Phục Hồi Phật Quang
Ở đây tôi xin chia sẻ một chút kinh nghiệm về phục hồi Phật quang, để quý bạn tìm hiểu thêm. Trong Kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và Phật quang như chư Phật không khác”. Trước khi chia sẻ vào phần chi tiết, tôi xin giải thích sơ qua về ý nghĩa của “Phật quang”. Phật: Là Phật lực có khả năng thiêng biến vạn hóa và nhiệm mầu không thể nghĩ bàn! Quang: Là có vô lượng hào quang, vô lượng chiếu soi và chiếu sáng! Phật quang có nhiều danh tên gọi khác nhau như là: Phật quang, Ánh sáng chân tâm, Hào quang Phật, Thanh điển… Tóm lại, Phật quang có nhiều danh từ gọi khác nhau, nhưng có cùng một ý nghĩa.
Loại Phật quang này rất là thanh tịnh, trong sáng và biến hóa nhiệm mầu không thể nghĩ bàn và chúng ta ai cũng có sẵn loại Phật quang này ở trong tâm. Tuy chúng ta ai cũng có Phật quang, nhưng không biết trở về để sống với Phật quang của mình. Nhưng cho dù ta có biết hay không, thì Phật quang trong tâm ta cũng không bao giờ mất. Chỉ có điều là nếu ta biết tu hành, thì sẽ khôi phục được từng phần Phật quang của mình. Còn nếu ta không biết tu hành, thì sẽ không khôi phục được. Giờ tôi xin dùng ba hạng người để phân tích thì quý bạn dễ hiểu hơn. Chỉ cần hiểu rõ thì ta sẽ không còn thắc mắc.
1. Người có công phu cao: Người tu hành có công phu cao, thì có những lúc Phật quang chiếu vào người, làm cho thân của ta bị chuyển động và đau buốt. Nếu Phật quang chiếu vào càng nhiều, thì thân của ta sẽ bị chuyển động và đau buốt càng nhiều. Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng:“Tại sao Phật quang chiếu vào người, mà làm cho thân của ta bị chuyển động và đau buốt, như vậy nghĩa là sao”.
Kính thưa quý bạn! Nếu nói trên “tâm” thì mỗi khi có Phật quang chiếu vào, tâm của ta sẽ cảm thấy an lạc không chi sánh bằng. Nhưng nếu nói trên “thân” thì có những lúc Phật quang chiếu vào, làm cho thân của ta bị chuyển động và đau buốt. Tại sao? Vì khi ta tu hành vào được định sâu, thì Phật quang trong người ta sẽ phát ra càng mạnh. Khi Phật quang trong ta phát ra càng mạnh, thì ta sẽ thâu nhiếp được Phật quang của chư Phật càng nhiều.
Lúc đó, chúng ta sẽ thấy trong người của mình, luôn có một nguồn Phật quang lưu chuyển rất mạnh. Nghĩa là lúc đó, ta sẽ cảm nhận được một nguồn Phật quang của chư Phật và Phật quang của ta đang được dung thông, hợp nhất với nhau. Trong lúc Phật quang của hai bên đang được dung thông hợp nhất với nhau, thì sẽ tạo ra một nguồn năng lượng chuyển động trong ta rất mạnh và sự chuyển động đó sẽ giúp chuyển hóa thân tâm của ta. Nguồn năng lượng đó rất là nhiệm mầu, nó có khả năng chuyển hóa những tập khí tham, sân, si và thanh lọc đi những tế bào dơ bẩn ở trong người ta ra. Vì Phật quang có khả năng thanh lọc và chuyển hóa rất mạnh, nên mới làm cho thân của ta bị đau buốt trong thời gian chuyển hóa.
Nhưng quý bạn hãy yên tâm, vì mỗi lần Phật quang chuyển hóa và đột phá chỉ có vài giây thôi và lâu lâu mới đột phá một lần, không phải là thường xuyên. Tại sao? Vì sự đột phá đó chỉ đến trong những lúc ta vào được định sâu mà thôi. Nhưng không phải mỗi lần vào được định sâu thì đều có. Thêm vào, sự đột phá của Phật quang không có nhất định. Vì không có nhất định, nên mới làm cho ta bị chới với. Nhưng qua vài lần thì ta sẽ quen đi và không còn bị chới với nữa. Còn tại sao thân của ta bị đau buốt mỗi khi có Phật quang đột phá? Là vì thân của ta chưa đủ trong sạch, để dung thông hợp nhất với Phật quang của chư Phật. Vì thân của ta chưa đủ trong sạnh nên ta mới bị đau, chớ không phải Phật quang của chư Phật làm cho thân của ta bị đau. Điều này chúng ta phải cần hiểu rõ, không nên hiểu lầm.
Thêm vào, sự đột phá đó chỉ đến với ta trong một giai đoạn nào đó thôi, không phải là mãi mãi. Tại sao? Vì một khi ta đã chuyển hóa được thân tâm thanh tịnh, thì thân của ta sẽ không còn bị đau buốt nữa. Tại sao? Vì lúc đó thân, tâm của ta đã được tương ưng với Phật quang của chư Phật rồi. Lúc đó, ta sẽ cảm thấy thân tâm của mình lúc nào cũng được an lạc và thanh tịnh.
Kính thưa quý bạn! Nếu trên đường tu hành mà chúng ta có được những dấu hiệu kể trên, thì nên vui mừng không nên lo lắng. Tại sao? Vì những sự đột phá đó chỉ đến với những ai tu hành có công phu cao mà thôi. Cũng như ở ngoài đời nếu ta muốn xây lại căn nhà mới, thì trước hết ta phải đập bỏ đi căn nhà cũ. Trong thời gian đập bỏ đi căn nhà cũ, thì ta phải chịu đựng một thời gian với những sự đổ nát và dơ bẩn của căn nhà. Nhưng qua một thời gian, thì ta sẽ có lại được căn nhà mới khang trang và sạch sẽ. Khi ta tu hành cũng vậy! Muốn có được thân tâm trong sạch, thì ta phải chịu đựng qua một thời gian thanh lọc thân tâm. Có một điều nhiệm mầu là: Mỗi khi có Phật quang chuyển hóa, thì thân của ta sẽ có thêm “Hào quang”. Nghĩa là Phật quang đột phá càng nhiều, thì thân của ta càng có nhiều Hào quang tỏa ra.
Lúc đó, chúng ta sẽ thấy trên thân của mình lúc nào cũng có Hào quang đủ màu trong suốt như lưu ly tỏa ra và trên đầu của mình có một vòng tròn Hào quang. Nhưng những chỗ Phật quang phát ra mạnh nhất là ở trên đỉnh đầu, hai bàn tay và hai bàn chân của mình. Lúc đó, ta sẽ thấy trên đỉnh đầu của mình, luôn có một một luồng Phật quang rất sáng chiếu thẳng lên Trời. Thêm vào, ta sẽ thấy được mỗi đầu ngón tay và đầu ngón chân của mình, đều có một luồng ánh sáng trong suốt với đủ màu sắc chiếu ra như những cái đèn pha nhỏ. Lúc đó, ta sẽ cảm nhận được hai bàn tay và hai bàn chân của mình, luôn có những nguồn năng lượng phóng ra rất mạnh và rất ấm.
Nếu chúng ta tu hành cao hơn, thì sẽ thấy hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân của mình đều có hình “bánh xe pháp” hiện ra. Nghĩa là lúc đó, ta sẽ thấy ở giữa lòng bàn tay và lòng bàn chân của mình, có một hình tròn như bánh xe hiện ra. Vì chúng có hình tròn như bánh xe, nên chư Phật gọi chúng là: “Bánh xe pháp”. Đây cũng là một trong 32 tướng tốt của chư Phật và của chúng ta. Khi có dấu hiệu bánh xe pháp hiện ra, thì ta sẽ cảm thấy hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân của mình luôn có một nguồn năng lượng xoáy tròn và tuôn ra, giống như là mình đang đánh chưởng vậy. Khi mới có dấu hiệu này, thì nguồn năng lượng xoáy tròn và tuôn ra không mạnh. Nhưng qua một gian, khi hình bánh xe pháp càng hiện ra rõ bao nhiêu, thì nguồn năng lượng xoáy tròn và tuôn ra càng mạnh hơn bấy nhiêu. Rồi cứ như vậy mà chúng chuyển biến hình dạng không ngừng. Khi mới có dấu hiệu này thì tay, chân của ta không cảm giác tê buốt. Nhưng khi hình bánh xe pháp trong ta hiện ra càng rõ thì tay, chân của ta càng cảm thấy tê buốt và sự tê buốt đó lúc nào cũng có 24/24. Tại sao chúng ta có cảm giác tê buốt? Là vì tay, chân của ta đang trong thời gian được Phật quang chuyển hóa.
Nếu nói đến sự chuyển hóa của Phật quang thì là đa dạng. Vì vậy trong thời gian chuyển hóa, có những chỗ ta cảm thấy đau buốt. Nhưng có những chỗ ta cảm thấy ngứa. Nếu chỗ nào Phật quang chuyển hóa mạnh thì ta cảm thấy đau buốt. Còn những chỗ Phật quang chuyển hóa nhẹ thì ta cảm thấy ngứa. Ví dụ: Khi con mắt thứ ba của ta mới được mở ra, thì ta sẽ cảm thấy ở giữa hai chân mày của mình nó thường bị ngứa. Ngứa cho đến khi nào con mắt thứ ba của mình được mở ra rõ thì nó mới hết ngứa. Còn có một lý do khác cũng làm cho ta cảm thấy ngứa ở giữa hai chân mày đó là: Những vết nhăn ở giữa chân mày của mình đang được chuyển hóa cho hết bị nhăn. Tóm lại, tướng tốt hay vết nhăn nào trên thân thể của ta được chuyển hóa, thì chỗ đó ta sẽ cảm thấy ngứa hoặc đau buốt.
2. Người có công phu thấp: Khi công phu còn thấp, chúng ta sẽ không thâu nhiếp được Phật quang của chư Phật nhiều. Vì không thâu nhiếp được nhiều, nên thân tâm của ta không chuyển hóa được nhiều. Vì không chuyển hóa được nhiều, nên thân của ta không có cảm giác đau buốt. Nhưng cho dù công phu cao hay thấp, thì ta đều thâu nhiếp được Phật quang của chư Phật ngay trong mỗi niệm. Chỉ có điều là khi công phu còn thấp, ta không cảm nhận được Phật quang chuyển hóa, vì sự đột phá của chúng quá nhẹ nhàng. Chỉ khi nào ta để ý thì mới cảm nhận được phần nào sự đột phá ở trong ta. Nếu không có Phật quang chuyển hóa âm thầm trong ta mỗi ngày, thì ta sẽ không bao giờ khai mở được trí tuệ và hưởng được an lạc.
3. Người không tu hành: Nếu người không tu hành, mỗi khi có Phật quang chiếu vào ta sẽ cảm thấy vui vẻ và an lạc. Tại sao? Vì lúc đó chỉ có Phật quang của chư Phật chiếu vào người của ta, mà không có Phật quang của ta dung thông hợp nhất với Phật quang của chư Phật. Vì hai bên không có sự dung thông hợp nhất với nhau, nên không có sự giao thoa với nhau. Vì không có sự giao thoa với nhau, nên không có sự đột phá. Vì không có sự đột phá, nên thân tâm của ta không bị giao động và đau buốt.
Phần đặt biệt: Khi Phật quang của ta được dung thông hợp nhất với Phật quang của chư Phật, thì ta sẽ thấy trong người của mình luôn có một nguồn năng lượng rất mạnh. Nguồn năng lượng này sẽ luôn điều chỉnh thân của ta ngay thẳng trong những lúc đi, đứng và ngồi. Nghĩa là mỗi khi đi, đứng hay ngồi thì thân của ta đều được điều chỉnh ngay thẳng tự nhiên, mà ta không cần phải điều chỉnh.
Nhất là mỗi khi ngồi niệm Phật, ta sẽ cảm nhận có một nguồn năng lượng rất mạnh từ trên đỉnh đầu đi xuống xương chậu và đẩy thân của mình ngồi thẳng lên. Lúc đó, ta có muốn ngồi khòm lưng cũng không được. Tại sao? Vì một khi Phật quang của chư Phật và Phật quang của ta được dung thông với nhau, thì sẽ tạo ra một nguồn năng lượng rất mạnh ở trong thân ta. Nguồn năng lượng đó lúc nào cũng điều chỉnh thân và lưng của ta ngồi ngay thẳng như là pho tượng và lực hút của năng lượng rất mạnh, giống như sức hút của khối đá lam châm.
Mỗi khi được Phật quang điều chỉnh, ta đều cảm thấy thân tâm của mình nhẹ nhàng như muốn bay lên hư không. Tại sao? Vì Phật quang của chư Phật là ở trên Trời, nên thân tâm của ta cũng phải theo Phật quang mà hướng thẳng lên Trời. Vì vậy ta có muốn ngồi khòm lưng cũng không được. Đọc đến đây, quý bạn đã hiểu được lý do tại sao thần thức của những người được vãng sanh, đều xuất ra từ đỉnh đầu và sau khi chết nhiều tiếng đồng hồ, mà trên đỉnh đầu của họ vẫn còn để lại hơi ấm.
Giờ tôi xin chia sẻ vào kinh nghiệm, để quý bạn tìm hiểu thêm. Có một ngày trong lúc ngồi niệm Phật, tôi cảm thấy lưng của mình bị đau, nên ngồi trùng xuống một chút để cho đỡ đau. Thật ra, xương chậu của tôi xưa nay rất yếu, nên bác sĩ đã nhiều lần khuyến cáo; không cho tôi ngồi lâu quá một tiếng đồng hồ. Thêm vào, tôi còn có thêm căn bệnh thấp khớp và giãn tĩnh mạch. Tuy biết sức khỏe của tôi không cho phép ngồi lâu, nhưng vì ham tu nên có khi tôi ngồi tới bảy tám tiếng đồng hồ mà không hay. Lúc ngồi trong định tôi không có cảm giác đau và không thấy lâu. Nhưng khi xả định tôi mới cảm giác toàn thân đau đớn và có khi tôi phải bị nằm liệt trên giường tới một hai ngày mới đi lại được. Sau những lần bị như vậy, tôi không còn dám ngồi lâu nữa.
Hôm đó, khi lưng của tôi vừa bị trùng xuống, thì tự nhiên có một nguồn năng lượng vô hình đẩy xương chậu của tôi ngồi thẳng lên. Lúc đó, tôi thấy lạ và nghĩ thầm:“Không lẻ chư Phật thấy mình ham tu, nên mới âm thầm gia hộ cho mình ngồi được lâu hơn”. Nhưng sau đó tôi lại nghĩ: “Mình phải thử thêm vài lần nữa để xem có đúng như mình đã nghĩ hay không”. Sau đó, tôi lại ngồi khòm lưng xuống. Nhưng hôm đó, cho dù tôi có thử đi thử lại bao nhiêu lần, thì cũng đều có một nguồn năng lượng vô hình đẩy lưng của tôi ngồi thẳng lên.
Điều đặt biệt là: Mỗi khi nguồn năng lượng đó đẩy lưng của tôi ngồi thẳng lên, thì tướng ngồi của tôi rất trang nghiêm và ngay thẳng hơn trước kia rất nhiều và tâm của tôi cảm thấy rất an lạc. Sau đó, tôi tìm hiểu mới biết nguồn năng lượng thường đẩy lưng của tôi ngồi thẳng lên, chính là Phật quang của chư Phật và Phật quang của tôi hai bên hợp lại để điều chỉnh thân của tôi. Nói điều chỉnh là để cho quý bạn dễ hiểu, nhưng trên thật tế thì không có điều chỉnh chi cả, mà đó là nguyên lý tự nhiên của Phật quang.
Khi mới bắt đầu có dấu hiệu này, tôi cảm giác lưng của mình được đẩy lên rất nhẹ. Nhưng qua một thời gian, thì lưng của tôi được đẩy lên mạnh và nhanh hơn. Từ ngày có dấu hiệu đó đến nay đã trải qua nhiều năm. Nhưng nguồn Phật lực đó vẫn mãi lưu chuyển trong người của tôi 24/24 và mỗi ngày thêm mạnh. Tôi thích nhất là mỗi khi vừa ngồi xuống niệm Phật, thì thân của tôi liền được điều chỉnh ngay thẳng và nhẹ như muốn bay lên hư không. Nhẹ đến mức độ có lúc tôi phải dùng sức để kềm giữ thân của tôi lại! Nhờ vậy mà bây giờ, mỗi khi ngồi xuống thì tôi vào định được rất nhanh. Từ ngày dung thông được với Phật quang của chư Phật, thân và lưng của tôi bớt đau rất nhiều.
Phần nhắc nhở: Khi chúng ta tu hành được đến đây hoặc chứng được nhất tâm, thì ta nên đi tới Nha sĩ đặt một cái máng răng, để bảo vệ quai hàm và răng của mình. Cái máng răng này làm bằng chất nhựa trong và cứng. Chúng có nhiều loại mỏng, vừa và dầy khác nhau tùy theo chúng ta lựa chọn. Chúng giống như những máng răng, để dùng cho những người bị bệnh nghiến răng.
Sau khi có máng răng thì ta nên mang chúng mỗi đêm trước khi đi ngủ hay những lúc ta ngồi niệm Phật. Tại sao? Vì người nào tu tới cảnh giới này, thì trong giấc ngủ hay trong những lúc nhập định, thường có những cảnh giới đưa đến như là: Xuất thần thức, Phật quang dung thông, thanh lọc cơ thể, chúng ma đánh phá... Tóm lại, khi tu tới cảnh giới này, thì ta sẽ thường đối diện với nhiều cảnh giới xấu, tốt hiện ra. Tại sao? Vì khi ta tu tới cảnh giới này, thì Phật quang của ta sẽ làm rung động đến các cõi Trời, mà nhất là làm rung động đến cõi Trời “Tha Hóa Tự Tại” của “Ma vương”. Khi Ma Vương, Quỷ, Thần hay oan gia của ta biết được, thì họ sẽ tìm đến để ngăn cản không cho ta tu thành Phật.
Cũng như xưa kia lúc Phật Thích Ca còn tại thế. Khi Ngài sắp đắc quả vị Phật, Ngài đã bị chúng Ma kéo đến đánh phá không cho Ngài thành Phật. Vì thấy được những sự đánh phá của chúng ma rất mạnh và vi tế. Nên trong Kinh Phật luôn nhắc nhở chúng ta rằng: “Muốn thành Phật thì chúng sanh phải cần có đầy đủ Bi, Trí, Dũng. Nếu thiếu một trong ba điều này, thì chúng sanh sẽ không thành Phật được”.
Khi chúng ta tu hành còn thấp, chúng ma sẽ không chiếu cố đến. Nhưng khi chúng ta tu hành hơi cao và trên thân có hào quang tỏa ra, thì chúng ma sẽ kéo đến để ngăn cản. Mỗi khi chúng hiện thân hay phóng ám khí tới, thì ta thường dùng hết sức để niệm Phật hay là trì Chú. Trong những lúc ta dùng hết sức để niệm Phật hay trì Chú để đối phó với chúng ma, thì cũng là lúc ta làm cho toàn bộ những dây thần kinh ở trong người bị chuyển động. Nhưng những dây thần kinh bị chuyển động mạnh nhất, là những dây thần kinh của quai hàm. Khi những dây thần kinh của quai hàm bị chuyển động mạnh, thì sẽ làm cho hai hàm răng của ta bị nghiến chặt vào nhau. Khi hai hàm răng bị nghiến chặt vào nhau lâu ngày, thì sẽ làm cho những dây thần kinh của quai hàm bị yếu hoặc bị tê liệt. Khi chúng bị yếu hoặc tê liệt, thì sẽ không còn đủ sức mạnh để giữ vững quai hàm của ta. Vì vậy bệnh này có tên là bệnh “sút quai hàm”.
Nếu quý bạn có con cháu bị bệnh nghiến răng, thì nên dẫn chúng đến nha sĩ để khám và cho chúng mang máng răng càng sớm càng tốt. Nếu không, chúng sẽ bị bệnh sút quai hàm sau này và sẽ hại hàm răng của chúng bị mòn và không đều. Tóm lại, nếu quý bạn không lo đặt máng răng để bảo vệ quai hàm của mình từ bây giờ, thì sẽ bị bệnh sút quai hàm hoặc bị bệnh nghiến răng. Một khi bị bệnh sút quai hàm, bạn sẽ bị đau đớn rất nhiều và không thể chữa khỏi. Tôi là người mang căn bệnh này đã nhiều năm, nên tôi không muốn quý bạn bị đau giống như tôi. Tôi bị bệnh này nặng, một phần là sau khi chứng đạo tôi không biết mang máng răng để bảo vệ quai hàm của mình. Còn đa phần là vì cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều sóng gió, nên làm cho những dây thần kinh của tôi bị căng thẳng quá nhiều, nên mới đưa đến bệnh sút quai hàm. Nếu nhiều năm qua không có chư Phật gia hộ, thì chắc có lẻ tôi không còn nói chuyện được như ngày hôm nay (cuốn sách sau tôi sẽ chia sẻ rõ hơn).
Người Việt Nam gọi bệnh này là sút quai hàm, còn người Mỹ gọi tắt bệnh này là TMJ. Người mang căn bệnh này nếu nặng sẽ bị đau 24/24. Nhất là mỗi khi ăn uống hoặc nói chuyện thì ta sẽ bị đau nhiều hơn. Tại sao? Vì mỗi khi nói chuyện hay ăn uống, thì hai xương hàm của ta sẽ bị va chạm vào nhau và phát ra những tiếng kêu kíc kắc. Vì hai xương hàm luôn bị va chạm vào nhau, nên mới làm cho quai hàm của ta luôn bị đau đớn và mỏi.
Nếu quý bạn muốn biết tiếng kêu kíc kắc của những người bị sút quai hàm như thế nào, thì xin tìm những đĩa mà tôi đã đọc (tức sách nói). Khi nghe những đĩa của tôi đọc, quý bạn chỉ cần chú ý một chút thì sẽ nghe được những tiếng kêu kíc kắc lòng chung với tiếng nói của tôi. Tóm lại, người nào mang căn bệnh này sẽ rất khổ và sẽ bị mất sức khỏe rất nhiều và sẽ bị suốt đời không thể chữa khỏi. Vì vậy xin quý bạn hãy bảo vệ quai hàm của mình từ bây giờ. Ngoài ra, quý bạn không nên để cho mình bị căng thẳng quá nhiều mà hãy coi nhẹ mọi chuyện. Thêm vào, quý bạn nên hạn chế ăn những thức ăn dai và cứng như là: Khô mực, khô bò, thịt bò, mía, ổi… Vì những thức ăn cứng và dai sẽ hại quai hàm và răng của ta rất nhiều. Căn bệnh này chỉ có châm cứu, bấm huyệt và tập Yoga thì mới có hiệu quả cao. Quý bạn có thể tìm hiểu thêm bệnh này trên những mạng internet.
Ý Nghĩa Câu Nhất Tâm Bất Loạn
Kính thưa quý bạn! Lúc mới học đạo tôi luôn suy nghĩ và thắc mắc câu “Nhất tâm bất loạn”. Nhưng sau khi được nhất tâm tôi mới hiểu được ý nghĩa của câu nói này. Giờ tôi xin phân tích ý nghĩa của câu nói này, để quý bạn không còn lo lắng nữa.
Lời của Ngài “Cưu Ma La Thập” dịch “Nhất tâm bất loạn”. Câu này hoàn toàn chính xác. Không những là chính xác mà còn có dụng ý thâm sâu, nên khiến chúng ta hiểu lầm cho là Ngài dịch không được chính xác. Chúng ta xưa nay đều lo rằng:“Làm sao người niệm Phật có thể đạt đến “Nhất tâm bất loạn”, vì điều này vô cùng khó khăn”. Tóm lại, chúng ta xưa nay thường lo rằng: Lỡ mình niệm Phật cả đời mà vọng tưởng vẫn còn, thì làm sao có cơ hội được vãng sanh...
Chúng ta lo lắng là vì không hiểu được ý của Ngài. Thật ra ý của Ngài dịch rất là đơn giản, vì ta không hiểu nên mới trở thành phức tạp. Ngài nói trên “chân tâm” Phật tánh của ta, không phải nói trên tâm vọng tưởng, chấp trước của ta. Vọng tưởng và nghiệp chướng của ta không bao giờ hết. Nếu có thể thì Phật không cần dạy cho ta phương pháp tu hành để đới nghiệp vãng sanh. (Đới nghiệp: Là mang theo nghiệp tội của mình. Vãng sanh: Là mình sanh về cõi Phật A Mi Đà để tu thành Phật). Chúng ta xưa nay không dùng tâm Phật để nhìn sự việc, mà chỉ dùng tâm vọng tưởng và chấp trước của mình để nhìn sự việc, nên mới hiểu lầm ý của Ngài
Ý của Ngài muốn nói rằng: Khi chúng ta phát tâm niệm Phật, là đã phát “tâm Phật” của mình để niệm Phật rồi! Lúc mới phát tâm tu niệm, dĩ nhiên ta sẽ thấy vọng tưởng kéo đến dồn dập. Niệm một thời gian thì tâm Phật của ta sẽ được thức tỉnh. Khi tâm Phật được thức tỉnh, thì ta sẽ biết phân biệt đâu là tốt xấu, chánh tà! Niệm tinh tấn lâu ngày thì trí tuệ của ta sẽ được khai mở! Khi trí tuệ được khai mở, thì ta sẽ thấy được tâm tham, sân, si của mình. Nhờ thấy được mà ta mới hàn phục được “tâm loạn” của mình (tâm loạn, không phải vọng tưởng loạn). Lúc đó, ta sẽ quyết tâm niệm Phật để thành Phật! Dù cho vật đổi sao dời hay vũ trụ có sụp đổ, thì tâm của ta vẫn kiên định giữ câu A Mi Đà cho tới ngày vãng sanh!
Nhất = Là một lòng!
Tâm = Là chuyên tâm niệm Phật!
Bất = Là không thoái chuyển!
Loạn = Là không bị loạn tâm mê hoặc!
Vậy câu: “Nhất tâm bất loạn” của Ngài “Cưu Ma La Thập” dịch hoàn toàn chính xác, đúng với ý nghĩa Kinh Phật!
Tâm = Là chuyên tâm niệm Phật!
Bất = Là không thoái chuyển!
Loạn = Là không bị loạn tâm mê hoặc!
Vậy câu: “Nhất tâm bất loạn” của Ngài “Cưu Ma La Thập” dịch hoàn toàn chính xác, đúng với ý nghĩa Kinh Phật!
Còn Ngài “Huyền Trang Tam Tạng” dịch: “Nhất tâm hệ niệm” là Ngài nói trên “căn cơ” hiểu biết của chúng sanh. Ngài hoàn toàn không nói trên sự hiểu biết của Ngài, đây là khổ tâm và dụng ý của Ngài. Tại sao? Vì Ngài thấy câu “Nhất tâm bất loạn” quá cao thâm. Ngài lo căn cơ của chúng sanh không hiểu suốt. Vì muốn độ chúng sanh nên Ngài dịch: “Nhất tâm hệ niệm”. Vì Ngài biết rõ, chỉ cần chúng sanh nhất tâm hệ niệm, thì chúng sanh sẽ đạt đến “Nhất tâm bất loạn”.
Một Ngài thì dịch trên “Tâm” của chúng sanh! Còn một Ngài thì dịch trên “Căn cơ” của chúng sanh! Nếu nhập hai câu dịch của hai Ngài chung lại với nhau, thì chúng ta sẽ thấy thập toàn và thập mỹ. Hai câu này bổ túc và trợ lực cho nhau. Giúp cho chúng ta được nhiều lợi lạc và hiểu biết, từ khi phát tâm tu cho tới khi thành Phật. Công đức của hai Ngài Sư tổ thật là vô lượng vô biên!
Hiểu Lầm Về Xá Lợi
Kính thưa quý bạn! Phật dạy chúng ta niệm Phật, là để đánh thức tâm Phật của ta thức tỉnh. Khi tâm Phật được thức tỉnh, thì ta sẽ dung thông được với tâm của mười phương chư Phật. Ánh sáng của chư Phật lúc nào cũng bao phủ khắp cả hư không. Chỉ cần tâm Phật của ta được thức tỉnh, thì sẽ thâu nhiếp được Phật lực gia trì! Phật nói: “Tâm Phật và tâm của chúng sanh vốn đồng một thể không hai. Nếu tâm Phật của chúng sanh được thức tỉnh, thì sẽ cảm ứng được Ngài đang ở cạnh bên”.
Cũng như cục nam châm bị đóng đất lâu năm sẽ mất đi sức hút. Nhưng nếu ta rửa sạch cục nam châm, thì nó sẽ thu hút được cục nam châm đối diện. Tâm Phật và tâm của ta cũng như hai cục nam châm đối diện! Ánh sáng của chư Phật lúc nào cũng bao phủ khắp hư không. Chẳng qua tâm Phật của ta đã bị chôn vùi từ vô thỉ kiếp, nên không thâu nhiếp được ánh sáng Phật quang của chư Phật.
Câu Phật hiệu A Mi Đà có thần lực nhiệm mầu, giúp cho ta tẩy rửa đi nghiệp tội và khôi phục lại Phật tâm. Chúng ta niệm một ngày là một ngày rửa bớt đi tâm ma xấu ác của ta. Niệm càng nhiều thì tâm ma của ta càng bớt, tâm Phật càng tăng. Khi tâm Phật càng tăng thì ta sẽ thâu nhiếp được Phật quang càng nhiều. Nhờ thâu nhiếp được nhiều Phật quang mà tâm ta mới được định. Định lâu ngày tích lũy thành Xá lợi đủ màu. Màu sắc của Xá lợi là nhờ thâu nhiếp được Phật lực và Phật quang đủ màu của chư Phật.
Vấn đề Xá Lợi: Đa số chúng ta vẫn còn hiểu lầm về vấn đề Xá lợi, nên tranh chấp với nhau không ngừng. Chúng ta tranh chấp là vì có bạn thì cho rằng: Người để lại Xá lợi là người được vãng sanh về Cực Lạc. Còn có bạn thì cho rằng: Người để lại Xá lợi chưa hẳn là được vãng sanh về Cực Lạc. Thật ra hai ý nghĩ trên đều đúng cả, nhưng phải tùy vào người để lại Xá lợi đó là người tu Thiền hay tu Tịnh (ở đây ta chỉ bàn đến sự khác nhau giữa Thiền và Tịnh thôi).
Nếu người tu Thiền để lại Xá lợi thì không được vãng sanh về Cực Lạc. Tại sao? Thứ nhất: Vì người tu Thiền là tự lực. Thứ hai: Vì họ không nương vào thần lực và nguyện lực của Phật A Mi Đà. Thứ ba: Vì họ không có phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà. Nên họ không được vãng sanh về Cực Lạc, mà họ chỉ được sanh lên bốn cõi Thánh và Bồ tát đó là: Sắc giới, Vô sắc giới, Phi phi tưởng và Phi phi tưởng xứ. Sau khi được sanh lên bốn cõi này, thì họ phải tu hành tiếp tục cho đến khi nào thành Đẳng giác Bồ tát (khi thành Đẳng giác Bồ tát, thì quý Ngài có thể tự tại ra vào mười phương cõi Phật, để cúng dường và nghe pháp). Sau khi thành Đẳng giác Bồ tát, nếu quý Ngài muốn thành Phật, thì phải phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà, để thành Phật quả!
Còn người tu Tịnh độ để lại Xá lợi, là người chắc chắn sẽ được vãng sanh về Cực Lạc. Tại sao? Vì người tu Tịnh độ nhờ có tự lực và tha lực! Nghĩa là một bên nhờ vào sự tu niệm và phát nguyện của ta, mà sanh ra được hoa sen ngàn cánh ở cõi Cực Lạc! Còn một bên là nhờ vào nguyện lực của Phật A Mi Đà tiếp dẫn, nên ta mới được vãng sanh về Cực Lạc của Phật A Mi Đà.
Tại sao ở đây chúng tôi dám khẳng định người nào để lại Xá lợi thì chắc chắn sẽ được vãng sanh? Vì người để lại Xá lợi là những người niệm Phật đã được sâu dầy. Cho dù phút lâm chung họ không may gặp phải chướng duyên, không được vãng sanh ngay khi tắt thở. Nhưng sau khi chết họ sẽ dùng thân trung ấm của họ để niệm Phật tiếp tục, cho đến khi nào được Phật đến rước thì họ mới thôi. Vấn đề này chỉ có chư Phật và họ mới biết rõ. Còn chúng ta là phàm phu, sự thấy biết không được bao nhiêu, thì đừng vội quyết đoán rằng họ không được vãng sanh.
Còn nói về sự kết tinh của Xá lợi, thì Xá lợi của người tu Thiền và tu Tịnh có chỗ khác nhau. Xá lợi của người tu Thiền được kết tinh là nhờ tu “giới, định, huệ” sâu dầy qua nhiều kiếp mà có được, nên Xá lợi của họ rất là rắn chắc và có thần lực. Còn Xá lợi của người tu Tịnh độ thì được kết tinh bởi hai mặt lý và sự. Lý là nói trên sự kết tinh của hoa sen ngàn cánh. Hoa sen ngàn cánh mới là Xá lợi thật sự của người tu Tịnh độ, vì nó được kết tinh từ “diệu giới, định, huệ” thanh tịnh của ta! Còn “sự” là nói trên sự kết tinh của xương tủy. Xương tủy Xá lợi là nhờ thâu nhiếp được Phật lực và Phật quang của Phật A Mi Đà và mười phương chư Phật. Nên Xá lợi xương tủy của người tu Tịnh độ thường có nhiều màu sắc và có nhiều hình dạng vi diệu không thể nghĩ bàn!
Còn tại sao có một số Xá lợi của người tu Tịnh độ không được rắn chắc như Xá lợi của những bậc tu Thiền? Là vì Xá lợi của người tu Tịnh độ chỉ mới được thành tựu trong một đời này thôi. Còn Xá lợi của những vị tu Thiền thì đã được kết tinh qua nhiều kiếp tu tập Thiền định. Nhưng không phải vì vậy, mà chúng ta vội cho Xá lợi xương tủy của người tu Tịnh độ không phải là Xá lợi. Tuy có một số Xá lợi của người tu Tịnh độ không được rắn chắc, nhưng so với Xá lợi của người tu Thiền, thì Xá lợi của người tu Tịnh độ thù thắng hơn nhiều! Tại sao? Vì Xá lợi của người tu Tịnh độ được kết tinh từ hai mặt diệu tánh định! Tức là nhờ diệu tánh của ta và diệu tánh của chư Phật kết tựu thành! Còn Xá lợi của người tu Thiền chỉ được kết tinh từ tự tánh định của mình mà thôi. Diệu tánh định thì cao hơn tánh định nhiều lắm. Nếu không, thì người tu Tịnh độ làm sao có thể sanh ra được hoa sen và báo thân Phật của mình ở Tây phương Cực Lạc.
Ở trên chúng tôi phân tích tại sao có một số Xá lợi của người tu Tịnh độ không được rắn chắc, là để cho quý bạn hiểu rõ thôi. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta vội cho rằng người tu Tịnh độ không ai có Xá lợi rắn chắc. Nếu chúng ta tu niệm được định sâu dầy, thì sẽ có Xá lợi rắn chắc không thua gì những bậc tu Thiền. Tóm lại, người tu Tịnh độ có hai loại Xá lợi. Một, là Xá lợi hoa sen ngàn cánh được kết tinh từ “diệu giới, định, huệ” thanh tịnh của ta! Hai, là Xá lợi xương tủy được kết tinh bởi ta thâu nhiếp được “Phật quang” của Phật A Mi Đà và mười phương chư Phật!
Kính thưa quý bạn! Không phải người nào để lại Xá lợi thì mới được vãng sanh, còn người không để lại Xá lợi thì không được vãng sanh. Thật ra không phải vậy, cho dù sự tu niệm của ta chưa được sâu dầy để kết tinh thành Xá lợi, thì ta cũng được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Tại sao? Vì Xá lợi hoa sen của ta ở trên cõi Cực Lạc mới là phần chính, còn xương tủy Xá lợi chỉ là phần phụ. Chỉ có điều là phẩm vãng sanh của ta không được cao như những vị để lại Xá lợi mà thôi.
Trong Kinh Phật nói:“Dù có chúng sanh đã tạo ngũ nghịch thập ác. Đến phút lâm chung biết ăn năn sám hối và thành tâm niệm Phật, thì trong vòng mười niệm cũng được Phật A Mi Đà và Thánh chúng đến nơi tiếp dẫn đưa về Cực Lạc.” Mới nghe qua thật là khó tin, nhưng đây là vạn lần chân thật! Tại sao? Vì ngay giây phút ta thành tâm sám hối niệm Phật, thì cũng là giây phút “diệu tánh” của ta sanh ra được hoa sen ngàn cánh ở cõi Cực Lạc. Nhờ có hoa sen của ta, mà Phật A Mi Đà mới đem đến để tiếp dẫn ta về! Một người làm ác cả đời, đến phút lâm chung biết niệm Phật sám hối, mà còn sanh ra được hoa sen để cho Phật mang đến tiếp dẫn. Còn chúng ta cả đời không làm gì ác chỉ biết niệm Phật ngày đêm, dĩ nhiên là chúng ta sẽ có hoa sen để Phật mang đến tiếp dẫn. Xin quý bạn không nên nghi ngờ, mà tự làm chướng ngại cho mình.
Lời khuyên: Nhiều năm qua có một số bạn hiểu lầm về vấn đề Xá lợi, nên buông lời phỉ báng cho rằng:“Xá lợi xương tủy của người tu Tịnh độ không phải là Xá lợi, mà chỉ là xương cốt sau khi thiêu đốt còn sót lại”. Ở đây tôi không phải muốn tranh luận đúng hay sai, mà chỉ xin quý bạn hãy bỏ thêm thời gian, để đi nghiên cứu kỹ lại độ nóng của các lò thiêu và đi tìm hiểu thêm tro cốt của những người không tu niệm Phật, thì sẽ hiểu rõ chân tướng.
Mong rằng sau khi hiểu rõ, quý bạn sẽ phát tâm niệm Phật để sám hối. Còn nếu quý bạn vẫn còn cố chấp, thì cho dù bao nhiêu địa ngục cũng không chứa hết nghiệp tội của bạn đâu. Tại sao? Vì những vị mà bạn đang phỉ báng đó, đều là chư Phật và Bồ tát hiện đang ở cõi Cực Lạc đấy! Đó là chưa nói đến tội của bạn đang hại chúng sanh mất đi tín tâm với Phật A Mi Đà và pháp môn Tịnh độ.
Còn nếu quý bạn cho rằng: Xá lợi nào mà dùng búa đập bể thì không phải là Xá lợi. Bạn nên biết rằng: Xá lợi có nhiều loại non, già và có đa hình đa dạng khác nhau. Cũng như vàng thì có nhiều loại cao, thấp (non, già) khác nhau. Nhưng dù vàng cao hay thấp, thì chúng cũng được người đời công nhận chúng là vàng có phải vậy không? Tại sao? Vì thể chất của chúng vốn là vàng! Chúng chỉ có khác ở chỗ chất lượng cao, thấp mà thôi.
Cũng như chúng ta dùng đậu nành để làm ra nhiều loại đậu hủ mềm, cứng khác nhau. Tuy đậu hủ có nhiều loại mềm, cứng khác nhau, nhưng chúng cũng được người đời công nhận chúng là đậu hủ có phải vậy không? Tại sao? Vì thể chất của chúng vốn làm từ đậu nành mà ra. Chúng chỉ khác ở chỗ độ mềm, cứng mà thôi. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta vội phủ nhận vàng thấp không phải là vàng, hoặc đậu hủ non không phải là đậu hủ.
Nếu quý bạn phủ nhận được vàng thấp không phải là vàng và phủ nhận được đậu hủ non không phải là đậu hủ, thì sự phủ nhận về Xá lợi của quý bạn mới được đứng vững. Còn nếu ngược lại thì không đứng vững. Không những là không đứng vững, mà còn hại mình mang tội phỉ báng chư Phật và Bồ tát.
Còn nếu quý bạn cho rằng:“Những người để lại xương cốt có nhiều màu sắc, đều là những người vì trước khi chết bị bệnh ung thư và chữa bệnh bằng hóa chất, nên sau khi chết xương cốt của họ mới có nhiều màu sắc như vậy”. Nếu thật sự như vậy, thì xin quý bạn hãy trả lời cho chúng tôi hiểu những thắc mắc ở dưới đây.
1. Nếu bạn cho rằng những hóa chất trị bệnh ung thư sẽ làm cho xương cốt có nhiều màu sắc sau khi thiêu đốt. Vậy thì tại sao từ xưa đến nay có vô số người được vãng sanh không bị bệnh ung thư, mà họ vẫn để lại rất nhiều Xá lợi có đủ màu sắc, và có nhiều hình dạng vi diệu khác nhau. Vậy thì quý bạn giải thích sao đây?
2. Nếu có Tăng, Ni hay Phật tử nào đó tu niệm Phật cả đời. Không may tới cuối đời họ bị bệnh ung thư và trị liệu bằng hóa chất. Vậy thì Xá lợi mà họ kết tinh được cả đời đó, không phải là Xá lợi ư? Quý bạn nói như vậy không cảm thấy là quá đáng ư? Bạn nên biết rằng: Những hóa chất trị bệnh ung thư cũng làm cho xương cốt của chúng ta bị đổi màu, nhưng chỉ một phần nào thôi, không phải là tất cả. Xin quý bạn chớ gom đũa cả nắm.
3. Nếu quý bạn cho rằng: Những loại Xá lợi có đủ màu sắc và đập bể được không phải là Xá lợi. Nếu không phải là Xá lợi, vậy thì tại sao có những loại Xá lợi biết biến đổi màu sắc và biến hình dạng khác nhau theo thời gian? Thậm chí, có những trường hợp cùng một nhóm người đến xem Xá lợi. Nhưng mỗi người đều thấy được màu sắc và hình dạng của Xá lợi khác nhau, và sự cảm ứng cũng khác nhau. Vậy thì quý bạn giải thích sao đây?
Kính thưa quý bạn! Những vật thể thuộc về tâm linh, thì thường có sự biến hóa và cảm ứng không thể nghĩ bàn. Cũng vì chúng có sự biến hóa và cảm ứng vi diệu không thể nghĩ bàn, nên những nhà khoa học từ xưa đến nay không thể giải thích được. Nếu có giải thích chăng thì họ chỉ giải thích một cách mù mờ không căn cứ. Tại sao? Vì họ cũng là phàm phu si mê, điên đảo.
Nếu nói về Xá lợi thì có nhiều hình thể, màu sắc và độ non, già khác nhau không thể tính đếm. Nhưng chung quy chỉ có hai loại Xá lợi non và già làm căn bản. Non thì ta gọi là xương tủy Xá lợi, còn già thì ta gọi là ngọc Xá lợi. Ý nghĩa ngọc ở đây, không phải chỉ gọi riêng cho những viên Xá lợi có hình dạng tròn như viên ngọc, mà ý nghĩa ngọc ở đây là nói chung cho tất cả loại Xá lợi rắn chắc như ngọc, búa đập không bể.
Kính thưa quý bạn! Trước kia lúc chưa chứng đạo, tôi cũng thường phán xét nhiều sự việc theo suy nghĩ si mê của mình. Nhưng sau khi chứng đạo, thấy được chân tướng của vạn vật muôn loài biến hóa đa hình, đa dạng không thể nghĩ bàn. Nhất là về mặt tâm linh, thì chúng biến hóa còn vi diệu và thần tốc hơn vạn lần so với những sự biến hóa của vạn vật muôn loài. Tóm lại, những sự biến hóa của vạn pháp và tâm linh, phàm phu như chúng ta không thể nào mà suy nghĩ hay bàn luận được đâu!
Tôi nói thật cho quý bạn biết, sau khi chứng đạo tôi rất là xấu hổ và sám hối với chư Phật rất nhiều về những hành vi và tội lỗi của tôi đã tạo ra trong vô lượng kiếp! Ở đây, tôi xin khuyên quý bạn một điều là: Không nên vội phủ nhận, hay phỉ báng bất cứ một điều gì thuộc về tâm linh. Tại sao? Vì chúng ta chưa phải là Phật!
Nếu phải lựa chọn thì tôi xin khuyên quý bạn một điều đó là: “Thà tin còn hơn là không”. Tại sao? Vì nếu bây giờ chúng ta có tin vào một sự việc tâm linh nào đó, mà sau này hiểu ra sự việc đó không có thật, thì ta cũng không bị rơi vào tội phỉ báng chư Phật và hại chúng sanh. Còn nếu bây giờ ta không tin mà vội đi phỉ báng khắp nơi. Sau này khi hiểu ra sự việc đó là có thật, thì ta sẽ hối hận và không thể cứu vãn. Rốt cuộc chỉ hại mình bị mang tội khẩu nghiệp mà thôi.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi khuyên quý bạn tin mọi chuyện một cách mê tín, không có trí tuệ. Thật ra không phải vậy, vì tin có chánh tín và mê tín. Nếu điều gì mà có hại cho người và hại cho mình như là lên đồng, lên bóng, hay là bùa ngãi… thì ta không nên tin và cũng không nên khuyên người tin. Còn điều gì không có hại cho người và không có hại cho mình, thì ta không nên vội phỉ báng, mà nên giữ im lặng để tìm hiểu. Nhất là những chuyện liên quan đến Phật, Trời, pháp giới và tâm linh, thì ta phải hết sức cẩn trọng! Tại sao? Vì ta vẫn là phàm phu si mê, điên đảo. Nếu là điên đảo thì không nên tin vào sự suy đoán của mình. Nếu quý bạn thích phán đoán như vậy, thì hãy lo tu cho thành Phật trước đi. Khi thành Phật rồi thì quý bạn tha hồ mà phán đoán.
Tịnh Độ Phật Thừa
Kính thưa quý bạn! Ngoài phát tâm niệm Phật để thành Phật ra, ta còn phải làm những hạnh nguyện mà Phật đã dạy “tự độ và độ tha”. Tự độ là tự cứu mình. Độ tha là cứu người. Chúng ta đang tu Tịnh độ là pháp môn cao siêu nhất của Phật. Tịnh: Là tịnh nghiệp và tịnh tâm! Độ: Là tự độ và độ tha! Phật thừa: Là bao la vô cùng tận! Nghĩa là khi tu niệm Phật, thì ta phải có tấm lòng bao la vô cùng tận như Phật.
Độ người là công đức không phải là phước đức. Nếu ta có tiền thì đem bố thí để tạo phước đức. Còn nếu ta nghèo không có tiền, thì đi khuyên người tu niệm Phật. Công đức thì lớn hơn phước đức. Nhưng công đức mà thiếu phước đức, thì cũng không được viên mãn. Không phải ta bố thí nhiều tiền thì mới có nhiều phước đức, mà tính ở chỗ ta phải làm hết sức của ta. Cũng như những người giàu có, họ chỉ biết bố thí tiền bạc, nhưng họ lại không biết tu hành, nên họ không được vãng sanh. Họ chỉ được kiếp sau làm người giàu có mà thôi, nhưng họ vẫn phải bị luân hồi tiếp tục. Thời nay nhiều người chỉ lo tu phước, không lo tu giải thoát thật là đáng tiếc.
Khi chúng ta phát nguyện niệm Phật để thành Phật, thì ta phải một lòng buông xả và quyết tâm tu để lấy được phẩm cao nhất. Chúng ta không nên hiểu lầm cho rằng: Nếu mình nghĩ như vậy là cống cao ngã mạn hay là tham. Thật ra không phải vậy, mà đây là dũng khí giúp cho ta tu thành Phật. Vì nếu không có quyết tâm kiên cố thì ta dể bị thoái chuyển.
Còn nói về phẩm vị, thì trên cõi Cực Lạc có chín phẩm vãng sanh: Ba phẩm Thượng sanh, ba phẩm Trung sanh và ba phẩm Hạ sanh. Nếu ta tu hành được “Thượng thượng phẩm” thì sẽ biết trước được ngày giờ vãng sanh. Tới phút lâm chung, ta sẽ thấy Tam Thánh đem hoa sen ngàn cánh của ta đến tiếp dẫn. Khi đến cõi Phật thì hoa sen của ta liền được nở ra và ta sẽ thấy Phật A Mi Đà. Ngay lúc đó, ta sẽ có Kim thân to lớn, có 32 tướng tốt, có 80 vẻ đẹp và có 6 loại thiêng thần thông giống y như Phật A Mi Đà.
Còn nếu ta chỉ tự độ mà không có tấm lòng độ tha, không chịu bố thí để tạo phước đức, thì ta chỉ được “hạ hạ sanh”. Chúng ta sẽ không có được nhiều ưu điểm như người chứng quả “thượng thượng sanh”. Tuy nhiên, ta cũng được vãng sanh về cõi Cực Lạc, nhưng phải sống ở trong hoa sen của ta một thời gian rất lâu để tu tập. Tuy ở trong hoa sen tu tập, nhưng chúng ta cũng được sung sướng như là ở cõi Trời và luôn có chư Bồ tát ngày đêm dạy cho ta tu hành. Sau khi tu hành thành công, thì ta sẽ thấy được Phật A Mi Đà. Ngay giây phút thấy Phật A Mi Đà, thì cũng là giây phút hoa sen của ta được nở ra và ta thành Phật.
Ở cõi Cực Lạc không có thai sanh, không có luân hồi sanh tử mà chỉ có hoa sen hóa sanh. Khi hoa sen được nở ra thì cũng là ngày ta thành Phật! Vì vậy trong Kinh Phật nói:“Bất luận chúng sanh nào phát tâm niệm Phật để thành Phật, thì đều sanh ra được hoa sen ngàn cánh ở trên cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà”. Còn nói về hoa sen của ta ở cõi Cực Lạc được lớn hay nhỏ và được phát quang nhiều hay ít, thì phải coi công phu tu hành và hạnh nguyện của ta. Khi Chư Phật nhìn hoa sen, thì sẽ biết được công phu tu hành của ta.
Cũng như ta trồng một chậu hoa ở trong nhà, nếu ta siêng tưới nước và chăm bón hằng ngày, thì nó sẽ mọc được tươi tốt. Nhưng nếu ta bỏ bê thì nó sẽ bị héo hoặc chết. Khi ta niệm Phật cũng vậy! Một câu A Mi Đà Phật, là một giọt nước thần tưới cho hoa sen của ta thêm tươi tốt. Nên khi niệm Phật, ta phải niệm tinh tấn mỗi ngày, không nên niệm một ngày mà bỏ cả tháng. Nếu bỏ nửa chừng, thì hoa sen của ta sẽ bị chết và biến mất trong ao báu. Nếu hoa sen bị chết thì công phu tu niệm của ta cũng bị mất theo. Tại sao? Vì công đức khác với phước đức. Phước đức mình tạo bao nhiêu là có bấy nhiêu không bao giờ mất. Nhưng công đức mà bỏ nửa chừng thì ta sẽ mất hết tất cả.
Mất hết nghĩa là mất hết công phu tu tập của ta trước kia. Nhưng chủng tử A Mi Đà Phật trong ta thì vẫn còn. Chỉ cần ta quyết tâm tu niệm trở lại, thì chủng tử A Mi Đà sẽ nẩy mầm mọc lại. Tuy nói là nói vậy, nhưng thử hỏi mạng sống con người rất là ngắn ngủi. Nếu ta không lo trồng hoa sen từ bây giờ, lỡ mai thân này mất đi thì ta làm sao có được hoa sen để cho Phật đem đến tiếp dẫn. Chúng ta có thể bỏ ăn, bỏ ngủ và bỏ làm, nhưng không thể bỏ câu niệm Phật. Vì đây là tương lai vĩnh cửu của ta. Còn cuộc sống hiện tại chỉ là tạm thời, nên ta phải biết phân nặng nhẹ, không nên tham đắm thân giả mà bỏ mất thân Phật, sau này hối tiếc sẽ không kịp.
Kính thưa quý bạn! Phật A Mi Đà thương chúng ta vô bờ bến. Ngài biết chúng ta ngu si không có đủ trí tuệ để tự tu giải thoát. Nên Ngài mới dạy cho ta pháp môn Tịnh độ để đới nghiệp vãng sanh. Đới nghiệp nghĩa là chúng ta mang theo nghiệp tội của mình để sanh về cõi Phật A Mi Đà. Chỉ cần được sanh về Cực Lạc, thì ta sẽ có đủ trí tuệ để tu thành Phật! Trong Kinh Phật nói: “Tịnh độ là pháp môn cao siêu khó tin! Nếu ai tin được là người đó đã có tu hành trong vô lượng kiếp, nên kiếp này cơ duyên làm Phật mới được chín mùi, mới có đủ trí tuệ và thiện căn để tin sâu pháp môn Tịnh độ”. Ngài Tịnh Không cũng nói: “Kiếp này chúng ta gặp được pháp môn Tịnh độ, là may mắn còn hơn trúng số bạc tỷ. Gặp đã là khó mà tín sâu tu niệm thì lại càng khó hơn. Quý cũng như mò kim đáy biển ngàn năm một thuở”.
Phát Bồ Đề Tâm: Trước kia vì không hiểu đạo, nên nhiều năm tôi chỉ biết niệm Phật để cầu siêu cho ông bà, cha mẹ và chúng sanh. Sau đó, nhờ nhân duyên tôi biết đến pháp môn Tịnh độ và hiểu người niệm Phật phải phát tâm Bồ Đề. Tuy lúc đó tôi tin Kinh và tin Phật, nhưng tôi lại không tin bản thân tôi. Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng: Tội chướng của tôi quá nặng, đường tu kiếp này không được toại nguyện, thì nào dám phát nguyện niệm Phật để thành Phật. Cũng vì suy nghĩ si mê như vậy, mà nhiều năm tôi không dám phát nguyện niệm Phật để thành Phật.
Nhưng không ngờ duyên phần đã đến, tôi được một người bạn cho tôi một cuốn sách “Niệm Phật Lưu Xá Lợi” của Cư sĩ “Tịnh Hải”. Khi mở cuốn sách đó ra, tôi vội xem các hình màu Xá lợi và lòng tôi sung sướng lạ thường. Sau đó, tôi đọc một câu chuyện nói về một bác Phật tử tại gia. Bác chỉ niệm Phật ở nhà, không có thời gian đến chùa để tụng Kinh hay tham thiền. Vậy mà bác cũng được vãng sanh và để lại nhiều Xá lợi. Sau khi đọc xong câu chuyện của bác Phật tử đó, tôi vô cùng hạnh phúc và bật khóc. Tôi khóc là vì không ngờ niệm Phật, có thể vãng sanh về Cõi Phật ngay trong một đời.
Sau khi đọc xong cuốn sách đó, tôi liền phát nguyện niệm Phật để thành Phật! Tôi buông xả hết trần duyên, quyết tâm tu niệm một lòng tinh tấn. Sau đó vài tuần thì tôi được nhất tâm. Nếu như tôi không quyết tâm phát nguyện một cách thành khẩn tu niệm, thì tôi khó được nhất tâm. Qua quá trình của bản thân tôi hiểu được sự tín nguyện và quyết tâm rất là quan trọng! Trong Kinh Phật nói: “Chúng sanh muốn được thành Phật, thì phải có đầy đủ: Tín, nguyện và trì danh. Nếu thiếu một trong ba điều này, thì chúng sanh sẽ không thành Phật được”.
Tín: Là tin sâu không một chút hoài nghi (tin Phật A Mi Đà và tin ta sẽ thành Phật A Mi Đà)
Nguyện: Là nguyện niệm Phật để thành Phật (nguyện với tâm ta, không phải nguyện với chư Phật).
Trì danh: Là niệm danh hiệu A Mi Đà cho tới ngày vãng sanh.(Trì danh tức là Hạnh, vì khi ta niệm Phật thì đức hạnh của ta sẽ được sanh ra).
Nguyện: Là nguyện niệm Phật để thành Phật (nguyện với tâm ta, không phải nguyện với chư Phật).
Trì danh: Là niệm danh hiệu A Mi Đà cho tới ngày vãng sanh.(Trì danh tức là Hạnh, vì khi ta niệm Phật thì đức hạnh của ta sẽ được sanh ra).
Báo Thân Trong Hoa Sen
Kính thưa quý bạn! Người tu Tịnh độ ai cũng hiểu được khi ta phát tâm niệm Phật, thì sẽ sanh ra được hoa sen ở trên cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà. Tuy hiểu là hiểu vậy, nhưng chúng ta vẫn còn thắc mắc rằng:“Tại sao người tu Tịnh độ chỉ sanh hoa sen ở cõi Phật A Mi Đà, mà không sanh hoa sen ở các cõi Phật khác”. Giờ tôi xin phân tích tóm gọn để quý bạn hiểu tại sao.
1. Là vì mười phương chư Phật, chỉ có Phật A Mi Đà là người phát ra 48 đại nguyện để tiếp dẫn chúng sanh và chỉ có Ngài mới có đủ thần thông và trí tuệ để xây đựng cõi Cực Lạc cao siêu thù thắng, giúp cho chúng sanh đới nghiệp vãng sanh.
2. Là vì diệu tâm A Mi Đà của ta có cùng tầng số với diệu tâm của Phật A Mi Đà và có cùng tầng số với Tây phương Cực Lạc. Vì có cùng tầng số, nên hoa sen của ta mới sanh ra ở trên đó! Chân tướng sự thật này chỉ có Phật A Mi Đà (tức Phật Tổ) mới có đủ trí tuệ để hiểu rõ thôi. Vì hiểu rõ nên Phật mới khuyên dạy chúng ta tu niệm tự tánh của mình để trở về làm Phật giống như Ngài.
Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ không dám tin, nhưng đây là vạn lần chân thật! Cũng như ở ngoài đời, nếu ta muốn gọi phone cho ai thì phải gọi đúng số. Nếu gọi thiếu một số thì cho dù người đó có ở cạnh bên, cũng không nhận được tín hiệu của ta. Nhưng nếu ta gọi đúng số, thì cho dù người đó có ở bên kia trái đất, hay ở trên mặt trăng cũng nhận được tín hiệu của ta. Tại sao? Là vì ta gọi đúng tầng số của họ.
Chúng ta là phàm phu mà còn tìm ra được những tầng số của vũ trụ và phát minh ra được những công cụ để giao tiếp với nhau. Vậy thử hỏi trí tuệ và thần thông của Phật A Mi Đà còn cao siêu biết dường nào. Ở trong “Kinh Hoa Nghiêm” có một đoạn Phật nói rằng:“Chư Phật có thể đem tất cả vũ trụ này để gọn vào trong lòng bàn tay; có thể thấy mọi sự việc đang biến chuyển; có thể dời đổi những thế giới đi tới đi lui; có thể làm cho những thế giới nhỏ lại hay lớn ra theo ý muốn… mà chúng sanh ở trong vũ trụ này không hề hay biết”. Mới nghe qua thật là khó tin, nhưng đây là vạn lần chân thật!
Trước kia khi tôi đọc tới đoạn Kinh này, thật sự là tôi không hiểu và cũng không dám tin. Nhưng sau này khi tôi cầm cái “I Phone” ở trong tay, thì tôi mới giật mình và giác ngộ ra được những lời Phật nói ở trong Kinh. Quý bạn thử nghĩ xem: Hiện tại chúng ta chỉ là phàm phu không có thần thông chi cả. Vậy mà chúng ta chỉ cần có một cái I Phone hay Smart phone, là ta có thể nắm gọn cả thế giới này trong lòng bàn tay của mình. Không những vậy, mà ta còn thấy được mọi sự việc đã và đang xảy ra ở trên thế giới này. Thêm vào, ta có thể dời các nước trong trái đất này đi tới đi lui và có thể làm cho chúng nhỏ lại hay lớn ra theo ý muốn, mà những chúng sanh đang ở trong trái đất này không hề hay biết.
Ở trên chúng tôi chỉ nêu ra một ví dụ nhỏ, để cho quý bạn tự suy ngẫm mà thôi. Nhưng cho dù kỹ thuật và khoa học của chúng ta có tiến bộ thế nào, thì cũng chỉ mới tìm ra được có một phần tỷ như những gì mà Phật đã nói ở trong Kinh mà thôi.
Phần báo thân trong hoa sen: Có một điều mà đa số chúng ta vẫn chưa hiểu rõ đó là: Trong cái hoa sen mà chúng ta sanh ra ở trên cõi Cực Lạc, còn có báo thân Phật của ta ở trong đó nữa. Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ không dám tin và nghĩ rằng:“Chúng ta đang còn ở đây, thì làm sao sanh ra được báo thân Phật và hoa sen của mình ở trên cõi Phật, thật là khó tin quá”.
Kính thưa quý bạn! Nếu chúng ta ai nấy cũng tin được, thì chư Phật ba đời đâu có nói: “Tịnh độ là pháp môn cao siêu khó tin” và quý Ngài cũng đâu có nói: “Pháp môn Tịnh độ chỉ có Phật mới hiểu được Phật”. Thật ra, trước kia tôi cũng không dám tin như quý bạn. Nhưng sau khi chứng đạo, thấy được chân tướng nên tôi mới tin. Còn lý do tại sao chúng ta đang còn ở đây, mà có thể sanh ra được hoa sen và báo thân Phật của mình ở trên cõi Phật. Là vì trong Kinh Phật nói: “Tất cả vạn pháp đều từ tâm tưởng sanh”. Từ tâm tưởng sanh nghĩa là: Tất cả thân Trời, thân Người, thân Thú… mà ta đã có từ vô lượng kiếp đến nay, đều là do tâm tưởng của ta tự sanh ra.
Thêm vào, tất cả vạn vật có tình và không tình ở trong vũ trụ này, cũng đều do tâm tưởng của chúng ta biến hóa ra. Tóm lại, hằng ngày ta tưởng niệm cái gì thì ta sẽ thành cái nấy. Nếu ta niệm Phật thì sẽ thành Phật; ta niệm súc sanh thì sẽ thành súc sanh; ta niệm ngạ quỷ thì sẽ thành ngạ quỷ… Tất cả đều là do tâm thức thiện, ác của ta tự sanh ra. Chỉ có điều là khi ta còn sống, thì báo thân vô hình mà ta đang tạo hằng ngày, nó sẽ tạm ẩn ở trong tâm thức của ta. Nhưng sau khi chết, báo thân vô hình của ta sẽ chiêu cảm cho ta một báo thân có hình tướng, tương ưng với báo thân mà ta đã tạo trong tâm thức khi ta còn sống (phần này tôi đã giải thích rất rõ ở trong bài “Tâm là gì” rồi).
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích ở trên, quý bạn đã hiểu được phần nào về “Báo thân” của mình rồi. Bây giờ chúng ta tìm hiểu vào tại sao người niệm Phật, có thể sanh ra hoa sen và báo thân Phật của mình cùng một lúc ở trên cõi Phật. Khi chúng ta phát tâm niệm Phật để thành Phật, thì tâm của ta chỉ nghĩ đến Phật A Mi Đà. Ngay giây phút ta nghĩ đến Phật và chỉ muốn thành Phật A Mi Đà, thì cũng là giây phút ta đang tạo ra hình tướng Phật A Mi Đà ở trong tâm thức của ta (tức là tạo ra “báo thân Phật” ở trong tâm thức của ta). Ngay giây phút ta tạo tướng Phật ở trong tâm thức, thì cũng là giây phút ta sanh ra được hoa sen và báo thân Phật của ta ở trên cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà.
Giờ tôi xin dùng bào thai để làm ví dụ, thì quý bạn dễ hiểu hơn. Khi chúng ta mang thai thì trong bào thai phải có sinh mạng. Vì có sinh mạng nên bào thai mới có sự phát triển và lớn lên theo thời gian. Khi bào thai được chín tháng mười ngày, thì sinh mạng mới có đủ hình hài. Khi có đủ hình hài thì sinh mạng đó mới được sanh ra làm người. Tiến trình thành tựu của hoa sen và báo thân Phật của ta, cũng giống như sự phát triển của bào thai và sinh mạng vậy đó! Chúng chỉ có khác ở chỗ là: Khi đầu thai làm người thì ta phải sinh ra từ bào thai của người mẹ. Còn khi thành Phật thì ta phải hóa sanh ra từ hoa sen ngàn cánh ở trên cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà. Vì vậy tất cả hình và tượng Phật, Bồ tát mà chúng ta thấy từ xưa đến nay đều có hoa sen đở ở dưới thân của quý Ngài. Hoa sen là biểu tượng cho sự hóa sanh của chư Phật mười phương.
Tóm lại, hoa sen và báo thân Phật của ta đang có ở trên cõi Phật, đều là do công đức tu hành của ta sanh ra, không phải do Phật A Mi Đà ban cho. Nếu ta tu hành tinh tấn, thì hoa sen và báo thân Phật của ta sẽ phát triển được nhanh. Nếu ta làm biếng thì hoa sen và báo thân Phật của ta sẽ phát triển chậm. Rồi cứ như vậy mà chúng phát triển không ngừng cho đến ngày ta được vãng sanh. Sau khi vãng sanh về Cực Lạc, thì ta phải tu hành tiếp tục cho đến ngày công đức được viên mãn. Khi công đức được viên mãn, thì hoa sen của ta sẽ được nở ra và ta sẽ thành Phật A Mi Đà. Lúc đó, ta sẽ có 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp, 4 trí và có vô lượng thần thông biến hóa nhiệm mầu, giống như Phật A Mi Đà không khác.
Kính thưa quý bạn! Nếu nói trên “lý” thì hoa sen và báo thân Phật của ta là một không hai. Cũng như bào thai và sinh mạng của ta là một không hai. Nhưng nếu nói trên “sự” thì hoa sen và báo thân Phật của ta có sự diệu dụng khác nhau. Vì vậy tuy hai mà một, tuy một mà hai. Tuy hai mà một nghĩa là: Nếu không có hoa sen thì sẽ không có báo thân Phật. Nếu không có báo thân Phật thì sẽ không có hoa sen. Vì vậy hoa sen và báo thân tuy hai mà một, không thể tách rời nhau giống như chữ “V”.
Còn Tuy một mà hai nghĩa là: Tuy hoa sen và báo thân Phật của ta không thể tách rời nhau, nhưng chúng lại có sự diệu dụng biến hóa khác nhau. Diệu dụng của hoa sen là bảo vệ cho báo thân Phật của ta. Nó ví như căn nhà để bảo vệ che nắng che mưa cho ta. Còn diệu dụng của báo thân Phật, thì sống mãi không chết và hạnh phúc vĩnh cửu. Thêm vào, báo thân Phật của ta có thể đi đến mười phương cõi Phật để giao du hay đàm luận và có thể ứng hóa ra vô lượng thân đi đến mười phương thế giới, để cứu độ chúng sanh mọi loài. Tóm lại, báo thân Phật của ta rất là nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.
Phần tiến trình vãng sanh: Ở đây tôi xin phân tích về tiến trình vãng sanh để quý bạn tìm hiểu thêm. Trên cõi Cực Lạc có chín phẩm vãng sanh đó là: Ba phẩm “thượng sanh”, ba phẩm “trung sanh” và ba phẩm “hạ sanh”. Nghĩa là ở cõi Cực Lạc có “chín phẩm” vãng sanh cao thấp khác nhau. Phật nói chín phẩm là để cho chúng ta dể hiểu, nhưng trên thật tế thì có rất nhiều phẩm sai biệt khác nhau. Nhờ có phẩm vị cao thấp khác nhau, mà Phật dùng “Báo thân” hay “Hóa thân” của Ngài để tiếp dẫn chúng sanh. Nghĩa là tùy theo phẩm vị của mỗi chúng sanh, mà Phật tiếp dẫn khác nhau. Nói như vậy không có nghĩa là Phật A Mi Đà phân biệt phẩm vị, mà vì Ngài phải hiện thân cho tương đồng với tầng số tâm thức của chúng sanh. Nếu Phật hiện thân không tương đồng, thì chúng sanh sẽ không thấy được Phật và Thánh chúng đến nơi tiếp dẫn.
Ở đây tôi không có thời gian để giải thích từng phẩm, mà tôi chỉ giải thích về tiến trình vãng sanh của người được “thượng thượng phẩm” thôi. Chúng ta chỉ cần hiểu được tiến trình vãng sanh của thượng thượng phẩm, thì sẽ hiểu được tiến trình vãng sanh của các phẩm thấp hơn. Vì chúng không có khác biệt nhau nhiều. Giờ chúng ta tìm hiểu vào người vãng sanh “thượng thượng phẩm”.
1. Thượng thượng phẩm: Nếu chúng ta tu hành được “thượng thượng phẩm”, thì tới phút lâm chung báo thân Phật của ta sẽ tự đem hoa sen đến, để tiếp dẫn thần thức của ta về Cực Lạc. Lúc đó, Phật A Mi Đà và Thánh chúng sẽ không đến tiếp dẫn ta. Tại sao? Vì khi ta tu đến bậc cao nhất, thì báo thân Phật của ta đã có đủ thần thông và trí tuệ, để thâu nhiếp thần thức của ta bay thẳng về Cực Lạc. Nếu báo thân Phật của ta đã có đủ thần thông và trí tuệ, để rút thần thức của ta bay thẳng về Cực Lạc, thì dĩ nhiên Phật A Mi Đà và Thánh chúng sẽ không cần hiện thân đến để tiếp dẫn ta. Tuy lúc đó Phật A Mi Đà và Thánh chúng không hiện thân đến. Nhưng quý Ngài đều biết rất rõ và chờ đợi ta trở về Cực Lạc, để thọ ký cho ta thành Phật.
Có một sự thật mà chúng ta cần phải biết đó là: Tuy lúc đó Phật A Mi Đà và Thánh chúng không hiện thân đến đây. Nhưng phút lâm chung, ta sẽ thấy có Phật A Mi Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và Thánh chúng đem hoa sen đến để tiếp dẫn ta về Cực Lạc. Nhưng trên thật tế, thì Phật A Mi Đà mà ta thấy trong giờ phút vãng sanh, không phải là Phật A Mi Đà, mà chính là “báo thân Phật A Mi Đà” của ta đến để tiếp dẫn thần thức của ta về. Còn Bồ tát và Thánh chúng mà ta thấy lúc đó, cũng không phải đến để tiếp dẫn ta, mà đến để chúc mừng cho ta.
Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng:“Tới lúc đó ta làm sao biết được ai là Phật A Mi Đà và ai là mình”. Về vấn đề này thì quý bạn hãy yên tâm. Tại sao? Vì tới lúc đó, ta sẽ tự nhiên biết được 100% cũng giống như là ta đang soi gương vậy! Thêm vào, lúc đó ta sẽ nhìn ra được những vị Bồ tát và Thánh chúng đến để chúc mừng cho ta cũng không ai xa lạ, mà đa số đều là thân bằng quyến thuộc của ta trong vô lượng kiếp và họ đã tu thành Phật và Bồ tát. Ngoài ra, còn có những vị mà đã được ta cứu độ trong quá khứ. Nay nghe tin ta được thành Phật, nên họ hiện thân đến để chúc mừng và cũng để cám ơn, vì nhờ ta mà họ mới được thành Phật. Ngay lúc đó, Phật A Mi Đà liền hiện thân đến để thọ ký cho ta. Sau khi Phật vừa thọ ký xong, thì hoa sen của ta liền được nở ra và ta thành Phật A Mi Đà viên mãn.
Còn một sự thật mà chúng ta cần phải biết đó là: Phật A Mi Đà và Thánh chúng, mà ta thấy trong giờ phút vãng sanh vốn không hề đến đây, mà tất cả quý Ngài đều ở tại Cực Lạc. Tức là trong thời khắc vãng sanh, chỉ có “thần thức” của ta ở đây tự bay về Cực Lạc để hợp thành một thể với “báo thân Phật” của ta mà thôi. Tóm lại, tất cả những hình ảnh hoa sen, Phật, Bồ tát… mà ta thấy trong thời khắc cuối cùng, đều là do thần thức của ta ở đây thấy trực tiếp trên cõi Cực Lạc.
Vì vậy trong Kinh Phật nói:“Chư Phật đến mà như không đến, không đến mà đến”. Nghĩa là lúc đó ta thấy Phật và Thánh chúng đem hoa sen đến để tiếp dẫn ta về Cực Lạc rất là rõ ràng. Nhưng trên thật tế thì quý Ngài vẫn ở tại Cực Lạc không hề dời gót đến đây. Tóm lại, lúc đó Phật A Mi Đà chỉ dùng thần lực của Ngài để cảm ứng cho ta thấy được trực tiếp trên cõi Cực Lạc. Đó là tiến trình vãng sanh của người được “thượng thượng phẩm”.
Thật ra, không phải đợi đến khi vãng sanh, thì ta mới thấy được báo thân Phật của mình, mà ngay trong hiện đời ta có thể thấy được báo thân Phật của mình ít nhất là một lần. Nhưng muốn thấy được báo thân Phật của mình ở trên cõi Cực Lạc, thì ta phải tu cho được chứng đạo. Vì chỉ có chứng đạo cao, thì ta mới thấy được báo thân Phật của mình ngay trong hiện đời. Lúc đó, chúng ta sẽ thấy báo thân Phật của mình có màu vàng kim pha lẫn sắc hồng, trong suốt rất đẹp và to lớn bao phủ cả một góc Trời. Nói một ví dụ cho dể hiểu là: Lúc đó ta sẽ thấy thân người hiện tại của mình thì nhỏ như con kiến, còn báo thân Phật của mình ở trên Cực Lạc thì lớn như con người. Nếu thân con kiến mà đem so với thân con người, thì thân con kiến không là gì cả. Nói như vậy thì quý bạn đủ hiểu báo thân Phật của ta to lớn biết dường nào. Thật ra, không phải đợi đến khi thành Phật, thì thân thể của ta mới có màu vàng kim; mà ngay trong hiện đời nếu chúng ta tu cao, thì sẽ khôi phục được màu vàng kim trên thân của mình. Nhưng những nơi mà màu vàng kim hiện rõ nhất là ở trong hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân của mình. Nếu chúng ta tu càng cao thì màu vàng kim hiện ra trên thân của ta càng rõ.
2. Những phẩm vị thấp: Qua sự phân tích ở trên, quý bạn đã hiểu được tiến trình vãng sanh của người có phẩm cao nhất rồi. Thật ra, tiến trình vãng sanh của những phẩm vị cao và thấp không khác biệt nhau nhiều. Chỉ có điều là nếu ta thuộc về những phẩm vãng sanh thấp, thì tới phút lâm chung ta sẽ thấy được “Hóa thân” của Phật A Mi Đà và Thánh chúng đem hoa sen đến, để tiếp dẫn ta về Cực Lạc. Sau khi về Cực Lạc, ta phải ở trong hoa sen tu hành tiếp tục. Còn được thành Phật nhanh hay chậm, thì phải coi công phu tu hành của mỗi người. Nhưng dù cao hay thấp, thì cuối cùng tất cả chúng ta đều được thành Phật A Mi Đà không khác.
Kính thưa quý bạn! Nếu nói trên “lý” thì tất cả chư Phật đều là Phật A Mi Đà. Tại sao? Vì thể tánh của tất cả chư Phật và thể tánh của tất cả chúng sanh là A Mi Đà. Nếu thể tánh A Mi Đà đồng nhau, thì tất cả chư Phật và chúng sanh đều được thành Phật A Mi Đà đồng nhau! Cũng như ở ngoài đời, nếu ta trồng nhân gì thì sẽ ra quả nấy. Nếu ta trồng giống cam thì sẽ ra quả cam, trồng giống xoài thì sẽ ra quả xoài, đó là nguyên lý của tạo hóa.
Còn nói trên “sự” thì tất cả chư Phật đều có vô lượng danh tên khác nhau. Tại sao? Vì sau khi thành Phật A Mi Đà, quý Ngài tùy theo hạnh nguyện mà ứng hóa thân đi khắp mười phương để cứu độ chúng sanh. Mỗi lần ứng, hóa đến một nơi nào đó, thì quý Ngài đều lấy danh tên khác nhau để giúp chúng sanh dễ phân biệt.
Cũng như Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tới trái đất này gần ba ngàn năm trước. Trước khi thị hiện đến đây thì danh hiệu Thích Ca của Ngài không có. Chỉ sau khi Ngài đắc quả thành Phật, thì Ngài mới lấy danh hiệu là Thích Ca. Ngài lấy danh hiệu Thích Ca là để cho chúng sanh ở trong thế giới Ta bà này dễ phận biệt. Nhưng trên thật tế thì Ngài đã thành Phật A Mi Đà trong vô lượng kiếp rồi. Tóm lại, chư Phật lấy nhiều danh tên khác nhau là vì chúng ta, không phải là vì quý ngài. Vì quý Ngài không có danh tên gì cả, xin quý bạn chớ có hiểu lầm.
Kính thưa quý bạn! Còn một sự thật mà chúng ta cần phải biết đó là: Trong Kinh Phật nói:“Cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà là ở Tây phương Cực Lạc và cách cõi Ta bà của chúng ta là mười vạn ức Phật độ”. Thật ra, Phật nói như vậy là giúp cho chúng ta dể hiểu và dể định phương hướng thôi. Nhưng trên thật tế, thì cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà bao trùm hết cả vũ trụ. Nói cho dễ hiểu là: Cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà là ở trên tầng Trời cao nhất của vũ trụ và tầng Trời này bao phủ hết cả vũ trụ, không chỗ nào mà không có. Chúng ta chỉ cần hiểu được như vậy, thì đến phút lâm chung, ta sẽ không còn lo lắng về hướng Tây hay hướng Đông... Lúc đó, ta chỉ cần nhìn thẳng lên Trời và nhiếp tâm niệm Phật, thì sẽ thấy được Phật A Mi Đà và cõi Cực Lạc hiện ra ở ngay trước mắt của mình.
Thành tâm góp ý
Bởi chúng sanh nay lắm nghi tình
Nên Phật, Bồ tát hiện đến đây
Phơi bày bằng chứng muôn vạn pháp
Thức tỉnh sanh linh sớm quay về.
Nên Phật, Bồ tát hiện đến đây
Phơi bày bằng chứng muôn vạn pháp
Thức tỉnh sanh linh sớm quay về.
Những pháp không tin bạn gắng đợi
Mười năm chưa muộn nói không tin
Bây giờ càng nói càng sai quấy
Ân hận về sau chẳng ích chi.
Mười năm chưa muộn nói không tin
Bây giờ càng nói càng sai quấy
Ân hận về sau chẳng ích chi.
Thế trí biện thông chỉ hại mình
Cái ta che lấp trí chân tâm
Quay về thức tỉnh mau kẻo trễ
Bởi trí mê mờ vẫn chưa thông!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.
Cái ta che lấp trí chân tâm
Quay về thức tỉnh mau kẻo trễ
Bởi trí mê mờ vẫn chưa thông!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment