tát Ma ha tát
Không còn dục nộ si
Gốc mục lá không sanh
Huống chi lại có trái
Tướng đại nhơn đầy đủ
Cứu người trước, mình sau
Mạng như năm dòng sông
Năm sử năm trói buộc
Năm ấm luôn rên rỉ
Luân hồi trong năm đường
Bảy tên sứ trói chặt
Không lìa bảy chỗ sanh
Bát chánh đạo vô vi
Diệt trừ tám nghiệp tà
Tám huệ thanh tịnh quán
Trước lấy nước bát giải
Bát trụ bát trừ nhập
Hữu vi tám đạo pháp
Pháp khổ có chín phần
Chúng sanh đi sáu đường
Trọn vẹn chín không ngại
Trang nghiêm cây Phật đạo
Pháp Thập lực vô úy
Mặc áo thệ từ bi
Tay cầm kiếm trí huệ
Phát sạch rừng kiết sử
Các chúng sanh cõi này
Tham đắm sanh cống cao
Bệnh nặng không thầy giỏi
Bệnh tình càng kịch liệt
Giống như lửa đồng hoang
Thiêu đốt cả núi rừng
Núi cao gió thổi mạnh
Cháy rực bao giờ tắt
Thế giới của chúng ta
Đại trí huệ giảng rõ
Như thân ta ngày nay
Đại trí Như Lai vậy.
Sau khi Văn Thù Sư Lợi nói kệ này, có vô lượng a tăng kỳ chúng sanh đều nguyện sanh về cõi Hoa Quang.
Khi ấy, Văn Thù Sư Lợi thâu thần túc lại, hiện đệ tử Bồ tát của Thích Ca Văn Phật. Bao nhiêu quốc độ đều trở lại nguyên như cũ.
***

PHẨM THỨ 28: BÁT THÁNH HIỀN TRAI GIỚI

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ tát tên Trí Tích, có nhiều công đức với chư Phật quá khứ, chiến thắng quân ma, với phương tiện thiện xảo làm trang nghiêm cõi Phật, tu hành nhẫn nhục trong vô số kiếp. Tâm nhẫn không sơ sút, không phế bỏ thiền hành, là tiếng rống của sư tử trong đại chúng. Đi một mình trong ba cõi, lên xuống lúc nào cũng được, không điều gì mà không thông suốt, ứng đối không trở ngại, có thể làm núi sông, tường đá biến thành bảy báu, đem bố thí cho những người nghèo khổ, giúp đỡ đầy đủ bốn việc cần dùng, hiểu rõ không quán, pháp tánh đều thanh tịnh. Biết rõ ba đời, có oai nghi phép tắc. Quán pháp như huyễn như hóa, như bóng trong gương, như sóng nắng, như tiếng vang trong hang. Quyến thuộc đi theo đều thành tựu căn bổn, giữ gìn giới cấm không phạm một mảy may nào.
Bồ tát đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Vui thay, bạch Thế tôn! Như Lai giáo hóa không chỗ nào mà không thấu đến. Trời, rồng, người, quỷ đều đến đạo tràng. Chúng sanh cõi không giới cho đến thai sanh, hóa sanh được cứu độ không thể lường. Cúi xin đức Thế tôn hãy phân biệt về các hành thiện ác trong sáu đường, oai nghi giới cấm đầu – giữa – cuối đều thiện. Phân biệt rõ ràng để những người chưa biết được biết.
Phật dạy Bồ tát Trí Tích:
– Lành thay! Lành thay! Ông đã hỏi Như Lai về nghĩa sâu xa ấy. Nay Ta sẽ phân biệt cho ông về những kết quả của giới cấm thiện ác. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ:
Thuở xưa vô số kiếp, có một thời Ta làm chim chúa cánh vàng, cung điện bằng bảy quan, ao sau vườn đều xây bằng bảy báu, dạo chơi trong vườn thấy tâm được tự tại. Phép tắc thi hành giống như vua Chuyển luân Thánh vương. Phụ nữ trong cung nội giống như thiên nữ. Trải qua trăm ngàn kiếp mới vào biển tìm rồng để ăn thịt.
Khi ấy trong biển có con rồng hóa sanh, vào các ngày mồng tám, mười bốn, rằm thì thọ trai giới của Như Lai gồm tám giới cấm:
– Không sát sanh
– Không trộm cắp
– Không tà dâm
– Không nói dối, thêu dệt
– Không uống rượu
– Không nghe ca hát âm nhạc
– Không thoa hương hoa phấn sáp
– Không nằm giường cao rộng
– Không ăn phi thời.
Chim cánh vàng vâng giữ tám pháp của Hiền thánh.
Chim cánh vàng dài tám ngàn do-tuần, mỗi cánh dài bốn ngàn do-tuần. Biển lớn ngang dọc ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Chim cánh vàng dùng cánh vẹt nước để bắt rồng. Nước chưa kịp hợp lại thì chim cánh vàng đã ngậm rồng bay lên.
Theo phép tắc của chim cánh vàng, khi muốn ăn rồng thì trước tiên ngậm đuôi đem đến phía Bắc núi Tu Di. Nơi đó có cây sắt lớn cao mười sáu vạn dặm. Chim cánh vàng ngậm rồng đến đó để chuẩn bị ăn, nhưng qua một ngày đêm tìm đuôi rồng không biết ở đâu. Sáng mai rồng lòi đuôi ra, nói với chim cánh vàng:
– Rồng hóa sanh chính là ta đây. Nếu không giữ tám pháp trai giới thì ta bị ngươi ăn thịt rồi .
Nghe vậy, chim cánh vàng hối hận, tự trách mình: “Oai thần của Phật thâm sâu khó lường” , và nói:
– Cung điện của tôi cách đây không xa, ông hãy cùng tôi đến đó để vui chơi.
Rồng liền theo chim cánh vàng đến thăm cung điện.
Chim cánh vàng nói:
– Quyến thuộc chúng tôi ở đây không nghe tám pháp trai giới. Cúi xin ông hãy chỉ dạy oai nghi giới cấm để sau khi qua đời, tôi được sanh làm người.
Khi ấy, rồng đem hết pháp giới cấm bảo chim cánh vàng đọc tụng. Ngay lúc ấy, tại cung điện của chim chúa, rồng nói kệ:
– Nhà cung điện bảy báu
Trang nghiêm rất khoái lạc
Do hành giới không đủ
Làm thân chim cánh vàng
Ta là con Long vương
Tu đạo bảy vạn kiếp
Lấy kim đâm lá cây
Phạm giới làm thân rồng
Ta không từ thai sanh
Thấp sanh hay noãn sanh
Chuyển thân không thối chuyển
Làm sáng Phật, Pháp, Tăng
Nay ông thọ tám giới
Giáo hóa quyến thuộc ông
Giữ giới không được phạm
Sẽ được sanh chỗ lành
Cung điện ta trong biển
Cũng làm bằng bảy báu
Châu ma-ni, pha-lê
Châu minh nguyệt, vàng bạc
Hãy theo tôi đến đó
Thăm viếng tu Phật sự
Tăng thêm cội gốc lành
Từ bi thấm mọi nơi.
Nghe rồng nói, chim cánh vàng thọ tám pháp trai giới và tự nói:
– Từ đây trở về sau, trọn đời không sát sanh, như chư Phật dạy quyến thuộc chim cánh vàng.
Sau khi thọ ba quy y, chim cánh vàng theo rồng về cung điện trong biển. Trong cung điện có tháp bảy báu, đó là kho pháp mà chư Phật đã giảng nói. Đặc biệt có hòm bằng bảy báu đựng đầy kinh Phật, như: Mười hai nhân duyên, Tổng trì tam muội … Thấy vậy, rồng tử và rồng nữ đem hương hoa cúng dường, lễ bái, thừa sự, giống như cung điện vàng Đàn Bà Ma La ở cõi trời, rồi nói với chim cánh vàng:
– Tôi làm thân rồng đã trải qua kiếp số mà chưa hết, nhưng chưa từng sát sanh hay làm nhiễu loạn loài thủy tộc.
Bấy giờ rồng nói kệ với chim cánh vàng:
– Giết là nghiệp bất thiện
Giảm tuổi thọ, chết yểu
Thân như con thiêu thân
Thấy ánh sáng rồi chết
Giữ giới, vâng lời Phật
Được sanh trời Trường Thọ
Tạo phước đức nhiều kiếp
Không đọa cõi súc sanh
Nay tôi làm thân rồng
Giới đức hạnh trong sáng
Tuy đọa trong lục súc
Nhưng có ngày thoát khỏi .
Sau khi rồng nói kệ này thì rồng tử và rồng nữ tâm bừng sáng, tâm ý thông suốt và sau khi qua đời tất cả đều sanh về cõi Phật A Di Đà.
Phật dạy Bồ tát Trí Tích:
– Kiếp trước Ta đã hành giới đức trọn vẹn, thành Bồ tát biến hóa tự tại, không chỗ nào mà không vào, cũng làm chim cánh vàng, cũng làm loài rồng, cũng có khi biến hóa làm rùa, ba ba…
***

PHẨM THỨ 29: NĂM LẠC

Bấy giờ, Thế tôn quán sát những suy nghĩ trong tâm thức của chúng sanh, là muốn biết những nơi đã từng trải qua của Như Lai, như từng sanh làm loài chim cánh vàng, được rồng giáo hóa. Những kẻ được độ nhiều vô lượng, không thể tính kể. Ngoài ra còn có những kiếp gì, nên muốn biết ý ấy.
Biết tâm niệm của chúng sanh, Như Lai muốn thị hiện những pháp về thân – khẩu – ý mà xưa kia Ngài đã tu tập:
– Này các thiện nam, thiện nữ, hãy lắng nghe Ta nói. Xưa kia có Thiên Đế Thích, từ quá khứ đến nay trải qua vô số kiếp, luôn hưởng phước trời tự nhiên, là người tôn quý đệ nhất trong ba ngàn đại thiên các trời Đế Thích. Khi ấy, La Hầu A-tu-la vương sanh một cô gái đẹp đẽ, đầy đủ nết na của người con gái, có sáu mươi bốn tài năng, đi đứng tới lui không mất oai nghi, mặt như hoa đào, miệng tỏa ra mùi thơm như hoa Liên-ưu-bát, thân có mùi thơm Ngưu-đầu chiên đàn, không cao không thấp, không đen không trắng, không mập không ốm, đầy đủ tư cách của người nữ.
Bấy giờ, Thích Đề Hoàn suy nghĩ: “Thiên nữ trong cung điện của ta nhan sắc đẹp đẽ hơn các thiên nữ khác, nhưng không bằng con gái của A-tu-luân kia. Nay ta tập hợp binh chúng đến đánh với bọn hắn để chúng phải nộp cô gái ấy cho ta” .
Suy nghĩ thế rồi, Đế Thích mời chư thiên đến bàn luận về việc chiến đấu. Chư thiên thưa Đế Thích:
– Chư thiên mà chiến đấu chắc chắn thua bọn chúng. Ta hãy chọn những người chuyên về nhạc cầm với cây đàn lưu ly chín mươi chín dây và một thuyền, ca hát khen ngợi về trời ta hưởng thọ khoái lạc với vô lượng công đức.
Chư thiên khen hay và làm theo ý kiến này.
Đế Thích lập tức ra lệnh Bàn Giá Dực cầm nhạc trời chuẩn bị đầy đủ nhạc cụ rồi ở trên trời bỗng nhiên biến mất. Như kẻ lực sĩ duỗi tay, đã đến đứng trước mặt A-tu-luân vương Bà Ha và gãy đàn với kệ:
– Ta là trời Đế Thích
Thầy gãy đàn tuyệt diệu
Tiếng ca khúc hòa nhã
Tiếng trong suốt rất hay
Làm cho trời kia vui
Không còn tưởng buồn sợ
Nghĩ áo cơm, đến ngay
Cơm cam lồ bảy báu
Giường vàng bạc, thuyền ngọc
Chuyển động thân quay tròn
Thấy vui không nhàm chán
Tôn quý nhất trong trời
Nay sai chúng tôi đến
Muốn nói hạnh bất tịnh
Dâng thức ăn cam lồ
Muốn cầu việc hôn nhân
Chủ ta có cung điện
Châu ngọc không thể lường
Thiên nữ làm quyến thuộc
Hơn ngàn vạn ức số
Biết Bà Ha có con
Hãy giao cho chủ tôi
Còn như không bằng lòng
Thì đến lúc phải đánh
Tu-luân nghe lời này
Nổi tức giận đùng đùng
Vật nhỏ, ý muốn lớn
Vậy ngươi muốn làm gì
Tuy không có cam lồ
Nhưng ta dự trữ đủ
Cũng có binh chúng mạnh
Đủ để chống cự nhau.
Nghe vậy, Bàn Giá Dực trở về nói lại cho Thiên Đế Thích. Khi ấy, Bà Ha A-tu-luân vương liền ra lệnh:
– Tất cả tập hợp binh chúng! Ta có việc phải đi chinh chiến. Ngay bay giờ hãy chuẩn bị đầy đủ, không ai nghi ngờ gì cả!
Và ra lệnh bằng kệ:
– Thiên Đế Thích hào quý
Sai sứ Bàn Giá Dực
Ca tụng bằng ngữ âm
Muốn ta việc hôn nhân
Chúng nay chưa tập binh
Ta nên nhóm binh trước
Đến đánh không dùng sức
Thắng vạn không mất một.
Nghe vậy, vệ thần của A-tu-luân liền tập hợp binh chúng đến sườn núi Tu Di đánh phá chân cung trời, tiếp đánh phá cung Phong thiên, rồi đánh phá cung Mã thiên và đánh phá cung Trang nghiêm thiên.
Khi ấy, có vị trời tên Đại Lực đến nói với Thích Đề Hoàn Nhơn:
– Đại vương nên biết rằng: A tu luân Bà Ha tập hợp binh chúng đã phá tan bốn cửa trời. Đại vương! Bây giờ phải làm thế nào?
Bấy giờ Thiên Đế Thích nhớ lại bài tụng xưa kia, liền nói kệ:
– Oai thần lực chư Phật
Cứu hộ nguy ách con
Nhẫn huệ phá sân giận
Giải thoát chỗ an ổn
Xưa con không ngủ nghỉ
Chiều nay bỗng buồn ngủ
Điềm này không tốt lành
Tu-luân chiếm cõi con.
Thiên Đế Thích nhớ đến công đức Phật nên binh chúng A-tu-luân lần lần rút lui ra khỏi bốn cửa sau vườn và vào trong ao, trốn trong ngó sen.
Khi ấy Thích Đề Hoàn Nhơn ra lệnh đại thần:
– Ngươi hãy mau tập hợp binh chúng đuổi theo binh chúng của A-tu-luân!
Nhận lệnh Thiên vương, các đại thần của Đế Thích liền tập hợp chúng trời theo bốn cửa để tìm kiếm nhưng chỉ thấy áo giáp, cung tên trên đất mà chẳng thấy bọn Tu-luân đâu cả. Tiến dần tới trước thì gặp cung điện A-tu-luân nhưng chỉ thấy ngàn vạn chúng Bà Ha A-tu-luân nữ mà chẳng thấy thân của A-tu-luân.
Họ đem các chúng nữ trở về cung trời Đao Lợi. Thấy vậy, chúng A-tu-luân ra cầu xin quy mạng và nói với Thích Đề Hoàn Nhơn:
– Chúng tôi ngu hoặc, không biết thần lực của đệ tử Phật cao vòi vọi như vậy. Trước đây tiên tổ chúng tôi tín thờ Như Lai, nghe Phật có giới không được lấy vật người khác. Nay Thiên vương Đế Thích đem quyến thuộc của tôi về hết cung trời, thật chẳng phải là pháp tắc của đệ tử Phật thực hành.
Nghe họ nói vậy, Thiên Đế Thích rất buồn, không vui, nghĩ rằng: “A-tu-luân nói vậy chứng tỏ là ta đã phạm vào giới không cho mà lấy. Ta nên phụng thờ giới cấm, không phạm tội trộm cắp” và liền cho các A-tu-luân nữ trở về.
Khi ấy, A-tu-luân liền đem cô gái mà mình yêu kính nhất dâng cho Thiên Đế Thích. Thiên Đế Thích đem cam lồ ngon ngọt mời A-tu-luân. Tu-luân cùng Đế Thích hòa hợp tu hành pháp thiện: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không mang hương hoa phấn sáp, không ăn phi thời, giữ gìn ba pháp quy y của Như Lai.
Những hành nghiệp xưa kia trải qua vô số đời, Ta đã làm Chuyển luân Thánh vương, vô số đời làm Thiên Đế Thích, vô số đời làm Phạm Thiên vương, phụng giữ tám pháp trai giới của Hiền thánh, độ những khổ nạn, cứu những tai ách. Giả sử trong tứ thiên hạ bị lửa cháy giống như kiếp thiêu, mà ai nhất tâm quy y, xưng danh hiệu Như Lai, giữ gìn tám pháp trai giới, thân có rơi trong lửa nhưng không bị cháy. Nếu bị ngập nước, nước cũng không thể nhận chìm. Tám pháp trai giới là cha mẹ của chư Phật.
***

PHẨM THỨ 30: KHẨN ĐÀ LA

Bấy giờ trong chúng hội có Bồ tát Tín Giải Thoát, trong vô số a tăng kỳ kiếp về quá khứ đã làm Khẩn-na-la vương.
Qua phía Bắc núi Tu Di là núi Lưu Ly. Qua phía Bắc núi Lưu Ly là núi Tiểu Thiết Vi. Phía Bắc núi Tiểu Thiết vi có núi Đại Hắc. Khẩn-na-la vương cai quản núi này. Quá khứ hằng hà sa chư Phật, ông ta không thấy cũng không nghe pháp, không được chúng Tăng giáo hóa, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và sao chiếu vào. Nhờ xưa kia tạo một phước bố thí nên được ở trong cung điện bảy báu và sống rất lâu. Vì sao? Vì lúc ở nhân gian ông gặp được ruộng phước: có ông trưởng giả xây tháp Phật, Khẩn-đà-la vương này đã cúng dường một cây trụ để làm tháp. Lại còn đem thức ăn thanh tịnh bố thí cho người thợ xây. Sau khi qua đời, ông làm Hung Ức thần vương, ở giữa hai núi, cung điện nhà cửa bằng bảy báu.
Khi còn ở nhân gian, ông có của cải nhiều vô lượng. Có một Sa môn vào buổi sáng ôm bát đi đến khất thực nhà ông. Thấy vị Sa môn đứng ngoài cửa, vợ ông ta bưng cơm cúng dường. Thấy vợ đưa thức ăn cho vị Sa môn, trưởng giả liền nổi giận, quát:
– Người đi xin này là ai mà dám dòm ngó vợ ta hả?! Hãy làm cho người này tay chân đều đứt gãy!
Do đó mà sau khi qua đời, ông ta bị thọ thân xấu xí. Qua bốn mươi tám kiếp luôn không có tay chân.
Còn khi ở nhân gian, Ta học pháp tiên nhơn trong núi sâu, tụng tập chú thuật, có thể di chuyển mặt trời, mặt trăng, đổi đêm thành ngày, đổi ngày thành đêm. Trong khoảng hơi thở có thể nhổ ra vàng bạc bảy báu, có thể làm cây khô phát triển cành lá hoa quả, có thể làm nước biển khô cạn, ở trong lửa cháy và có thể bay được. Mắt có thể thấy thấu suốt, tự biết được đời trước, biết được tâm người, tai nghe rất xa. Ta có năm trăm đệ tử quyến thuộc, nghe Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn nói pháp vi diệu, đầu giữa cuối đều thiện, Ta dẫn các đệ tử ra khỏi núi sâu, bay ngang qua ao sau vườn cung vua. Thấy các thể nữ đang tắm trong ao bèn nhìn xuống và sanh tâm ái nhiễm. Thế là Ta và các đệ tử đều mất thần túc, rơi xuống trong vườn. Khi ấy, Ta tức giận cũng bởi vì đi cầu Phật mà Ta phải mất thần túc.
Thấy năm trăm đàn ông ở trong vườn, các thể nữ chạy vào thưa vua. Vua ra lệnh tùy tùng dẫn họ vào để hỏi. Họ đến nơi, vua hỏi:
– Các ông là ai?
Trả lời:
– Chúng tôi là những người học đạo tiên trên núi. Trong núi tụng tập chú thuật, có thể di chuyển mặt trời, mặt trăng, đổi đêm thành ngày, đổi ngày thành đêm,… cho đến tai nghe tiếng rất xa. Năm trăm đệ tử quyến thuộc của tôi nghe Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Quang, tôi đưa các đệ tử ra khỏi núi sâu, bay ngang qua ao tắm sau vườn của vua. Thấy các thể nữ liền sanh tâm ái nhiễm nên đều mất thần túc, phải ở lại trong vườn .
Khi ấy vua hỏi:
– Các ông ở trong núi sâu học đạo tiên, đến nay đã bao lâu?
Trả lời:
– Đã hai mươi hai tiểu kiếp.
Vua lại hỏi:
– Qua bao kiếp số học đạo, tâm như chết, không lay không động. Vì sao còn tâm dục để phải mất thần túc?
Trả lời:
– Vì vốn cho rằng đạo chân thật là thần linh đệ nhất, vọt lên chìm xuống đều tự tại theo ý muốn. Không ngờ hôm nay bỗng nhiên mất đạo. Thật xấu hổ với Thánh vương! Tùy Thánh vương trị phạt .
Vua nói:
– Ông vốn học đạo đã hai mươi hai tiểu kiếp, hình khô, tâm mỏi mệt mà sự tu tập không chân chánh. Giống như người ngu si tìm của báu trong hư không. Đối với pháp chân tế lại không đạt được thật tướng. Thầy mà ông đang tìm cầu là Như Lai Đẳng chánh giác, gần núi Nhạc Trĩ. Tôi sẽ đưa các ông đến chỗ Phật. Nếu Phật có dạy bảo gì thì hãy phụng hành làm theo.
Khi ấy đại vương sửa soạn đủ năm nghi vệ, dẫn quyến thuộc và năm trăm người học đạo tiên đến núi Nhạc Trĩ. Vua xuống xe, cởi kiếm, bỏ mũ, từ bỏ năm nghi vệ rồi đi bộ đến chỗ Phật, đầu mặt lạt sát chân Phật và ngồi qua một bên. Bỗng nhiên vua đến trước Phật thưa:
– Bạch Thế tôn! Năm trăm người này học đạo tiên trên núi đã hai mươi hai tiểu kiếp, nghe Phật ra đời nên muốn đến diện kiến. Khi bay qua sau cung, vì tham đắm ái dục nên bị mất thần túc. Cúi xin Thế tôn nói pháp vi diệu để họ được năm đạo thần thông trở lại.
Phật dạy đại vương:
– Năm trăm người này đã tu căn lành, nhưng thành thì liền hoại, không bao giờ đạt cứu cánh. Vì xưa làm trưởng giả, thấy Tỳ kheo khất thực mà sân giận rủa: “Khiến cho ông không có tay chân” . Qua vô số kiếp làm Hung Ức thần vương ở giữa hai núi Đại Thiết Vi và núi Hắc, bị quả báo không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng. Trước đây còn ở nhân gian lấy cột trụ bố thí cho người, do ân huệ một lần cúng dường cho Bích Chi Phật, sau được làm người học đạo tiên trong núi. Do dục tâm hừng hẫy nên phải mất thần túc. Duyên này đã có từ lâu chứ chẳng phải mới hôm nay. Sau khi năm trăm người này qua đời đều sanh vào cõi Phật Vô Nộ. Phật ấy giảng cho họ về sanh – già – bệnh – chết, mười hai nhân duyên, khổ không có gốc khổ, tập – diệt – đạo quả cũng như vậy.
Sau khi nghe Phật dạy, ý vua bừng sáng và cũng muốn sanh vào cõi Phật Vô Nộ.
Bấy giờ quốc vương và năm trăm tiên nhơn liền đứng dậy lạy Phật rồi lui ra.
***

PHẨM THỨ 31: HƯƠNG ÂM THẦN

Biết tâm niệm của chúng hội, đức Thế tôn liền nhập Định ý vô hình tam muội, theo âm tiếng của chúng sanh mà đến cứu độ họ.
– Xưa ở nhân gian, ta làm Hương Âm thần vương, coi giữ một Diêm Phù Đề, hai Diêm Phù Đề, cho đến hằng hà sa Diêm Phù Đề. Quyến thuộc nam nữ lấy hương thơm làm thức ăn. Áo mặc phục sức đều xông ướp hương thơm. Hoặc sanh vào cõi Uất Đàn Viết ở phương Bắc, Câu Da Ni, Phất Vu Đãi, sanh nơi nào cũng làm Hương Âm thần vương, sống một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, cho đến vô số a tăng kỳ kiếp. Biết có Phật, có Pháp, có Tỳ kheo Tăng, tâm luôn viễn ly, không tham muốn. Vì sao? – Vì tham đắm năm dục, lấy hương thơm làm vui, trong hương thơm không nghe tiếng nào khác, chỉ nghe ca hát vui thích về năm dục, cả ngày lẫn đêm không biết nhàm chán. Có thiện tri thức xưa tu căn lành, từ đất vọt lên, hiện nửa thân người, nói với Ta rằng:
“Nơi này vui lắm sao mà tham đắm đến thế? Đây chẳng phải là hạnh chân thật thanh tịnh. Hãy vứt bỏ hương xông ướp để được chỗ an lạc. Hương thơm này là sóng nắng, là huyễn, là hóa. Nay Phật đang ở nơi đời, hãy đến thọ giáo để được hương thơm thanh tịnh bay tỏa khắp mọi nơi” .
Nghe vậy, Hương Âm thần vương rất vui mừng, nói:
– Lành thay! Lành thay! Này thiện tri thức, tôi muốn ông đưa tôi thấy hương thơm thanh tịnh. Nay trong lúc Phật còn ở đời hãy cùng nhau đến lễ lạy.
Khi ấy, địa thần vọt lên khỏi đất, nói với Hương Âm thần:
– Như Lai vô sở trước
Nay đang ở phương Nam
Trong thai quán thanh tịnh
Quyến thuộc vô biên số
Xông đốt các hương thơm
Treo tràng phan bảo cái
Cúng dường như hằng sa
Hương giới đức thậm thâm
Bay tỏa khắp mười phương
Nếu ai ngửi hương ấy
Quyết đắc đạo vô thượng
Ông hãy đưa quyến thuộc
Đi đến Diêm Phù Đề
Nhất tâm quy y Ngài
Sẽ được diện kiến Phật
Đức của Phật mênh mông
Đều theo các bổn hạnh
Vừa nghe nghĩa ba câu
Thành đạo ngay tại chỗ
Định lực ba không huệ
Mười tám pháp bất cộng
Tướng đại nhơn tốt đẹp
Sau ông cũng đạt được
Thân màu vàng ròng đỏ
Mềm mại không dính bụi
Pháp thân định trí huệ
Ông sẽ được đầy đủ
Đến đó chớ sợ sệt
Chánh tâm, đừng nghi ngờ
Dõng mãnh không thối lui
Nhanh như sư tử bước
Phân biệt quán thân tâm
Hiểu đều không, tự tại
Nhãn thức vốn không sắc
Trừ đối không tạo cấu
Nên hành ba pháp môn
Nay, sau và chặng giữa
Đắc tịnh ba thông huệ
Pháp tổng trì vô ngại
Tưởng vô thường, vô lạc
Kiếp số tạo bất thiện
Lửa huệ thiêu chốc lát
Vàng bạc báu lưu ly
Tu Di bằng bảy báu
Bị lửa kiếp thiêu đốt
Hành báo không thể mất
Như Lai giáo hóa đời
Thương họ, không vị kỷ
Sanh bất cứ nơi nào
Diệt ràng buộc cho người
Như người bắn trên không
Cung tên rơi xuống đất
Cúng dường các ruộng phước
Không chọn là hiền thánh
Cũng như uống thuốc độc
Tìm thuốc giải khắp nơi
Khí độc càng bốc mạnh
Không lâu liền qua đời
Có thiện tri thức xưa
Trao cho thuốc giải độc
Lần lượt không chọn lựa
Gặp được pháp giải độc
Bố thí làm nghiệp phước
Không lựa chọn cao thấp
Được bậc Thánh khen ngợi
Là tối tôn đệ nhất.
Nghe địa thần vọt lên nói như vậy, Hương Âm thần vương tâm khai ý mở, lạy sát đất, nói:
– Ông hãy làm thầy tôi, chỉ dạy sự tối tăm ngu dốt của tôi. Nay tôi ngu mê không phân biệt đâu là chơn ngụy, Hãy nhận sự sám hối lỗi lầm ngu si của tôi.
Khi ấy, địa thần liền vọt lên, hiện thân Kim sắc Phật với ba mươi hai tướng, phóng ánh sáng lớn, dùng lực thần túc đón Hương Âm vương đến thai quán. Trong chúng hội chẳng ai hiểu biết gì cả.
Phật dạy chúng hội:
– Từ vô số a tăng kỳ kiếp Ta từng là lớn là nhỏ, nhập vào chỗ vi tế mà không bị chướng ngại. Có lúc ở trên trời giáo hóa trong kiếp số. Có lúc ở loài người chịu khổ thay thế cho họ. Có lúc ở trong loài súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, phân thân giáo hóa, không chỗ nào mà không vào.
Khi ấy Hương Âm thần vương và bảy mươi hai ức quyến thuộc đều phát tâm vô thượng, trụ vào địa bất thối chuyển.
***

PHẨM THỨ 32: ĐỊA THẦN

Khi ấy, trong chúng hội có Bồ tát tên Thiện Nghiệp, đứng dậy trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Con có điều nghi ngờ, muốn thưa Như Lai nhưng không dám.
Phật dạy Thiện Nghiệp:
– Ông cứ hỏi tự nhiên. Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông.
Thiện Nghiệp bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Trong sáu đại chúng, thần nào tối diệu nhất? Địa, thủy, hỏa, phong, không hay là thức?
Đức Phật liền dùng thần túc làm cho địa thần ấy từ dưới đất vọt lên, đứng trên đất. Thủy thần từ dưới nước vọt lên, đứng trong nước. Hỏa thần từ trong lửa vọt ra, đứng trong lửa. Phong thần từ gió vọt ra, đứng trong gió. Không thần từ hư không vọt ra, đứng trong hư không. Thức thần từ thức vọt ra, đứng trong thức.
Phật dạy Thiện Nghiệp:
– Ông hãy đích thân đến hỏi sáu vị thần này đi.
Bồ tát Thiện Nghiệp hỏi Địa thần:
– Trong sáu đại, ông là tối diệu phải không?
Địa thần trả lời:
– Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? – Vì tôi sanh ra vạn vật, nào núi, sông, đá, tường, cây cỏ, hoa quả… tất cả đều nương vào tôi mà đứng. Tất cả chúng sanh loài hữu hình cũng nhờ tôi mà được tồn tại. Do đó tôi là tối thắng nhất.
Bồ tát Thiện Nghiệp hỏi Thủy thần:
– Trong sáu thần, ông là tối diệu phải không?
Thủy thần trả lời:
– Trong sáu thần, tôi là tối diệu. Vì sao? – Vì nếu không có nước thì đất bị khô cạn, không được thấm nhuần ; cây cỏ, hoa quả đều bị khô héo. Loài chúng sanh thuộc hữu hình sẽ bị chết khát. Vì thế, tôi là tối thắng.
Bồ tát Thiện Nghiệp lại hỏi Hỏa thần:
– Trong sáu thần, ông là tối thắng phải không?
Hỏa thần trả lời:
– Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? – Vì nếu không có lửa thì chất nuôi dưỡng vạn vật phát triển làm sao chín được? Nếu gặp sương, mưa đá, băng lạnh, điện chớp,… tất cả chúng sanh loài hữu hình sẽ bị chết cóng. Vì thế, tôi là tối thắng.
Bồ tát Thiện Nghiệp lại hỏi Phong thần:
– Trong sáu thần, ông là tối diệu phải không?
Phong thần trả lời:
– Trong sáu thần tôi tà tối thắng. Vì sao? – Vì nếu không có gió thì thân, rễ, mầm, cây cối, hoa quả… không thể nào phát triển được. Tất cả chúng sanh hữu hình tới lui, lay động đều nhờ vào gió của tôi, vì thế tôi là tối diệu.
Bồ tát lại hỏi Không thần:
– Trong sáu thần, ông là vi diệu phải không?
Không thần trả lời:
– Trong sáu thần, tôi là vi diệu. Vì sao? – Vì núi sông, tường đá, cây cối, hoa quả,… tất cả chúng sanh hữu hình tới lui, qua lại tôi đều dung nạp để tất cả được hòa nhau, qua lại thông suốt. Vì thế, tôi là tối thắng.
Bồ tát Thiện Nghiệp hỏi Thức thần:
– Trong sáu thần, ông là tối thắng phải không?
Thức thần trả lời:
– Trong sáu thần, tôi là tối diệu. Vì sao? – Vì năm thần trên là đầy tớ của tôi. Tôi là vua của họ. Đi tới, qua lại, đẹp hay xấu, nên tránh biết để tránh, nên đến biết để đến. Bọn họ đều đui mù, chỉ có tôi là mắt sáng. Vì thế, tôi là tối diệu.
Bấy giờ, Địa thần thưa với Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Điều này không đúng. Vì sao? – Vì luôn bị thần thức lừa gạt, không chỉ con đường tắt. Ngã muốn được cứng rắn thì lại cho mềm mại. Khi ngã cần mềm mại thì thì lại đưa cứng cõi. Ngã muốn đến phương Nam, lại dẫn đến phương Bắc. Trong các bọn giặc không gì bằng Thức thần. Tự mình xưng là vua, điều này không như thế được.
Thủy thần thưa với Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Những gì Thức thần nói đều không đúng. Vì sao? – Vì nước có khả năng thấm nhuần, làm vạn vật phát triển. Tánh ngã cần lạnh, lại đưa cho ngã nóng. Đốt lửa làm tiêu băng giá, không còn tánh lạnh nữa, đó là do thức lừa gạt. Do đó nên thức nói không đúng.
Hỏa thần thưa với Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Thức nói không đúng gì cả. Vì sao? – Vì lửa có thể làm cho vật chín, cũng cho ánh sáng và cây cối, hoa quả theo thời gian mà phát triển. nếu không có lửa thì thức nương vào đâu? Do đó mà thức nói không đúng.
Phong thần thưa với Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Thức nói không đúng. Vì sao? – Vì vạn vật phát triển, đi tới, qua lại, lay động mà thức ngăn chận không cho ngã chuyển động. Do đó mà thức nói không đúng.
Không thần thưa với Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Thức nói không đúng. Vì sao? – Vì pháp không của tôi thì không có vật nào mà không được dung nạp. Dung nạp vạn loại tới lui, qua lại, thông suốt, không chướng ngại. Tất cả đều là không của tôi. Nếu không có không của tôi thì thức nương tựa vào đâu? Do đó mà thức nói không đúng.
Bấy giờ, Thế tôn hỏi Bồ tát Thiện Nghiệp:
– Những gì mà sáu đại này bàn luận là có cú nghĩa hay không có cú nghĩa? Có vị nghĩa hay không có vị nghĩa? Có tự nghĩa hay không có tự nghĩa?
Bồ tát Thiện Nghiệp thưa:
– Bạch Thế tôn! Tánh của năm đại đều bằng nhau. Vì sao? – Vì nếu địa giới nhiều mà thủy giới ít thì không thành tựu. Nếu thủy giới nhiều mà hỏa giới ít thì không thành tựu. Nếu hỏa giới nhiều mà phong giới ít thì không thành tựu. Nếu phong giới nhiều mà không giới ít thì không thành tựu. Nếu không giới nhiều mà thức giới ít thì không thành tựu. Nếu năm thức bằng nhau, thức không phân biệt được thì không thành tựu.
Bấy giờ Bồ tát Thiện Nghiệp nói kệ:
– Pháp thức thần không hình
Lấy năm đại làm nhà
Phân biệt nghiệp thiện ác
Đến đi, chơn ngụy khác
Thức chỉ chỗ đường lành
Đi đến đường an ổn
Thức là vua thứ sáu
Các đại khác không bằng.
Phật dạy Thiện Nghiệp:
– Những gì ông hỏi đều là do thần lực của Như Lai .
Khi ấy, trong chúng hội có một trăm bảy mươi ức chúng sanh hiểu biết pháp thâm sâu và tất cả đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn.
***

PHẨM THỨ 33: NGƯỜI

Khi ấy, trong chúng hội có Bồ tát tên Pháp Ấn, nghe Như Lai nói sáu đại chúng sanh thọ thân năm ấm, phân biệt trong ngoài hiểu rõ đều là không, hoàn toàn không thật có, trong lòng nghi ngờ rằng thức làm loạn tưởng, chẳng phải pháp chơn thật. Ai là người? Sao gọi là người? Người từ đâu sanh?
Phật dạy Bồ tát Pháp Ấn:
– Lành thay! Lành thay! Những gì ông hỏi đều là do oai thần của chư Phật ứng tiếp. Vì sao? – Vì vô số a tăng kỳ hằng hà sa chư Phật ở quá khứ và vô số hằng hà sa chư Phật ở vị lai đều phân biệt nguồn gốc con người với danh hiệu, tên họ không thể nghĩ bàn. Hàng Nhị thừa, La-hán, Bích Chi Phật không thể nào tính lường được. Nay ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ. Ta sẽ giảng nói rõ ràng cho ông:
Ví như thế giới Ta-bà ở Diêm Phù Đề có hạt giống chúng sanh, điều này không đúng. Vì sao? – Vì chẳng phải tánh chân thật, chẳng phải loài người.
Cõi Đông: Phất Vu Đãi cũng chẳng phải loài người.
Cõi Bắc: Uất Đàn Viết cũng chẳng phải loài người.
Cõi Tây: Câu Da Ni cũng chẳng phải loài người.
Trừ cõi Vô Lượng Thọ Phật và cõi A Súc Phật, trừ cõi Trang Nghiêm, cõi Hư Không Phật, trừ các Bồ tát trong hội hôm nay của Ta, còn lại chẳng phải người.
Vì sao? – Vì từ xưa đến nay, cho đến lúc thành Phật, trong thời gian ban đầu không tạo ác. Đây gọi là loài người .
Giống như có người tu khẩu nghiệp đối với người không tu, đó gọi là loài người.
Người thọ pháp ba quy đối với người không thọ, đó gọi là loài người.
Người phụng trì năm giới đối với người không phụng trì, đó gọi là loài người.
Người tu hành thập thiện đối với người không tu hành, đó gọi là loài người.
Người hướng Tu-đà-hoàn đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc Tu-đà-hoàn đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Người hướng Tư-đà-hàm đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc Tư-đà-hàm đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Người hướng A-na-hàm đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc A-na-hàm đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Người hướng A-la-hán đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc A-la-hán đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Người hướng Bích Chi Phật đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc Bích Chi Phật đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Người hướng Phật đạo đối với người không hướng, đó gọi là loài người.
Người đắc Phật đạo đối với người không đắc, đó gọi là loài người.
Cho nên nói Nhơn Tôn Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn là loài người.
Phật dạy Bồ tát Pháp Ấn:
– Hãy lắng nghe cho kỹ. Chư Phật quá khứ đối với vị lai, hiện tại, đó gọi là loài người.
Hiện tại đối với vị lai, đó gọi là loài người.
Vị lai đối với quá khứ, hiện tại, đó gọi là loài người.
Đối với pháp ba đời thì hiện tại đối với quá khứ, vị lai là đệ nhất. Vì sao? – Vì trong hiện tại, Như Lai có thể hành pháp quá khứ, vị lai. Vì sao? – Vì quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, còn pháp hiện tại thì tự nhiên. Chẳng phải quá khứ có thể diệt hiện tại, vị lai. Chẳng phải vị lai có thể diệt quá khứ, hiện tại.
Khi ấy, Thế tôn nói kệ:
– Quá khứ Đẳng chánh giác
Dạy cứu độ chúng sanh
Phân biệt nguồn gốc người
Thượng, trung, hạ vi diệu
Hiện tại Phật tối thắng
Rõ khứ, biết vị lai
Diệt trừ kiết trước sau
Chiếu sáng như mặt trời
Những chúng sanh khổ hạnh
Hai chân và bốn chân
Giảng nghe pháp cam lồ
Đầy đủ trừ các tưởng
Chư thiên hành Thập thiện
Từ một, hai mươi hai
Trên trời, dưới chẳng phải
Tạo công đức khác nhau
Như Lai đủ các tướng
Hành thiện không vết dơ
Tích đức như ánh sáng
Hạnh thanh tịnh không dơ
Nếu ai sanh phỉ báng
Nói Phật đạo không thật
Chết đọa ngục A-tỳ
Chư Phật không cứu được
Hơi miệng hôi tanh dơ
Thân bị phiền não đốt
Niệm ác theo bùng dậy
Đều do tội phỉ báng
Hành thiện tu công đức
Thần thức đến cõi lành
Như người vào ao tắm
Sạch sẽ hết bụi dơ
La-hán, Bích Chi Phật
Đoạn diệt không còn sanh
Không còn nghĩ thân ta
Xa lìa năm đường khổ
Những pháp xưa Phật hành
Được chư Phật ấn khả
Được mọi người tôn quý
Nên hiệu Tôn trung tôn.
Nói kệ xong, Thế tôn nói với Bồ tát Pháp Ấn:
– Đó gọi là loài người.
Bấy giờ, Bồ tát Pháp Ấn liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải sát đất, chấp tay thưa trước Phật:
– Lành thay, bạch Thế tôn! Ngài nói nghĩa ấy rất hay. Đối với Như Lai thì chúng con trong hội này chẳng là loài người. Vậy làm thế nào để thị hiện được làm loài người?
Phật dạy Bồ tát Pháp Ấn:
– Hiểu biết các pháp là không, không có sở hữu, không có đây, không có kia, không thấy có đây – kia. Đó gọi là loài người.
Quán sát pháp tánh không có quá khứ, hiện tại và vị lai. Hiểu biết pháp tánh là không tịch, không hai. Đó gọi là loài người.
Đối với bốn đạo quả, có người thành tựu, có người không thành tựu, không thấy có một, không thấy có hai. Đó gọi là loài người.
Đối với tướng của các pháp, không thấy trang nghiêm, không thấy có trang nghiêm, hiểu rõ đều là không tịch, chẳng phải một, chẳng phải hai. Đó gọi là loài người.
Cõi Phật thanh tịnh, trừ sạch dục nộ si, cũng không thấy tịnh, không thấy bất tịnh. Hai việc đều như hư không. Đó gọi là loài người.
Phân biệt ba mươi bảy phẩm đạo tánh có thành có bại, không thấy trong cõi tục có người, không có người. Đó gọi là loài người.
Phát tâm rộng lớn không vì riêng mình, làm an ổn cho chúng sanh, ở đâu đều không sợ, không thấy hữu trụ, không thấy vô trụ, hai việc đều bình đẳng. Đó gọi là loài người.
Phân biệt tâm không đắm nhiễm, giữ tâm giống như hư không, không bị lay chuyển ; không thấy định, cũng không thấy không định. Đó gọi là loài người.
Hướng dẫn chỉ chỗ lành cho những chúng sanh tà kiến, lấy tám pháp chân chánh để rửa sạch tâm dơ ; không thấy chánh, cũng không thấy không chánh. Đó gọi là loài người.
Đối với bốn bộ chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di có đạo tâm kiên cố, không bị tham đắm, không thấy giới hạnh có phạm hay không phạm. Đó gọi là loài người.
Như vậy, đối với pháp Như Lai thì pháp ấn càng làm lợi ích cho chúng sanh. Đối với Phật được trở lại tu các công đức, không luống qua một cách uổng phí.
Bấy giờ trong chúng hội có bảy mươi ức chúng sanh đều phát đạo tâm vô thượng chánh chơn, đối với loài người tu hành bất thối chuyển.
***

PHẨM THỨ 34: HÀNH

Khi ấy, trong chúng hội có Bồ tát tên Tạo Hạnh, đứng dậy, trịch bày vai phải, chấp tay thưa trước Phật:
– Lành thay, bạch Thế tôn! Ngài nói về loài người rất hay. Chẳng phải trước, chẳng phải sau, chẳng phải hai bên, chặng giữa. Vậy làm sao biết được quả báo của hành nghiệp?
Thân quá khứ chẳng phải hiện tại.
Thân vị lai chẳng phải quá khứ.
Thân hiện tại chẳng phải quá khứ, vị lai.
Hoặc bên trong tạo tác mà bên ngoài thọ quả báo.
Hoặc bên ngoài tạo tác mà bên trong thọ quả báo.
Thân phàm phu tạo tác mà thân Tu-đà-hoàn thọ quả báo.
Thân Tu-đà-hoàn tạo tác mà thân Tư-đà-hàm thọ quả báo.
Thân Tư-đà-hàm tạo tác mà thân A-na-hàm thọ quả báo.
Thân A-na-hàm tạo tác mà thân A-la-hán thọ quả báo.
Hoặc có chúng sanh đắc Từ tam muội mà không có Bi – Hỷ – Xả.
Có chúng sanh đắc Bi mà không có Từ – Hỷ – Xả
Có chúng sanh đắc Hỷ mà không có Từ – Bi – Xả.
Có chúng sanh đắc Xả mà không có Từ – Bi – Hỷ.
Có chúng sanh từ địa phàm phu, không hướng đến Tía địa, Pháp địa mà lại thủ Tu-đà-hoàn.
Có chúng sanh không hướng đến Tín địa, Pháp địa, Tu-đà-hoàn mà lại thủ Tư-đà-hàm.
Có chúng sanh không hướng đến Tín địa, Pháp địa, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm mà lại thủ A-na-hàm.
Có chúng sanh không hướng đến Tín địa, Pháp địa, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm mà lại thủ A-la-hán.
Có chúng sanh không hướng đến Tín địa, Pháp địa, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán mà lại thủ A-la-hán bỉ thử A-la-hán.
Có chúng sanh hướng đến Bích Chi Phật, rơi trở lại vào địa phàm phu.
Có chúng sanh hướng đến A-la-hán, rơi trở lại địa phàm phu.
Có chúng sanh hướng đến A-na-hàm, rơi trở lại địa phàm phu.
Có chúng sanh hướng đến Tư-đà-hàm, rơi trở lại địa phàm phu.
Có chúng sanh hướng đến Tu-đà-hoàn, rơi trở lại địa phàm phu.
Có chúng sanh từ Pháp địa rơi trở lại địa phàm phu.
Có chúng sanh từ Tín địa rơi trở lại địa phàm phu.
Những chúng sanh này đều có nghi ngờ với Như Lai. Cúi xin Thế tôn hãy phân biệt rõ ràng để các chúng hội hoát nhiên đại ngộ.
Khi ấy, Thế tôn dạy Bồ tát Tạo Hạnh:
– Lành thay! Lành thay! Những vấn đề ông hỏi đều là đương lai, quá khứ, hiện tại, cũng là quả báo hành nghiệp của chư Phật. Nay Ta sẽ phân biệt rõ ràng. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.
Thế nào, này Bồ tát Tạo hạnh! Ông muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a tăng kỳ kiếp quá khứ hay muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a tăng kỳ kiếp vị lai? Hay muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a tăng kỳ kiếp trong hiện tại?
Bồ tát Tạo Hạnh bạch Phật:
– Bạch Thế tôn! Xin tạm gác quả báo hành nghiệp thuộc quá khứ, vị lai qua một bên. Con muốn nghe quả báo hành nghiệp hiện tại của thân Như Lai.
Phật dạy Bồ tát Tạo Hạnh:
– Quả báo hành nghiệp của vô lượng a tăng kỳ kiếp quá khứ cũng là ở hiện tại.
Quả báo hành nghiệp trong vô lượng a tăng kỳ kiếp vị lai cũng ở hiện tại.
Quả báo hành nghiệp hiện tại tạo tác cũng là nhơn duyên của quá khứ và vị lai thọ quả báo.
Nay Ta sẽ giảng nói cho ông về điều này.
Xưa kia ta từng tu vô số khổ hạnh, tu hạnh thanh tịnh hoặc hạnh bất tịnh. Tu hạnh trời, tu hạnh người. Ban đầu cầu Phật đạo, các lậu đã đoạn tận, có thần thông biến hóa rồi bỗng nhiên đại ngộ. Ba cõi đều khổ, chỉ có Ta là vui. Tu khổ hạnh bên bờ sông Ni-Liên sáu năm, mỗi ngày ăn một hạt mè, một hạt gạo. Đây là do lúc xưa Ta phạm bốn lỗi về miệng với một vị Duyên giác, đoạn tuyệt sự bố thí, nên nay thọ quả báo này.
Khi Ta đã thành Phật, có năm trăm đồng tử rêu rao, phỉ báng, mắng chửi và đến ngã tư ngõ hẻm nói rằng: “Đạo Phật không chân thật” . Lúc đó, nhân dân trong nước có người tin, có người không tin. Người tin là hàng Tín địa, Pháp địa. Người không tin là hàng ngoại đạo phàm phu. Những người này căn lực đã thành tựu, không còn bị chướng ngại.
Phật ra đời chiếu sáng khắp nơi. Địa ngục được chấm dứt, ngạ quỷ được no đủ, súc sanh không còn mang vác, chở nặng. Ví như Ta bị Đề Bà Đạt Đa lấy đá ném làm ngón chân Phật chảy máu. Lúc ấy Ta tránh né đi về phương Đông: đến Phất Vu Đãi, phương Bắc: đến Uất Đan Viết, phương Tây: đến Câu Da Ni. Ta lại lánh từ cõi trời Đao Lợi lên đến Tam thập tam thiên. Vậy mà viên đá ấy cứ vẫn theo Ta. Ta lại né trở về chỗ cũ và bị đá làm tổn thương.
Ta ở nước Ma-Kiệt-Đà, trong vườn Họa Am thanh vắng mà kinh hành. Khi ấy có một trưởng giả tên Thi Lợi Quật thỉnh mời Ta để cúng dường. Ta liền nhận lời mời và dẫn A-Nan đi theo.
Nhà trưởng giả có bảy lớp cửa, mỗi cửa đều có người canh giữ. Theo thường pháp của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại là im lặng thọ thỉnh chứ không nhận lời thỉnh bằng cách khác. Đệ tử xuất gia của Ta đạo hạnh cũng như vậy. Khi Ta đến cửa thì nghe bên trong trưởng giả Thi Lợi Quật trỗi âm nhạc để vui chơi nên quên hẳn là Ta đã đến đứng bên ngoài một ngày một đêm rồi.
Phật dạy A-Nan:
– Ông hãy đi khất thực nhé. Còn Ta đứng ở đây.
Lúc đó có mã tướng đi ngang qua chỗ Phật, Phật theo xin thức ăn. Mã tướng nói:
– Tôi không có thức ăn. Chỉ có lúa mạch chín, tôi sẽ đem đến cho ông.
Thế rồi Mã tướng lấy lúa mạch chín cúng dường Phật, Phật liền thọ thực. Thấy vậy, mã tướng cho là Phật ăn.
Có vị trời tên Tinh Luyện đem thức ăn đi, mọi người cho là Phật ăn. Thật ra Phật không ăn, chỉ vì độ người kia nên Phật hiện thọ thực và Ngài đứng nơi cửa chín mươi ngày như vậy.
A-Nan cũng đi khất thực chín mươi ngày.
Như Lai dùng oai thần không cho quốc vương và quần thần biết Phật đang đứng nơi ấy. Vì sao? – Vì sợ họ sanh ngã mạn, phỉ báng. Nếu Phật không dùng oai thần thì người khác làm sao trông thấy được?
Khi ấy, trưởng giả Thi Lợi Quật có chút việc đi ra ngoài thành dạo chơi. Thấy Phật đứng ngoài cửa, ông ta thưa:
– Ngài đến đây khi nào?
Phật nói với trưởng giả:
– Trước đây ông đã thỉnh Ta, nên Ta mới đến. Ông ở trong vui chơi thích thú. Ta đến đây đã chín mươi ngày rồi. Ta định quay về lại vườn Họa Am, nhưng được mã tướng cúng dường lúa chín của ngựa ăn.
Trưởng giả Thi Lợi Quật rất xấu hổ, năm vóc gieo xuống đất, thưa:
– Cúi xin Thế tôn hãy rũ lòng tha thứ và đừng giận con. Hãy cho phép con sám hối lỗi lầm.
Phật dạy trưởng giả:
– Duyên này đã có từ lâu, chứ chẳng phải mới đây đâu.
Khi ấy, trưởng giả thỉnh Phật vào trong nhà cúng dường tứ sự. Phật giảng pháp làm cho ông đoạn sạch các trần cấu và đắc pháp nhãn tịnh.
Phật dạy:
– Vào thuở xưa, có một thời Ta ở tại thành Tỳ Xá Ly. Khi mới thành Phật chưa được bao lâu thì Lục sư ngoại đạo hưng thịnh. Ta có một ngàn hai trăm năm mươi người đệ tử. Một ngàn một trăm người đều đắc A-la-hán với lục thông thấu triệt.
Lúc đó có cô gái Chiên Giá Ma Na Thị, là đệ tử của A Xà La Xí Xá Khâm Bà La, thọ minh giáo của thầy. Mỗi buổi sáng cô ta đến chỗ Phật, bên ngoài hiện pháp thanh tín nữ nhưng bên trong học giáo của tà sư. Thường xuyên qua lại, cố muốn cho mọi người thấy và lấy cỏ nhét vào bụng, càng ngày càng làm cho lớn dần. Sau đó, cô ta lấy bồn gỗ cột vào bụng, giống như người phụ nữ sắp sanh con.
Khi ấy, tà sư hỏi cô ta:
– Người của thai này là ai?
Cô ta thưa:
– Hàng ngày con đến chỗ Sa môn Cù-Đàm cho nên con có thai này.
Sư liền tức giận, nói:
– Dám lừa gạt đệ tử của ta à? Đệ tử này sắp sanh lên cõi trời Phạm thiên, vậy mà làm hủy nhục đệ tử ta đến nỗi như thế này!
Nói rồi, tà sư dẫn các đệ tử và cô gái ấy đến chỗ Phật. Trong lúc Như Lai đang giảng pháp cho vô số chúng Tăng thì Phạm chí lớn tiếng nói rằng:
– Sa môn Cù-Đàm này đã phạm dâm dục, thật không phải là người đắc đạo mà tự xưng là đã đắc đạo. Những sự biến hóa đều là huyễn thuật, chẳng phải đạo chân thật.
Rồi chỉ vào cô gái, Phạm chí nói tiếp:
– Mọi người có thấy không? Vì ông ta yêu thương cô gái này của tôi nên cô ta phải mang thai.
Nói xong, ngay lúc đó Thiên Đế Thích hóa làm một con chuột vàng, chui vào trong quần cô ta, cắn đứt dây làm bồn gỗ rơi xuống đất. Thấy vậy, mọi người quở mắng:
– Bọn đồ đệ của ông dám đến hủy báng Thánh nhơn à? Hãy rút ra khỏi nước ngay!
Xưa có một thời ở nước Cẩm Tỳ Lê, Ta ngồi thiền định, hành đạo dưới một gốc cây, trải qua chín mươi ngày nhưng vẫn không dời đổi chỗ. Khi đó, có Lục sư tên Kim Na Kim Ly, có đệ tử nữ tên Tuân Đà Nan Đề nổi tâm ganh ghét và muốn làm chướng ngại công đức của Phật rồi tự khen ngợi đạo của thầy mình.
Cô ta nói:
– Tôi có thể làm cho mọi người không ai đến cúng dường Phật để cho danh tiếng của thầy mình lan tràn ra bên ngoài.
Cô ta nghĩ ra mưu kế: hàng ngày đến chỗ Phật. Vào một ngày nọ, cô ta tự sát, đem chôn sau vườn của tinh xá. Sau đó tà sư đem tử thi ra nói: “Phật giết người” , làm cho tai tiếng hiềm chê lan ra ngoài, ai ai đều biết.
Thuở xưa, hông trái của Ta bị trúng gió độc nên sai Kỳ Vực đến trị. Kỳ Vực nói:
– Cần phải có sữa bò, phân voi, xá lợi Sa Tất Bát Thi Lợi Sa, hồ thục, nấu làm thuốc trị khỏi ngay.
Thuở xưa, Ta ở trong một thôn nọ, du hành giáo hóa. Ta bị cọc ngựa đâm vào chân, từ trên thủng xuống làm cho đau đớn vô cùng và sai Kỳ Vực đến trị.
Một thuở nọ Ta bị đau đầu giống như bị hai núi Tu Di ép lại làm cho đầu nhức, đau đớn không thể tả nổi. Nay mặc dầu Ta đã thành Phật, chấm dứt các lậu, bổn hạnh căn lành được chứa nhóm vốn không mất.
Từ vô số kiếp, Ta đã tu hành thanh tịnh, quả báo của hành nghiệp khó có thể lìa. Thân Phật còn như vậy, huống chi La-hán, Bích Chi Phật, làm sao tránh khỏi quả báo của hành nghiệp?
Khi ấy, Thế tôn nói kệ với Bồ tát Tạo Hạnh:
– Bốn thần túc tối thắng
Sống lâu vô số kiếp
Trời đất đều bại hoại
Tu-Di như tro bụi
Hành nghiệp đi bên thân
Không chỗ nào trốn khỏi
Ta thành Tối chánh giác
Ba cõi không ai bằng
Phải thọ chín quả báo
Nghiệp trước liên kết nhau
Ta có lực tam muội
Kim cang không ngăn được
Không thể tránh nghiệp báo
Xả mà không thọ báo
Đời này Ta chấm dứt
Không còn phân biệt nữa
Vĩnh biệt đường tử sanh
Không tạo nghiệp ấy nữa
Người quá tham năm dục
Buông lung không cẩn thận
Đời nay và đời sau
Thường đọa chỗ hữu ái
Niết-bàn không chấp trước
Thị hiện pháp hữu vi
Nếu không hiện giáo hóa
Chúng sanh khó độ được
Bát đẳng đạo vô vi
Đường đi của Hiền thánh
Xa lìa các trói buộc
Không có pháp sanh diệt
Đạo là quán vô thường
Tư duy pháp bất tịnh
Nhất tâm không lay động
Thành tựu các tướng tốt
La-hán, Bích Chi Phật
Đền trả nào do Ta
Bị hành nghiệp đeo đuổi
Đi đâu để tránh khỏi
Xá-lợi Phất trí huệ
Luôn hành công đức Phật
Bị bệnh phải diệt độ
Đây chứng minh rõ ràng
Mục Liên có thần túc
Từng bước vượt Tu Di
Phạm chí cầm cây đánh
Xương nát như hạt cải
A-la-hán Bà Kiệt
Chiến thắng rồng Nan Đà
Khi sắp vào diệt độ
Tròng mắt rơi vô số
Tỳ kheo ni Kim Hoa
Thần đức khó thể lường
Hóa làm vua Chuyển luân
Thống lãnh bốn thiên hạ
Qua đời nhập vô vi
Bị kiếm xẻ toàn thân
Bích Chi tên Quang Minh
Đời không có Phật pháp
Theo đời, tuổi thọ hết
Vào vạc dầu diệt độ
Hiện tại Ta đang nói
Nghiệp báo những người ấy
Nếu nói về quá khứ
A-tăng kỳ hạnh Phật
Kiếp này đến kiếp khác
Nghiệp báo không thể hết
Đương lai lại có Phật
Ở ngay trên tòa này
Cũng sẽ nói nghiệp báo
Giống như nay không khác
Bồ tát Ma ha tát
Tinh tấn không giải đãi
Nên mau lìa nghiệp báo
Không cho chúng đi theo.
Nghe Phật nói kệ này, Bồ tát Tạo Hạnh rợn tóc gáy, nhàm chán sanh tử luân hồi trong năm đường và tất cả đều phát tâm Vô thượng, trụ vào địa Bất thối chuyển.
***

PHẨM THỨ 35: PHÁP TRỤ

Bấy giờ, thấy chúng hội tịch nhiên thanh tịnh, thuần nhất không tạp loạn, Thế tôn đưa lưỡi dài rộng liếm đến hai tai, phóng ánh sáng lớn lên đến vô lượng a tăng kỳ cõi. Thấy ánh sáng, chúng hội rất vui mừng khôn xiết, ca ngợi chưa từng có.
Khi ấy, Thế tôn thâu ánh sáng lại và nói với đại Bồ tát Di-Lặc:
– Từ vô số kiếp đến nay, thân khẩu ý của Ta thanh tịnh, không có vết dơ, được quả báo ánh sáng thật tướng này. Đây là do không nói dối.
Phật lại dạy đại Bồ tát Di-Lặc:
– Nay Ta giao phó kinh điển Bồ tát Thai Hóa này cho ông. Ông hãy tuyên giảng, lưu bố rộng rãi. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng kinh này, đem hương hoa cúng dường, nào hương vụn, hương bột, the lụa, tràng phan, bảo cái, ca xướng âm nhạc… thì công đức này rất nhiều, rất nhiều.
Nếu có thiện nam thiện nữ không thể rốt ráo sáng chiều đọc tụng, dù chỉ khoảng trong chốc lát tâm nghĩ nhớ đến kinh này thù công đức phước ấy không thể tính kể. Vì sao? – Vì thai kinh này là cha mẹ của chư Phật, là đứng đầu trong các kinh. Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại cần y theo trong mẫu thai kinh mà giáo hóa cứu độ chúng sanh quá hơn sắc thân trăm lần, ngàn lần, ức vạn lần cũng không thể tính kể được.
Phật lại dạy đại Bồ tát Di-Lặc:
– Nếu có thiện nam thiện nữ nào lễ bái cúng dường kinh điển này, muốn được diện kiến chư Phật mười phương, nên nhất tâm quy mạng, không có tư tưởng nào khác, thì lập tức được thấy chư Phật mười phương.
Nếu có thiện nam thiện nữ nào phát đại thệ nguyện: “Con muốn làm cho địa ngục được chấm dứt, ngạ quỷ, súc sanh không còn bệnh phiền não” , rồi nhất tâm quy mạng đọc tụng kinh này thì các chúng sanh khổ não ấy đều được giải thoát.
Phật dạy đại Bồ tát Di-Lặc:
– Duyên Ta nay đã tận, không còn giáo hóa được nữa. Kinh này được lưu giữ ngàn năm, đến hai ngàn năm hoặc ba ngàn năm rồi phân làm ba phần:
Một phần giao cho A-Nan, đệ tử mà Ta để lại giáo hóa.
Một phần giao cho Nan-Đà Ưu Bát La long vương.
Phần còn lại, Di-Lặc cùng Ta giảng nói để cho tất cả chúng sanh đều được nghe biết, không được để gián đoạn.
Này Di-Lặc! Khi ông làm Phật, ông nên giảng nói rộng rãi kinh này. Chúng sanh mười phương thiên hạ, cho đến loài côn trùng, loài người đều nhờ kinh này mà được giải thoát.
Này Di Lặc! Sau khi ông bát Niết-bàn, kinh này lưu bố trên đời hai mươi mốt kiếp, sau đó mới đoạn mất. Nếu có thiện nam thiện nữ nào đọc tụng kinh này, tâm không tán loạn, phát đại thệ nguyện: “Muốn cho chúng sanh đều đồng một thệ nguyện như ta, đồng thời đều sanh vào nước Thanh Tịnh, phụng thờ lễ kính chư Phật Thế tôn” thì đạt được nguyện này, không bị trở ngại.
Phật dạy Bồ tát Di-Lặc:
– Ông nên vâng giữ giáo pháp của Ta. Hãy nghĩ đến ân Phật. Ai muốn báo đáp ân Phật thì phải nhất tâm phụng trì cúng dường kinh Thai Hóa, công đức phước lợi này không thể nào nói hết được. Vì sao? – Vì kinh Thai Hóa này là kho báu của các pháp, được chư Phật ấn chứng. Chỉ có Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn mới có thể khai phát ấn phong này để thị hiện cho chúng sanh .
Này Di-Lặc! Ông nên biết rằng: những gì mà Ta nói trước sau đều ở trong kinh thâm sâu tam muội Tổng trì, nếu ông quên một chữ, một câu thì tội này còn nhẹ. Còn như với kinh này mà quên một câu, một chữ thì tội ấy rất nặng. Vì sao? – Vì kinh này là cha mẹ của chư Phật Thế tôn.
Sau khi Thế tôn nói xong, khắp mặt đất chấn động sáu cách. Các Bồ tát trong hội nói với nhau:
– Thích Ca Văn Phật lìa pháp tánh không lâu đâu. Chắc chắn sẽ hiện sắc tướng trở lại như cũ.
Khi ấy trong chúng hội có tám mươi bốn ức chúng sanh đều phát tâm Vô thượng, trụ bất thối chuyển. Các Bồ tát bỗng nhiên biến mất và đều lìa thai hóa, cúng dường kim quan xá lợi của Thích Ca Văn Phật.
***

PHẨM THỨ 36: PHỤC BỔN HÌNH

Khi ấy, Thế tôn thâu oai thần, trở lại trong kim quan, tịch nhiên im lặng. Chư thiên đốt hương rải hoa cúng dường. Khi ấy Đại Ca Diếp dẫn năm trăm đệ tử từ nước Ma Già Đà về chỗ Phật. Nghe hôm nay đức Phật sẽ diệt độ nên đau buồn khóc lóc, không thể kiềm chế được.
Thế tôn dùng thiên nhãn thấy Ca Diếp đến liền từ kim quan duỗi hai chân ra. Thấy vậy, Ca Diếp rờ vuốt, khóc lóc khôn tả.
Ca Diếp nói kệ:
– Tất cả hành vô thường
Có sanh thì có chết
Không sanh thì không chết
Diệt này rất là vui
Ai được Phật giáo hóa
Được độ khắp mọi nơi
Con hành đạo quá xa
Đau lòng không gặp Phật
Pháp giới đều vô thường
Sắc thân cũng như vậy
Không có già – bệnh -chết
Vô vi không còn sanh
Sống lâu trăm hà sa
Cũng sẽ phải diệt độ
Huống Thiên Tôn thầy con
Giữa chốn đầy bụi dơ.
Bấy giờ, Ca Diếp và năm trăm đệ tử đi nhiễu quanh kim quan bảy vòng rồi đứng qua một bên.
Khi ấy A-Nan vịn góc Tây-bắc của kim quan, Nan Đà vịn góc Đông-bắc. Chư thiên ở sau đứng trực phía Bắc. Đi ra khỏi Song Thọ bốn mươi chín bước, an táng kim quan.
Theo pháp của Sa môn, lấy hương ngưu đầu chiên đàn để trên kim quan. Các Phạm Thiên Vương, Thích Đề Hoàn Nhơn dẫn thiên chúng ở trên hư không rải hoa cúng dường. Bấy giờ tôn giả Ca Diếp cầm lửa đốt củi chiên đàn để hỏa thiêu.
Tám vua nước tranh nhau phân chia xá lợi, tùy theo sức mạnh mà lấy được nhiều ít. Tất cả đều đem về cúng dường.
***

PHẨM THỨ 37: XÂY THÁP

Bấy giờ tám vua nước lớn: vua Ưu-Điền, vua Đảnh Sanh, vua Ác Sanh, vua A Xà Thế.
Bốn đại binh mã chủ: Tối hào binh mã chủ, Dung nhan binh mã chủ, Xí thạnh binh mã chủ, Kim cang binh mã chủ.
Tám đại vương này cùng nhau tranh giành xá lợi. Mỗi người thống lãnh binh chúng, dàn ra một bên.
Tám đại vương nói:
– Xá Lợi Phất! Ta phải lấy riêng cho bằng được.
Có một đại thần tên Ưu Bà Cát khuyên can, nói với các đại vương:
– Đừng tranh giành xá lợi Phật nữa, mà phải phân chia ra để cùng nhau cúng dường. Làm gì mà phải dấy binh chinh phạt nhau!
Khi ấy, Thích Đề Hoàn Nhơn liền hiện làm người, nói với tám đại vương:
– Chư thiên chúng tôi cũng phải có phần. Nếu cùng nhau ra sức tranh cãi thì sẽ có bên thắng bên bại.
Bấy giờ A Nậu Đạt long vương nói với tám đại vương:
– Chúng tôi cũng phải có phần xá lợi.
Ưu Bà cát nói:
– Thôi, các ông hãy dừng lại, mà nên cùng nhau chia xá lợi.
Rồi ông liền phân làm ba: một phần cho chư thiên, một phần cho long vương và một phần cho tám vua. Rồi ông ta lấy bồn bằng vàng chứa hơn một thạch. Vị thần này lén lấy mật bôi bên trong bồn và lấy bồn để lường, phân chia xá lợi.
Chư thiên được xá lợi rồi, trở về trời xây tháp Du-bà bằng bảy báu.
Rồng được xá lợi trở về long cung cũng xây tháp D-bà bằng bảy báu.
Tám vua được xá lợi trở về nước mình cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu.
Quan thần Ưu Bà Cát được dính xá lợi trong bình vàng ba đấu và một lọ, cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu, lấy tro và đất xây bốn mươi chín ngọn tháp Du-bà bằng bảy báu.
Chỗ hỏa thiêu cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu, cao bốn mươi chín nhận, dùng hương hoa cúng dường, treo lụa tràng phan, bảo cái, suốt ngày lẫn đêm trỗi âm nhạc không dứt đoạn.
Nhờ oai thần của Phật khiến cho tháp bảy báu đều có ánh sáng. Ban đêm tỏa ánh sáng như ban ngày, ban ngày phóng ánh sáng như ban đêm. Các thiên thần giữ tháp đều đến canh giữ, không có kẻ xấu ác đến xúc phạm.
***

PHẨM THỨ 38: XUẤT KINH

Sau khi Phật nhập diệt bảy ngày đêm, Đại Ca Diếp nói với năm trăm A-la-hán:
– Hãy đánh kiền chùy tập hợp chúng. Năm trăm vị đều đến từ thế giới chư Phật trong mười phương. Ai đắc A-la-hán, lục thông thấu triệt thì tập hợp hết ở giữa song thọ cõi Diêm Phù Đề này. Nay Thích Ca văn Phật đã đến tuổi thọ nhập bát Niết-bàn. Chỗ hỏa thiêu đã được xây xong tháp bảy báu. Nay tập hợp đại chúng là muốn được giảng nói pháp thân tánh chân thật của Phật. Hãy mau tập hợp để chọn những lời nói vi diệu.
Khi ấy, năm trăm vị La-hán nghe lời chỉ bảo của Đại Ca Diếp, dùng sức thần túc, như người lực sĩ duỗi cánh tay đến từ hằng hà sa cõi khắp mười phương. La-hán tập hợp được tám ức bốn ngàn vị đến tập hợp ở cõi Kham Nhẫn để nghe thọ chánh pháp.
Thấy đại chúng đã tập hợp, Đại Ca Diếp nói với Ưu Ba Ly:
– Ông làm Duy-na, hãy bảo A-Nan đi ra.
Nhận lời chỉ giáo, Ưu Ba Ly bảo A-Nan ra, nói:
– Ông là thị giả Phật, nay có lỗi lớn với chúng tôi, ông có tự biết không?
A-Nan thưa Đại Ca Diếp:
– Tôi xét thấy không có lỗi lớn nào với Thánh chúng cả.
Ca Diếp bảo A-Nan:
– Thế nào, này A-Nan! Kinh mà Phật nói rằng: nếu có Bồ tát nào đắc đạo, sáu thông thấu triệt, tu bốn thần túc, tu nhiều, hành nhiều, có thể sống hơn một kiếp. Vì sao mà ông im lặng, không trả lời Phật?
Khi ấy, A Na Luật đưa A-Nan ra ngoài, rồi bỗng nhiên kêu A-Nan ra trước, lấy việc xưa mà quở trách A-Nan. Khi ấy A-Nan tâm hoang mang, tự suy nghĩ: “Phật diệt độ chưa bao lâu mà lại sĩ nhục ta đến như vậy” , liền tư duy bốn ý chỉ, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo. Các trần cấu đã được diệt sạch và bỗng nhiên đại ngộ. Thánh chúng khen ngợi, chư thiên ca hát. Ngay lúc đó, mặt đất chấn động sáu cách, chư thiên rải hoa, trỗi nhạc. Sắc thân diệt độ, còn pháp thân vượt ra khỏi thế gian, làm lợi ích cho chúng sanh, phần nhiều được thấm nhuần, rồi sai A-nan thăng cao tòa bằng bảy báu.
Ca Diếp nói với A-Nan:
– Pháp mà Phật nói, một chữ một lời nói hãy cẩn thận, chớ có để thiếu sót. Tạng của Bồ tát tập trung lại một chỗ. Tạng Thanh văn tập trung để một chỗ. Tạng giới luật tập trung để một chỗ.
Khi ấy A-Nan nói:
– Có một thuở nọ nói về chỗ mà đức Phật ở thì Ca Diếp và tất cả Thánh chúng đều rơi nước mắt, khóc lóc không tự kềm chế được, than thở: “Già – chết như huyễn, như hóa. Hôm qua thấy Phật mà hôm nay nghe nói đã diệt độ rồi” .
– Tạng kinh Thai Hóa được đưa ra đầu tiên.
– Thứ hai: tạng Trung ấm.
– Thứ ba: tạng Ma Ha Diễn phương đẳng.
– Thứ tư: tạng giới luật.
– Thứ năm: tạng Thập trụ Bồ tát.
– Thứ sáu: Tạp tạng.
– Thứ bảy: tạng Kim cang.
– Thứ tám: Phật tạng.
Đây là pháp kinh của Thích Ca Văn, học đã đầy đủ rồi.
Mồng tám tháng hai: thành Phật.
Mồng tám tháng hai: chuyển pháp luân.
Mồng tám tháng hai: chiến thắng quân ma.
Mồng tám tháng hai: nhập bát Niết-bàn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY=6/8/2017.

 

No comments:

Post a Comment