Chúng ta đang tu pháp môn Tịnh độ để sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà, thì chúng ta cần phải hiểu rõ Phật A Mi Đà là ai, để ta không còn nghi ngờ và thoái chuyển. Có rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn mập mờ, không hiểu Phật A Mi Đà là ai, và cõi Tây phương Cực Lạc đang ở đâu. Chúng ta nghi ngờ là vì ta chưa hiểu rõ chân tướng sự thật. Giờ chúng ta tìm hiểu tóm lược vào những đoạn Kinh quan trọng, mà Phật Thích Ca đã tán thán công đức và hạnh nguyện của Phật A Mi Đà ở trong pháp hội “Kinh Vô Lượng Thọ”.
Có một thời, Phật (tức là Phật Thích Ca) thuyết pháp ở thành Vương Xá Lợi, trong núi Kỳ Xà Quật. Trong pháp hội lúc đó có mười hai ngàn đại Bồ tát và đại Thánh đều đã có thần thông và trí tuệ như là: Ngài Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ca Diếp, A Nan… Những vị đại Bồ tát làm thượng thủ như là: Ngài Phổ Hiền Bồ tát, Văn Thù Bồ tát, Di Lặc Bồ tát và hết thượng chư Bồ tát trong quá khứ đều đến dự trong pháp hội này. Ngoài 12 ngàn đại Bồ tát và đại Thánh ra, còn có vô lượng Bồ tát, tứ chúng đệ tử Phật và chư Thiên cũng đều tới trong đại hội để nghe Phật thuyết pháp.
Lúc đó, oai quang sắc tướng của Phật Thích Ca tự nhiên rạng rỡ hào quang sáng ngời. A Nan trông thấy dung nhan của Phật hôm đó đẹp đẽ lạ thường chưa từng thấy qua, nên A Nan nghĩ thầm: “Chắc có lẽ Phật đang giao du được với mười phương chư Phật, hay là Phật có pháp vi diệu muốn thuyết”. Vì vậy A Nan liền đứng dậy, đi tới trước Phật cúi đầu đãnh lễ và xin Phật thuyết pháp. Sau đó, Phật khen A Nan thỉnh hỏi rất hay, vì câu hỏi của A Nan hôm nay, sẽ cứu được vô lượng chúng sanh hữu tình trong tương lai. Sau đó, Phật nói với A Nan, đại Bồ tát và Thánh chúng đang có mặt ở trong pháp hội hãy nghe cho kỹ những lời của Phật sắp nói ra, để sau này truyền lại cho tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới.
Phật nói rằng: “Trong vô lượng kiếp quá khứ không thể tính đếm, có một vị Phật xuất thế hiệu là “Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai ” nói Kinh thuyết pháp cho chư Thiên và người đời nghe. Lúc đó, có một vị Quốc vương tên là “Nhiêu Vương”. Sau khi nghe Phật thuyết pháp xong, thì liền được giác ngộ buông xả ngai vàng và xuất gia tu Bồ tát hạnh, lấy hiệu là “Pháp Tạng” tỳ kheo. Pháp Tạng có lòng từ bi, trí tuệ và đạo hạnh rất cao không ai sánh bằng. Vì muốn cứu hết chúng sanh trong mười phương thế giới, nên Pháp Tạng phát nguyện muốn xây một cõi Phật thù thắng cao siêu, vượt hơn mười phương cõi Phật.
Sau đó, Pháp Tạng thỉnh xin Phật Tự Tại Vương giảng nói tường tận, về hoàn cảnh thanh tịnh của mười phương cõi Phật, để Pháp Tạng tự lựa chọn những điều thanh tịnh cao siêu nhất, hầu trang nghiêm cho cõi Phật của mình. Sau khi Phật Tự Tại Vương nghe Pháp Tạng thỉnh xin xong thì Ngài vô cùng hoan hỷ, nên liền diễn nói và thị hiện cho Pháp Tạng thấy được tường tận hoàn cảnh thanh tịnh của 210 ức cõi Phật. Thời thuyết pháp đó, Phật Tự Tại Vương đã giảng nói cho Pháp Tạng nghe hết một ngàn ức năm. Sau một ngàn ức năm tìm hiểu, Pháp Tạng lại dùng hết năm kiếp tu tập của mình để thành tựu.
Sau khi thành tựu xong, Pháp Tạng liền đến cho Phật Tự Tại Vương biết là Pháp Tạng đã thành tựu xong hạnh nguyện của mình! Lúc đó, Phật Tự Tại Vương khen và khuyên Pháp Tạng hãy tuyên dương đại nguyện của mình cho đại chúng ở khắp mười phương nghe; để đại chúng hoan hỷ mà phát nguyện sanh về cõi nước của Pháp Tạng. Sau đó, Pháp Tạng quỳ ở trước mặt Phật Tự Tại Vương và phát ra 48 đại nguyện. Sau khi Pháp Tạng vừa phát 48 đại nguyện xong, thì Trời đất liền chấn động, mưa hoa từ trên Trời rơi xuống và chư Phật mười phương đều đồng thanh tán thán rằng: “Pháp Tạng nhất định sẽ thành Phật”.
Kính thưa quý bạn! Đó là đoạn Kinh quan trọng mà chúng tôi đã tóm lược ở trong phần Phật Thích Ca nói về tu nhân của Ngài Pháp Tạng. Xin quý bạn hãy đi tìm bộ “Kinh Vô Lượng Thọ” để tìm hiểu thêm về những lời dạy của Phật Thích Ca và tìm hiểu về 48 đại nguyện của Ngài Pháp Tạng (tức Phật A Mi Đà). Vì 48 đại nguyện của Phật A Mi Đà rất dài, không thể nêu ra ở đây. Giờ chúng ta tìm hiểu vào đoạn Kinh lúc Phật Thích Ca nói về sự thành tựu của Ngài Pháp Tạng như thế nào (tức nói về sự thành tựu của Phật A Mi Đà như thế nào).
Sau khi A Nan và đại chúng nghe Phật Thích Ca khuyên dạy và tán thán về đức hạnh tu hành và độ tha của Ngài Pháp Tạng xong, thì A Nan liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Ngài Pháp Tạng là Phật trong quá khứ, là Phật ở vị lai hay là Phật đang ở thế giới khác”?
Chánh Kinh: Phật Thích Ca trả lời rằng:“Đức Như Lai ấy (tức là nói Phật A Mi Đà) không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, vô sanh vô diệt, cũng chẳng phải quá khứ, hiện tại hay vị lai. Chỉ vì đáp tạ cái nguyện độ sanh, nên Ngài hiện ở Tây phương cách Diêm Phù Đề trăm ngàn câu chi na do tha cõi Phật. Ở đó, có một thế giới tên là Cực Lạc. Pháp Tạng thành Phật hiệu là A Mi Đà. Từ khi Ngài thành Phật đến nay đã là mười kiếp. Nay Ngài đang thuyết pháp, hiện có vô lượng Bồ tát và Thanh văn chúng đang cung kính vây quanh”.
Kính thưa quý bạn! Đó là đoạn Kinh mà Phật Thích Ca đã trả lời cho A Nan, đại Bồ tát và Thánh chúng ở trong pháp hội lúc đó biết về Phật A Mi Đà. Còn chữ kiếp mà Phật nói ở đây là đại đại kiếp, tức là vô lượng kiếp không thể tính đếm. Chữ kiếp có nhiều ý nghĩa dài ngắn biến hóa, chúng ta không nên chấp chặt vào từ ngữ. Đoạn Kinh trên rất là quan trọng, nếu quý bạn tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy mỗi chữ đều có sự biến hóa vô lượng không thể nghĩ bàn.
Sau khi Phật Thích Ca tán thán công đức, hạnh nguyện của Phật A Mi Đà và diễn tả cảnh đẹp bảy báu trang nghiêm của cõi Cực Lạc xong, thì Phật khuyên A Nan, Bồ tát và Thánh chúng đang có mặt ở trong pháp hội; hãy dẫn dắt chúng sanh ở mười phương thế giới tu hành niệm Phật, và phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà. Sau khi khuyên dạy và dặn dò đại chúng xong, thì Phật liền dùng thần thông thị hiện cảnh Tây phương Cực Lạc cho đại chúng thấy, để giúp đại chúng có thêm lòng tin với Phật A Mi Đà! Ngay lúc đó, Phật A Mi Đà cũng hiện thân đến nơi để làm tin cho đại chúng, và đồng thời cũng làm chứng cho những lời của Phật Thích Ca thuyết lúc đó là vạn lần chân thật! Hai Ngài làm như vậy là để giúp cho đại chúng lúc đó, và tương lai có thêm lòng tin kiên định với Phật A Mi Đà!
Sau khi Phật Thích Ca thuyết xong thời pháp “Kinh Vô Lượng Thọ”, thì có vô lượng đại Bồ tát, Thánh chúng... ở trong pháp hội liền phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà. Ngay lúc đó, trên không trung liền có mưa hoa rơi xuống, âm nhạc trỗi lên và mười phương chư Phật đồng thanh tán thán rằng:“Phật Thích Ca là Phật có tài đức và có lòng từ bi vô lượng. Vì ở trong thế giới Ta bà chúng sanh si mê, điên đảo, mà nói được những pháp vi diệu khó tin của Như Lai, thì thật là không dễ ”.
Phần nhận định: Nếu chúng ta dùng con mắt phàm phu để tìm hiểu Kinh Phật thì sẽ nghĩ rằng: Ngài Pháp Tạng lúc tu nhân chỉ là một vị Quốc vương (tức người thường). Sau khi nghe Phật Tự Tại Vương thuyết pháp thì được giác ngộ, buông xả ngai vàng, xuất gia tu Bồ tát hạnh; lấy hiệu là Pháp Tạng, phát ra 48 đại nguyện, thành tựu Phật quả và xây cõi Cực Lạc lấy hiệu là Phật A Mi Đà.
Cũng như chúng ta thiết tưởng Phật Thích Ca gần ba ngàn năm trước, chỉ là một vị hoàng tử Tất Đạt Đa (tức người thường). Sau khi đi du ngoạn ngoài bốn cửa thành, Ngài vô tình thấy được cảnh khổ, bệnh, già, chết mà được giác ngộ. Sau đó, Ngài từ bỏ ngai vàng, cha mẹ và vợ con để xuất gia tầm sư học đạo. Rồi sau đó, trải qua sáu năm tu hành khổ hạnh, cuối cùng Ngài ngồi thiền định ở dưới cội Bồ Đề mà đắc quả thành Phật và thuyết pháp độ sanh hết 49 năm.
Chúng ta là phàm phu nên chỉ thấy như vậy. Nhưng trên thực tế, thì quý Ngài đều đã thành Phật trong vô lượng kiếp rồi, không phải chỉ mới thành Phật đây. Tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng: “Vậy thì tại sao quý Ngài không thị hiện đến đây bằng thân kim Phật, có đầy đủ thần thông biến hóa, hào quang rực rỡ, mà quý Ngài lại thị hiện đến đây bằng thân người có sanh, lão, bệnh, chết giống như chúng ta”.
Kính thưa quý bạn! Vì quý Ngài thấy tất cả chúng sanh đều có chủng tử Phật tánh A Mi Đà, đều có khả năng thành Phật giống như quý Ngài. Nếu quý Ngài thị hiện đến đây bằng thân kim Phật, thì chúng ta sẽ nghĩ rằng: Chỉ có chư Phật mới có đủ trí tuệ để tu thành Phật, còn chúng ta là phàm phu, thì làm sao có đủ trí tuệ để tu thành Phật giống như quý Ngài.
Rồi từ chỗ nghi ngờ đó, mà chúng ta sẽ không chịu buông xả để tu hành. Nếu chúng ta không chịu buông xả tu hành, thì Phật làm sao cứu được chúng ta? Vì vậy mà quý Ngài phải thị hiện bằng thân người cũng có cha mẹ, vợ con, giác ngộ, phát nguyện, tu hành, độ tha và thành Phật. Quý Ngài làm như vậy là mong chúng ta có đủ tự tin và tu hành để thành Phật giống như quý Ngài. Quý Ngài không phải chỉ hiện thân người để cứu chúng ta thôi đâu, mà quý Ngài còn hiện thân súc sanh để độ súc sanh, hiện thân ngạ quỷ để độ ngạ quỷ…
Giờ chúng ta trở lại tìm hiểu những phần quan trọng nói về tiến trình tu nhân và thành Phật của Ngài Pháp Tạng (tức nói về Phật A Mi Đà,) để xem Ngài lúc đó chỉ là người thường hay là cổ Phật tái lai. Vì sự tìm hiểu này rất là quan trọng, nếu chúng ta chưa tìm hiểu rõ ràng mà vội nghi ngờ phỉ báng, thì chỉ hại mình bị đọa địa ngục mà thôi.
1. Nếu Ngài Pháp Tạng lúc đó chỉ là người thường mới được giác ngộ tu Bồ tát hạnh, thì Ngài làm sao có đủ trí tuệ và đạo hạnh, để thỉnh Phật Tự Tại Vương diễn nói cho Ngài nghe hết hoàn cảnh thanh tịnh của mười phương cõi Phật; để Ngài tự lựa chọn những điều thanh tịnh cao siêu nhất, thành tựu cho cõi Phật của Ngài.
2. Nếu Ngài là người thường, thì Ngài làm sao có đủ đạo hạnh và can đảm quỳ ở trước mặt Phật Tự Tại Vương mà tuyên thệ rằng: “Nếu Ngài không xây dựng được cõi Cực Lạc vượt trội hơn mười phương cõi Phật, thì Ngài thề không thành Phật”. (Ngài muốn xây thù thắng hơn là để cứu chúng sanh, không phải là để hơn thua, xin quý bạn chớ có hiểu lầm).
3. Nếu Ngài là người thường, thì Phật Tự Tại Vương cần gì phải dùng hết một ngàn ức năm để diễn nói và hiện cảnh 210 ức cõi Phật cho Ngài suy nghĩ và lựa chọn. (Thật ra hai Ngài chỉ đóng kịch để hoàn thành câu chuyện độ sanh mà thôi).
4. Nếu Ngài Pháp Tạng là người thường, thì Ngài làm sao có đủ trí tuệ và đạo hạnh để phát ra 48 đại nguyện. Trong khi 48 đại nguyện đó là chân tướng Diệu đức sẵn có trong Diệu tâm của mười phương chư Phật và của mười phương thế giới chúng sanh.
5. Nếu Ngài là người thường, vậy thì tại sao sau khi Ngài phát ra 48 đại nguyện, thì Trời đất liền chấn động, mưa hoa từ trên Trời rơi xuống, âm nhạc trỗi lên và mười phương chư Phật đều đồng thanh tán thán rằng: “Pháp Tạng nhất định sẽ thành Phật”. (Thật ra mười phương chư Phật lúc đó cũng chỉ là đóng kịch, để giúp cho chúng sanh có vững lòng tin thôi).
6. Nếu Ngài Pháp Tạng chỉ mới thành Phật A Mi Đà trong mười kiếp, thì tại sao ba đời mười phương chư Phật, Bồ tát đều tán thán và tôn danh Ngài là Phật Trung Chi Vương. (Nghĩa là Phật cao nhất trong mười phương chư Phật. Còn chữ mười kiếp chỉ là con số phương tiện, để giúp cho ta hiểu được khoảng cách của thời gian thôi. Trên thực tế thì cõi Cực Lạc đã thành tựu trong vô lượng kiếp rồi).
7. Nếu Ngài chỉ mới thành Phật A Mi Đà trong mười kiếp, thì Ngài làm sao có đủ đạo hạnh để cho hai vị đại Bồ tát “Quán Thế Âm và Đại Thế Chí” ở hai bên phải và trái của Ngài, đi tiếp dẫn chúng sanh về Tây phương Cực Lạc. (Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là hai vị cổ Phật đã thành Phật trong vô lượng kiếp rồi).
8. Nếu Ngài là Phật A Mi Đà mới thành, thì tại sao mười phương chư Phật, Bồ tát đều khuyên dạy chúng sanh nên phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà.
9. Nếu Ngài là Phật mới thành, thì Ngài làm sao có đủ đạo hạnh lấy danh hiệu A Mi Đà để đại diện cho cõi nước của Ngài? Quý bạn nên biết rằng: Danh hiệu A Mi Đà chỉ có Phật Tổ Tỳ Lô Giá Na mới có đủ đạo hạnh để đại diện mà thôi. Tại sao? Vì đây là danh hiệu tánh đức A Mi Đà của mười phương chư Phật và của mười phương thế giới chúng sanh (Phật A Mi Đà tức là Phật Tổ Tỳ Lô Giá Na đấy).
Nếu nói đến cảnh giới của chư Phật, thì phàm phu si mê như chúng ta, không có cách chi nghĩ đến hay bàn luận được. Nhưng nhờ có ba đại tạng Kinh của Phật, mà ta mới hiểu được phần nào cảnh giới của chư Phật. Cho dù ta có đủ trí tuệ để hiểu thông được ba đại tạng Kinh của Phật, thì cũng chỉ hiểu được có một chút như giọt nước ở trong biển mà thôi. Tại sao? Vì ba đại tạng Kinh của Phật để lại trên thế gian này, so với đại tạng Kinh ở trên cõi Phật thì chỉ là giọt nước ở trong biển. Chỉ khi nào thành Phật thì ta mới hiểu được hết cảnh giới của chư Phật. (Đại tạng Kinh trên cõi Phật, là nói với chúng ta không phải nói với chư Phật. Vì chư Phật không có Kinh điển chi cả, xin quý bạn chớ hiểu lầm mà sanh ra tranh chấp).
Nếu chúng ta chịu tham cứu kỹ Kinh Phật, thì sẽ thấy Ngài Pháp Tạng chính là “Phật Tổ Tỳ Lô Giá Na” thị hiện tái lai! Ngài là Phật Tổ cả hai cõi: “Hoa Tạng thế giới” và “Cực Lạc thế giới ”. Danh hiệu “Tỳ Lô Giá Na” cũng chỉ là danh hiệu để cho ta dễ hiểu và dễ phân biệt thôi. Trên thực tế, thì Ngài đã có vô lượng danh tên khác nhau không thể tính đếm. Không phải chỉ có Ngài mới có vô lượng danh tên khác nhau, mà tất cả chư Phật, Bồ tát ở mười phương cũng đều có vô lượng danh tên khác nhau. Tại sao? Vì mỗi một nơi quý Ngài thị hiện làm Phật, hay hóa thân cứu độ chúng sanh, thì quý Ngài đều lấy danh tên khác nhau, để giúp cho chúng sanh dễ phân biệt. Đó là nói trên “sự”. Còn trên “lý” thì quý Ngài không có một danh tên nào cả. Thậm chí, danh hiệu A Mi Đà cũng không có. Tại sao? Vì danh tên của chư Phật là bất lập ngôn từ.
Giờ chúng ta tìm hiểu tại sao Phật Tổ Tỳ Lô Giá Na, phải thị hiện làm Ngài Pháp Tạng, phát ra 48 đại nguyện, thành lập cõi Tây Phương Cực Lạc và lấy hiệu là Phật A Mi Đà.
Vì Phật Tổ thấy chúng sanh si mê, nghiệp chướng sâu dầy, khó tự tu để thành Phật. Nên Ngài mới dùng thần lực của Ngài xây dựng cõi Tây phương Cực Lạc, để giúp cho chúng sanh đới nghiệp vãng sanh! Nhưng nếu Ngài âm thầm xây dựng cõi Cực Lạc, thì chúng sanh ở mười phương thế giới, làm sao biết được ở “Hoa Tạng thế giới” còn có một cõi “Cực Lạc A Mi Đà” cao siêu thù thắng; làm sao biết được có Phật A Mi Đà luôn phóng quang tiếp dẫn và dạy dỗ chúng sanh tu thành Phật. Nếu chúng sanh không biết, thì Ngài làm sao cứu được chúng sanh, làm sao thỏa được cái nguyện độ tha của Ngài. Vì vậy mà Ngài phải thị hiện làm Ngài Pháp Tạng, để tạo nên câu chuyện độ tha của Phật A Mi Đà! Nhờ có câu chuyện độ tha của Phật A Mi Đà, mà mười phương chư Phật, Bồ tát mới có cơ hội để cứu độ chúng sanh mọi loài!
Tại sao Phật Tổ không lấy danh hiệu khác, mà Ngài phải lấy danh hiệu A Mi Đà và còn khuyên chúng ta phải niệm danh hiệu của Ngài, thì sẽ được Ngài đến nơi tiếp dẫn sanh về Cực Lạc? (Khi viết đến đoạn này tôi vô cùng xúc động không thể viết tiếp. Tại sao? Vì mỗi khi cầm bút lên, thì nước mắt của tôi cứ tuôn chảy mãi. Dù tôi có bị tan xương nát thịt đến vô lượng kiếp, cũng không sao đền được ân đức cao sâu của Phật A Mi Đà, chư Phật và Bồ tát).
Kính thưa quý bạn! Vì tất cả chúng ta mà Phật Tổ mới xây dựng cõi Cực Lạc và lấy danh hiệu là Phật A Mi Đà. Tại sao? Vì Phật Tổ thấy tất cả chúng sanh đều có sẵn Phật tánh A Mi Đà. Chẳng qua chúng sanh si mê, điên đảo chạy theo dục vọng, bỏ quên Phật tánh không biết quay về. Vì muốn cứu hết thảy chúng sanh, nên Ngài lấy tánh đức A Mi Đà sẵn có của chúng sanh để đại diện cho Ngài. Rồi sau đó, Ngài khuyên dụ chúng sanh hãy niệm danh hiệu của Ngài, thì sẽ được Ngài đến nơi tiếp dẫn đưa về Cực Lạc để tu thành Phật. Đây là khổ tâm và dụng ý của Ngài!
Tại sao Phật không nói cho ta biết rõ sự thật, mà Ngài phải dùng phương tiện để cứu chúng ta? Vì Ngài biết dù có nói chúng sanh cũng không có đủ trí tuệ để hiểu suốt. Tại sao? Vì Phật tánh A Mi Đà của chúng sanh vốn không có hình tướng. Nếu không có hình tướng thì Phật làm sao có thể giải bày. Nên Ngài chỉ còn cách là lấy danh hiệu tánh đức A Mi Đà sẵn có của chúng sanh, để đại diện cho Ngài. Vì Ngài biết rõ: Chỉ cần chúng sanh tin sâu tu niệm danh hiệu của Ngài, thì chúng sanh sẽ khai mở được tự tánh A Mi Đà! Khi Phật tánh A Mi Đà được khai mở, thì tự chúng sanh sẽ hiểu ra danh hiệu A Mi Đà, chính là danh hiệu tánh đức sẵn có của chúng sanh!
Ngài chỉ mong chúng sanh chịu niệm Phật tánh A Mi Đà của mình, thì Ngài mới truyền được thần lực của Ngài vào thân, tâm của chúng sanh. Còn nếu chúng sanh không chịu niệm Phật tánh A Mi Đà của mình, không chịu tiếp nhận thần lực ánh sáng của Ngài, thì dù Ngài có muốn cứu cũng không nổi. Cũng như Ngài đã đem thuyền chờ sẵn ở ngoài bến, nhưng chúng sanh không chịu cất bước để leo lên thuyền, thì Ngài làm sao cứu được chúng sanh.
Còn 48 đại nguyện của Phật, cũng không phải là tự Ngài đặt ra, mà tất cả những gì Ngài nói ở trong 48 đại nguyện đó, đều đã có sẵn ở trong tự tánh chúng ta! Chúng ta chỉ cần tin sâu và tu niệm tự tánh A Mi Đà của mình. Khi được vãng sanh, thì ta sẽ có tất cả thần thông và trí tuệ như trong 48 đại nguyện mà Ngài đã nói. Vì vậy mà Phật tuyên thệ rằng: “Nếu chúng sanh vãng sanh về cõi nước của ta, mà không có đủ những gì như ta đã nói ở trong 48 đại nguyện, thì ta thề không làm Phật ”. Thật ra không phải đợi đến khi vãng sanh, thì ta mới có thần thông và trí tuệ, mà ngay giây phút hiện tại ta cũng có thể khôi phục được phần nào, tùy theo sự tu hành sâu, cạn của ta. Nếu ta tu niệm ít thì sẽ khôi phục được thần thông và trí tuệ ít! Nếu ta tu niệm nhiều thì sẽ khôi phục được thần thông và trí tuệ nhiều! Tóm lại, tất cả đều do ta quyết định.
Kính thưa quý bạn! Phật A Mi Đà phát ra 48 đại nguyện là đã phơi bày tất cả Diệu đức sẵn có ở trong tâm chúng ta! Vậy mà xưa nay chúng ta có mắt như mù không hay biết gì cả, ngược lại còn đi phỉ báng nghi ngờ. Giờ thức tỉnh ta mới thấy 48 đại nguyện của Phật A Mi Đà chính là cảnh giới nhiệm mầu sẵn có ở trong tâm ta và Tây phương Cực Lạc cũng vì chúng ta mà Phật Tổ mới xây thành!
Nếu chúng ta chịu quán xét và tìm hiểu tiến trình độ tha của chư Phật, Bồ tát từ xưa đến nay, thì sẽ thấy Phật Thích Ca thị hiện đến đây gần ba ngàn năm trước đóng vai làm mẹ, nhảy vào biển lửa để dẫn dắt chúng ta. Còn Phật A Mi Đà ở Tây phương Cực Lạc đóng vai làm cha, ngày đêm mỏi mắt mong chờ và tiếp dẫn các con đưa về Cực Lạc để tu thành Phật. Ngoài ra, cha còn phóng quang tới mười phương thế giới Ta bà mỗi giây mỗi phút, để bảo vệ và trợ lực cho các con không bị vấp ngã bởi cạm bẫy của Ma vương.
Ngoài mẹ là Phật Thích Ca và cha là Phật A Di Đà ra. Chúng ta còn có hai đại sư tỉ có lòng từ bi vô tận đó là: Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí. Hai đại sư tỉ có lòng từ bi vô tận này, lúc nào cũng ở bên cạnh để trợ lực, dạy dỗ và tiếp dẫn chúng ta. Ngoài cha mẹ và hai đại sư tỉ ra, chúng ta còn có vô lượng cha mẹ và vô lượng đại sư huynh, sư tỉ ở mười phương thế giới, cũng đang phóng quang gia hộ và trông chờ chúng ta. Vậy chúng ta còn tham đắm ở trong biển lửa luân hồi này để làm gì, mà không mau đi về Cực Lạc để đoàn tựu với gia đình? Xin quý bạn hãy suy nghĩ lại!
Ước Mơ Sẽ Thành
Nhìn con mà lòng cha tan nát
Mãi mê mờ đọa lạc trầm luân
Tham, sân, si đắm nhiễm không rời
Tự giam hãm mình trong bể khổ.
Khổ, khổ, khổ, con thầm mơ ước
Ước mình giàu sang mãi không nghèo
Ước mình hạnh phúc không đau khổ
Ước mình khỏe mãi, chẳng bệnh đau
Ước mình trẻ mãi không già yếu
Ước mình mãi mãi được trường sinh.
Ước thật nhiều sao không buông xả
Không quay về Cực Lạc với cha
Nếu con tu mơ ước sẽ thành
Vì tất cả trong con sẵn có !
Mãi mê mờ đọa lạc trầm luân
Tham, sân, si đắm nhiễm không rời
Tự giam hãm mình trong bể khổ.
Khổ, khổ, khổ, con thầm mơ ước
Ước mình giàu sang mãi không nghèo
Ước mình hạnh phúc không đau khổ
Ước mình khỏe mãi, chẳng bệnh đau
Ước mình trẻ mãi không già yếu
Ước mình mãi mãi được trường sinh.
Ước thật nhiều sao không buông xả
Không quay về Cực Lạc với cha
Nếu con tu mơ ước sẽ thành
Vì tất cả trong con sẵn có !
Tâm Là Gì?
Xưa nay chúng ta thường có một câu nói suông rằng:“Tôi không cần tu hành chi cả, tôi chỉ cần tu tâm là đúng là đủ rồi”. Câu nói này nghe qua tưởng chừng như thật, nhưng trên thực tế có mấy ai làm được như ý nghĩa chân thật của nó? Nếu hiểu thì chúng ta đã làm Phật hết rồi, không còn có mặt ở trên trái đất này. Thật ra chữ tu chúng ta còn chưa hiểu thông, thì làm sao hiểu được ý nghĩa của hai từ đúng và đủ. Làm sao hiểu được tâm là gì, tâm ở đâu mà vội bảo rằng: “Tôi không cần tu hành chi cả, tôi chỉ cần tu tâm là đúng là đủ rồi”.
Chúng ta xưa nay tưởng tâm của mình là trái tim và khối óc, nên thường nghĩ rằng: “Tôi không làm gì trái với lương tâm đạo đức, không trộm cướp, hãm hại, giết người là tôi đã tu tâm rồi”. Nhưng trên thực tế có mấy ai hiểu được ý nghĩa chân thật của lương tâm và đạo đức, hiểu được hai mặt thiện, ác đúng sai? Nếu chúng ta thật sự hiểu được ý nghĩa tu tâm là gì, thì sẽ thốt lên những lời nói chân thật rằng: “Tôi phải cố gắng tu hành để sửa đổi hành vi và lời nói tội lỗi của tôi mỗi giây, mỗi phút ”. Tuy chúng ta chưa hiểu tâm là gì và tâm ở đâu, nhưng ít ra chúng ta đã biết nhìn vào mình. Khi biết nhìn vào mình thì những bước kế tiếp cảm nhận được mình, tìm hiểu mình, thấy được mình và làm chính mình sẽ không còn bao xa. Không còn bao xa nghĩa là sự tu tâm của ta mới đi đến đúng và đủ!
a. Nhìn vào mình: Nghĩa là nhìn lỗi mình không nhìn lỗi người.
b. Cảm nhận được mình: Nghĩa là cảm nhận được tội lỗi của mình đã tạo ra từ vô lượng kiếp đến nay. Giờ mình phải lo sám hối tu hành, để sửa đổi thân, tâm mỗi giây, mỗi phút.
c. Tìm hiểu mình: Nghĩa là tìm hiểu mình là ai, mình từ đâu đến, khi chết mình sẽ đi về đâu và những sự đau khổ luân hồi này từ đâu mà có và làm sao thoát khỏi luân hồi…?
d. Thấy được mình: Nghĩa là thấy được mọi nguồn gốc đau khổ từ vô lượng kiếp đến nay, đều do mình tạo ra và tự mình phải gánh chịu, không liên quan gì đến ai.
e. Làm chính mình: Nghĩa là biết Phật là mình, mình là Phật! Rồi buông xả dục vọng và đoạn sạch vô minh để trở về làm Phật. Khi làm Phật rồi thì sự tu tâm của ta mới được hoàn thành viên mãn.
b. Cảm nhận được mình: Nghĩa là cảm nhận được tội lỗi của mình đã tạo ra từ vô lượng kiếp đến nay. Giờ mình phải lo sám hối tu hành, để sửa đổi thân, tâm mỗi giây, mỗi phút.
c. Tìm hiểu mình: Nghĩa là tìm hiểu mình là ai, mình từ đâu đến, khi chết mình sẽ đi về đâu và những sự đau khổ luân hồi này từ đâu mà có và làm sao thoát khỏi luân hồi…?
d. Thấy được mình: Nghĩa là thấy được mọi nguồn gốc đau khổ từ vô lượng kiếp đến nay, đều do mình tạo ra và tự mình phải gánh chịu, không liên quan gì đến ai.
e. Làm chính mình: Nghĩa là biết Phật là mình, mình là Phật! Rồi buông xả dục vọng và đoạn sạch vô minh để trở về làm Phật. Khi làm Phật rồi thì sự tu tâm của ta mới được hoàn thành viên mãn.
Giờ chúng ta tìm hiểu vào chân tâm của mình. Khi hiểu được chân tâm của mình rõ ràng, thì ta mới biết tu tâm từ đâu và sửa tâm chỗ nào. Còn nếu chưa hiểu tâm là gì, tâm ở đâu thì sự tu hành của ta sẽ không đi đến đâu và uổng phí cả đời. Phật nói: “Tâm Phật và tâm của chúng sanh vốn đồng một thể không hai ”. Tức là nói tâm của chư Phật và tâm của chúng ta bằng nhau, không cao, không thấp, không nhỏ, không lớn. Tóm lại, tâm của Phật và tâm của ta là một không hai, không khác biệt. Tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng: “Nếu tâm của Phật và tâm của ta là một không hai, vậy thì tại sao quý Ngài làm Phật, còn chúng ta thì làm chúng sanh”.
Kính thưa quý bạn! Chư Phật và ta chỉ khác nhau có một niệm mê, giác mà thôi. Nghĩa là chư Phật thì đã giác ngộ, còn chúng ta thì vẫn còn si mê! Vì vậy cảnh giới, hình tướng của chư Phật và cảnh giới, hình tướng của chúng ta mới khác xa như vậy đó! Nhưng cho dù cảnh giới, hình tướng của chư Phật và cảnh giới, hình tướng của chúng ta có khác xa thế nào, thì tâm của chư Phật và tâm của chúng ta cũng không hề có một chút mảy may khác biệt.
Nếu bàn đến chân tâm, thì phàm tình như chúng ta không thể dùng cái trí nông cạn, hay ngôn ngữ hạn hẹp của thế gian mà bàn luận được. Tại sao? Vì thể tánh chân tâm của ta vốn không có hình tướng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tìm hiểu tâm một phần nào qua những sự việc do tâm biến hiện ra. Chỉ cần hiểu được sự biến hóa của tâm, thì ta sẽ thể hội được thể tánh của chân tâm.
Giờ chúng ta tạm tìm hiểu về thể tánh của “vàng, nước và vũ trụ”. Chỉ cần hiểu được thể tánh của chúng, thì ta sẽ hiểu được phần nào thể tánh chân tâm của ta.
1.Vàng: Là thể tánh rắn chắc và chiếu sáng, nên chúng ta thường dùng vàng để làm ra những thứ nữ trang hay vật dụng như là: Nhẫn, dây chuyền, vòng xuyến, tượng Phật, chữ tranh, thau chậu, bình… Tóm lại, chúng ta có thể dùng vàng để tạo ra cả trăm, ngàn hình tướng nữ trang và vật dụng khác nhau. Nhưng dù ta có dùng vàng để tạo ra nhiều hình tướng khác nhau như thế nào, thì thể tánh của vàng cũng không hề bị thay đổi.
2. Nước: Là thể tánh ướt, thanh tịnh và tươi mát, nên đâu đâu cũng có nước. Nếu không có nước thì vạn vật muôn loài hữu tình và vô tình ở trong vũ trụ này sẽ không có sự sống tồn tại. Nước có nhiều hình tướng khác nhau như là: Nước ra biển thì thành biển, ra sông thì thành sông, ra hồ thì thành hồ, lên hư không thì thành mây, mây rơi xuống thì thành mưa… Tóm lại, hình tướng của nước không thể dùng con số thiên văn để mà tính được. Nhưng dù nước có bị duyên khống chế và biến hóa thế nào, thì thể tánh của nước cũng không hề bị thay đổi.
3.Vũ trụ: Là thể tánh bao la rộng lớn không cùng tận như như bất động. Nhưng vũ trụ có thể biến hóa ra vô lượng thế giới lớn, nhỏ, thanh tịnh, ô uế, hạnh phúc, đau khổ khác nhau và luôn có sự thành tựu, hoại diệt, vĩnh cửu, xoay vần, biến hóa đời đời, kiếp kiếp không cùng tận. Nhưng dù những hình tướng thành tựu, hoại diệt và vĩnh cửu đó có thiên biến vạn hóa thế nào, thì thể tánh của vũ trụ vẫn không hề bị thay đổi.
Qua ba thể tánh ở trên, chúng ta thấy thể tánh của vũ trụ là to lớn không cùng tận, dù ta có muốn nghĩ, muốn bàn cũng không được. Nhưng có một điều mà chúng ta không thể ngờ được đó là: Tâm của ta to lớn bao trùm cả vũ trụ và tất cả vạn vật muôn loài ở trong vũ trụ này đều do tâm chúng ta tạo ra. Tóm lại, tất cả những gì dù là lớn như vũ trụ, nhỏ như hạt bụi, trang nghiêm như cõi Phật, hay là u minh như địa ngục đều là do tâm của chư Phật và tâm của chúng sanh tạo ra. Nó chỉ có khác ở chỗ là: Tâm của chư Phật thì tạo ra mười phương cõi Phật thanh tịnh. Còn tâm của chúng sanh thì tạo ra mười phương thế giới chúng sanh luân hồi, sanh tử. Nhưng dù tâm chúng ta có tạo ra sáu ngã luân hồi đau khổ và u tối thế nào, thì thể tánh chân tâm của ta cũng không hề bị thay đổi.
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích ở trên, ta đã hiểu được phần nào thể tánh của chân tâm rồi. Giờ chúng ta tìm hiểu đến vô minh đang che lấp tâm ta bằng cách nào. Chỉ cần hiểu rõ thì ta sẽ can đảm buông xả tham, sân, si để trở về chân tâm (Phật tánh) của ta. Giờ chúng ta tìm hiểu vô minh của Vàng, Nước và Vũ trụ từ đâu mà có, thì sẽ hiểu được vô minh của ta từ đâu mà có.
1.Vô minh của Vàng: Bản thể của “vàng” là chói sáng, nhưng vàng bị người đời đem đi tạo thành nhiều hình tướng sang, hèn, đẹp, xấu, cao, thấp khác nhau. Nếu có người dùng một khối vàng để đúc thành tượng Phật, thì tượng Phật đó sẽ được người ta đặt ở những nơi trang nghiêm để thờ cúng và lễ lạy. Nhưng cũng là khối vàng đó, mà có người đem đi làm thành thau chậu để tắm rửa, thì nó sẽ bị người ta đặt ở những nơi dơ bẩn và tanh hôi. Cùng là một thể vàng làm ra, nhưng tại sao nó lại có sự phân biệt sang, hèn khác xa như vậy? Là vì hình tướng của nó khác nhau. Ai đã làm cho hình tướng của nó khác nhau? Là vì vàng bị người đời điều khiển và xếp đặt, nên nó không có quyền tự chủ, chỉ đành theo duyên biến hóa mà thôi!
2.Vô minh của Nước: Bản thể của nước là ướt, trong mát và tinh khiết. Nhưng nước bị duyên khởi của đất, nước, gió, lửa và bị vạn vật muôn loài hữu tình và vô tình khống chế. Biến nó ra thành nhiều hình tướng trong sạch, ô uế, ngọt, mặn, thơm, thối khác nhau. Cùng là một thể nước, nhưng tại sao nó lại sanh ra nhiều hình tướng sang, hèn, dơ, sạch, thối, thơm khác xa như vậy? Là vì nước bị duyên khống chế và điều khiển, nên nó không có quyền tự chủ, chỉ đành theo duyên biến hóa mà thôi!
3.Vô minh của Vũ trụ: Bản thể của vũ trụ là thanh tịnh, trong xanh, như như bất động. Nhưng tại sao vũ trụ lại biến hóa ra vô lượng thế giới hạnh phúc, an lạc, đau khổ và đọa đày khác nhau như vậy? Vì vũ trụ bị tâm thức của loài hữu tình điều khiển, khống chế, và bị quy luật thành tựu, hoại diệt xoay vần của vạn pháp, nên nó không có quyền tự chủ, chỉ đành theo duyên biến hóa mà thôi!
Nếu “vàng” có quyền tự chủ, thì vàng chỉ muốn tạo ra tượng Phật cho người đời chiêm ngưỡng và lễ bái. Vàng sẽ không muốn làm thau chậu đặt ở nơi dơ bẩn tanh hôi. Nước chỉ muốn làm băng tuyết tinh khôi, sương mai tinh khiết, suối mát, mưa rơi thắm nhuần tình thương đi khắp mọi nơi, nuôi sống mọi loài. Nước sẽ không muốn làm chất độc ô nhiễm, ứ đọng khắp nơi giết hại chúng sanh. Vũ trụ chỉ muốn tạo ra mười phương cõi Phật thanh tịnh. Vũ trụ sẽ không muốn tạo ra lục đạo luân hồi đau khổ.
Qua những sự việc biến hóa ở trên cho chúng ta thấy: Vàng, nước và vũ trụ đều bị duyên khống chế, nên chúng không có quyền tự chủ, chỉ đành theo duyên biến hóa không ngừng. Giờ chúng ta đã hiểu được vô minh của vàng, nước và vũ trụ rồi. Vậy chúng ta đang bị ai khống chế, và cái gì là vô minh đang che lấp chúng ta đây?
Kính thưa quý bạn! Không ai xa lạ mà chính là “thần thức” của ta đang khống chế “chân tâm” của ta đấy! (thần thức mà người đời thường gọi là thần hồn hay linh hồn). Còn vọng tưởng tham, sân, si của thân giả tạm này, chính là vô minh đang che lấp thần thức! Khiến cho thần thức của ta không biết quay về nhập thể với chân tâm. Vì vậy thân giả tạm này chính là kẻ thù lớn nhất của ta! Tại sao? Vì nó đã tạo ra sáu thứ độc để mê hoặc thần thức. Khiến cho thần thức của ta mê đắm không biết quay về. Sáu thứ độc mê hoặc đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến. Giờ chúng ta tìm hiểu vào sáu thứ độc này, để xem chúng lợi hại thế nào mà có thể mê hoặc được thần thức của ta.
Tham: Là tham vọng đủ thứ không tận cùng, không đáy.
Sân: Là sân hận, hãm hại, đố kỵ không cùng tận, không chấm dứt.
Si: Là si mê không biết phân biệt đâu là tốt, xấu, chánh, tà.
Mạn: Là coi cái ta của mình còn lớn hơn Trời không ai sánh bằng. Thậm chí, chư Phật và Thánh hiền ta cũng không để vào mắt.
Nghi: Là tâm địa xấu xa, nghi ngờ. Đến nỗi lời của chư Phật, chư Thánh ta cũng không tin, không để vào tai, ngược lại còn phỉ báng.
Ác kiến: Là tà tri, tà kiến (tức nghĩ sai, thấy sai). Vì nghĩ sai và thấy sai, nên ta thường hay vạch lá tìm sâu, xoi mói lỗi người. Rồi tạo nên những chuyện lạ thường để hãm hại lẫn nhau.
Sân: Là sân hận, hãm hại, đố kỵ không cùng tận, không chấm dứt.
Si: Là si mê không biết phân biệt đâu là tốt, xấu, chánh, tà.
Mạn: Là coi cái ta của mình còn lớn hơn Trời không ai sánh bằng. Thậm chí, chư Phật và Thánh hiền ta cũng không để vào mắt.
Nghi: Là tâm địa xấu xa, nghi ngờ. Đến nỗi lời của chư Phật, chư Thánh ta cũng không tin, không để vào tai, ngược lại còn phỉ báng.
Ác kiến: Là tà tri, tà kiến (tức nghĩ sai, thấy sai). Vì nghĩ sai và thấy sai, nên ta thường hay vạch lá tìm sâu, xoi mói lỗi người. Rồi tạo nên những chuyện lạ thường để hãm hại lẫn nhau.
Kính thưa quý bạn! Tất cả chúng ta không nhiều thì ít, trong tâm đều có chứa sáu thứ độc này, nên ta mới cùng có mặt ở cõi Ta bà đây! Không những vậy, mà chúng ta còn tích lũy chúng trong tâm thành băng, thành khối. Điều đáng thương là chúng ta đã chất chứa chúng đầy cả hư không rồi mà không hề hay biết. Ngược lại, còn tưởng mình là người trong sạch, thanh cao và có trí tuệ lắm. Đôi khi gặp được thiện tri thức khuyên nhủ tu hành, ta không biết cảm ơn. Ngược lại, ta còn nổi sân chửi mắng và cho rằng người đó đang nghĩ mình ở ác, nên mới khuyên bảo mình tu hành...
Không những vậy, mà chúng ta còn trả lời lại với họ rằng:“Ai ở ác thì người đó mới cần tu, còn tôi không có ở ác thì tôi không cần tu hành chi cả”. Chúng ta trả lời như vậy không lẽ chư Phật, Bồ tát, Tăng, Ni và Phật tử là những người ở ác hết sao? Chúng ta si mê, điên đảo đến hết thuốc chữa! Những người không thấy mình có tội chính là những người có tội nhiều nhất ở trên thế gian này! Xin quý bạn chớ vội nóng giận, chỉ cần quý bạn kiên nhẫn đọc hết cuốn sách này, thì sẽ biết rõ mình có tội nhiều hay ít.
Giờ chúng ta tìm hiểu vào tâm giả, mà ta đang sống hằng ngày với nó. Chỉ cần hiểu được tâm thật và tâm giả khác nhau ở chỗ nào, thì ta sẽ có đủ trí tuệ và can đảm buông xả tâm giả, để quay về với tâm thật của ta. Tâm giả: Tức là tâm vọng từ thân ta sanh ra mà có! Thân ta gồm có sáu phần quan trọng gọi là lục căn. Lục căn tức là sáu phần: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Hằng ngày chúng ta thường dùng sáu căn này để tiếp xúc với sáu cảnh, rồi sanh ra tham đắm với sáu trần. Sáu trần tức là sáu thứ mà người đời ai ai cũng ưa thích đó là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Sắc: Là nói chung hết sắc đẹp, xấu của thế gian.
Thanh: Là nói chung hết âm thanh hay, dở.
Hương: Là nói chung hết hương thơm, hôi thối.
Vị: Là nói chung hết vị ngọt, đắng, cay.
Xúc: Là nói chung hết hành động khoái lạc tiếp xúc của thân.
Pháp: Là nói chung hết vạn vật hữu tình và vô tình.
Thanh: Là nói chung hết âm thanh hay, dở.
Hương: Là nói chung hết hương thơm, hôi thối.
Vị: Là nói chung hết vị ngọt, đắng, cay.
Xúc: Là nói chung hết hành động khoái lạc tiếp xúc của thân.
Pháp: Là nói chung hết vạn vật hữu tình và vô tình.
Hằng ngày chúng ta thường dùng sáu căn của mình để tiếp xúc với sáu trần như là. Mắt thì thấy sắc. Tai thì nghe âm thanh. Mũi thì ngửi hương thơm. Lưỡi thì nếm vị ngọt, đắng. Thân thì tiếp xúc với khoái lạc mềm, cứng. Ý thì mơ tưởng tham vọng đủ thứ. Tóm gọn cho dễ hiểu sáu căn là thân của ta! Còn sáu trần là tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trên thế gian này, mà người đời ai cũng tham đắm, ưa thích và hưởng thụ! Chúng ta ai cũng thích nhìn cái đẹp, thích nghe âm thanh hay, thích ngửi mùi hương lạ, thích nếm vị ngọt ngon, thích khoái lạc hưởng thụ và thích mọi chuyện vừa ý nên ta mới bị khổ. Nếu chúng ta biết dùng chân tâm và trí tuệ để nhìn sự việc, thì chúng ta đâu có khổ và đã làm Phật lâu rồi!
Chân tâm và giả tâm khác nhau ở chỗ nào? Chân tâm thì không có tham, sân, si và chấp trước. Còn giả tâm thì có tham, sân, si và chấp trước. Cũng như người giác ngộ dùng chân tâm để nhìn thì thấy dây chuyền, vòng, nhẫn, bông tai là một không hai. Vì tất cả đều làm bằng vàng mà ra, nên họ không còn phân biệt, chấp trước. Còn người si mê dùng giả tâm để nhìn thì thấy nhẫn là nhẫn, vòng là vòng. Nếu có ai đó tới nói với họ rằng: Vòng và nhẫn giống nhau không khác, thì người si mê kia sẽ tranh luận hơn thua đến cùng. Thậm chí, còn đánh nhau đến bể đầu thì mới thôi. Vì vậy người giác ngộ và người chưa giác ngộ có cái nhìn khác nhau là ở chỗ này!
Ở trên chúng ta chỉ mới bàn đến một chút phân biệt chấp trước của con mắt thôi, mà đã sanh ra gây gỗ đánh lộn rồi. Nếu cộng thêm năm cái chấp trước của tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thì sự chấp trước của ta còn tệ hại đến dường nào. Vì vậy mà thế giới này mới có đầy dẫy tai họa chiến tranh và giết hại lẫn nhau không dứt. Cũng chỉ vì cái tâm si mê, điên đảo và chấp trước của chúng ta tạo ra. Giờ chúng ta đã hiểu được thân giả tạm này, là nguồn gốc tạo ra cái vòng vô minh để mê hoặc thần thức, thì ta phải giúp thần thức phá vô minh để trở về chân tâm. Muốn phá được vô minh, thì trước hết ta phải tìm hiểu về quyền lực của thần thức và năng lực nhiệm mầu của chân tâm. Chân tâm là thể tánh có năng lực thiên biến vạn hóa! Thần thức là chủ thể có khả năng điều khiển bất khả tư nghì!
Chân tâm và thần thức tuy hai mà một, tuy một mà hai. Tâm không thể rời thần thức, thần thức cũng không thể rời tâm. Tại sao? Vì thể tánh mà không có chủ thể thì sẽ không phát huy được diệu tánh! còn chủ thể mà không có thể tánh thì sẽ không phát huy được quyền năng tối thượng! Vì vậy gọi chung là “Tâm thức”.
Tâm của ta không đến, không đi, không lấy, không bỏ và luôn hiện diện ở khắp mọi nơi. Còn đến hay đi, lấy hay bỏ đều là do “thần thức” của ta thay đổi. Nếu thần thức của ta đi làm súc sanh, thì tâm của ta sẽ biến cho thần thức có thân súc sanh. Nếu thần thức đi làm người, thì tâm sẽ biến cho thần thức có thân người. Nếu thần thức đi làm Phật, thì tâm sẽ biến cho thần thức có thân Phật... Tóm lại, mọi sự biến hóa của tâm đều là do thần thức của ta khống chế! Tâm không có quyền tự chủ, chỉ đành theo thần thức mà biến hóa không ngừng!
Nhưng cho dù thần thức của ta có điều khiển tâm ta biến hóa thế nào, thì cũng không thay đổi được thể tánh của chân tâm. Vì vậy trong Kinh Phật nói: “Tâm chiếu mà thường tịch, tịch mà thường chiếu”. Nghĩa là tâm thì thường sanh ra vạn pháp, nhưng tâm lúc nào cũng như như bất động! Cũng như mặt gương luôn tỏa ra ánh sáng phản chiếu mọi hình tướng, không phân biệt. Vật gì đến thì nó hiện, vật gì đi thì nó mất; tùy duyên mà chiếu, tùy duyên mà lặn, nhưng thể gương thì lúc nào cũng như như bất động!
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích ở trên, ta đã hiểu được phần nào tâm thật, tâm giả và vô minh của ta rồi. Giờ ta phải giúp thần thức phá vô minh để trở về chân tâm. Trong Kinh Phật nói: “Ta cũng là một chúng sanh trong quá khứ, giờ ta đã thành Phật, còn tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”. Tại sao Phật lại quả quyết với chúng ta như vậy? Là vì Phật thấy tất cả chúng sanh đều có chủng tử Phật tánh A Mi Đà, giống như chư Phật không khác! Khi ta niệm A Mi Đà Phật, tức là niệm tự tánh A Mi Đà của ta và đồng thời ta cũng thâu nhiếp được thần lực của mười phương chư Phật. Vì vậy Tịnh độ được gọi là pháp môn có nhị lực (nhị là hai, lực là thần lực). Nghĩa là ta phải dùng thần lực của ta để thâu nhiếp thần lực của mười phương chư Phật.
Phật nói nhị lực là để cho ta dễ hiểu. Trên thực tế pháp môn Tịnh độ chỉ có một đại lực dung thông mà thôi. Tại sao? Vì tâm của Phật và tâm của ta là đồng một thể không hai. Nếu không hai thì làm gì có nhị lực? Nói như vậy không có nghĩa là ta không có thần lực của chư Phật gia trì. Dĩ nhiên là có, vì mỗi niệm A Mi Đà của ta đang niệm hằng ngày, đều là trực chỉ dung thông với diệu tâm của mười phương chư Phật. Lực lực dung thông, lực lực tương đồng và hỗ trợ lẫn nhau. Hỗ trợ lẫn nhau nghĩa là: Chúng ta phải dùng thần lực từ chân tâm của mình để nương nhờ vào thần lực của mười phương chư Phật. Tại sao? Là vì cái màn vô minh của ta tạo ra đã quá sâu dày, mà thần thức của ta thì mới được thức tỉnh đây thôi, nên chưa có đủ thần lực và trí tuệ để phá vô minh. Vì vậy mà ta phải nương vào thần lực và trí tuệ của Phật A Mi Đà và chư Phật hỗ trợ.
Kính thưa quý bạn! Khi thành Phật ta sẽ có đầy đủ kim thân, trí tuệ và thần thông giống y như Phật A Mi Đà không khác. Nhưng kim thân, trí tuệ và thần thông của ta có được đó không phải là do Phật A Mi Đà ban cho, mà tất cả đều là do tâm thức của ta tự thành tựu! Nếu nói trên “sự” thì chư Phật giúp cho ta có thân kim Phật! Vì nếu không có chư Phật khai thị, dẫn lối và trợ lực thì ta vẫn còn trôi lăn đau khổ trong sáu ngã luân hồi, không có cơ hội thành Phật. Còn nói trên “lý” thì thân kim Phật là do tâm thức hợp nhất của ta tự thành tựu!
Cũng như thân người của ta hiện tại đang có. Nếu nói trên “sự” thì là nhờ tinh cha huyết mẹ cấu tạo mới thành! Nhưng nói trên “lý” thì thân người là do tâm thức và nghiệp lực của ta chiêu cảm mà có! Nếu từ nơi tâm thức và nghiệp lực của ta chiêu cảm mà có, thì cha mẹ của ta làm sao có quyền năng để tạo ra tướng người cho ta? Cha mẹ của ta chỉ là người trợ duyên nuôi dưỡng và giúp cho ta có đủ hình hài mà thôi. Khi ta thành Phật cũng như vậy đó! Thân kim Phật là do tâm thức hợp nhất của ta biến hóa thành. Còn chư Phật chỉ là đại cha mẹ giúp cho ta thành tựu được thân kim Phật mà thôi.
Tại sao chư Phật là đại cha mẹ, còn cha mẹ sanh ra ta là tiểu cha mẹ? Là vì cha mẹ chỉ thành tựu cho ta có thân giả, còn chư Phật thì thành tựu cho ta có thân kim Phật. Thân giả thì chỉ được tồn tại trong một đời, còn thân kim Phật thì được trường thọ vĩnh cửu. Vì vậy ân đức của chư Phật ta không thể nào báo đáp, chỉ còn khắc cốt ghi tâm đời đời, kiếp kiếp không quên. Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng: “Nếu thân Phật và thân người đều là do tâm thức của ta biến hóa thành. Vậy thì tại sao thân người thì bị đau yếu già chết, còn thân Phật thì được trường thọ vĩnh cửu, vậy sự khác biệt đó là ở chỗ nào”.
Kính thưa quý bạn! Thân Phật và thân người của ta chỉ khác nhau ở một niệm mê, giác của ta mà thôi. Nghĩa là thân người mà ta đang có, là vì trước khi sanh ra, thần thức của ta si mê chạy theo tâm giả (tức chạy theo tâm vọng), nên chân tâm phải duyên theo thần thức mà tạo cho ta có thân người! Còn khi thân Phật của ta được thành tựu, là nhờ thần thức của ta biết quay về hợp thành một thể với Diệu tâm, nên thân Phật của ta mới có đầy đủ trí tuệ, thần thông, và sống trường thọ vĩnh cửu. Còn thân giả mà ta đang có, là do duyên của tứ đại giả tạm tạo thành, nên ta không có thần thông, trí tuệ chi cả, mà chỉ có si mê điên đảo thôi. Bốn thứ tứ đại đó là: Đất, nước, gió và lửa. Thịt, xương, tim, gan, phổi… của ta là do “đất” cấu tạo thành! Huyết quản là do “nước” cấu tạo thành! Hơi thở là do “gió” cấu tạo thành! Nhiệt độ ấm trong người là do “lửa” cấu tạo thành!
Nếu bốn thứ này trong người của ta không được quân bình thì sẽ sanh ra bệnh. Nghĩa là nếu nước trong người của ta bị thiếu thì sanh ra nóng sốt. Nếu lửa trong người bị thiếu thì sanh ra lạnh cúm. Khi tứ đại còn thì ta sống, khi tứ đại bỏ đi thì ta chết. Vì vậy người chết trước hết là bị tắt thở (tức gió đã bỏ đi). Rồi đến huyết quản ngưng lại (tức nước đã bỏ đi). Rồi đến nhiệt độ ấm mất đi (tức lửa đã bỏ đi). Cuối cùng chỉ còn lại thân xác cứng lạnh là đất. Đất là còn lại cuối cùng, vì nó phải cần có thời gian tan rã để trở về với cát bụi. Còn nếu thân đất này được thiêu đốt, thì nó sẽ nhanh chóng trở thành cát bụi! Thân cát bụi trở về với cát bụi, vạn vật hữu tình và vô tình ở trên thế gian này cũng vậy, cuối cùng cũng đều trở về với cát bụi!
Giờ chúng ta tìm hiểu vào thần thông. Thật ra tất cả chúng ta hằng ngày, đều đang dùng một phần thần thông của mình mà không hay biết. Trong mỗi chúng ta ai cũng có những chuyện quá khứ vui buồn lẫn lộn, ai cũng có những lần đi xa rời tỉnh này đến tỉnh kia, hoặc rời nước này đến nước kia để sinh sống hay du lịch. Cũng như ta rời khỏi nước Việt Nam để ra nước ngoài sinh sống. Tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng những kỷ niệm vui, buồn ở Việt Nam hay những nơi ta đã đi qua, đều vẫn còn tồn tại ở trong tâm thức. Chỉ cần ta nghĩ đến, thì trong tíc tắc những chuyện quá khứ, nơi chốn, cảnh vật, cảm xúc vui buồn… đều hiện về trước mắt. Thậm chí, có những chuyện đã trải qua mấy mươi năm, mà ta tưởng chừng như hiện tại!
Tại sao ta có được cái khả năng thần diệu đó? Là vì tâm của ta đang hiện diện ở khắp mọi nơi. Nếu tâm của ta không hiện diện ở khắp mọi nơi, thì những cảm xúc vui buồn và đau khổ đó sẽ không bao giờ có. Những cảm xúc mà ta có được mỗi khi nhớ đến chuyện quá khứ, hiện tại và tương lai, đều là nhờ tâm của ta đang hiện diện ở đó! Nhờ tâm hiện diện ở đó, mà ta mới sống lại được với những cảm xúc rung động, vui buồn… Chẳng qua ta không tu nên không thấy được chân tướng đó thôi.
Trong Kinh Phật nói: “Cõi Cực Lạc cách xa cõi Ta bà của chúng ta đang ở là mười vạn ức Phật độ ”. Nếu chúng ta dùng con số thiên văn để tính khoảng cách xa của nó, thì không có cách chi tính đếm được. Điều này cho thấy cõi Cực Lạc cách xa thế giới chúng ta biết dường nào. Vậy mà Phật lại nói rằng: “Chúng sanh chỉ cần khởi một niệm thì sẽ đến được cõi Cực Lạc ngay”. Nghe qua thật là khó tin, nhưng đây là vạn lần chân thật, vì Phật không bao giờ nói lời giả dối.
Giờ chúng ta thử khởi lên một niệm đi về Việt Nam để thăm gia đình, thì ngay tức khắc ta đã có cảm giác như mình đang ở Việt Nam rồi có phải vậy không? Thậm chí, thần thức của ta về tới Việt Nam còn nhanh hơn cái khẩy móng tay. Khi ta vãng sanh cũng như vậy đó! Chỉ trong một niệm, thì thần thức của ta đã đến cõi Cực Lạc rồi. Tại sao thần thức của ta có được cái mãnh lực thần thông đó? Là vì tâm của ta đã hiện diện ở cõi Cực Lạc lâu rồi. Chẳng qua thần thức của ta vẫn còn si mê tham đắm dục trần, nên không chịu buông xả để bay về Tây phương Cực Lạc đó thôi.
Khi nào thần thức của ta được giác ngộ tu hành niệm Phật, thì lúc đó ta muốn bay về cõi Phật lúc nào cũng được. Tức là nói hiện tại tuy thân của ta vẫn còn ở đây, nhưng tâm thức của ta thì đã ở cõi Cực Lạc rồi. Đợi đến khi nghiệp báo của thân này trả xong, thì lúc đó ta sẽ tự tại bay thẳng về Tây phương Cực Lạc, để gặp Phật A Mi Đà và thành tựu Phật thân. Còn bây giờ ta có muốn bỏ cái thân giả tạm này để bay về Cực Lạc cũng không được. Tại sao? Vì nghiệp tội của ta còn quá nhiều, nên phải ở đây tu hành để trả nghiệp. Khi nào trả nghiệp xong rồi, thì lúc đó ta mới được Phật đến rước đưa về Cực Lạc. Ý nghĩa trả xong nghiệp ở đây là: Trả xong nghiệp của báo thân này(tức thân hiện tại của ta), không phải là trả xong nghiệp tội mà ta đã tạo từ xưa đến nay. Xin quý bạn chớ có hiểu lầm. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment