Đại Nguyện Thứ Mười Tám.
Kính thưa quý bạn! Vì thương chúng sanh nên Phật A Mi Đà mới phát ra 48 đại nguyện (nghĩa là đại thề). Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra đại nguyện thứ 18 của Phật mà thôi. Vì trong 48 đại nguyện thì đại nguyện thứ 18 là quan trọng nhất! Nếu quý bạn muốn hiểu 48 đại nguyện của Phật A Mi Đà, thì xin đi tìm cuốn “Kinh Vô Lượng Thọ” để tìm hiểu thêm.
Đây là đại nguyện thứ 18 của Đức Từ phụ A Mi Đà. Ngài nói rằng: “Khi tôi thành Phật, nếu chúng sanh mười phương hết lòng tin ưa, mong muốn sanh về cõi nước của tôi, xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, mà chẳng được sanh thời tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác. Chỉ trừ những kẻ tạo tội nghịch, chê bai chánh pháp”.
Kính thưa quý bạn! Đó là đại nguyện thứ 18 của Phật. Ngài nói rằng: Nếu chúng sanh trước khi chết mà niệm được mười niệm liên tục (nghĩa là mười hơi, không cần hơi dài hay ngắn), mà Ngài không đến nơi tiếp dẫn chúng sanh đó về Cực Lạc, thì Ngài thề không làm Phật. Còn câu cuối: “Chỉ trừ những kẻ tạo ngịch tội chê bai chánh pháp”. Câu này chúng ta không nên hiểu lầm cho rằng Phật không có lòng từ bi hay phân biệt. Thật ra không phải vậy, mà vì những chúng sanh tạo nhiều tội ác này không chịu sám hối tu hành và không chịu phát nguyện vãng sanh, thì Phật làm sao cứu được họ. Vì vậy mà Phật mới nói chỉ trừ những kẻ tạo ngịch tội, chê bai chánh pháp.
Qua 48 đại nguyện của Phật cho thấy, Ngài thương chúng ta vô bờ bến. Cha mẹ của ta còn chưa thề thốt với ta, vậy mà Ngài thề với chúng ta. Điều này cho thấy nỗi khổ tâm và lòng từ bi của Ngài còn lớn hơn trời biển. Chúng ta là phàm phu còn coi nặng lời thề không dám thề bừa bãi, không lẽ lời thề của Đấng Từ phụ mà ta không dám tin sao? Vì thương chúng sanh si mê không có đủ lòng tin, nên Ngài mới lập lời thề, để giúp chúng ta có vững lòng tin. Ngài đã làm hết sức của Ngài rồi, chẳng qua chúng ta không có đủ thiện căn và phước đức tin sâu niệm Phật. Có nhiều người nghi ngờ rằng:“Nếu người nào trước khi chết, niệm được mười niệm đều được vãng sanh, vậy thì trên thế gian này đâu còn ai...”.
Kính thưa quý bạn! Nghe qua mười niệm dễ quá nhưng không dễ, vì có mấy ai trên đời này trước khi chết mà niệm được mười niệm liên tục? Tại sao? Vì một người khi sắp chết thần thức sẽ bị mê man, thân thể sẽ bị tan rã và đau đớn. Chúng ma giành giật, oan gia trái chủ vây quanh đòi nợ, tâm thần hoảng hốt, luyến tiếc mạng sống, vợ con, tiền bạc, danh vọng... Đó là chưa nói đến trước khi chết, gặp chuyện không may làm thể xác bị đau đớn sanh tâm oán hận, thì ta làm sao có đủ sáng suốt để mà giữ chánh niệm?
Nghe qua thấy dễ nhưng không dễ, vì một người trước khi chết mà có thể niệm được mười niệm liên tục, là người này đã có công phu tu niệm Phật nhiều năm. Nên câu Phật hiệu mới được thuần thục và in sâu vào tâm thức. Nhờ niệm Phật nhiều năm mà tâm thần của họ mới được an định, biết thân này là giả, coi nhẹ bản thân và buông xả tất cả. Dù trước khi chết thể xác có bị đau đớn, họ cũng không bị phân tâm. Nhờ vậy mà người này mới có đủ sáng suốt giữ được chánh niệm, để niệm liên tục mười niệm.
Dù một người niệm Phật đã nhiều năm, trước khi chết nghiệp lực còn nhiều, không may bị đau đớn thể xác sanh tâm sân hận, không giữ được chánh niệm thì cũng khó được vãng sanh. Điều này ta phải luôn ghi nhớ và lưu ý! Nếu ta không may bị ai đâm chết, thì ngay giây phút đó ta nên nghĩ rằng:“Đây là nghiệp tội của ta đã gieo, giờ phải trả lại cho người”. Chúng ta không nên sanh tâm thù hận, mà hãy giữ chánh niệm để niệm Phật cho đến khi tắt thở, thì sẽ được chư Phật đến nơi tiếp dẫn sanh về cõi Phật.
Còn nếu phút cuối ta oán hận quên đi niệm Phật, thì dù chư Phật có muốn cứu cũng cứu không nổi, mà lúc đó sẽ có chúng ma đến rước ta đi. Cho nên thần thức trước khi chết rất là quan trọng, làm Phật hay làm ma chỉ cách nhau một niệm mê, giác của thần thức mà thôi. Vì thấy thần thức trước khi chết rất là quan trọng, nên Phật mới khuyên dạy chúng ta phát tâm niệm Phật để thành Phật, đây là khổ tâm và dụng ý của Ngài!
Tại sao người tu niệm Phật trước khi chết phải cần có thân nhân hay bạn đồng tu giúp đỡ trợ niệm? Là vì tuy ta niệm Phật đã nhiều năm, nhưng có mấy ai dám chắc 100% giữ được chánh niệm trước khi chết? Nếu phút lâm chung có người giúp hộ niệm, thì người chết sẽ nắm chắc 100% vãng sanh. Vì vậy người trợ niệm rất là quan trọng! Không những người trợ niệm có thể giúp nhắc nhở thần thức của người sắp chết giữ được chánh niệm, mà còn giúp xua đuổi đi những oan gia trái chủ đang vây quanh người sắp chết.
Nếu chúng ta khuyên cha mẹ hay chồng con niệm Phật, mà họ không có đủ căn duyên để tin sâu niệm Phật, thì ta phải cần niệm Phật tinh tấn hơn. Tại sao? Vì lỡ trong gia đình có người thân sắp chết, thì ta sẽ giữ được bình tĩnh, khai thị và trợ niệm để cứu vong linh của người thân. Còn nếu ta có được vãng sanh trước, thì sẽ giúp người thân phát tâm tin Phật và niệm Phật. Như vậy dù ta có đi trước hay đi sau, thì cũng đều cứu được thân nhân của ta. Đây mới là tình thương chân thật!
Pháp Thân, Báo Thân Và
Ứng Hóa Thân
Ứng Hóa Thân
Kính thưa quý bạn! Trong Kinh Phật nói tất cả chúng sanh khi vãng sanh thành Phật, thì đều có ba thân giống như chư Phật không khác đó là: Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân. Tuy hiểu là hiểu vậy, nhưng chúng ta chưa hiểu rõ sự thành tựu của ba thân như thế nào. Nếu nói về sự nhiệm mầu ba thân của chư Phật, thì phàm tình như chúng ta không có đủ trí tuệ để bàn luận được. Nhưng nhờ có Kinh Phật mà ta mới hiểu được phần nào chân tướng.
Ở đây chúng tôi xin phân tích tóm gọn về ba thân của ba cảnh giới Phật, Bồ tát và Chúng sanh khác nhau ở chỗ nào, để quý bạn tìm hiểu thêm. Chúng ta xưa nay tưởng chỉ có chư Phật, Bồ tát mới có ba thân, còn chúng sanh như ta thì không có ba thân. Thật ra, tất cả chúng sanh hữu tình ở trong vũ trụ này đều đang có ba thân, chẳng qua ta không biết đó thôi. Vì không biết nên ta không lo bảo vệ và gìn giữ. Ngược lại, còn đi hủy hoại ba thân của mình. Rồi chạy Đông, chạy Tây van xin cầu cứu, mà không biết rằng những sự đau đớn đó đều do ta tạo ra và tự ta phải gánh chịu!
Ba thân của chúng sanh:
1. Pháp thân: Pháp thân tức là pháp tánh, cũng gọi là Phật tánh, cũng gọi là chân tâm, cũng gọi là thật tướng… Pháp thân có nhiều danh từ gọi khác nhau, nhưng có cùng một ý nghĩa! Pháp thân không có hình tướng, nhưng pháp thân thì bình đẳng sanh ra vạn pháp. Tất cả chúng ta ai cũng có Pháp thân, chẳng qua ta không biết đó thôi. Nhưng cho dù ta không biết hay là thay hình đổi dạng vô số kiếp, thì Pháp thân (chân tâm) của ta cũng không hề bị thay đổi. Nó vẫn luôn luôn hiện diện ở khắp mười phương và bao trùm cả vũ trụ. (Pháp thân của ta không sanh cũng không diệt. Phần này tôi đã giải thích tường tận ở trong bài “Tâm là gì” rồi).
2. Báo thân: Tất cả chúng ta đều có “Báo thân”. Nhờ có “Báo thân” mà “Pháp thân” mới tạo ra được hình tướng cho ta. Báo thân tức là hình tướng của “Thần thức” hiện ra. Nghĩa là thần thức của ta biến hiện ra hình tướng gì, thì Pháp thân của ta sẽ theo hình tướng của thần thức mà tạo cho ta có Báo thân đó! Nếu thần thức của ta hiện ra hình tướng con người, thì Pháp thân của ta sẽ thành tựu cho ta có Báo thân người! Nếu thần thức của ta hiện ra hình tướng súc sanh, thì Pháp thân của ta sẽ thành tựu cho ta có Báo thân súc sanh…
Tóm lại, tuy chúng ta ai cũng có Báo thân. Nhưng báo thân của ta được thành tựu bởi thần thức si mê điên đảo, nên chỉ chiêu cảm được thân giả tạm của đất, nước, gió, lửa và tà tri, tà kiến mà thôi. Vì vậy Báo thân người của ta là thuộc về nghiệp Báo thân. Không phải là Báo thân thanh tịnh của Bồ tát, không phải là diệu Báo thân của chư Phật (Báo thân chúng ta thì có sanh, có diệt).
3. Ứng hóa thân: Tất cả chúng ta ai cũng có vô lượng “Ứng hóa thân”. Ứng hóa thân là kết quả của “Pháp thân và Báo thân” ta tạo ra! Vì vậy có kiếp ta làm thân Trời, có kiếp ta làm thân Người, thân Thần, thân Súc sanh, thân Ngạ quỷ và thân Địa ngục.
Tuy chúng ta ai cũng có vô lượng “Ứng hóa thân” khác nhau trong vô lượng kiếp đến nay. Nhưng Ứng hóa thân của ta thuộc về si mê, điên đảo trôi lăn trong lục đạo luân hồi, để chịu mọi đau khổ. Chúng ta si mê thật là đáng thương, càng ứng thì càng đi xuống, càng hóa thì càng si mê điên đảo, không còn biết mình là ai. (Ứng tức là ta đầu thai hết chỗ này đến chỗ kia. Hóa tức là ta hóa thành đủ loại hình tướng chúng sanh khác nhau).
Ba thân của Bồ tát:
1. Pháp thân: Pháp thân của Bồ tát thì giống như Pháp thân của chư Phật và của chúng sanh không khác. Chỉ có khác ở chỗ là: Nếu ta biết buông xả tu hành để trở về Pháp thân. Khi thấy được Pháp thân (tức thấy được chân tâm) thì ta sẽ sống được với Pháp thân Bồ tát của ta! (Tức là sống với chân tâm của ta).
2. Báo thân: Khi chúng ta thấy được quang minh của Pháp thân, thì cũng là lúc Báo thân Bồ tát của ta được khôi phục. Khi Báo thân được khôi phục, thì trí tuệ và lục thần thông thanh tịnh của ta cũng bắt đầu được khôi phục. Khi Báo thân Bồ tát của ta được khôi phục thì sẽ là vĩnh cửu bất hoại! Tại sao? Vì Báo thân Bồ tát là do thần thức và chân tâm của ta hợp nhất tạo thành, nên không bị hủy diệt. Lúc đó, ta sẽ không còn bị luân hồi sanh tử nữa, mà chỉ có tiến tu đến quả Phật cứu cánh! (báo thân Bồ tát có sanh nhưng không có diệt).
3. Ứng hóa thân: Khi Pháp thân và Báo thân của ta bắt đầu được dung hợp chiếu soi lẫn nhau, thì Ứng hóa thân của ta cũng bắt đầu được khôi phục. Khi Ứng hóa thân được khôi phục, thì tướng mạo và hành vi của ta cũng bắt đầu được chuyển đổi tươi sáng, từ bi và thanh tịnh! Tuy hiện tại ta vẫn còn mang thân giả tạm của tứ đại. Nhưng thân, tâm của ta thì đã được thanh tịnh và giải thoát, không còn bị tham, sân, si mê hoặc.
Lúc đó, thân tâm của ta không còn là của riêng ta nữa, mà nó thuộc về của mười phương thế giới chúng sanh. Lúc đó, ta sẽ biết quý thân tâm của mình hơn bao giờ hết. Ý nghĩa quý thân tâm ở đây không phải là ta ích kỷ ham sống sợ chết, mà là nhận thức được thân tâm của ta đối với chúng sanh rất là quan trọng! Lúc đó, cho dù ta chỉ ở một nơi, nhưng pháp âm thuyết pháp của ta, thì vang rộng khắp mười phương thế giới, giúp cho chúng sanh nơi nơi được thức tỉnh hồi đầu! Tuy là hiện tại ta vẫn còn mang thân giả tạm, vẫn còn chịu đau khổ của thân bệnh, già, chết. Nhưng thân tâm và trí tuệ của ta là Ứng hóa thân của Bồ tát! Tại sao? Vì ta đã có đủ trí tuệ để chuyển khai tri kiến Phật cho chúng sanh, giúp cho chúng sanh thoát khỏi luân hồi vãng sanh thành Phật! (Ứng hóa thân của Bồ tát thì có sanh, có diệt).
Ba thân của chư Phật:
1. Pháp thân: Pháp thân của chư Phật là Diệu Pháp thân có thể sanh ra vô lượng diệu pháp và biến hóa nhiệm mầu không thể nghĩ bàn!
2. Báo thân: Báo thân của chư Phật thì có màu kim sắc rất to lớn, có 4 trí, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và 6 loại thiên thần thông biến hóa nhiệm mầu! Tóm lại, Báo thân của chư Phật thì không thể nghĩ bàn. (nghĩ là không thể nghĩ đến, bàn là không thể bàn luận được).
3. Ứng hóa thân: Ứng hóa thân của Phật thì thiên biến vạn hóa. Quý Ngài có thể “ứng” ra một lúc cả vô lượng thân, đến vô lượng thế giới chúng sanh để thị hiện làm Phật. Quý Ngài có thể “hóa” ra vô lượng hình tướng chúng sanh đủ loại khác nhau, để cứu độ chúng sanh mọi loài. Tóm lại, Ứng hóa thân của chư Phật thì thiên biến vạn hóa và bất khả tư nghì (Ứng hóa thân của Phật thì có sanh, có diệt).
Phần tóm lược: Ở đây chúng tôi xin dùng vàng, người thợ bạc và nữ trang để ví dụ cho ba thân, thì quý bạn dễ hiểu hơn.
Vàng: Là ví cho Pháp thân!
Ý tưởng của người thợ bạc: Là ví cho Báo thân!
Vòng vàng nữ trang: Là ví cho Ứng hóa thân!
Ý tưởng của người thợ bạc: Là ví cho Báo thân!
Vòng vàng nữ trang: Là ví cho Ứng hóa thân!
Nếu vàng không có người thợ bạc nghĩ tưởng biến chế, thì vàng sẽ không phát huy được thể chất vạn năng của vàng. Nếu người thợ bạc không có thể chất của vàng, thì sẽ không phát huy được tài năng biến chế của mình. Nếu nữ trang không có thể chất của vàng, không có người thợ bạc nghĩ tưởng biến chế, thì hình tướng và danh từ nữ trang sẽ không bao giờ có. Vì vậy “vàng”, “người thợ bạc” và “nữ trang” có một sự liên hệ mật thiết không thể tách rời nhau. Ba thân của chư Phật và ba thân của chúng sanh cũng như vậy đó! Vốn không thể tách rời nhau. Nếu ba thân tách rời nhau, thì hình tướng của chư Phật và hình tướng của chúng ta sẽ không bao giờ có.
Tóm lại, Pháp thân là “thể”, Báo thân là “tướng”, Ứng hóa thân là “dụng”. Thể, tướng, dụng cả ba không thể tách rời nhau, nên ba tức là một, một tức là ba! Ba tức là một nghĩa là: Ba thân của ta dính vào nhau như bóng với hình không thể tách rời nhau như chữ “Y”. Còn một tức là ba nghĩa là: Tuy ba thân không thể tách rời nhau, nhưng ba thân của ta đều có cảnh giới cao thấp khác nhau của nó. Vì vậy mới có sự khác biệt giữa ba thân của chư Phật, ba thân của Bồ tát và ba thân của chúng sanh.
Đặc điểm của ba thân: Nói về mặt quyền năng, thì Báo thân có quyền năng điều khiển Pháp thân và Ứng hóa thân. Tại sao? Vì Báo thân là hình tướng của thần thức ta biến hiện ra. Nếu thần thức của ta nghĩ ác thì sẽ hiện ra Báo thân ác! Nếu thần thức của ta nghĩ thiện thì sẽ hiện ra Báo thân thiện! Nhờ có Báo thân thiện, ác, đẹp, xấu ở trong tâm thức mà Pháp thân của ta mới thành tựu cho ta có thân thiện, ác, đẹp, xấu! Cũng như thân người hiện tại mà ta đang có được, là nhờ thần thức của ta trước đó đã tạo ra Báo thân người ở trong tâm thức. Nên sau khi chết tâm thức của ta mới biết tìm loài người để đi đầu thai. Nếu ta muốn kiếp sau được làm Phật, thì hãy mau niệm Phật để tạo hình tướng Phật ở trong tâm thức của ta từ bây giờ. Đến khi thân giả tạm này bỏ ta mà đi, thì Pháp thân của ta sẽ theo hình tướng của báo thân ở trong tâm thức, mà thành tựu cho ta có Báo thân Phật!
Tổng kết của ba thân:
1. Ba thân của chúng sanh: Chỉ có Pháp thân là thanh tịnh! Còn hai thân Báo và Ứng hóa là thuộc về nghiệp si mê, điên đảo! Vì vậy ta chỉ mang lại sự đau khổ cho bản thân, cho chư Phật, cho Bồ tát và cho chúng sanh.
2. Ba thân của Bồ tát: Là thuộc về ba thân thanh tịnh, từ bi và trí tuệ, nên quý Ngài mang đến cho chúng sanh sự giác ngộ và giải thoát.
3. Ba thân của chư Phật: Là thuộc về Diệu thân kim cang; có vô lượng trí tuệ, vô lượng thần thông và vô lượng thọ. Nên quý Ngài mang đến cho chúng sanh sự giải thoát và thành Phật.
Kính thưa quý bạn! Nếu chúng ta đang ở cảnh giới phàm phu, thì hãy chuyển ba thân phàm phu thành ba thân thanh tịnh của Bồ tát! Nếu chúng ta đang ở cảnh giới Bồ tát, thì hãy cùng nắm tay nhau để dẫn dắt chúng sanh về gặp Phật A Mi Đà và cùng nhau thành Phật!
Sự diệu dụng của ba thân: Ở đây, chúng tôi xin phân tích thêm về sự hoạt động của ba thân khi ta thành Phật, để quý bạn tìm hiểu thêm. Vì có một số người si mê nghĩ rằng:“Làm Phật không có gì để hưởng thụ, suốt ngày chỉ lo cứu độ chúng sanh, thật là chán chết”. Vì chúng ta không hiểu nên mới nghĩ như vậy. Thật ra, khi thành Phật chúng ta ai cũng có ba thân viên mãn như Phật A Mi Đà đó là: “Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân”.
1. Pháp thân: Pháp thân của ta thì không có hình tướng như như bất động và luôn luôn hiện diện ở khắp mười phương, bao trùm cả hư không vũ trụ, tùy duyên biến hóa!
2. Báo thân: Báo thân của ta thì có màu vàng kim rất to lớn, có 4 trí, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và 6 loại thiên thần thông biến hóa nhiệm mầu. Báo thân của ta chỉ ngự ở cõi Cực Lạc, hay ở mười phương cõi Phật để hưởng lạc hạnh phúc và sống trường thọ vĩnh cửu!
3. Ứng hóa thân: Ứng hóa thân của ta thì có thể ứng hóa ra vạn hình, vạn tướng theo ý nguyện, đi đến mười phương thế giới để cứu độ chúng sanh mọi loài.
Trong Kinh Phật nói:“Chư Phật đến mà như không đến, không đến mà đến. Nhập Niết bàn mà như không nhập, không nhập mà nhập”. Nếu nói trên “sự” thì chư Phật có ứng thân đi đến mười phương thế giới để thị hiện làm Phật, và quý Ngài có hóa thân thành đủ loại để cứu độ chúng sanh! Nhưng nói trên “lý” thì chư Phật chưa hề đến và cũng chưa hề đi! Tại sao? Vì Pháp thân của chư Phật lúc nào cũng hiện diện ở khắp mười phương, bao trùm cả vũ trụ. Nếu đã bao trùm khắp vũ trụ thì làm gì có chuyện đến hay đi.
Còn “Báo thân” của chư Phật thì không cần phải dời gót bôn ba. Quý Ngài chỉ cần ở cõi Cực Lạc khởi ý, thì có thể Ứng hóa ra vạn hình, vạn tướng theo ý muốn. Quý Ngài có thể đi đến mười phương cõi Phật để đàm luận giao du, hay đến mười phương thế giới chúng sanh để cứu độ. Sau khi giao du hay cứu độ chúng sanh xong, thì quý Ngài thâu nhiếp thần lực trở về, chỉ đơn giản vậy thôi. Khi chúng ta thành Phật cũng biến hóa được như chư Phật không khác! Vậy quý bạn thử nghĩ xem làm Phật có sung sướng hay không? Làm Phật sung sướng và hạnh phúc hơn làm chư Thiên cả vạn tỷ lần đấy!
Định, Chánh Định Và Diệu định
Ở đây chúng tôi xin phân tích tóm gọn về ba cảnh giới định từ cạn tới sâu của người tu Tịnh độ, để quý bạn tìm hiểu thêm.
1. Công phu định (trên tâm vọng): Khi nào câu niệm Phật trong tâm ta được thuần thục và an lạc, thì gọi là công phu đóng thành một mảng. Tức là ta đã khống chế được vọng tưởng! Công phu này đối với người tu Tịnh độ là thấp nhất. Nhưng so với Thiền tông, thì công phu này ngang hàng với quả Tu-đà-hoàn cho tới quả A-la-hàm. Nếu công phu cạn thì ngang với quả Tu-đà-hoàn. Nếu vừa thì ngang với Tu-đà-hàm. Nếu sâu thì ngang với A-la-hàm.
2. Công phu Chánh định (trên chân tâm): Khi nào ta niệm Phật mà được chánh định (tức tam muội), thì câu niệm Phật trong tâm sẽ đóng thành một khối rắn chắc như Kim cang. Nó lúc nào cũng tỏa ra hơi mát an lạc và trong tâm ta lúc nào cũng giống như có cái máy chíp niệm Phật mãi không ngừng. Lúc đó, ta sẽ không còn dụng công để tu niệm, mà ta chỉ cần dùng tánh nghe để nghe tiếng niệm Phật trong tâm mình phát ra! Công phu này nếu cạn là chứng “Sự nhất tâm”. Nếu sâu thì chứng “Lý nhất tâm”. Công phu này so với Thiền tông thì ngang hàng với bậc A la hán cho tới Bồ tát. Nếu cạn thì ngang với bậc A la hán. Nếu sâu thì ngang với bậc Bồ tát minh tâm, kiến tánh!
3. Công phu Diệu định (trên diệu tâm): Khi nào ta niệm Phật mà được diệu định, thì câu niệm Phật không còn phát ra từ lồng ngực như cái máy chíp nữa, mà thân tâm của ta lúc nào cũng thanh tịnh, rỗng suốt và phát ra diệu âm A Mi Đà bao trùm cả vũ trụ. Lúc đó, ta sẽ nghe được tánh Không, lòng Đất, bầu Trời và vạn vật muôn loài ở trong vũ trụ này đều phát ra diệu âm A Mi Đà (tức phát ra tiếng niệm A Mi Đà Phật). Lúc đó, ta sẽ không còn dùng tánh nghe để nghe, mà dùng thể tánh A Mi Đà sáng suốt của ta để nghe. Lúc đó, ta sẽ sống được với tâm của chư Phật và tâm của chúng sanh; tâm-tâm hợp nhất, tâm-tâm hợp niệm, thật là vi diệu không thể nghĩ bàn! Tánh A Mi Đà là tánh có tất cả công đức như: Tánh nghe, tánh thấy, tánh biết, tánh nhận định, tánh cảm thọ và tánh ý thức. Công phu này Tịnh độ gọi là chứng “Đà Ra Ni tam muội”. Còn so với Thiền tông thì ngang với đại Bồ tát, cho tới Đẳng giác Bồ tát. Nếu cạn thì là đại Bồ tát! Nếu sâu thì là Đẳng giác Bồ tát.
Ý Nghĩa Minh Tâm Kiến Tánh,
Kiến TánhThành Phật
Kiến TánhThành Phật
Đa số chúng ta vẫn còn hiểu lầm về ý nghĩa: “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Chúng ta xưa nay tưởng người tu hành, khi được minh tâm là được kiến tánh liền, hoặc khi được kiến tánh là được thành Phật liền. Thật ra không phải vậy, mà ta phải cần trải qua ba giai đoạn phá vô minh và vọng tưởng từ thô đến tế khác nhau. Ba giai đoạn đó là: “Minh tâm”, “Kiến tánh” và “Thành Phật”. Cũng như ta muốn vượt qua ba lớp cửa thành, thì ta phải cần có thời gian để đột phá từng cửa. Không phải ta phá được một cửa là qua được ba cửa luôn đâu. Còn vấn đề phá được nhanh hay chậm, thì phải coi sự tu hành của ta. Giờ tôi xin phân tích từng phần tóm gọn để cho quý bạn dễ hiểu.
1. Minh tâm: Khi nào ta đoạn được kiến hoặc và tư hoặc thì sẽ được “minh tâm” (tức là đoạn được cái thấy và cái suy nghĩ si mê, điên đảo).
2. Kiến tánh: Khi nào ta đoạn sạch được bốn ấm vô minh sắc, thọ, tưởng, hành và vào được thức ấm, thì ta sẽ “Kiến tánh” (tức thấy được Phật tánh của ta). Nhưng cho dù ta có tu được đến đây, thì chỉ mới thấy được có một phần Phật tánh, ví như mặt trăng khuyết mỏng. Rồi từ chỗ thấy được một phần Phật tánh đó, ta lại tu tiếp tục để phá vô minh của Thức ấm.
3. Thành Phật: Khi nào ta đoạn sạch được vô minh của Thức ấm và đoạn luôn một phẩm thân tướng vô minh cuối cùng thì ta thành Phật!
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích ở trên cho chúng ta thấy, muốn thành Phật thì ta phải cần trải qua ba giai đoạn đó là:
Đọan một: Ta phải khai mở trí tuệ, để diệt vô minh và vọng tưởng “thô” (thô là dễ thấy).
Đọan hai: Ta phải dùng đại trí tuệ để diệt vô minh và vọng tưởng “thiển” (thiển là ở giữa khó thấy và dễ thấy).
Đoạn ba: Ta phải dùng đại kim cang trí tuệ, để diệt sạch vô minh và vọng tưởng “vi tế” để thành Phật (vi tế là khó thấy).
Đọan hai: Ta phải dùng đại trí tuệ để diệt vô minh và vọng tưởng “thiển” (thiển là ở giữa khó thấy và dễ thấy).
Đoạn ba: Ta phải dùng đại kim cang trí tuệ, để diệt sạch vô minh và vọng tưởng “vi tế” để thành Phật (vi tế là khó thấy).
Ở trên tôi dùng hai từ “đột phá” và “diệt sạch” là để cho quý bạn dễ hiểu. Trên thực tế thì chúng ta không phá mà cũng không diệt chi cả. Chúng ta chỉ cần chuyển tâm thức dơ bẩn thành tâm thức thanh tịnh, là ta sẽ thành Phật. Vì tâm thức dơ bẩn và tâm thức thanh tịnh của ta chỉ là một không hai! Chẳng qua khi ta si mê, thì tâm thức thanh tịnh biến thành tâm thức dơ bẩn! Khi ta giác ngộ, thì tâm thức dơ bẩn biến thành tâm thức thanh tịnh! Nếu tâm thức dơ bẩn thì dẫn ta vào Lục đạo. Nếu tâm thức thanh tịnh thì ta đi làm Phật, chỉ đơn giản vậy thôi. Trên lý thì thấy đơn giản, nhưng trên sự thì không đơn giản. Nếu ta tu theo các Pháp môn khác, thì phải cần tu đến ba đại A Tăng kỳ kiếp mới được thành Phật. Tại sao? Vì các Pháp môn khác là tự lực, nên rất khó được thành tựu. Còn Tịnh độ là pháp môn có nhị lực, nên dễ được vãng sanh ngay trong một đời!
Ở trên tôi phân tích làm ba giai đoạn, là để quý bạn hiểu được câu:“Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” như thế nào thôi. Còn về pháp môn Tịnh độ, thì chúng ta không cần phải đi từ thấp lên cao như các Pháp môn tu khác. Tại sao? Vì Tịnh độ là pháp môn trực chỉ thành Phật! Chúng ta chỉ cần tin sâu và nguyện thiết, thì mỗi niệm của ta đang niệm; đều là trực chỉ phá từng phần vô minh và trực chỉ thành Phật từng phần! Niệm tới đâu ta hưởng được sự an lạc và giải thoát tới đó. Cũng giống như là ta đang uống nước, nước chạy tới đâu, nóng hay lạnh tự ta hiểu rõ tới đó, không có lầm lẫn.
Bớt Và Thêm
Bớt một câu thị phi
Thêm một câu niệm Phật
Trí tuệ liền khai mở
Ta vào một cửa gọi là Minh tâm!
Bớt một niệm tham, sân
Thêm một câu niệm Phật
Chân tâm liền khai mở
Ta thông hai cửa gọi là Kiến tánh!
Bớt một niệm chấp trước
Thêm một câu niệm Phật
Quả Phật liền hiện tiền
Ta thông ba cửa liền thành Như Lai!
Thêm một câu niệm Phật
Trí tuệ liền khai mở
Ta vào một cửa gọi là Minh tâm!
Bớt một niệm tham, sân
Thêm một câu niệm Phật
Chân tâm liền khai mở
Ta thông hai cửa gọi là Kiến tánh!
Bớt một niệm chấp trước
Thêm một câu niệm Phật
Quả Phật liền hiện tiền
Ta thông ba cửa liền thành Như Lai!
Ý Nghĩa Nhất Chân Pháp Giới
Đa số chúng ta vẫn còn hiểu lầm giữa “Nhất chân pháp giới” và “Pháp giới duyên sanh”. Ở đây chúng tôi xin phân tích tóm gọn để quý bạn dễ hiểu. Chỉ cần hiểu được chân tướng của hai loại thế giới này khác nhau ở chỗ nào, thì ta sẽ không còn hoang mang.
Nhất chân pháp giới:
Nhất: Là một, tức là một thể tánh diệu tâm thanh tịnh!
Chân: Là chân thật tướng và chân thật tánh!
Pháp: Là nói chung tất cả vạn vật hữu tình và vô tình! (cái bàn, cái ghế, con chim, con phụng… đều gọi là một pháp).
Giới: Là pháp giới! (tức là cảnh giới của sự sống sinh hoạt).
Nhất: Là một, tức là một thể tánh diệu tâm thanh tịnh!
Chân: Là chân thật tướng và chân thật tánh!
Pháp: Là nói chung tất cả vạn vật hữu tình và vô tình! (cái bàn, cái ghế, con chim, con phụng… đều gọi là một pháp).
Giới: Là pháp giới! (tức là cảnh giới của sự sống sinh hoạt).
Nhất chân pháp giới là thế giới của chư Phật! Tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trong mười phương cõi Phật, đều là do diệu tâm thanh tịnh của chư Phật biến hóa ra và thu hồi lại theo ý muốn. Vì vậy tất cả đều là chân thật tướng và chân thật tánh và lúc nào cũng tỏa ra quang minh đủ màu rất đẹp không thể nghĩ bàn. Ở trên đó không có sự sanh diệt của luân hồi sanh tử. Tóm lại, tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở mười phương cõi Phật, đều là do chư Phật dùng diệu thần lực của quý Ngài để biến hóa ra và thâu nhiếp lại theo ý muốn, nên không có sự sanh, diệt.
Pháp giới duyên sanh:
Pháp: Là nói chung tất cả vạn vật hữu tình và vô tình!
Giới: Là thế giới!
Duyên: Là nhiều thứ hợp lại thì gọi là duyên!
Sanh: Là có sự thành tựu hoại diệt và có sanh tử, luân hồi!
Pháp: Là nói chung tất cả vạn vật hữu tình và vô tình!
Giới: Là thế giới!
Duyên: Là nhiều thứ hợp lại thì gọi là duyên!
Sanh: Là có sự thành tựu hoại diệt và có sanh tử, luân hồi!
Pháp giới duyên sanh là thế giới của chúng sanh. Thế giới “Ta bà” của ta đang ở, cũng là một thế giới duyên sanh ở trong vô lượng thế giới duyên sanh và chúng ta cũng là chúng sanh! (Chúng sanh là nói chung hết các loài hữu tình có sanh, có diệt). Tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trong mười phương thế giới duyên sanh, đều là do tâm vọng tưởng và vô minh kiên cố của chúng sanh biến hiện ra. Nên tất cả đều là giả tướng do duyên hợp! Vì là duyên hợp, nên tất cả đều có sự thành tựu, hoại diệt và có sanh, già, bệnh, chết.
Giờ chúng ta tìm hiểu vào hai mặt lý và sự của hai loại thế giới này khác nhau ở chỗ nào. Chỉ cần hiểu rõ hai mặt lý và sự, thì ta sẽ không bị rơi vào chấp lý bỏ sự hay chấp sự bỏ lý. Đạo Phật là đạo “viên dung”. Viên là viên tròn! Dung là dung thông trung đạo! Nếu chúng ta chấp lý bỏ sự hay chấp sự bỏ lý, thì sẽ giải sai ý của Phật và oan ức cho chư Phật ba đời.
1. Trên lý (tức trên tâm): “Nhất chân pháp giới” và “Pháp giới duyên sanh” đều ở ngay trong tâm chúng ta. Tức là nói tâm của ta có thể tạo ra hai loại thế giới này. Nếu ta là Phật thì sẽ tạo ra được “Nhất chân pháp giới”! Nếu ta là chúng sanh thì sẽ tạo ra được “Pháp giới Duyên sanh”! Thế giới “Nhất chân” thì chúng ta chưa có khả năng tạo ra, vì chúng ta chưa phải là Phật. Còn thế giới “Duyên sanh” thì chúng ta đã tạo ra nhiều rồi. Không những vậy, mà chúng ta còn ở trong những thế giới Duyên sanh đó từ vô lượng kiếp rồi. Chẳng qua kiếp này ta đang ở đây, nên không còn nhớ đến những thế giới ở trong quá khứ. Tóm lại, tâm của ta có khả năng tạo ra thế giới Nhất chân và thế giới Duyên sanh. Nếu tất cả chúng sanh ở trong thế giới Ta bà này tu thành Phật hết, thì thế giới Ta bà đau khổ này, lập tức biến thành cõi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm, hạnh phúc và trường thọ vĩnh cửu!
Còn nói về mặt “Tâm linh” thì tâm của ta là Cực Lạc mà cũng là địa ngục. Nếu ta giác ngộ thì sẽ sống được hạnh phúc an lạc như ở cõi Cực Lạc! Tâm thì như ở Cực Lạc nhưng thân thì chưa, vì ta vẫn còn mang cái thân giả tạm, và vẫn còn sống ở trong thế giới Ta bà đau khổ này. Nếu tâm của ta si mê, điên đảo thì sẽ sống đau khổ như ở trong địa ngục! Tâm thì như ở trong địa ngục nhưng thân thì chưa, vì ta vẫn còn may mắn chưa bị Quỷ sai chặt đầu, cắt lưỡi, mổ bụng, bỏ vào chảo dầu, nằm giường lửa hay ôm trụ lửa đồng…
2. Trên sự (tức trên pháp giới): “Nhất chân pháp giới” và “pháp giới duyên sanh” là hai loại thế giới hoàn toàn khác nhau. Một loại là “chân thật tướng” do “diệu tâm” của chư Phật biến hóa ra! Còn một loại là “giả tướng” do duyên hợp từ “tâm vô minh” của chúng sanh biến hiện ra!
Cõi Cực Lạc và mười phương cõi Phật cách mười phương thế giới duyên sanh rất xa và mỗi cõi đều có khoảng cách xa khác nhau. Còn nói về cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Mi Đà, thì cách xa cõi Ta bà chúng ta là mười vạn ức Phật độ! Thế giới Ta bà của ta đang ở là một thế giới duyên sanh, ở trong vô lượng thế giới duyên sanh khác. Tức là nói chung quanh thế giới của ta đang ở, còn có vô lượng thế giới duyên sanh của những loại chúng sanh khác.
Tuy thế giới Ta bà chúng ta đang ở là thế giới duyên sanh. Nhưng đồng thời cũng có vô số chư Phật và Bồ tát đang ở trong thế giới này. Quý Ngài ở đây không phải là bị đọa đến đây, mà vì quý Ngài tình nguyện thị hiện đến đây để cứu độ chúng sanh! Nếu thế giới Ta bà này là hạnh phúc vĩnh cửu, thì chư Phật và Bồ tát sẽ không cần thị hiện đến đây. Ngoài chư Phật và Bồ tát thị hiện ra, còn có vô số Bồ tát và Thánh đang tu hành để tiến lên quả vị Phật!
Điều đáng thương là có một số chúng ta vẫn còn si mê cho rằng: Cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà và mười phương cõi Phật hoàn toàn không có. Nếu cõi Cực Lạc và mười phương cõi Phật không có. Vậy thì những gì Phật thuyết ở trong ba bộ Kinh Đại thừa như là “Kinh Hoa Nghiêm”, “Kinh Vô Lượng Thọ” và “Kinh A Mi Đà” là vọng ngữ ư? Quý bạn chớ quên rằng: Sáu cõi luân hồi sanh tử đều do nghiệp ác của chúng ta tạo ra mà có. Chúng sanh si mê như chúng ta mà còn tạo ra được sáu cõi luân hồi. Không lẽ nghiệp thanh tịnh của chư Phật không tạo ra được mười phương cõi Phật ư? Nghiệp có ba loại: Ác, Thiện và Thanh tịnh. Nếu nghiệp ác thì tạo ra sáu đạo luân hồi sanh tử. Nếu nghiệp Thiện thì tạo ra bốn pháp giới của Thánh và Bố tát. Nếu nghiệp Thanh tịnh thì tạo ra mười phương cõi Phật.
Kính thưa quý bạn! Đạo Phật không phải để cho chúng ta ở đây nói huyền nói diệu, mà đạo Phật mang đến cho chúng sanh sự giải thoát thân, tâm, mạng và cảnh giới viên mãn! Nếu đạo Phật chỉ mang đến cho chúng sanh sự giải thoát về tâm linh, mà không mang đến cho chúng sanh sự giải thoát về thể xác, sinh tử và cảnh giới, thì đạo Phật đâu khác gì với đạo hại người.
Quý bạn hãy bình tâm mà suy nghĩ thử xem: Nếu một người mù và một người sáng mắt, cùng phải sống trong một căn nhà đen tối không thể thoát ra. Vậy ai là người sống đau khổ hơn? Người sáng mắt sống đau khổ hơn có phải vậy không? Tại sao? Vì người mù xưa nay đã quen sống trong bóng tối, nên họ không còn sợ cảnh đen tối của căn nhà. Vì vậy mà họ sống được thoải mái và nhẹ nhàng hơn. Còn người sáng mắt xưa nay đã quen sống trong ánh sáng. Bây giờ phải bị sống trong căn nhà đen tối không thể thoát ra. Dĩ nhiên là họ lúc nào cũng sống trong lo âu và sợ hãi.
Nếu ta tu hành giác ngộ, thấy được chân tướng của sự sanh, già, bệnh, chết. Thấy được chân tướng của luân hồi sanh tử, mà không thể thoát ra; không thể sanh về một thế giới thanh tịnh nào đó. Vậy sự đau khổ của ta đâu khác gì với sự đau khổ của người sáng mắt đang bị sống trong căn nhà đen tối. Nếu ta tu hành để rồi phải chịu đau khổ thảm khốc hơn, chi bằng ta làm kẻ si mê, điên đảo có phải tốt hơn không. Tại sao? Vì ít ra ta không bị sống trong lo âu và sợ hãi.
Nếu quý bạn nói rằng:“Tu hành chỉ cần giải thoát tâm linh là đủ không cần phải sanh về đâu cả”. Vậy bạn có hạnh phúc và an lạc được không; khi thấy chung quanh bạn còn có vô lượng thân bằng quyến thuộc đang lần lượt bị đọa vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh để chịu đau khổ đời đời, kiếp kiếp không thể thoát ra. Quý bạn có hạnh phúc được không, khi biết mình cũng không có một thế giới thanh tịnh nào để sanh về, hầu thoát khỏi cái thân tứ đại sanh, già, bệnh, chết. Đừng nói chi xa, chỉ nói hiện tại nếu thân của bạn bị bệnh, bạn có sống được hạnh phúc, an lạc không?
Kính thưa quý bạn! Đạo Phật là đạo cứu chúng sanh giải thoát cứu cánh, không phải là đạo nói suông. Chúng ta tu hành niệm Phật là để giải thoát tâm linh trước. Đến khi bỏ thân xác này thì ta sẽ sanh về cõi Cực Lạc, để giải thoát luôn cả bốn thứ đó là: Thân, tâm, mạng và cảnh giới. Nếu chúng ta tu hành giải thoát mà thiếu một trong bốn sự thành tựu này, thì chưa gọi là giải thoát cứu cánh và đạo Phật cũng chưa được gọi là đạo từ bi, cao siêu nhiệm mầu.
Giờ chúng ta tìm hiểu vào sự thấy biết sai biệt của bốn cảnh giới: Chúng sanh, A la hán, Bồ tát và Phật khác nhau ở chỗ nào. Chỉ cần hiểu rõ, thì ta sẽ không còn hiểu lầm về “Nhất chân pháp giới” và “Pháp giới duyên sanh” mà Phật đã dạy trong Kinh.
1. Cái thấy của chúng sanh: Chúng sanh thì thấy tất cả vạn vật hữu tình và vô tình, ở trong thế giới Ta bà này là có thật và tồn tại vĩnh cửu. Nên sinh ra tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến, để rồi chịu mọi đau khổ luân hồi không thể thoát ra. Tại sao chúng ta không thể thoát ra? Là vì ta si mê cho rằng: Tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trên thế gian này là có thật. Vì tin chúng có thật, nên ta không chịu tin lời Phật dạy buông xả, tu hành để giải thoát.
2. Cái thấy của A la hán: A la hán nhờ tu hành mà khai mở được trí tuệ. Nhờ có trí tuệ mà họ thấy được tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trong thế giới này là giả không thật. Nhờ thấy mà họ buông xả không còn tham đắm. Nhờ không còn tham đắm mà họ thoát được luân hồi và nhập tiểu Niết bàn! Tiểu Niết bàn nghĩa là họ vẫn còn ở trong mười pháp giới chưa ra khỏi. Tại sao A la hán chỉ nhập được Tiểu Niết bàn mà không nhập được Đại Niết bàn? Là vì họ còn chấp vào cái “Ngoan không” quá nặng! Vì còn chấp, nên họ không tin lời Phật dạy; không chịu buông xả để đi sâu vào pháp giới của Diệu hữu. Vì vậy mà họ bị kẹt ở trong mười pháp giới, không thể thành Phật nhập Đại Niết bàn. (Ngoan không nghĩa là họ chấp chặt rằng: Tất cả những gì có hình tướng thì đều là giả, mà họ không đủ trí tuệ để phân biệt đâu là giả tướng và đâu là diệu tướng, nên họ không thể thành Phật).
3. Cái thấy của Bồ tát: Bồ tát thì có đại trí tuệ, nên thấy được chân tướng của vạn pháp ‘duyên sanh” và vạn pháp của “diệu hữu”. Diệu hữu nghĩa là tất cả những gì do diệu tâm của chư Phật biến hóa ra và thâu nhiếp lại thì gọi là diệu hữu! Nhờ thấy được chân tướng của hai mặt pháp giới giả và chân, mà Bồ tát không còn chấp vào cái có “duyên sanh” si mê của chúng sanh và không còn chấp vào cái “ngoan không” si mê của tiểu thừa A la hán, mà Bồ tát dũng mãnh tiến tu, để đi sâu vào pháp giới của “diệu tâm” để thành Phật diệu giác.
4. Cái thấy của chư Phật: Chư Phật thì có đại trí tuệ “Bát Nhã”, nên quý Ngài thấy trong chân không có diệu hữu, trong diệu hữu có chân không. Trong chân không có duyên sanh, trong duyên sanh có chân không. Trong thể có dụng, trong dụng có thể. Trong lý có sự, trong sự có lý. Lý sự dung thông, sự sự vô ngại, dứt bặt phân biệt, danh từ đối đãi. Tóm lại, cái thấy của chư Phật là cái thấy viên dung, trung đạo! Giờ chúng ta tìm hiểu vào cái thấy của chư Phật về hai mặt “lý và sự” khác nhau ở chỗ nào.
Trên lý (trên tâm): Chư Phật thấy tận hư không khắp pháp giới đều là “Nhất chân pháp giới” tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch. Tịch nghĩa là thanh tịnh như như bất động! Thường nghĩa là thường hằng vĩnh cửu! Chiếu nghĩa là chiếu soi và chiếu sáng! Trong mắt của chư Phật thì thấy vũ trụ này không có Phật, không có Bồ tát, A la hán, Trời, Người, Thần, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục. Tóm lại, chư Phật thấy tất cả vũ trụ này đều là “Nhất chân pháp giới” thanh tịnh và tịch diệt!
Trên sự (trên cảnh giới): Chư Phật thấy tận hư không khắp pháp giới, có vô lượng cõi Phật thanh tịnh và có vô lượng thế giới chúng sanh luân hồi sanh tử! Chư Phật thấy có Phật, có Bồ tát, A la hán, Trời, Người, Thần, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục! Tóm lại, chư Phật thấy trong vũ trụ này có vô lượng thế giới thanh tịnh, ô uế và lớn nhỏ sai biệt khác nhau!
Nói cách khác cho dễ hiểu là: Nếu chư Phật dùng trí tuệ “Bát nhã” để nhìn, thì thấy toàn thể vũ trụ này là “Nhất chân pháp giới” thanh tịnh và tịch diệt! Vì tất cả đều không ra ngoài cái thể tâm thanh tịnh của chư Phật và của chúng sanh. Còn nếu chư Phật dùng tâm “từ bi” để nhìn, thì thấy trong vũ trụ này có vô lượng cõi Phật thanh tịnh và có vô lượng thế giới chúng sanh đau khổ! Chư Phật cũng thấy chúng sanh si mê, đem “Nhất chân pháp giới” biến thành vô lượng “Thế giới duyên sanh” và tình nguyện ở trong những thế giới đó để chịu luân hồi đau khổ, không thể thoát ra!
Cũng như chúng ta dùng con mắt “trí tuệ” để nhìn, thì sẽ thấy tất cả nữ trang đều làm bằng vàng không khác! Nhưng nếu chúng ta dùng con mắt để “nhận định” thì sẽ thấy tất cả nữ trang đều có hình tướng và giá trị cao thấp khác nhau của nó! Qua sự phân tích ở trên, cho thấy thế giới “Ta bà” của chúng ta đang ở, chỉ có cùng thể tánh chân không với “Nhất chân pháp giới”, nhưng chưa phải là “Nhất chân pháp giới”. Vì chúng ta chưa phải là Phật, xin quý bạn chớ có lẫn lộn!
Nếu là đệ tử Phật, thì ta phải tin lời Phật dạy không nên si mê chấp vào thế giới “duyên sanh” là có thật và cũng không nên si mê như A la hán chấp vào “ngoan không” là đại Niết bàn. Chúng ta phải can đảm buông xả cả hai, để đi sâu vào “Diệu tâm” thành Phật diệu giác. Chúng ta phải tin lời Phật dạy: Trong cái thể tánh chân không như như bất động của vũ trụ này, còn có vô lượng thế giới nhiệm mầu của chư Phật! Nếu trong “chân không” mà không có thế giới của “diệu hữu”, thì chân không sẽ trở thành vô dụng! Nếu trong thế giới “diệu hữu” mà không có “chân không”, thì mười phương cõi Phật sẽ không có! Tóm lại, trong thể phải có dụng, trong dụng phải có thể. Trong lý phải có sự, trong sự phải có lý. Lý và sự, thể và dụng vốn không thể tách rời nhau! Cũng như chân tâm mà thiếu thần thức, thì sẽ không phát huy được diệu thần lực. Còn thần thức mà thiếu chân tâm, thì sẽ không phát huy được quyền năng tối thượng.
Còn trong chân không có thế giới duyên sanh, trong thế giới duyên sanh có chân không. Nghĩa là nói thế giới của ta đang ở, tuy có đồng một thể tánh chân không với “Nhất chân pháp giới”, nhưng chưa phải là “Nhất chân pháp giới”. Tại sao? Vì tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trong thế giới này, đều là do tâm vọng tưởng si mê của chúng ta biến hiện ra, không phải do diệu tâm của chư Phật biến hóa ra.
Tuy tất cả vạn pháp ở trong thế giới Ta bà này đều do duyên hợp mà thành. Nhưng trong mỗi một pháp đều có thể tánh của “chân không”. Nghĩa là tất cả vạn vật cũng đều do tâm chúng ta biến hiện ra. Vì vậy trong Kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh hữu tình đều có Phật tánh và tất cả chúng sanh vô tình đều có tánh”. Tóm lại, thế giới Ta bà của ta đang ở, tuy có cùng thể tánh chân không với “Nhất chân pháp giới”, nhưng chưa phải là “Nhất chân pháp giới”. Vì chúng ta chưa phải là Phật, xin quý bạn chớ có lầm lẫn!
Còn câu nói:“Nếu chúng sanh giác ngộ thì sáu đạo luân hồi không còn dấu vết”. Câu này là nói riêng với những người tu hành đã được giác ngộ, không phải là nói với chúng ta. Tại sao? Vì người giác ngộ đã chuyển được tâm phàm thành tâm Phật, nên lục đạo luân hồi đối với họ không còn dấu vết. Tức là nói họ không còn bị rơi vào lục đạo luân hồi sanh tử nữa. Còn chúng ta chưa giác ngộ thì lục đạo luân hồi vẫn còn tồn tại. Chỉ khi nào tất cả chúng sanh ở trong vũ trụ này tu thành Phật hết, thì lục đạo luân hồi mới không còn.
Nếu là đệ tử Phật, thì ta phải hiểu rõ hai mặt lý và sự. Chúng ta không nên dùng cái trí nông cạn của mình, rồi đi chấp lý bỏ sự hay chấp sự bỏ lý, hoặc bài bác lục đạo luân hồi và mười phương cõi Phật không có (Xin bạn hãy cẩn thận về lời nói của mình). Tóm lại, chúng ta phải tin lời Phật dạy và tin có cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà để chúng ta sanh về.
Kính thưa quý bạn! Ở đây tôi xin phân tích thêm về “Thập pháp giới” và “Nhất chơn pháp giới” khác nhau chỗ nào, để quý bạn không còn thắc mắc về cõi Cực Lạc làm sao có thể dung chứa hết chúng sanh, Thánh và Đại Bồ tát ở Thập pháp giới vãng sanh về đó.
Thập Pháp Giới: Thập là mười. Pháp là nói chung hết vạn vật hữu tình và vô tình. Giới là cảnh giới sinh hoạt cuộc sống. Tóm lại, “Thập pháp giới” tức là mười pháp giới sai biệt của Chúng sanh, Thánh, Bồ tát và Đại Bồ tát (trong mỗi pháp giới còn có vô lượng cõi sai biệt khác nhau). Trong mười pháp giới, thì có sáu pháp giới là thuộc về chúng sanh đó là: Trời, Người, Thần, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục. Còn bốn pháp giới kia thuộc về của Thánh, Bồ Tát và Đại Bồ Tát đó là: Sắc giới, Vô sắc giới, Phi phi tưởng và Phi phi tưởng xứ.
Ngoài mười pháp giới này ra còn có một pháp giới gọi là: “Nhất chân pháp giới” của chư Phật và chư Đại Đại Bồ tát. Nhất chân pháp giới là pháp giới hoàn toàn biệt lập ở ngoài mười pháp giới. Nếu chúng ta đem diện tích của mười pháp giới, để mà so sánh với Nhất chân pháp giới, thì mười pháp giới không là gì cả (tức không thấm vào đâu cả).
Ở đây tôi xin dùng hoa sen, hồ nước và hư không để làm ví dụ thì quý bạn dễ hiểu hơn.
Hoa sen: Là ví cho chúng ta!
Hồ nước: Là ví cho mười pháp giới!
Lớp bùn hôi thối ở dưới đáy hồ: Là ví cho sáu đạo chúng sanh!
Nước trong ở trong hồ: Là ví cho bốn pháp giới của Thánh, Bồ tát và Đại Bồ tát.
Hư không bao la không ngăn mé ở trên hồ nước: Là ví cho “Nhất chân pháp giới” của chư Phật và chư Đại Đại Bồ tát!
Hồ nước: Là ví cho mười pháp giới!
Lớp bùn hôi thối ở dưới đáy hồ: Là ví cho sáu đạo chúng sanh!
Nước trong ở trong hồ: Là ví cho bốn pháp giới của Thánh, Bồ tát và Đại Bồ tát.
Hư không bao la không ngăn mé ở trên hồ nước: Là ví cho “Nhất chân pháp giới” của chư Phật và chư Đại Đại Bồ tát!
Qua sự phân tích tóm gọn ở trên, chúng ta đã hiểu được phần nào sự khác biệt giữa “Thập pháp giới” và “Nhất chân pháp giới” rồi. Giờ ta tìm hiểu vào sự thành tựu của hoa sen. Chỉ cần hiểu được sự thành tựu của hoa sen, thì ta sẽ hiểu được phần nào sự tu hành thành Phật của ta.
1. Khi hạt sen bắt đầu đâm chồi, thì nó còn ở trong một lớp bùn đặc hôi thối ở dưới đáy hồ. (Tức ta vẫn còn ở trong sáu đạo chúng sanh).
2. Qua một thời gian, thì cây sen đó sẽ mọc lớn lên và vượt qua được lớp bùn hôi thối để đi vào nước trong. (Tức ta đã thoát được sáu đạo chúng sanh, để tiến lên bốn pháp giới Thánh, Bồ tát và Đại Bồ tát).
3. Rồi qua một thời gian, cây sen đó sẽ vượt qua được mặt nước để đi vào hư không. (Tức ta đã vượt qua được mười pháp giới để đi vào pháp giới chư Phật.) Khi cây sen đó vượt lên khỏi mặt nước, thì nó liền thu hút được ánh sáng và không khí trong lành của vũ trụ. Nhờ vậy mà nó liền được nở hoa màu sắc rực rỡ và hương thơm ngào ngạc (tức ta thành Phật).
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích tóm gọn ở trên cho chúng ta thấy: “Thập pháp giới” và “Nhất chân pháp giới” hoàn toàn khác nhau! Nếu ta nhìn về mặt diện tích và cảnh giới, thì “Thập pháp giới” vẫn còn có giới hạn của hình tướng, không gian và thời gian. Còn “Nhất chân pháp giới” thì không có giới hạn của hình tướng không gian và thời gian.
Nói như vậy không có nghĩa là mười phương cõi Phật không có hình tướng, sinh hoạt và sự sống. Dĩ nhiên là có, nhưng tất cả những hình tướng sinh hoạt và sự sống đó, đều là từ “diệu tâm thanh tịnh” của chư Phật biến hóa ra và thâu nhiếp lại, nên chúng hoàn toàn không có duyên hợp. Vì không có duyên hợp, nên tất cả vạn pháp ở cõi Phật đều không có sự sanh diệt. Tóm lại, “Nhất chân pháp giới” là thế giới của “sát na”, không phải là thế giới của “chu kỳ”. Vì là thế giới của “sát na” nên nó chỉ có “hiện tiền”, không có quá khứ hiện tại và vị lai và cũng không có sự thành tựu, hoại diệt. Tóm lại, tất cả vạn pháp ở trên cõi Cực Lạc đều tỏa ra quang minh và trong suốt như lưu ly. Vì chúng trong suốt như lưu ly, nên chúng chỉ có hình mà không có tướng.
Nói chúng không có tướng thì quý bạn cũng hơi khó hiểu. Giờ tôi xin dùng cây “cổ thụ” để làm ví dụ thì quý bạn dể hiểu hơn. Ở thế giới này khi ta nhìn cây cổ thụ thì sẽ thấy bóng của nó in xuống đất. Nhưng ở trên cõi Cực Lạc, khi nhìn cây cổ thụ, ta sẽ không thấy bóng của nó in xuống đất. Tại sao? Vì cây cổ thụ ở thế giới chúng ta tạo thành bởi đất, nước, gió và lửa, nên nó phải có tướng. Vì có tướng nên nó mới có bóng in xuống đất. Còn cây cổ thụ ở cõi Cực Lạc được tạo thành bởi Phật lực và Phật quang của chư Phật, nên nó không có tướng, mà nó chỉ có hình trong suốt như lưu ly và tỏa ra hào quang rất đẹp. Tóm lại, tất cả vạn vật ở cõi Cực Lạc không có tướng, mà chỉ có hình trong suốt như lưu ly và lúc nào cũng tỏa ra quang minh đủ màu rất đẹp. Vì chúng chỉ có hình và trong suốt, nên người dân ở cõi Cực Lạc mới biến hóa được vạn vật muôn loài lớn, nhỏ, cao, thấp, ẩn, hiện… theo ý của mình mà hòan tòan có không chướng ngại nhau.
Còn thế giới của ta đang ở, tất cả vạn vật muôn loài đều có tướng của đất, nước, gió và lửa hợp thành. Vì chúng có tướng của duyên hợp, nên chúng mới có sự thành tựu và họai diệt. Tóm lại, nếu quý bạn muốn biết cõi Cực Lạc đẹp và nhiệm mầu như thế nào, thì đi tìm “Kinh Vô Lượng Thọ”, “Quán Vô Lượng Thọ” để tìm hiểu thêm. Nhưng trong Kinh Phật chỉ diễn tả cảnh giới Cực Lạc có một phần tỷ thôi. Nếu quý bạn muốn thấy tận mắt thì phải đi về Cực Lạc mới thấy được 100%.
Qua sự phân tích tóm gọn ở trên, chúng ta đã hiểu được phần nào chân tướng của “Thập pháp giới” và “Nhất chân pháp giới” rồi, thì không nên lo về vấn đề cõi Cực Lạc không có chỗ để dung chứa chúng ta. Điều quan trọng mà ta cần phải lo đó là: Liệu sự tu hành của ta có đủ công đức, để được vãng sanh về cõi Cực Lạc hay không?
Ý Nghĩa Kim Cang Diệu Thiền
Ở đây chúng tôi xin phân tích về ý nghĩa Kim Cang diệu thiền của pháp môn Tịnh độ, để quý bạn tìm hiểu thêm. Kim Cang diệu thiền: Nghĩa là mỗi niệm A Mi Đà Phật mà ta đang tu niệm, đều là dùng ngay tự tánh A Mi Đà, để khôi phục lại diệu tánh A Mi Đà. Đồng thời ta cũng thâu nhiếp được Phật lực và Phật quang của mười phương chư Phật! Trong Kinh Phật nói:“Bất luận chúng sanh nào ở trong mười phương thế giới, có duyên tiếp xúc được Phật quang của Phật A Mi Đà, thì đều được tiêu tan nghiệp tội; được thoát khỏi luân hồi và được vãng sanh thành Phật”. Ý nghĩa chúng sanh có duyên ở đây, không phải là nói chúng ta có duyên gặp được Phật A Mi Đà hiện ra, hay là đựơc Phật phóng hào quang vào thân tâm chúng ta. Nếu hào quang của chư Phật chiếu đến, mà cứu được chúng ta dễ dàng như vậy, thì chư Phật, Bồ tát không cần phải cực nhọc thị hiện đến đây, mà quý Ngài chỉ cần ở cõi Cực Lạc phóng hào quang tới đây, là cứu được hết chúng ta rồi. Câu nói có duyên mà Phật nói ở trong Kinh, gồm có hai ý nghĩa sau đây đó là:
1. Ý Phật muốn nói rằng: Nếu chúng ta có duyên tin được lời Phật dạy và phát tâm niệm Phật để thành Phật, thì ta sẽ thâu nhiếp được quang minh của Phật A Mi Đà và mười phương chư Phật vào thân tâm của ta.
2. Ý Phật muốn nói rằng: Nếu chúng ta tu niệm khai mở được chân tâm, thì sẽ tiếp xúc được quang minh của tự tánh A Mi Đà! Một khi quang minh của tự tánh A Mi Đà được khôi phục, thì ta sẽ thoát khỏi luân hồi và vãng sanh thành Phật.
Kính thưa quý bạn! Tất cả pháp môn mà Phật dạy trong suốt 49 năm đều thuộc về Thiền định! Nếu không có Thiền định, thì chúng ta sẽ không khôi phục được sáu căn thanh tịnh, và sẽ không thành Phật được. Tịnh độ cũng là pháp môn thuộc về Thiền định, nhưng không phải là Thiền định bình thường như các pháp môn tu khác, mà nó thuộc về Kim Cang diệu thiền của Như Lai! Vì là pháp môn diệu thiền của Như Lai, nên những vị Đẳng giác Bồ tát ở “Hoa Tạng thế giới” như là: Ngài Đại Thế Chí, Ngài Quán Thế Âm, Ngài Phổ Hiền, Ngài Văn Thù… cũng phải phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà để thành tựu Phật quả! Tại sao? Vì quý Ngài tuy đã tu tới bậc Đẳng giác Bồ tát, nhưng quý Ngài vẫn còn một phẩm thân tướng vô minh chưa thể đoạn sạch (Đẳng giác Bồ tát tức là đại đại Bồ tát. Quý Ngài chỉ thua Phật có một bậc thôi). Muốn đoạn sạch được một phẩm thân tướng vô minh cuối cùng, thì quý Ngài phải nương vào thần lực của Phật A Mi Đà và hoa sen ngàn cánh của mình để mà rửa sạch.
Cũng như chúng ta từ súc sanh muốn chuyển lên làm người, thì ta phải nương nhờ vào tánh khí của người. Tức là ta phải nhờ vào tinh cha, huyết mẹ để rửa sạch tánh thú và thành tựu thân người cho ta. Khi chuyển lên làm Phật cũng vậy! Chúng ta phải nương vào thần lực của Phật A Mi Đà và hoa sen ngàn cánh của ta để thành tựu thân Kim Phật! Giờ tôi xin dùng cái nhà kho để làm ví dụ, thì quý bạn sẽ để hiểu hơn.
Ví Dụ: Ta có một căn nhà dùng để làm kho chứa đồ đã nhiều năm. Hằng ngày ta thường tích trữ những thứ như là: Gạo, nước mắm, rau cải và thịt cá ở trong đó. Nay ta đổi ý muốn dọn sạch căn nhà kho đó để làm nơi trú ngụ. Nên ta dùng nước và thuốc để tẩy rửa đi những chất dơ bẩn tanh hôi. Nhưng dù ta có tẩy rửa thế nào, thì hơi hám của những thứ tanh hôi đó vẫn còn tồn đọng, không thể hết sạch 100%. Chỉ khi nào ta làm lại căn nhà khác, thì những hơi hám tanh hôi đó mới được hết sạch 100%. Hơi hám còn tồn đọng ở trong kho chứa đồ, là ví cho một phẩm thân tướng vô minh cuối cùng của ta! Tóm lại, “trần sa” tức là hơi hám tập khí tham, sân, si của ta vẫn còn tồn đọng vi tế ở trong “tàng thức”. Một phẩm trần sa cuối cùng này rất là quan trọng. Cho dù ta có tu tới bậc Đẳng giác Bồ tát, thì cũng không thể tự mình rửa sạch hết 100%. Chỉ có Phật lực và Phật quang của Phật A Mi Đà và hoa sen ngàn cánh của ta mới rửa sạch được thôi!
Kính thưa quý bạn! Giờ tôi xin phân tích thêm về ý nghĩa bí mật của câu A Mi Đà. Nói về công đức nhiệm mầu của câu A Mi Đà, thì phàm tình như chúng ta không thể nào suy nghĩ hay bàn luận được. Ở đây tôi chỉ nương theo Kinh Phật và giải thích tóm gọn để cho quý bạn dể hiểu.
Nam mô A Mi Đà Phật:
Nam mô: Là quy y, đoạn ác, tu thiện, tu tịnh nghiệp (quay về).
A Mi Đà: Là vô lượng giác, vô thượng chí cực Phật thừa!
A: Là mười phương, tam thế Phật (Giác).
Mi: Là tất cả chư Bồ tát (Chánh).
Đà: Là tám vạn chân Kinh giáo của Phật (Tịnh).
Nam mô: Là quy y, đoạn ác, tu thiện, tu tịnh nghiệp (quay về).
A Mi Đà: Là vô lượng giác, vô thượng chí cực Phật thừa!
A: Là mười phương, tam thế Phật (Giác).
Mi: Là tất cả chư Bồ tát (Chánh).
Đà: Là tám vạn chân Kinh giáo của Phật (Tịnh).
Phật vì thương muốn cứu hết chúng sanh trong sáu ngã mười phương, nên Ngài đã dùng hết Phật lực của Ngài tu trong vô lượng kiếp, nhiếp thọ vào trong câu Phật hiệu A Mi Đà. Câu A Mi Đà có rất nhiều ý nghĩa thậm thâm cao siêu bí mật vô cùng tận. Chúng sanh như ta không thể nào hiểu được hết ý nghĩa cao siêu và dụng ý của Ngài. Ở đây tôi chỉ nêu lên vài điều căn bản mà thôi.
1. Phật muốn chúng ta niệm, để đánh thức tâm Phật của ta thức dậy. Niệm Phật để tâm thức của ta được thuần thục in sâu. Phút lâm chung, ta mới cảm ứng được Phật đến nơi tiếp dẫn!
2. Một câu niệm Phật A Mi Đà có thể trừ 80 ức kiếp trọng tội. Chỉ có câu Phật hiệu A Mi Đà mới giúp cho ta trừ sạch được nghiệp tội từ vô thỉ kiếp. Đây là phương pháp sám hối và tu thành Phật nhanh nhất!
3. Câu Phật hiệu A Mi Đà sẽ làm cho chúng Ma khiếp sợ, không dám đến phá nhiễu sự tu hành của ta và giúp cho ta không bị tẩu hỏa nhập Ma!
4. Câu Phật hiệu A Mi Đà có một thần lực mạnh mẽ vô biên. Khi ta niệm Phật, thì thần lực của câu A Mi Đà sẽ vang rộng đến hết cả hư không, tới sáu ngã mười phương giúp cho chúng sanh nơi nơi đựơc thức tỉnh hồi đầu!
5. Thời nay lẫn lộn chánh tà, khiến chúng ta không có đủ trí tuệ để phân biệt đâu là Ma, đâu là Phật. Duy chỉ có câu Phật Chú A Mi Đà sẽ giúp cho ta phân biệt được đâu là chánh, tà!
Trong Kinh Phật nói:“Ma vương có phép lực rất cao, chúng có thể hóa thành Phật để mê hoặc chúng ta. Nhưng Ma vương không thể giả được câu Phật hiệu A Mi Đà. Vì hễ ai niệm câu Phật hiệu A Mi Đà, thì sẽ làm cho chúng Ma tránh xa 40 dặm”. Lấy từ điểm này, ta sẽ biết nhận diện ai là đệ tử Phật và ai là đệ tử Ma. Nếu như có ai tự xưng là đệ tử của Phật mà không niệm Phật (tức là không trở về tự tánh chân tâm của mình) thì đều là đệ tử Ma giả dạng. Tại sao? Vì chỉ có đệ tử Ma mới sợ niệm câu Phật hiệu A Mi Đà. Còn ai tu mà có niệm Phật thì đều là Phật tử chân chính. Nhưng quý bạn không nên hiểu lầm ý nghĩa chân chính mà chúng tôi đang nói ở đây. Người niệm Phật chân chính, là người có tâm từ bi tự độ và độ tha. Còn người niệm Phật không chân chính, là người chỉ biết lợi dụng Tam bảo để mua Thần bán Phật và gạt chúng sanh. Tóm lại, Chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác và phải có đủ trí tuệ để nhận diện ai là đệ tử Phật và ai là đệ tử Ma. Chúng ta không nên tin si mê, để rồi cuối cùng làm đệ tử của Ma thì thật là đáng tiếc. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment