Thursday, March 3, 2016

Phần 3
 
Những Dấu Hiệu Khi Có
Lục Thần Thông Thanh Tịnh
Ở đây chúng tôi xin chia sẻ vài sự chuyển biến thân tâm khi có lục thần thông thanh tịnh, để quý bạn tìm hiểu thêm. Nói về sự chứng đắc nội tâm thì là đa dạng, vì mỗi người đều có căn cơ cao thấp và hạnh nguyện tu hành khác nhau. Nên sự chứng đắc của mỗi người cũng có nhanh chậm và cao thấp khác nhau, khó mà giải thích được chân tướng tuyệt đối. Tuy biết sự chứng đắc khó có thể giải bày, nhưng tôi vẫn cố gắng dùng hết khả năng và kinh nghiệm của mình để chia sẻ cùng quý bạn. Mong là một chút kinh nghiệm này, có thể giúp quý bạn phần nào trên con đường tu tập. Vì đây là những bằng chứng nhiệm mầu sẵn có ở trong diệu tâm chúng ta!
Tôi chỉ mới bước vào được ngưỡng cửa của lục thần thông thanh tịnh, nên kinh nghiệm vẫn còn non kém chưa được sâu dày. Nhưng tôi không thể ích kỷ ngồi đây hưởng hạnh phúc pháp lạc một mình. Trong khi ngoài kia chung quanh tôi mỗi giây, mỗi phút trôi qua, có biết bao nhiêu chúng sanh đang bị đi lầm đường lạc bước, đang lần lượt chết đi và đang lần lượt bị đọa vào biển lửa luân hồi sanh tử. Mỗi khi nghĩ đến là tâm của tôi se thắt lại không cầm được nước mắt. Tôi thà chấp nhận hết những lời khinh chê, chửi trách của quý bạn, còn hơn là không cứu được chúng sanh. Tâm nguyện của tôi chỉ mong thành tựu được bước nào, thì chia sẻ với huynh đệ đồng tu cùng đi bước đó. Để chúng ta cùng nhau niệm Phật, cùng nhau chứng đắc, cùng nhau vãng sanh thành Phật và cùng nhau trở lại để cứu độ hết thảy chúng sanh mọi loài. Ở đây chúng tôi xin chia sẻ từng phần tóm gọn để quý bạn dễ hiểu.
1. Nhãn Thông (mắt): Khi bắt đầu có nhãn thông, ta sẽ thấy ở giữa hai chân mày (gọi là tam tinh), có một vòng tròn hào quang nhỏ như tròng mắt mở ra sáng như vầng trăng. Đây là dấu hiệu con mắt trí tuệ của ta bắt đầu mở ra. Lúc đó, ta nhắm mắt mới thấy còn mở mắt thì không thấy. Qua một thời gian thì ta nhắm mắt cũng thấy mà mở mắt cũng thấy, nhưng hai cái thấy hoàn toàn khác nhau. Cái thấy khi nhắm mắt là cái thấy bên trong tự tánh, còn cái thấy khi mở mắt là cái thấy hào quang phản chiếu bên ngoài. Ở đây tôi xin chia sẻ từng phần để quý bạn dễ hiểu.
A. Cái thấy khi nhắm mắt: Khi bắt đầu có Nhãn thông, mỗi khi nhắm mắt ta sẽ thấy ở giữa tam tinh (tức con mắt Trí tuệ) có một cái vòng quang minh nhỏ mở ra. Sau đó, cái vòng quang minh nhỏ này sẽ từ từ mở lớn ra. Sau khi mở lớn ra, thì lại có một vòng quang minh nhỏ khác hiện ra ở giữa. Rồi cứ như vậy mà hết vòng quang này mở lớn, đến vòng quang kia mở lớn. Trong thời gian những vòng hào quang này chuyển biến từ nhỏ tới lớn, thì màu sắc của chúng cũng biến chuyển theo. Qua một thời gian, thì những sự chuyển biến của màu sắc và vòng hào quang đó sẽ không còn, mà chỉ còn lại một khoảng trống như hư không, trong suốt vắng lặng như như bất động và một bạch hào quang ở giữa tam tinh luôn xoay chuyển như cái đèn pha.
Rồi qua một thời gian rất lâu, bạch hào quang đó tự nhiên từ từ chuyển thành màu vàng kim. Sau đó, nó chuyển thành màu xanh, màu xanh lá cây đậm, rồi đến màu đỏ, mầu cam đậm... Rồi cứ như vậy mà các màu sắc này hợp lại thành bảy sắc hào quang xoay chuyển không ngừng! Màu bảy sắc đó không thô xấu như màu cầu vòng, mà nó trong sáng quang minh đẹp hơn ngàn lần so với màu hột xoàn hạng nhất.
Rồi qua một thời gian, ta sẽ thấy “Huệ nhãn” của mình rút từ từ vào trung tâm của hào quang bảy sắc đó. Trong thời gian “Huệ nhãn” rút vào trung tâm của bảy sắc hào quang, thì ta sẽ thấy mình đi vào một thế giới lưu ly, có vô lượng hào quang đủ màu trong suốt thật là đẹp không thể nghĩ bàn! Sau khi vào tới trung tâm, thì hào quang bảy sắc đó sẽ tự nhiên biến mất, chỉ còn lại khoảng trống quang minh lưu ly trong sáng như mặt trăng và phủ khắp thân mình an lạc không thể tả (ánh sáng quang minh đó đẹp hơn ánh sáng mặt trăng cả vạn lần). Từ đó mỗi khi nhắm mắt, ta sẽ không còn cảm giác thân của ta hiện hữu nữa, mà thấy mình hòa nhập thành một thể với vùng quang minh trong sáng đó! Rồi qua vài ngày sau, ta sẽ thấy trong vùng quang minh trong sáng đó; lại hiện lên nhiều màu sắc quang minh lưu ly và xoay chuyển không ngừng (sự xoay chuyển của quang minh rất nhẹ nhàng và thanh tịnh.)
Rồi qua một thời gian rất lâu, ta sẽ thấy có một con mắt thứ ba lớn bằng cái mặt của mình mở ra và bao phủ cả hư không. Nghĩa là lúc đó ta sẽ thấy con mắt thứ ba của mình lớn bằng cái mặt mở ra. Khi con mắt thứ ba này được mở ra, thì ta sẽ cảm nhận cả vũ trụ này đều nằm trong con mắt của mình. Rồi qua một thời gian, ta sẽ thấy ở giữa tam tinh của ta lại có một con mắt thứ ba khác mở ra. Nhưng hình dạng và màu sắc của con mắt thứ ba này hoàn toàn khác hẳn với những con mắt trước kia.
Có một điều tôi xin chia sẻ thêm đó là: Khi con mắt thứ ba của ta được mở ra, thì có những lúc ta nhìn thấy được nhiều cảnh vật chung quanh ở xa hoặc ở gần như là: Trời, đất, rừng núi, biển hồ, thành phố, chợ… Nhưng những cảnh vật này chỉ thoáng qua một chút rồi mất. Nghĩa là trong những lúc ngồi hay nằm niệm Phật, ta chỉ cần nhắm mắt lại và giữ tâm an định, thì sẽ thấy được những cảnh vật ẩn hiện ở trước mắt của mình. Nhiều khi chỉ trong một phút, mà ta có thể nhìn thấy được nhiều cảnh vật khác nhau, nhưng chúng chỉ thoáng qua rất nhanh.
Từ ngày tôi mở được con mắt thứ ba cho đến nay là khoảng mười ba năm. Nhưng trong mười ba năm đó, có những giai đoạn tôi thường thấy được những cảnh vật ẩn hiện thoáng qua ở trước mắt. Nhưng cũng có những giai đoạn tôi không nhìn thấy những cảnh vật đó, mà tôi chỉ nhìn thấy những ánh sáng quang minh chuyển biến ở trong tâm thức của tôi mà thôi. Tóm lại, khi con mắt thứ ba của ta được mở ra, thì nó sẽ chuyển biến đa hình, đa dạng khác nhau tùy theo công phu tu hành của ta. Tôi chỉ mới mở được Huệ nhãn, còn Thiên nhãn thì tôi chưa mở được. Vì chưa mở được, nên tôi chưa làm chủ được cái thấy của mình, mà tôi chỉ thấy vạn vật thoáng qua thôi.
B. Cái thấy khi mở mắt: Khi bắt đầu có nhãn thông, mỗi khi mở mắt ta nhìn đâu đâu cũng thấy có những đốm hoặc những tia màu hào quang xanh, vàng, đỏ, cam… khi ẩn khi hiện ở trước mặt. Rồi qua một thời gian, ta nhìn đâu đâu cũng thấy có một vòng hào quang trong suốt với vài màu sắc lợt bao quanh và lớn bằng cái đĩa lớn. Rồi qua một thời gian, cái vòng hào quang đó lại từ từ lớn ra bằng cái bánh xe.
Tại sao ta có thể thấy như vậy? Là vì khi con mắt trí tuệ của ta bắt đầu mở ra, thì những ánh sáng quang minh ở trong tự tánh sẽ tự nhiên lưu xuất ra ngoài, phản chiếu lại tạo thành những đốm sáng và hào quang như vậy. Đến khi con mắt Huệ nhãn của ta mở ra được lớn hơn, thì quang minh ở trong tự tánh sẽ lưu xuất ra được tròn đầy và rõ ràng hơn. Nên mới tạo thành một vòng tròn hào quang có nhiều màu sắc xanh, vàng, đỏ, cam… lợt bao quanh như vậy!
Rồi qua một thời gian, ta sẽ không còn nhìn thấy những đốm và vòng hào quang đó nữa. Tại sao? Vì vòng hào quang đó đã được dung thông hợp nhất với chân tâm, mà chân tâm của ta thì bao trùm cả vũ trụ! Khi vòng hào quang đó được hợp thành một thể với chân tâm, thì từ đó mỗi khi nhắm mắt ta sẽ thấy có một bạch hào quang ở giữa tam tinh luôn xoay chuyển và sáng như đèn pha vậy!
Rồi qua một thời gian, ta nhìn đâu đâu cũng thấy có những đốm vàng kim ẩn hiện ở trước mắt. Sau đó, lại có màu xanh và màu xanh lá cây đậm ẩn hiện, rồi đến màu đỏ đậm, màu cam đậm… ẩn hiện. Sau đó, các màu này hợp lại với nhau ẩn, hiện ở trước mắt. Tóm lại, con mắt Huệ nhãn của mình bên trong đổi màu sắc gì, thì hiện ra ngoài màu sắc đó. Hiện một thời gian thì hòa nhập vào hư không, tức hợp thành một thể Diệu tâm! Rồi cứ như vậy mà những màu sắc đó hết ẩn rồi lại hiện không ngừng.
Kính thưa quý bạn! Khi có nhãn thông, mỗi khi nhắm mắt ta sẽ không còn thấy mình nhắm mắt, mà thấy như là mình đang mở mắt. Tại sao? Vì trước kia mỗi khi nhắm mắt, ta thấy tối đen như kẻ bị mù. Còn sau khi có nhãn thông, mỗi khi nhắm mắt ta sẽ thấy được quang minh của tự tánh luôn xoay chuyển. Lúc đó, ta sẽ nhìn suốt được vạn pháp từ giả tới chân. Cái thấy ở đây không có hình tướng, vì không có hình tướng nên vạn tướng đều được hiển hiện!
Còn một điểm đặt biệt là: Khi con mắt thứ ba mở ra, ta sẽ thấy cảnh vật và muôn loài ở chung quanh mình đẹp hơn trước kia. Tại sao? Vì trước kia ta chỉ nhìn cảnh vật qua hình tướng thô kệch của chúng, mà không nhìn thấy được thể tánh của chúng. Vì không nhìn thấy được thể tánh của chúng, nên ta không thấy được sự linh động và phát quang của chúng. Sau khi con mắt thứ ba mở ra, ta sẽ thấy được thể tánh linh động và phát quang của chúng. Những vật thể phát quang mà ta thấy được rõ nhất, là những vật có ánh sáng như: Đèn, mặt trời, mặt trăng... Tóm lại, những vật thể nào mà có ánh sáng, thì ta sẽ thấy quang minh của chúng rõ hơn. Còn những vật không có ánh sáng, thì ta chỉ thấy mờ. Giờ tôi xin dùng hột xoàn để làm ví dụ thì quý bạn dể hiểu hơn.
Ví dụ: Trước kia ta chỉ nhìn thấy viên hột xoàn có đủ màu sắc lấp lánh, nhưng ta không nhìn thấy viên hột xoàn phát quang. Sau khi con mắt thứ ba mở ra, ta sẽ nhìn thấy viên hột xoàn phát quang rất đẹp. Như vậy tạm gọi là thấy luôn thể tánh của viên hột xoàn.
Giờ tôi xin diễn tả về những ngọn đèn thì quý bạn dể hiểu hơn. Khi con mắt thứ ba mở ra, ta sẽ thấy mỗi một ngọn đèn dù lớn hay nhỏ, chúng đều có một vòng quang minh với đủ màu sắc bao quanh, và tủa ra rất sáng giống như là pháo bông vậy. Nói pháo bông là để cho quý bạn dể hiểu. Trên thật tế thì chúng phát quang đẹp hơn pháo bông cả ngàn lần. Tại sao? Vì pháo bông tuy nó tủa ra rất sáng và rất đẹp, nhưng chúng nhìn rất thô. Còn quang minh phát ra từ những ngọn đèn thì rất đẹp, rất lung linh và trong suốt như lưu ly. Nhưng không phải ngọn đèn nào cũng tủa ra như là pháo bông, mà có những ngọn đèn chỉ có vòng quang đủ màu bao quanh và có ánh sáng trong suốt thôi. Những ngọn đèn tỏa ra đẹp nhất, là những ngọn đèn có ánh sáng mạnh như là đèn của xe hơi, xe gắn máy… Có những cái đèn xe, ánh sáng của chúng tỏa ra chung quanh đến mấy thước và màu sắc của chúng tủa ra rất đẹp. Tóm lại, là mỗi loại đèn đều có hình dạng, màu sắc và độ sáng tủa ra khác nhau.
Có một lần tôi đi tới thành phố “New York” và thành phố “Las Vegas” của nước “Mỹ” vào ban đêm. Nơi đó có nhiều đèn đường, có nhiều cao ốc và có nhiều xe chạy qua lại. Khi tới đó, tôi cảm giác như mình đang đứng ở giữa một biển pháo bông, để nhìn chúng đang đua nhau nhảy múa. Lúc đó, tôi cũng có cảm giác như mình đang đứng ở giữa một biển vàng bạc, châu báu để nhìn chúng đang đua nhau khoe sắc lấp lánh. Tóm lại, chúng rất là đẹp và khó diễn tả được hết những vẻ đẹp của chúng. Nhưng cho dù chúng có phát quang đẹp thế nào, thì so với thế giới Cực Lạc, chúng chỉ là rác mà thôi. Nói như vậy thì quý bạn cũng đủ hiểu cõi Cực Lạc đẹp như thế nào.
Có một điều đặt biệt là: Tùy theo công phu tu hành cao thấp, mà chúng ta nhìn thấy chúng thay đổi khác nhau. Nghĩa là hôm nay, ta thấy chúng có những màu sắc và hình dạng này. Nhưng qua vài ngày hoặc vài tuần sau, ta sẽ thấy chúng có màu sắc và hình dạng khác, dù là cùng một ngọn đèn không khác. Tại sao? Là vì cảnh giới trong tâm ta luôn có sự biến đổi không ngừng. Mỗi khi tâm của ta biến đổi, thì ta sẽ thấy cảnh vật cũng biến đổi. Tóm lại, nếu công phu tu niệm của ta tiến triển chậm, thì ta sẽ thấy màu sắc của cảnh vật chuyển biến chậm. Nếu công phu của ta tiến triển nhanh, thì ta sẽ thấy màu sắc của cảnh vật chuyển biến nhanh. Nhưng những sự chuyển biến của màu sắc và hình dạng đó đều là do tâm của ta biến đổi, không phải là do cảnh vật biến đổi. Đó là nói trên sự thấy biết của con mắt chúng ta. Còn nói trên vạn vật muôn loài ở trong vũ trụ này, thì chúng lúc nào cũng có sự biến đổi không ngừng. Cũng như thân của ta lúc nào cũng có sự biến đổi không ngừng. Vì nó có sự biến đổi không ngừng, nên ta mới có sanh, già, bệnh, chết. (tôi chỉ mới thành tựu được tới đây nên chỉ chia sẻ được bấy nhiêu thôi).
2. Nhĩ thông (tai): Khi mới bắt đầu có nhĩ thông, tai của ta sẽ có những luồng khí lực uyển chuyển trong màng nhĩ, làm cho tai của ta khi thì nghe rõ, khi thì nghe không rõ. Khi thì nghe được cả hai bên, khi thì nghe được một bên. Khi thì nghe được hơi thở của mình thông ra ngoài tai như là lỗ mũi. Lúc đó, ta sẽ hiểu lầm cho là màng nhĩ của mình có vấn đề. Rồi qua một thời gian, ta sẽ nghe được tiếng nhịp đập của tim mình rõ ràng; như tiếng tíc tắc của kim đồng hồ chạy. Nhưng tiếng nhịp tim nghe thanh tịnh hơn tiếng tíc tắc của kim đồng hồ nhiều. Lúc đó, ta không biết lại tưởng lầm là tim của mình có vấn đề. Rồi qua một thời gian, ta sẽ nghe được tiếng vang bao phủ chung quanh, như là tiếng của những con ve kêu mãi không ngừng. Nhưng tiếng vang đó rất là thanh tịnh, chỉ riêng mình biết và nghe được thôi.
Đến khi được nhất tâm, thì những luồng khí lực trong tai không còn nữa, mà chỉ còn lại tiếng nhịp tim, tiếng niệm Phật và tiếng vang như con ve càng lúc càng rõ ràng và thanh tịnh hơn. Rồi qua một thời gian, tiếng nhịp tim và tánh biết của ta cũng tự nhiên dứt bặt, chỉ còn lại tánh A Mi Đà sáng suốt của ta niệm Phật và tiếng vang như ve kêu bao trùm cả vũ trụ!
Sau khi được nhất tâm, tôi mới hiểu thời gian màng nhĩ của ta bị khác thường là thời gian biến chuyển của tánh nghe. Nghĩa là thần thức của ta lúc đó đang rút về để nhập thành một thể với chân tâm, nên mới phát ra luồng khí lực làm cho tánh nghe của ta bị xáo trộn! Đến khi thần thức của ta được hợp thể với chân tâm, thì những luồng khí lực đó cũng tự nhiên biến mất. Còn tại sao ta có thể nghe được tiếng nhịp tim rõ ràng? Là vì một khi thần thức và chân tâm của ta được hợp nhất với nhau, thì tánh nghe của ta sẽ được thông suốt trong ngoài không còn chướng ngại, nên ta mới nghe được tiếng nhịp tim và tiếng niệm Phật trong ngoài rõ ràng như vậy.
Lúc mới có Nhĩ thông, ta chưa nghe được nhịp tim và hơi thở của ta niệm Phật. Nhưng qua một thời gian thì mỗi nhịp tim, mỗi hơi thở, mỗi lỗ chân lông của ta đều phát ra tiếng niệm A Mi Đà Phật! Rồi qua một thời gian, ta sẽ không còn nghe nhịp tim, hơi thở và lỗ chân lông của ta niệm Phật nữa, mà chỉ còn nghe tánh sáng suốt của ta niệm A Mi Đà Phật, bao trùm cả vũ trụ!
Khi có Nhĩ thông, mỗi khi nghe nhạc ta sẽ thấy âm thanh của chúng hay hơn trước kia rất nhiều. Tại sao? Vì lúc đó ta không còn nghe bằng tánh nghe của ta, mà nghe bằng thể tánh nghe của ta. Vì nghe bằng thể tánh, nên ta mới nghe xuyên qua được thể tánh của người hát và thể tánh của âm thanh. Tóm lại, ta sẽ nghe xuyên qua được thể tánh âm thanh của vạn vật muôn loài ở trong vũ trụ này.
Nhưng không phải âm thanh nào cũng làm cho ta cảm thấy dể chịu hoặc nghe hay hơn, mà có những âm thanh làm cho ta cảm thấy rất là khó chịu và không muốn nghe. Tóm lại, âm thanh nào thanh tịnh, thì ta sẽ cảm nhận hay hơn trước kia. Còn âm thanh nào ồn ào thì ta sẽ cảm thấy khó chịu hơn trước kia. Vì vậy những người tu hành càng cao, thì họ càng thích sống ở những nơi thanh vắng như: Non cao, núi thẳm… Họ không thích ở những nơi đô thị ồn ào, náo nhiệt. (tôi chỉ mới thành tựu được tới đây nên chia sẻ được bấy nhiêu thôi).
3. Thần túc thông: Khi có thần túc thông, thân tâm của ta lúc nào cũng được nhẹ nhàng và thanh tịnh. Trong giấc ngủ, ta thường tự nhiên nhập định xuất thần thức bay đi khắp nơi an nhiên, tự tại. Tự nhiên nghĩa là, ta không cố ý nhập định để xuất thần thức. Chỉ là thần thức của ta tới một giai đoạn nào đó, thì nó sẽ tự nhiên xuất ra trong lúc ta đang ngủ. Khi thần thức mới xuất ra lần đầu, ta sẽ bị chới với, hết hồn. Tại sao? Vì thần thức của ta xưa nay chưa bao giờ xuất ra bay đi như vậy (thần thức mà người đời thường gọi là linh hồn hay thần hồn). Khi thần thức xuất ra ta biết rõ ràng như đang thức vậy! Lúc đó, ta có thể bay được xuyên tường, xuyên núi, độn biển, độn thổ... Tóm lại, ta có thể bay xuyên qua được vạn vật muôn loài không chướng ngại. Cũng vì bay xuyên qua được vạn vật muôn loài, nên ta mới bị chới với, hết hồn! Nhưng qua vài lần xuất hồn thì ta sẽ quen đi và cảm thấy an lạc không chi sánh bằng.
Khi mới có thần túc thông, thần thức của ta chỉ bay được thấp và thời gian rất ngắn. Nhưng qua một thời gian, thì thần thức của ta sẽ bay được xa và thời gian sẽ lâu hơn. Khi mới có thần túc thông, ta sẽ không biết điều khiển sự thăng bằng, nên thường bị bay đi tán loạn và đảo lộn tứ tung. Nhưng qua một thời gian thì ta sẽ biết điều khiển sự thăng bằng. Lúc đó, ta muốn bay cao, bay thấp, muốn ngừng đều tùy ý (có giới hạn).
Rồi qua một thời gian, ta sẽ không còn thấy thần thức của mình xuất ra khỏi thân bay đi như trước nữa, mà thấy toàn thân của mình bay đi. Toàn thân bay đi nghĩa là: Trong những lúc nhập định, ta sẽ không còn thấy thần thức của mình xuất ra khỏi thân bay đi như trước kia, mà thấy mình đang đi hay đang ở một nơi nào đó, rồi tâm thức của mình tự nhiên muốn bay. Khi tâm thức của ta muốn bay, thì thân của ta sẽ tự nhiên bay bổng nhẹ nhàng theo tư tưởng! Tự: Là tự tánh của ta muốn bay. Nhiên: Là bản nhiên của ta tự nhiên biến hóa. Tóm lại, lúc đó không phải ta khởi tâm muốn bay, mà tự tánh của ta tự nhiên biến hóa, nên mới gọi là thần thông của tâm thanh tịnh! Tuy tự tánh của ta tự nhiên biến hóa, nhưng tâm thức của ta làm chủ và điều khiển (Tôi chỉ mới thành tựu tới đây nên chỉ chia sẻ được bấy nhiêu thôi).
Nếu chúng ta tu hành có đủ trí tuệ để điều khiển được Thần túc thông, thì sau khi mạng chung ta sẽ có đủ sáng suốt để bay thẳng về Tây phương Cực Lạc của Phật A Mi Đà!
4. Tha Tâm Thông: Khi có tha tâm thông, ta sẽ cảm nhận được mỗi niệm vi tế thiện, ác khởi lên trong tâm mình. Nhờ có tha tâm thông, mà ta mới cảm nhận được lòng từ bi và hoài bão của chư Phật, Bồ tát và cảm thông được nỗi đau khổ của chúng sinh mọi loài. Nhờ có tha tâm thông, mà ta mới nghe được diệu âm A Mi Đà phát ra từ tâm của chư Phật, tâm của chúng sanh và tâm của ta. Tóm lại, nhờ có tha tâm thông mà ta mới sống được với tâm của chư Phật, tâm của chúng sanh và tâm của ta. Nhờ sống được mà ta mới thấy tâm của chư Phật, tâm của chúng sanh và tâm của ta là một thể không hai!
5. Túc mạng thông:
A. Nói trên tâm: Khi chúng ta thấy được Phật tánh là thấy được vô lượng kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai của mình. Nghĩa là khi thấy được Phật tánh, thì ta sẽ thấy được vô lượng kiếp quá khứ của mình chỉ là giả không thật! Còn hiện tại, ta biết rõ mình sẽ thành Phật tương lai! Vì vậy trong Kinh Phật nói: “Một khi chúng sanh thấy được chân tâm, thì sẽ thấy được hết quá khứ, hiện tại và vị lai của mình”.
B. Nói trên thân: Khi có túc mạng thông, trong giấc ngủ hay trong lúc nhập định, ta sẽ thấy được một số kiếp trong quá khứ của ta rõ như ban ngày. Tại sao? Vì những chủng tử tốt, xấu, thiện, ác mà ta đã tạo trong vô lượng kiếp đến nay, vẫn còn tồn trữ ở trong tàng thức của ta! Nay thần thức của ta rút về chiếu soi tàng thức, thì những hình tướng chủng tử thiện, ác, tốt, xấu đó sẽ tự nhiên phản chiếu lại trong giấc mơ hoặc trong những lúc ta nhập định.
6. Lậu Tận Thông: Khi có lậu tận thông, tâm thức của ta sẽ được giải thoát, không còn đau khổ vì những thứ dục vọng của thế gian. Lúc đó, thân tâm và thế giới ta đều buông xả hết, chỉ còn một niệm vì tất cả chúng sanh. Ngoài cái niệm này ra, ở trên đời này không còn có gì để cho ta lưu luyến cả.
Kính thưa quý bạn! Chúng ta tu hành mục đích là khôi phục lại diệu tâm thanh tịnh, vì chỉ có tâm thanh tịnh của ta mới sanh ra được thân kim Phật. Vì vậy người tu Tịnh độ từ khi khởi tu cho tới khi chứng đắc, không nên khởi niệm tu luyện thần thông. Nếu ta còn khởi niệm tu luyện thần thông, thì sẽ không bao giờ được chứng đắc. Tóm lại, tu tâm thanh tịnh là hướng nội không phải hướng ngoại và sáu loại thần thông mà ta có được đó, đều là từ trong chân tâm của ta tự nhiên hiển lộ ra. Nói một cách khác cho dễ hiểu là: Sáu loại thần thông mà ta chứng được đó, vốn sẵn có ở trong diệu tâm của ta! Chẳng qua trước kia ta như kẻ si mê bỏ nhà ra đi và cam tâm chịu khổ ăn xin bần cùng khắp nơi. Nay nhờ có Phật chỉ điểm, nên ta mới biết quay về để hưởng thụ những gì mà ta có sẳn, chỉ đơn giản vậy thôi.
Phần nhắc nhở: Trên đường tu hành nếu được chứng đắc, ta không nên xem nặng mà hãy coi chúng như những phần thưởng khuyến khích, để giúp cho ta tu hành tinh tấn hơn. Nhưng ta không nên khởi tâm tham thích thần thông. Còn nói riêng về thần túc thông, tuy là trong giấc ngủ thần thức của ta thường tự nhiên xuất ra bay đi khắp nơi. Tự nhiên nghĩa là: Tùy theo công phu tu hành của ta tới một giai đoạn nào đó, thì thần thức của ta sẽ tự nhiên xuất ra, không phải tự ta nhập định để điều khiển thần thức xuất ra. Vì vậy mới gọi là thần thông của tâm thanh tịnh! Tóm lại, trong thời gian thần thức xuất ra, ta không nên khởi tâm bay đây, bay đó để tìm hiểu tứ tung, mà trong tâm chỉ tưởng nhớ đến Phật A Mi Đà! Tại sao? Vì mục đích của ta tu hành là đi về Cực Lạc để gặp Phật A Mi Đà. Nên mỗi khi thần thức được xuất ra, thì ta phải biết nắm lấy cơ hội để huấn luyện cho thần túc thông của ta. Có như vậy thì đến phút lâm chung, thần thức của ta mới có đủ trí tuệ sáng suốt, để bay thẳng về Tây phương Cực Lạc!
Tóm lại, cho dù thần thức của ta trong lúc xuất ra có bay đi dạo chơi khắp nơi cũng không sao. Điều quan trọng là trong lúc bay, ta phải luôn có trí tuệ sáng suốt để điều khiển thần thức và tưởng nhớ đến Phật A Mi Đà! Nói như vậy không có nghĩa là ta ham làm Phật mà bỏ mặc chúng sanh. Nếu ai nghĩ như vậy thì người đó không hiểu gì về ý nghĩa tu hành và độ tha cả. Tại sao? Vì muốn cứu được chúng sanh đời đời, kiếp kiếp, thì bản thân ta phải lo tu thành Phật trước. Nếu không, ta lấy cái gì để mà cứu chúng sanh đây? Muốn cứu chúng sanh thì phải dùng hành động thực tế, không phải dùng những lời nói suông. Huống chi, mỗi một niệm của ta đang tu niệm hằng ngày, đều là đang độ chúng sanh và chuyển hóa cái vũ trụ này!
Kính thưa quý bạn! Chúng ta tu hành mục đích là phải khôi phục lại chân tâm (Phật tánh) để đi làm Phật, không phải tu hành để mong có được thần thông biến hóa của A la hán. Nếu chúng ta tu hành mà mong có được thần thông biến hóa của A la hán, vậy thì tu làm gì. Tại sao? Vì thần thông biến hóa của A la hán không thể giúp cho ta thành Phật. Duy chỉ có thần thông của tâm thanh tịnh, mới giúp cho ta thành Phật được thôi!
Xưa kia Phật đã làm cái gương cho chúng ta xem. Lúc đó, Ngài đã thành Phật và có thần thông biến hóa nhiệm mầu. Vậy mà Ngài cũng không cứu được dòng họ Thích của Ngài. Cuối cùng dòng họ Thích của Ngài cũng bị vua Lưu Li giết sạch! Tại sao? Vì dòng họ Thích của Ngài đã có oan nghiệp với vua Lưu Li. Câu chuyện này cho chúng ta thấy, một khi quả báo kéo đến thì dù có chạy đường Trời cũng không thoát. Còn nói về hàng đại đệ tử của Phật thời đó, thì Ngài Mục Kiền Liên là có thần thông đệ nhất. Ngài có thể dời sông, lấp biển hoặc hóa thân đi khắp các cõi Trời. Vậy mà cuối cùng Ngài cũng bị ngoại đạo đánh đập cho tới chết! Câu chuyện này cũng cho chúng ta thấy, nghiệp báo thật là đáng sợ và thần thông biến hóa cũng không cứu được ta và chúng sanh. Duy chỉ có thần thông của tâm thanh tịnh, mới cứu được ta và chúng sanh thoát khỏi luân hồi mà thôi. Nếu là đệ tử Phật, thì ta phải biết tâm nguyện của ba đời chư Phật, chỉ mong chúng ta khôi phục lại tự tánh A Mi Đà để đi làm Phật mà thôi. Quý Ngài không có dạy chúng ta tu luyện, để có thần thông biến hóa như A la hán.
Còn ý nghĩa tự nhiên ở đây là. Tự: Là tự tánh của ta phát ra! Nhiên: Là bản nhiên của ta tự nhiên biến hóa! Tức là nói sự tu niệm của ta tới một giai đoạn nào đó, thì sẽ thấy được thần thông và trí tuệ của mình tự nhiên hiển lộ! Nếu sự thành tựu từ chân tâm hiển lộ ra thì ta không nên khởi tâm mong cầu. Vì làm như vậy, chỉ tạo thêm chướng ngại cho tâm thanh tịnh của ta mà thôi.
Kính thưa quý bạn! Vì cuộc sống bôn ba bận rộn, nên tôi không có nhiều thời gian và sức khỏe để ngồi nhập định. Vì vậy tôi chưa có dịp nhập định xuất thần thức trong lúc ngồi, mà tôi chỉ nhập định xuất thần thức trong lúc ngủ thôi. Tôi viết thêm phần này là để quý bạn không bị hiểu lầm rồi cho rằng: Chỉ có ngủ mới nhập định xuất hồn được, còn thức thì không thể nhập định xuất hồn. Tôi chỉ mới bước vào được ngưỡng cửa của lục thần thông thanh tịnh, nên khả năng chỉ chia sẻ được tới đây thôi. Mong là một chút kinh nghiệm này, có thể giúp quý bạn phần nào trên con đường tu tập và cũng xin quý bạn tin sâu vào pháp môn Tịnh độ có tu là có chứng!
Phần Thời gian thành tựu: Nói về sự thành tựu, thì mỗi giây, mỗi phút thân tâm của ta đều có sự thành tựu tương tục không gián đoạn. Chẳng qua khi công phu còn yếu thì ta không thấy rõ. Tuy không thấy rõ, nhưng ta đều cảm nhận được sự hạnh phúc và an lạc ở trong tâm ta phát triển mỗi ngày.
Giờ tôi xin chia sẻ vào thời gian thành tựu, để quý bạn tìm hiểu thêm. Khi bắt đầu có lục thần thông, cứ khoảng từ ba cho đến sáu tháng, thì ta sẽ thấy được sự tu hành của ta thăng lên một bậc. Rồi qua một thời gian, tùy theo công phu tu niệm của ta, mà thời gian thành tựu được rút lại ngắn hơn. Rút lại ngắn hơn nghĩa là: Thay vì trước kia khoảng từ ba đến sáu tháng, thì ta mới thấy được sự thành tựu của ta thăng lên một bậc. Nhưng khi tu hành càng cao, thì khoảng một hay hai tháng, thì ta sẽ thấy mình thăng lên một bậc. Mỗi lần được thăng lên một bậc, thì ta đều biết rõ ràng và sự thăng tiến đó chính là tâm ấn tâm! Tâm ấn tâm nghĩa là: Trong thời gian tu hành ta sẽ cảm nhận được tâm của ta và tâm của chư Phật; càng lúc càng được dung thông và hợp nhất với nhau! Sự dung thông và hợp nhất đó, chỉ có tâm Phật của ta tự thầm biết thôi. Vì vậy Tịnh độ được gọi là pháp môn tâm ấn tâm, dứt bặt ngôn từ đối đãi.
Kính thưa quý bạn! Tịnh độ là pháp môn “Nhân quả đồng thời”. Nên trong thời gian tu hành, ta sẽ thấy được hai mặt thành tựu. Hai mặt thành tựu đó là: Một, ta sẽ thấy thần thức của ta từ từ rút về chân tâm! Hai, ta sẽ thấy tâm diệu minh của ta được khôi phục lại từng phần! Tóm lại, trong tiến trình tu hành, ta sẽ thấy được một bên là thần thức của mình đang phá từng ấm để trở về chân tâm. Tức là phá năm ấm vô minh “sắc, thọ, tưởng, hành thức”. Còn một bên, thì ta thấy sáu loại thần thông trí tuệ của ta đang được khôi phục lại từng phần rất là vi diệu, không thể nghĩ bàn!
Giờ chúng tôi xin lấy thời gian thành tựu của Thần túc thông để phân tích, thì quý bạn dể hiểu hơn. Chỉ cần hiểu được sự chuyển biến của một loại thần thông, thì các loại thần thông khác cũng tương tợ như vậy!
Ví dụ: Hôm nay thần thức của ta tự nhiên xuất ra bay đi khắp nơi, rồi ngưng không xuất ra nữa. Qua vài tháng sau, thần thức của ta lại xuất ra vài lần rồi lại ngưng. Rồi cứ như vậy tùy theo công phu tu niệm của ta, mà thần thức được xuất ra nhiều hay ít. Mỗi lần thần thức được xuất ra như vậy, thì ta lại có thêm thần lực và trí tuệ để điều khiển thần túc thông của ta. Thật ra mỗi giây, mỗi phút thân tâm của ta đều có sự thành tựu tương tục, chẳng qua ta không để ý nên không thấy đó thôi. Cũng như cây cam khi được nở hoa kết trái thì ta mới thấy, nhưng trên thật tế thì quả cam đó đã được thành tựu tương tục từ khi ta gieo hạt cam xuống đất.
Chúng tôi viết thêm phần thời gian thành tựu, là để giải tỏa những thắc mắc hiểu lầm trong tâm của quý bạn. Vì xưa nay có nhiều bạn thành tựu được một cảnh giới tốt. Rồi sau đó vài tháng không thấy được chuyển biến gì, nên sanh tâm lo lắng hoặc nghĩ rằng: “Vì mình chia sẻ sự thành tựu đó cho bạn đồng tu nghe, nên chư Phật không còn gia hộ...”. Thật ra không phải vậy, xin quý bạn chớ hiểu lầm về chư Phật. Quý bạn nên biết rằng: Làm bất cứ việc gì cũng cần phải có thời gian un đúc. Điều quan trọng là bạn phải luôn luôn cố gắng tu niệm ngày đêm, còn sự thành tựu nó sẽ tự nhiên đến, dù cho bạn có mong cầu hay ngăn cản cũng không được. Nếu bạn vẫn còn khởi tâm mong cầu thì sẽ là chướng ngại lớn đấy. Xin quý bạn ghi nhớ hai câu Phật dạy: “Buông xả tất cả là có tất cả! Phật hay phàm chỉ cách nhau một niệm chấp trước mà thôi”!
Hiểu Lầm Lục Thần Thông
Giữa Thiền và Tịnh
Kính thưa quý bạn! Đa số chúng ta vẫn còn hiểu lầm về lục thần thông biến hóa của A la hán bên Thiền tông và lục thần thông thanh tịnh của người tu Tịnh độ (lục là sáu). Vì hiểu lầm nên chúng ta cho rằng: Người tu Tịnh độ khi được sự hay lý nhất tâm, thì phải có thần thông biến hóa như A la hán. Cũng vì sự hiểu lầm này, mà chúng ta tạo ra không biết bao nhiêu là tội khẩu nghiệp.
Ở đây chúng tôi xin phân tích tóm gọn từng phần để quý bạn dễ hiểu. Nếu nói về thần thông thì là đa dạng. Nhưng chung quy chỉ có sáu loại thần thông làm căn bản đó là: Nhãn thông, Nhĩ thông, Tha tâm thông, Thần túc thông, Túc mạng thông và Lậu tận thông. Sáu loại thần thông căn bản này, còn có ba bậc cao thấp khác nhau đó là: Lục thần thông của “Tiểu thừa A la hán”. Lục thần thông của “Đại thừa Bồ tát” và lục thần thông của “Như Lai” (Phật).
I. Thần thông của A la hán (Tiểu thừa): A la hán có sáu loại thần thông. Năm loại nhờ tu thiền định mà có được đó là: Nhãn thông, Nhĩ thông, Tha tâm thông, Thần túc thông và Túc mạng thông. Còn một loại nhờ tu tâm thanh tịnh mà có được đó là: Lậu tận thông. Trong sáu loại thần thông của A la hán thì “Lậu tận thông” là cao nhất, vì nó thuộc về trí tuệ! Nhờ có trí tuệ mà A la hán đoạn được luân hồi sanh tử. Còn năm loại thần thông biến hóa chỉ là hữu lậu (hữu là có, lậu là vọng. Tức chưa thanh tịnh).
Vì vậy năm loại thần thông biến hóa của A la hán, tà ma và ngoại đạo cũng có thể tu luyện được. A la hán chỉ hơn tà ma, ngoại đạo có một loại “Lậu tận thông” trí tuệ mà thôi. Tại sao? Vì A la hán là đệ tử của Phật nên mới biết tu trí tuệ Bát nhã! Còn tà ma, ngoại đạo thì không biết tu trí tuệ Bát nhã. Vì vậy cho dù họ có luyện được năm loại thần thông biến hóa như A la hán, thì họ vẫn bị luân hồi sanh tử. Tại sao? Vì họ không có trí tuệ sáng suốt để nhìn thấu vạn pháp. Vì không nhìn thấu được vạn pháp, nên tâm của họ vẫn còn tham đắm dục trần, còn tham đắm dục trần thì còn luân hồi sanh tử.
II. Thần thông của bậc Bồ tát: Sáu loại thần thông của bậc Bồ tát là thuộc về trí tuệ thanh tịnh, nên không có thần thông biến hóa như A la hán. Người tu Tịnh độ thì không có, nhưng người tu Thiền thì có, nếu quý Ngài muốn tu luyện. Tại sao? Vì người tu Thiền chứng từng bậc từ thấp đến cao. Nếu quý Ngài đã chứng được tới lục thần thông thanh tịnh của Bồ tát, thì dĩ nhiên quý Ngài có đủ khả năng để luyện năm loại thần thông biến hóa của A la hán.
Còn người tu Tịnh độ không đi từng bước từ thấp lên cao, mà trực chỉ khôi phục Diệu tâm thanh tịnh! Nếu là trực chỉ khôi phục Diệu tâm thanh tịnh, thì làm gì có chuyện khởi niệm tu luyện thần thông biến hóa. Nếu còn khởi niệm tu luyện thần thông biến hóa, thì làm gì có chuyện chứng được lục thần thông của tâm thanh tịnh (tức tam muội).
Nói như vậy không có nghĩa là người tu Tịnh độ không có thần thông biến hóa. Dĩ nhiên là có! Nhưng chúng ta phải đợi đến khi vãng sanh về cõi Cực Lạc, thì mới có sáu loại thiên thần thông biến hóa thanh tịnh. Thiên: Tức là vô lượng thiên biến vạn hóa. Lúc đó, sáu loại thiên thần thông mà ta có được, đều là từ Diệu tâm thanh tịnh biến hoá ra, không phải từ vọng tánh biến hóa ra.
Còn bây giờ chúng ta vẫn ở trong thế giới Ta bà này tu hành, cho dù có chứng được tới lý nhất tâm tam muội hay là cao hơn đi nữa, thì ta cũng chỉ có sáu loại thần thông của tâm thanh tịnh mà thôi, chớ không có thần thông biến hóa như A la hán. Cho dù có, ta cũng chẳng cần dùng tới, vì chỉ làm chướng ngại cho thân tâm thanh tịnh của ta mà thôi. Tại sao? Vì tâm thanh tịnh là tâm vắng lặng không phân biệt, lúc nào cũng sáng suốt như như bất động! Nếu là như như bất động, thì làm gì có chuyện khởi vọng niệm thi triển thần thông hay tìm hiểu tứ tung.
Nếu còn động tâm tìm hiểu tứ tung, thì làm gì có chuyện chứng được lý nhất tâm tam muội? Nói như vậy không có nghĩa là khi ta thành Phật, có được năm loại thiên thần thông biến hóa, thì sẽ làm cho thân tâm của ta bị động. Thật ra không phải vậy, mà khi thành Phật ta chỉ cần khởi tâm thì muốn biến hóa gì cũng được, không cần phải dùng sức để thi triển thần thông. (Ý nghĩa như như không phải là thành gỗ đá, mà là ta không còn khởi tâm tham, sân, si).
III. Thần thông của Như Lai: Sáu loại Thiên thần thông của chư Phật thì cao siêu bất khả tư nghì, phàm tình như ta không thể nghĩ đến hay bàn luận được. Nhưng nhờ có Kinh Phật mà chúng ta mới hiểu được vài phần căn bản đó là: Tất cả chư Phật đều có 3 thân, 4 trí, 6 loại Thiên thần thông, 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Thiên thần thông nghĩa là: Trong mỗi loại thần thông của Phật còn có vô lượng thần thông! Trong mỗi trí còn có vô lượng trí! Trong mỗi thân còn có vô lượng thân! Trong mỗi tướng còn có vô lượng tướng! Trong mỗi vẻ đẹp còn có vô lượng vẻ đẹp! Trong mỗi hào quang còn có vô lượng hào quang…!
Giờ chúng ta tìm hiểu vào lục thần thông biến hóa của A la hán bên Thiền tông (chỉ bàn Tiểu thừa) và lục thần thông thanh tịnh của người tu Tịnh độ khác nhau ở chỗ nào, để ta không còn lẫn lộn.
     Lục thần thông của Tiểu thừa A la hán (Thiền):
1. Nhãn thông: Họ có thể nhập định để nhìn thấy vạn vật xuyên tường dù cách họ rất xa (có giới hạn không được như Phật và Bồ tát).
2. Nhĩ thông: Họ có thể nhập định để nghe tiếng nói, tiếng động xuyên tường dù cách họ rất xa (có giới hạn).
3. Tha tâm thông: Họ có thể nhập định để biết rõ từng niệm trong tâm của người khác dù cách họ rất xa (có giới hạn).
4. Thần túc thông: Họ có thể nhập định để hóa thân hay đi xuyên tường, xuyên núi (có giới hạn).
5. Túc mạng thông: Họ có thể nhập định để thấy được 500 kiếp quá khứ, 500 kiếp tương lai của họ và của chúng sanh (chỉ nói con số căn bản, vì có người thấy được ít hơn hoặc nhiều hơn).
6. Lậu Tận thông: Họ có trí tuệ sáng suốt thấy được chân tướng của vạn pháp sanh diệt. Nghĩa là họ thấy được vạn vật hữu tình và vô tình ở trên thế gian này là giả không thật. Nhờ thấy mà họ đoạn được luân hồi sanh tử! Nhưng cho dù họ có tu hành được tới đây, thì cũng chưa có đủ trí tuệ để thấy được chân tướng của vạn pháp không sanh, không diệt (tức là chưa thấy được chân tướng của Diệu pháp). Vì vậy A la hán chỉ mới giác ngộ có 50%. Tức là họ chỉ mới đi được có nữa đoạn đường thôi.
Lục thần thông của lý nhất tâm tam muội (Tịnh):
1. Nhãn thông: Tất cả chúng ta ai cũng có con mắt trí tuệ thứ ba ở giữa hai chân mày, gọi là tam tinh (tức là huệ nhãn). Con mắt Huệ nhãn này mới là con mắt thật của ta. Còn hai con mắt mà ta đang thấy hằng ngày là giả, nên gọi là Nhục nhãn (Nhục là thịt, nhãn là mắt). Vì nó là giả nên ta không biết phân biệt đâu là chân giả, thiện ác. Sau khi được nhất tâm, Huệ nhãn của ta sẽ được mở ra từ từ. Trong Huệ nhãn này còn có ba con mắt trí tuệ khác gọi là: Thiên nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn. Chúng ta có tất cả là năm con mắt. Bốn con mắt “Trí tuệ” và một con mắt “Nhục nhãn”.
Khi con mắt “Huệ nhãn” được mở ra, thì con mắt “Nhục nhãn” của ta cũng trở thành con mắt “Trí tuệ”. Tại sao? Vì cái thấy của ta sau khi được nhất tâm là cái thấy của trí tuệ giác ngộ, không còn là cái thấy si mê, điên đảo của phàm phu, nên gọi chung là Ngũ nhãn (Ngũ tức là năm, Nhãn tức là mắt, Huệ tức là trí tuệ). Nhưng không phải Huệ nhãn vừa được mở ra, thì ta có được ngũ nhãn liền đâu, mà ta cần phải tu tiếp tục để khai mở chúng từ từ. Còn vấn đề mở được nhanh hay chậm, thì phải tùy vào công phu tu tập của mỗi người.
Khi Huệ nhãn được mở ra, thì ta sẽ thấy được chân tướng của vạn pháp từ vọng tới chân; từ “Thế giới duyên sanh” cho tới “Nhất chân pháp giới”. Cái thấy ở đây không có hình tướng, vì không có hình tướng nên vạn tướng đều được hiển hiện! Lúc đó, nhìn vào Kinh Phật ta sẽ hiểu được thông suốt không chướng ngại. Vì những gì Phật thuyết trong 49 năm đều có sẵn trong Diệu tâm thanh tịnh của ta!
2. Nhĩ thông: Tất cả chúng ta ai cũng có “Nhĩ thông”. Tức là tánh nghe của “chân tâm diệu tánh”, còn hai cái tai mà ta đang nghe hằng ngày là giả, nên nó chỉ biết hướng ngoại không biết hướng nội. Vì không biết hướng nội, nên ta không nghe được tiếng huyền diệu A Mi Đà ở trong tự tánh.
Sau khi được nhất tâm, ta sẽ nghe được tiếng huyền diệu A Mi Đà từ trong Diệu tâm của ta lưu xuất ra ngoài và hợp thành một thể với Diệu tâm của mười phương chư Phật và tâm của chúng sanh. Nhờ tâm-tâm hợp thành một thể, mà ta mới nghe được cả Trời niệm Phật! Không những là nghe được cả Trời niệm Phật, mà ta còn nghe được vạn vật hữu tình và vô tình, ở trong vũ trụ này đều phát ra tiếng niệm A Mi Đà Phật! Tại sao? Vì tất cả loài hữu tình đều có Phật tánh và vạn vật vô tình đều có tánh, nên ta mới nghe được thể tánh của chúng niệm Phật. Nhưng không phải là chúng niệm Phật, mà vì thể tánh của ta bao trùm luôn cả chúng, nên ta mới nghe được chúng niệm Phật.
3. Tha Tâm thông: Tất cả chúng ta ai cũng có tha tâm thông. Nghĩa là chúng ta ai cũng có cái tâm thanh tịnh, từ bi, sáng suốt để hiểu được tâm mình, tâm của chư Phật và tâm của chúng sanh! Chẳng qua vì ta si mê, điên đảo nên không còn đủ trí tuệ sáng suốt để hiểu được tâm mình, tâm của chư Phật và tâm của chúng sanh.
Sau khi được nhất tâm ta sẽ hiểu suốt được mỗi niệm khởi lên trong tâm mình, hiểu suốt được tâm niệm từ bi của chư Phật, Bồ tát và hiểu suốt được tâm niệm si mê của chúng sanh. Lúc đó, ta sẽ biết thương mình, thương chư Phật, Bồ tát và thương chúng sanh vô bờ bến. Thương đến mức độ; mỗi niệm vui khổ của chúng sanh đều là mỗi niệm vui khổ của mình. Mỗi niệm từ bi độ tha của chư Phật, Bồ tát đều là mỗi niệm từ bi độ tha của mình. Lúc đó, ta sẽ cảm nhận được tâm của chư Phật, tâm của chúng sanh và tâm của mình là đồng một thể không hai!
4. Thần Túc Thông: Chúng ta ai cũng có “Thần túc thông”. Nhờ có Thần túc thông mà ta mới bay được đến thế giới này và đến thế giới kia. Hết mang thân giả này và mang thân giả kia. Tuy chúng ta ai cũng có Thần túc thông, nhưng không có đủ trí tuệ để điều khiển Thần túc thông của mình. Ngược lại, ta còn để nó bay đi tán loạn và đày đọa mình bị đau khổ trong sáu ngã luân hồi, không thể thoát ra.
Sau khi được nhất tâm, ta sẽ có đủ trí tuệ sáng suốt để điều khiển Thần túc thông của mình. Chúng ta sẽ không để cho nó si mê chạy theo vọng tưởng, mà đem nó trở về hòa nhập thành một thể với chân tâm! Một khi điều khiển được Thần túc thông, thì ta sẽ không còn để nó bay vào lục đạo luân hồi sanh tử nữa, mà điều khiển nó bay thẳng về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà!
5. Túc Mạng Thông: Chúng ta vốn không có kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai. Chỉ vì si mê, điên đảo mà ta đã tạo ra sáu ngã luân hồi, rồi phân chia ra có quá khứ, hiện tại và vị lai. Nói như vậy không có nghĩa là ta không có sự tồn tại. Dĩ nhiên là tâm thức của ta luôn tồn tại vĩnh cửu và sự tồn tại vĩnh cửu đó gọi là sự sống “hiện tiền”. Hiện tiền nghĩa là không có khoảng cách của không gian và thời gian. Vì nó không có khoảng cách của không gian và thời gian, nên chúng ta không có quá khứ, hiện tại và vị lai. Tóm lại, chúng ta vốn chỉ có cuộc sống “hiện tiền” mà thôi.
Sau khi được nhất tâm, ta sẽ thấy tâm của mình vốn không đến, cũng không đi, lúc nào cũng hiện diện ở khắp mọi nơi, như như bất động! Nếu tâm của ta lúc nào cũng như như bất động thì làm gì có kiếp quá khứ, hiện tại hay là vị lai? Tất cả quá khứ, hiện tại và vị lai đều là do tâm vọng tưởng của ta tạo tác và phân biệt mà có! Sau khi giác ngộ ta sẽ chuyển được tâm vọng thành tâm chân, thì quá khứ, hiện tại và vị lai của ta làm gì còn tồn tại. Nếu quá khứ, hiện tại và vị lai không còn tồn tại, thì ta cần gì phải động tâm để tìm hiểu về quá khứ, hiện tại và vị lai của mình.
Cũng như trong giấc mơ, ta thấy những cảnh vật… đang xảy ra là thật, nên ta mới có sự đau khổ, buồn vui và sợ hãi. Nhưng sau khi thức giấc, ta biết đó chỉ là giấc mơ. Khi biết đó chỉ là giấc mơ, thì ta đâu còn tìm hiểu về quá khứ, hiện tại và vị lai của giấc mơ đó để làm gì, có phải vậy không? Vì vậy mà người tu Tịnh độ không khởi tâm tu luyện thần thông biến hóa để tìm hiểu tứ tung.
6. Lậu Tận Thông: Chúng ta vốn không có vô minh và luân hồi sinh tử. Chỉ vì si mê mà ta đã tạo ra cái vòng vô minh của sáu ngã luân hồi. Sau khi được nhất tâm, ta sẽ khai mở được trí tuệ “Bát nhã” và nhìn suốt được chân tướng của vạn pháp từ giả tới chân; từ “Thế giới duyên sanh” cho tới “Nhất chân pháp giới” (tâm thấy không phải mắt thấy). Nhờ thấy được chân tướng của vạn pháp mà ta đoạn được sanh tử luân hồi.
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích ở trên cho chúng ta thấy sáu loại thần thông của “A la hán”, chỉ có một loại “Lậu tận thông” là hướng nội, còn năm loại thần thông biến hóa là hướng ngoại (ngoại nghĩa là ngoài). Còn sáu loại thần thông của người tu “Tịnh độ” đều là hướng nội, đều là trở về diệu tâm thanh tịnh của ta (nội tức là trong). Chúng ta tu hành mục đích là phải khôi phục lại tâm thanh tịnh của mình, không phải tu để mong có thần thông biến hóa của A la hán.
Phật nói chứng đắc là để cho chúng ta dễ hiểu. Trên thực tế thì ta không có chứng đắc gì cả (chứng đắc tức là có được). Tại sao? Vì những gì ta chứng được đó, vốn sẵn có ở trong “Diệu tâm” của ta, không phải từ ngoài đưa đến. Chẳng qua trước kia ta không biết quay về để hưởng thụ đó thôi. Cũng như ta có một kho vàng được chôn ở trong nhà mà không hề hay biết. Nay nhờ có chư Phật đến chỉ điểm, nên ta mới biết và đào lên để hưởng thụ, chỉ đơn giản vậy thôi.
Giờ tôi xin giải thích tóm gọn về sáu loại thần thông biến hóa của Tiểu thừa A la hán, và sáu loại thần thông thanh tịnh của người tu Tịnh độ khác nhau ở chỗ nào, để quý bạn không còn lẫn lộn. Còn lý do tại sao chúng ta xưa nay hiểu lầm về người tu Tịnh độ khi được nhất tâm tam muội, sẽ có thần thông biến hóa như A la hán. Chúng ta hiểu lầm là vì không hiểu được ý của chư Phật, chư Tổ và không hiểu được chân tướng của pháp môn Tịnh độ.
Kính thưa quý bạn! Tịnh độ là pháp môn: “Nhân quả đồng thời”. Nghĩa là mỗi niệm của ta đang niệm đều là đang gieo nhân và gặt quả. Nên sự thành tựu không có khoảng cách của không gian và thời gian (nói trên lý). Vì không có khoảng cách của không gian và thời gian, nên không thể phân chia bậc thứ. Vì không thể phân chia bậc thứ, nên chư Tổ miễn cưỡng chia ra làm hai bậc “sự” và “lý” nhất tâm để làm phương tiện giúp cho Phật tử dễ hiểu. Trên thật tế, thì pháp môn Tịnh độ chỉ có một bậc lý, sự dung thông mà thôi!
Tuy pháp môn Tịnh độ miễn cưỡng chia ra làm hai bậc sự và lý nhất tâm, nhưng cũng khó giải thích cho Phật tử hiểu. Vì vậy mà chư Tổ phải tạm dùng bậc thứ chứng đắc của Thiền tông, để làm phương tiện giúp cho Phật tử tu Tịnh độ, hiểu được phần nào sự thành tựu trên tâm thanh tịnh của mình! Quý Ngài hoàn toàn không đề cập gì đến sự thành tựu thần thông biến hóa của A la hán. Chẳng qua ta không có đủ trí tuệ để hiểu pháp môn Tịnh độ và không hiểu được ý của chư Tổ, nên mới sanh ra hiểu lầm.
Tịnh độ là pháp môn “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Tức là nói ta phải trở về với sáu căn thanh tịnh; trở về với tâm từ bi bình đẳng; trở về với tri giác Phật tánh! Vì chỉ có tâm Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác của ta mới có thể thành Phật! Còn thần thông biến hóa của A la hán, không giúp được gì cho tâm thanh tịnh của ta. Nếu quý bạn nghĩ rằng: Người tu hành phải có thần thông biến hóa như A la hán, thì mới là người chứng đắc thật sự. Nếu vậy, thì tại sao A la hán, Trời, Thần, Ma vương và ngoại đạo, họ cũng có năm loại thần thông biến hóa rất cao mà không thể thành Phật? Điều này chúng ta phải cần tham cứu Kinh Phật kỹ lại, không nên dùng sự hiểu biết nông cạn của mình, để đi phỉ báng chư Phật, chư Tổ và hại chúng sanh phải bị hoang mang thì không tốt.
Kính thưa quý bạn! Đạo Phật là đạo dạy chúng sanh tu hành, để trở về với chân tâm “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Đạo Phật không có dạy chúng sanh tham đắm tu luyện thần thông biến hóa. Chư Phật và Bồ tát từ xưa đến nay, chỉ dùng trí tuệ thanh tịnh của mình để khai mở tri kiến Phật cho chúng sanh. Quý Ngài hoàn toàn không dùng đến thần thông biến hóa để dẫn dắt chúng sanh. Thậm chí, dù có người đến giết, quý Ngài cũng không dùng thần thông để lẫn trốn hay đối phó. Chỉ trừ những trường hợp đặc biệt, vì muốn cứu độ chúng sanh, nên quý Ngài mới thi triển một chút thần thông. Ý nghĩa thần thông ở trong nhà Phật là: Thần là thần lực từ chân tâm của ta phát ra! Thông là nhờ có thần lực từ chân tâm phát ra, mà trí tuệ của ta được thông! Đây mới là thần thông chân thật của đạo Phật!
Kính thưa quý bạn! Tịnh độ là pháp môn trực chỉ khôi phục diệu tâm thành Phật diệu giác. Vì vậy người tu Tịnh độ xưa nay khi được nhất tâm tam muội, không cần phải đi tìm thầy để ấn chứng cho mình. Tại sao? Vì ngoài ta ra không ai có thể ấn chứng cho ta (chỉ trừ Phật). Cũng như ta ăn no tới đâu tự ta biết rõ tới đó, còn người khác không phải là ta, thì không thể nào biết được ta đã ăn no tới đâu. Tóm lại, ta tu chứng tới đâu tự ta hiểu rõ tới đó, hiểu 100% không sai chạy, không lầm lẫn! Đọc đến đây tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng: “Làm sao chúng ta có thể biết chắc là mình không bị lầm lẫn”. Là vì khi được nhất tâm tam muội, ta sẽ thấy được Phật tâm của mình dung thông với Phật tâm của mười phương chư Phật; tâm-tâm hợp nhất, tâm-tâm hộ niệm và tâm-tâm tổng trì. Tóm lại, tâm ấn tâm dứt bặt ngôn từ đối đãi! Cũng như ta uống nước nóng hay lạnh tự ta hiểu rõ, không thể nào giải thích cho người khác hiểu được về độ nóng, lạnh mà ta đang cảm thọ.
Tuy pháp môn Tịnh độ cao siêu không thể nghĩ bàn, nhưng nếu ta không dùng phương tiện để tìm hiểu, thì lại càng không hiểu rõ. Giờ chúng ta dùng một phương tiện đơn giản nhất để thử nghiệm, thì sẽ hiểu được phần nào chân tướng. Chúng ta thử đi tìm một căn “chung cư” có nhiều tầng. Rồi sau đó, ta dùng cầu thang đi bộ để đi từ tầng một lên tới tầng cao nhất. Trong lúc đi ta đếm thử xem, từ tầng một lên tới tầng cao nhất có bao nhiêu nấc thang và mất bao nhiêu thời gian công sức? Sau đó, ta dùng cầu thang máy và cũng đi từ tầng một lên tới tầng cao nhất. Trong lúc đi ta cũng đếm thử xem từ tầng một lên tới tầng cao nhất, có bao nhiêu bậc và mất bao nhiêu thời gian công sức? Sau khi thử xong hai cầu thang bộ và máy, thì ta sẽ thể hội được phần nào khác biệt giữa hai pháp môn Tịnh Thiền.
Lúc đó, chúng ta sẽ hiểu được tại sao pháp môn Thiền tông có thể phân chia bậc thứ, còn pháp môn Tịnh độ thì không thể phân chia bậc thứ. Chúng ta sẽ hiểu được tại sao các pháp môn khác phải cần tu đến ba đại A Tăng kỳ kiếp, còn pháp môn Tịnh độ có thể vãng sanh ngay trong một đời! Tuy cách thử nghiệm này rất là đơn giản, nhưng có hiệu quả vô cùng. Nếu bạn không tin thì cứ thử đi, chỉ có lợi chớ không có hại. Chúc quý bạn tìm được câu trả lời thỏa đáng. (Pháp môn Tịnh độ thì ví như cầu thang máy. Còn pháp môn Thiền thì ví như cầu thang đi bộ)
Kính thưa quý bạn! Nói về sự tu hành, thì mỗi người đều có sự thành tựu cao thấp khác nhau, tuỳ theo ta đang tu Tiểu thừa, Đại thừa hay Như Lai thừa. Còn nói về pháp môn thì có đường dài và đường tắt. Có pháp môn phải cần tu đến ba đại A Tăng kỳ kiếp, có pháp môn thì chỉ cần tu một đời là được vãng sanh. Điều quan trọng là ta có đủ trí tuệ sáng suốt, để lựa chọn cho mình một con đường thẳng tắt, dể tu và dễ thành Phật hay không.
Nếu quý bạn vẫn còn cố chấp không chịu đi đường tắt, mà muốn đi đường dài, thì tự làm khổ mình thôi. Xin quý bạn hãy suy nghĩ cho chín chắn, đừng để mất thân này rồi hối tiếc sẽ không còn kịp nữa. Tại sao? Vì có mấy ai trên đời này dám bảo đảm rằng: Mình ngủ mà nắm tay được từ tối cho tới sáng”. Có mấy ai dám bảo đảm rằng: “Kiếp sau mình không bị thoái đạo”. Một đêm, một kiếp chúng ta còn chưa dám bảo đảm, thì nói chi đến ba đại A Tăng kỳ kiếp (tức là vô lượng kiếp)!
Thần Thông
Thần thông thanh tịnh mới cao
Thần thông A la hán làm sao sánh bằng
Thần thông thanh tịnh nhiệm mầu
Thần thông A la hán thêm sầu ích chi
Thần thông thanh tịnh từ bi
Thần thông A la hán thêm nghi ích gì.
( Nói thần thông biến hóa của A la hán, không phải nói trí tuệ của A la hán)
Phục Hồi Thân Tướng
Ở đây tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm, mà tôi đã phục hồi được thân tướng như thế nào để quý bạn tìm hiểu thêm.Vì đây là những bằng chứng nhiệm mầu sẵn có ở trong tâm ta. Giờ tôi xin chia sẻ từng phần để quý bạn dễ hiểu.
Phần I: Chuyển đổi thân thể: Nếu chúng ta niệm Phật có công phu, thì mỗi khi tắm rửa ta sẽ thấy thân của mình có nhiều đất hơn trước kia. ( đất bẩn và da chết bám trên người). Lúc đầu, ta sẽ không hiểu và nghĩ rằng:Vì thời tiết thay đổi hay là vì mình ở dơ...”. Rồi ngày qua ngày, ta sẽ thắc mắc và tự hỏi:Tại sao thời tiết, cách sống và vệ sinh của mình lâu nay không thay đổi. Nhưng tại sao thân của mình mỗi ngày lại có thêm nhiều đất...”. Tóm lại, lúc đó quý bạn sẽ thắc mắc, nhưng lại không hiểu lý do tại sao.
Lúc đầu tôi cũng có nhiều thắc mắc và tự hỏi mình như vậy. Nhưng qua một thời gian tìm hiểu, thì tôi mới biết lý do tại sao. Là vì mỗi niệm mà ta đang tu niệm hằng ngày, đều là trực chỉ thâu nhiếp được Phật quang của mười phương chư Phật. Nhờ thâu nhiếp được Phật quang của chư Phật, mà ta mới chuyển hóa được những tế bào dơ bẩn ở trong thân ta. Khi những tế bào dơ bẩn được tống ra ngoài thì chúng trở thành những tế bào chết bám trên thân của ta. Vì vậy mà mỗi khi tắm rửa, ta mới thấy nhiều đất bám trên thân của mình. Nếu ta tu hành càng cao, thì sẽ thấy trên người của mình càng có nhiều da chết. Da chết mà người đời thường gọi là đất, ghét, hòm, bợn… Tóm lại, nếu bạn tu hành mà thấy trên người của mình có những dấu hiệu này thì nên vui. Vì bạn tu hành đã có công phu rồi đấy.
Rồi qua một thời gian, nếu chúng ta tu hành được cao hơn, thì mỗi khi tắm rửa ta sẽ không còn thấy trên người của mình có nhiều đất nữa, mà nó sẽ trở lại bình thường. Tại sao? Vì những tế bào dơ bẩn ở trong thân ta đã được tống ra gần hết rồi. Nói như vậy không có nghĩa là ta không còn có tế bào chết thay đổi mỗi ngày. Dĩ nhiên là vẫn còn, nhưng chúng thay đổi lại bình thường như trước kia. Lúc đó, ta sẽ thấy da của mình mỗi ngày càng thêm tươi trẻ, hồng hào, mịn màng và trong sáng. Thậm chí, những vết nhăn, tàn nhang, nám… đang có ở trên người của ta cũng được giảm bớt đi rất nhiều, hoặc có khi chúng còn biến mất hồi nào mà mình cũng không hay. Thêm vào, nếu thân của ta có bị thương hay bị giải phẩu, thì những vết thương sẽ mau được lành và những vết sẹo sẽ được mờ nhanh hơn.
Phần II: Chuyển đổi của mắt: Chúng ta sẽ thấy hai con mắt của mình mỗi ngày chuyển đổi từ mờ tới sáng, từ đục tới trong. Chuyển đổi từ mờ tới sáng ở đây, không phải là nói mắt của ta đang bị cận chuyển thành hết cận, hay là đang bị mù chuyển thành hết mù. Thật ra không phải vậy, mà ý nghĩa chuyển mờ tới sáng ở đây là:
1. Nếu ta chưa bị cận thì sẽ lâu bị cận hơn.
2. Nếu ta đang bị cận thì độ cận sẽ tăng chậm hơn bình thường.
3. Tròng mắt đen của ta mỗi ngày sẽ được lonh lanh, trong sáng và có thần lực hơn.
4. Tròng trắng của ta sẽ giữ được trong trẻo, không bị đục hay đóng cườm khi mình lớn tuổi.
5. Nếu ta tu hành cao hơn, thì sẽ có thêm một tròng trắng nữa (Tức là mình sẽ có hai tròng trắng). Khi có được hai tròng trắng, thì trí tuệ của ta sẽ tăng lên rất cao. Lúc đó, nhìn vào mọi sự việc ta sẽ biết phân biệt thiện ác, đúng sai rất là rõ ràng.
Nói như vậy không có nghĩa là người nào có hai tròng trắng thì mới có trí tuệ cao. Còn người không có hai tròng trắng thì trí tuệ không cao. Thật ra không phải vậy, mà tất cả chúng ta ai tu niệm Phật, thì đều khai mở được trí tuệ sáng suốt. Chỉ có điều là tùy vào công phu tu hành của mỗi người, mà khai mở được nhiều hay ít. Tóm lại, nếu ta tu niệm Phật có công phu, thì sẽ giữ được hai con mắt của mình trong sáng lâu hơn. Không những là trong sáng lâu hơn, mà chúng còn được long lanh và có thần lực hơn! Vì vậy xưa nay chúng ta thường thấy những vị cao Tăng hay là cao Ni, dù tuổi của họ đã cao 80-90. Nhưng ánh mắt của họ vẫn còn linh hoặt, trong sáng và có thần lực. Đây cũng là một trong 32 tướng tốt của chư Phật và cũng là 32 tướng tốt sẳn có của ta. Nếu chúng ta chịu niệm Phật, thì sẽ khôi phục được từng phần tướng mắt Phật ngay trong hiện đời.
Phần III: Chuyển đổi âm thanh: Chúng ta sẽ thấy âm thanh của mình mỗi ngày được chuyển đổi khác hơn như là:
1. Lúc đó, chúng ta vẫn nói chuyện bình thường như trước kia không khác. Nhưng âm thanh của ta nghe lớn, mạnh mẻ và vang xa hơn trước kia, mà chính mình cũng không hay. Đến khi có người chung quanh than phiền thì ta để ý mới biết. Nếu chúng ta có tập khí nói chuyện lớn tiếng, thì phải biết kềm chế âm thanh của mình lại, không nên làm phiền đến những người chung quanh. Còn nếu ta là người có tánh nhút nhát và nói chuyện nghe không rõ. Khi âm thanh được chuyển đổi, thì ta nói chuyện sẽ được tự tin, rành mạch và không còn nhút nhát như trước kia.
2. Lúc đó, ta sẽ thấy âm thanh của mình mỗi ngày thêm trong trẻo, vang xa như là tiếng chuông ngân và có thần lực. Nếu bạn là Ca sĩ hay mơ ước trở thành Ca sĩ, thì nên niệm Phật càng nhiều càng tốt. Tại sao? Vì khi niệm Phật bạn sẽ khôi phục được “Phật âm” sẵn có của mình. Đây cũng là một trong 32 tướng tốt của chư Phật và cũng là 32 tướng tốt sẵn có của ta.
Xưa kia lúc Phật còn tại thế, mỗi khi Ngài thuyết pháp thường có 1250 đệ tử xuất gia và có rất đông đại chúng tại gia đến để nghe Phật thuyết pháp. Vào thời đó, ở Ấn Độ chưa có microphone như bây giờ. Nhưng mỗi lời của Phật thuyết ra, thì mọi người ở trong pháp hội đều nghe được rõ ràng. Tại sao? Vì lúc đó Phật dùng Phật âm của Ngài để thuyết pháp, nên âm thanh của Ngài nghe hùng hồn và vang xa bao phủ khắp cả vùng. Đây gọi là “Phật âm” lưu xuất từ chân tâm. Nếu chúng ta chịu niệm Phật một thời gian, thì sẽ thấy được Phật âm của mình khôi phục từng phần rất là rõ ràng. Đây là vạn lần chân thật!
Phần IV: Chuyển đổi máu huyết: Nói về chuyển đổi máu huyết ở trong thân thể của người tu hành, thì phái nam và phái nữ đều có sự chuyển đổi. Nhưng ở đây tôi chỉ chia sẻ sự chuyển đổi máu huyết của phái nữ thôi. Còn phái nam thì tôi không thể chia sẻ, vì tôi không phải là phái nam. Nhưng dù nam hay nữ, thì sự chuyển hóa trong thân chúng ta đều giống nhau không khác.
Nói về phái nữ, nếu chúng ta tu hành có công phu, thì mỗi khi có kỳ ta sẽ thấy máu huyết trong người tiết ra nhiều hơn và hôi hơn bình thường. Tại sao? Vì đây là dấu hiệu máu huyết trong người của ta đang được thay đổi, để thanh lọc đi những chất dơ bẩn ra ngoài. Nhờ máu huyết trong người được thanh lọc, mà ta mới chuyển hóa được những tế bào cũ thành những tế bào mới và chuyển hóa được nhiều bệnh tật… Nhờ vậy mà thân thể của ta mới được khỏe mạnh và chậm lão hóa hơn những người không biết tu hành.
Rồi qua một thời gian, khi máu huyết trong người của ta được thanh lọc sạch, thì mỗi khi có kỳ ta sẽ không còn cảm thấy hôi như trước kia. Lúc đó, đường kinh của ta sẽ được bình thường trở lại và không còn bị ra nhiều nữa. Còn một điều đặt biệt nữa là: Khi phụ nữ chúng ta tới thời kỳ mản kinh, không ít thì nhiều đều bị thay đổi tánh tình và thường hay bị nóng lạnh bất thường. Đó là vì khí huyết và kích thích tố (hormone) trong người ta bị xáo trộn! Nhất là sau khi mãn kinh, phụ nữ chúng ta phải đối diện với sự đau yếu và lão hóa rất nhanh, ví như cây khô bị thiếu nước. Muốn tránh được những sự lão hóa nhanh về tâm lý và thể xác sau khi mãn kinh, thì ta nên phát tâm niệm Phật từ bây giờ, để kéo dài tuổi thọ và sức khỏe. Không những vậy mà nó còn giúp cho ta tương lai được thành Phật sống mãi không chết. Nếu bạn không tin thì thử đi vào chùa nhìn quý Tăng, Ni và Phật tử nào đã tu niệm Phật lâu năm, thì sẽ thấy diện mạo của họ rất là hồng hào, khỏe mạnh, tươi sáng và trẻ trung hơn chúng ta rất nhiều.
Kính thưa quý bạn! Từ nhỏ tôi là người có khí huyết không được tốt, nên lúc nào cũng dễ bị lạnh mà nhất là vào mùa đông, thì tay chân của tôi dễ bị tê cóng và lạnh như nước đá. Lạnh đến nỗi mỗi khi tôi đụng vào ai, thì đều làm cho họ phải giât mình. Nhưng từ khi biết tu hành niệm Phật đến nay, thì thân và tay chân của tôi không còn bị lạnh, mà lúc nào cũng tỏa ra hơi ấm và da của tôi mỗi ngày thêm hồng hào và khỏe mạnh!
Trước kia mỗi khi tôi đụng tay vào ai thì họ đều kêu lên rằng: “Sao tay gì mà lạnh như nước đá vậy”. Còn bây giờ tôi đụng tay vào ai thì họ đều nói rằng:Sao tay gì mà ấm quá vậy”. Từ ngày có nguồn năng lượng của Phật quang lưu chuyển trong thân, tôi lúc nào cũng cảm thấy an lạc, khỏe mạnh và có trí tuệ hơn trước kia rất nhiều. Nếu nhiều năm qua không nhờ niệm Phật, thì tôi sẽ không có đủ sức khỏe và trí tuệ để làm Phật sự cho đến ngày hôm nay. Tôi chia sẽ phần này là mong quý bạn tin: Tất cả chúng ta đều có thể khôi phục lại Phật quang của mình ngay trong mỗi niệm. Không phải đợi đến khi thành Phật, thì ta mới khôi phục được Phật quang.
Phần V: Chuyển đổi tướng mạo:
1. Chúng ta sẽ thấy thân tâm của mình mỗi ngày được thanh thản và nhẹ nhàng hơn, dù mình là người có nặng ký. Nhất là những lúc làm việc hay tập thể thao, ta sẽ cảm thấy thân của mình nhẹ nhàng, linh hoặt và khỏe khoắn hơn trước khi chưa tu rất nhiều. Rồi qua một thời gian, nếu ta tu hành cao hơn thì có những lúc làm việc… ta quên thân của mình đang còn hiện hữu. Nghĩa là lúc đó ta vẫn thấy thân của mình, nhưng vì nó quá nhẹ nên không còn cảm giác là mình đang có thân. Ở trong nhà Phật gọi là: “Thân thể khinh an”. Nhờ thân thể được khinh an mà quý Tăng, Ni và Phật tử ở trong chùa, họ làm việc ngày đêm rất là cực nhọc và ngủ rất ít. Nhưng họ lúc nào cũng cảm thấy khỏe mạnh, không có bị mệt mỏi nhiều như chúng ta.
2. Ngoài thân thể được nhẹ ra, ta còn thấy được tướng mạo của mình biến đổi hiền lành, trang nghiêm và trong sáng hơn. Thêm vào, ta còn thấy thân của mình mỗi ngày được thơm hơn. Vì vậy những bậc tu hành cao, họ không tắm rửa mấy ngày mà thân của họ vẫn không bị hôi như chúng ta. Những tướng hảo này chuyển đổi một cách tự nhiên mà chính mình cũng không hay. Đến khi có người khen thì ta để ý mới thấy. Nếu ta là người hay soi gương, thì sẽ thấy tướng mạo của mình thay đổi mỗi ngày. Tại sao? Vì đây là 32 tướng Phật sẳn có trong ta! Chẳng qua ta si mê không biết trở về để sống với 32 tướng Phật sẵn có của ta đó thôi.
Trong Kinh Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có sẳn đức tướng như Phật không khác và tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành”. Vì chúng ta ai cũng có sẵn đức tướng Phật, nên khi niệm Phật ta mới khôi phục được từng phần tướng Phật của ta. Tóm lại, nếu ta tu niệm Phật càng nhiều, thì sẽ khôi phục được tướng Phật của ta càng nhanh. Nếu ta tu niệm Phật ít thì sẽ khôi phục chậm hơn. Tất cả đều do ta tự quyết định.
Phần VII: Chuyển đổi tâm: Chúng ta sẽ thấy tâm của mình an lạc không còn tham, sân, si nhiều như trước kia. Mọi thứ ta sẽ buông xả được nhẹ nhàng tự nhiên mà chính mình cũng không ngờ. Lúc đó, tâm của ta sẽ biết thương yêu mọi loài, biết nhẫn nhịn, bố thí, phóng sanh và biết ăn chay. Lúc đó, tâm của ta sẽ phát khởi tự nhiên mà không cảm thấy miễn cưỡng.
dụ: Trước kia bố thí cho ai ta đều cảm thấy tiếc, hay ăn chay một ngày ta cũng cảm thấy khổ cực, hoặc có ai đó chửi ta một câu thì cảm thấy tức giận và ôm chúng trong lòng ăn ngủ không yên. Thậm chí, ta còn tìm cách để trả thù... Còn bây giờ ta cũng bố thí và ăn chay như trước kia không khác, nhưng trong tâm không thấy tiếc hay khổ, mà ngược lại còn cảm thấy rất là hoan hỷ! Còn nói về bị người phỉ báng hay hãm hại cũng vậy, ta cũng buông xả được nhẹ nhàng mà chính mình cũng không ngờ. Đó là nhờ tu hành mà tâm ta được giải thoát!
Phần VIII: Chuyển đổi trí tuệ: Chúng ta sẽ thấy trí tuệ của mình mỗi ngày được khai mở sáng hơn. Lúc đó, ta sẽ thấy được những việc làm tội lỗi trong quá khứ và tự hổ thẹn với lương tâm của mình. Lúc đó, ta sẽ biết sám hối với chư Phật và sám hối với chúng sanh. Tại sao trước kia ta không thấy được tội lỗi, mà sau khi tu hành ta mới thấy được tội lỗi của mình? Là vì trước kia ta bị vô minh che lấp, nay nhờ tu hành mà trí tuệ của mình được khai mở. Nhờ trí tuệ khai mở mà ta mới biết phân biệt đâu là thiện, ác, đúng, sai. Nhờ biết mà ta mới bỏ ác, hành thiện để chuyển đổi thân tâm.
Kính thưa quý bạn! Nếu muốn được thành công trong mọi lãnh vực của xã hội, thì không có cách nào hay hơn là cách tu niệm tự tánh của mình. Tại sao? Vì tất cả giáo học ở trên thế gian này, chỉ giúp cho ta có được thông minh, kiến thức và kinh nghiệm thôi, nhưng không giúp cho ta khai mở được trí tuệ. Chỉ có chư Phật mới giúp cho ta khai mở được trí tuệ. Trí tuệ thì cao hơn thông minh gấp vạn lần! Tại sao? Vì cho dù ta có thông minh nhất thế gian đi chăng nữa, thì ta cũng không phân biệt được đâu là thiện, ác, đúng, sai. Vì không phân biệt được thiện, ác, đúng, sai nên ta mới còn tham, sân, si. Vì còn tham, sân, si nên ta mới có mặt ở thế giới này. Nếu chúng ta biết phân biệt rõ ràng thì đã làm Phật lâu rồi, không còn gọi là chúng sanh.
Điều đáng thương là: Có rất nhiều người vì nghĩ mình thông minh, nên đã trở thành thế chí biện thông si mê, điên đảo. Tại sao? Vì chúng ta thông minh mà không có trí tuệ, nên mới trở thành những kẻ ngông cuồng. Ngông cuồng đến nỗi Phật, Trời ta cũng không tin. Vì không tin nên chúng ta mãi bị trôi lăn trong luân hồi sanh tử. Trong Kinh Phật nói: “Hạng người thông minh mà không có trí tuệ, là hạng người si mê khó độ và đáng thương nhất”. Nếu chúng ta là loại người thông minh mà không có trí tuệ, thì hãy mau thức tỉnh hồi đầu. Nếu không, ta sẽ bị thông minh của ta hại luân hồi tiếp tục.
Phần IX: Chuyển đổi tánh tình: Chúng ta sẽ thấy tánh tình của mình mỗi ngày thay đổi như là:
1. Chúng ta thích trầm lặng, thích sống ở những nơi thiên nhiên và yên tịnh. Chúng ta không thích sống ở những nơi ồn ào và náo nhiệt.
2. Chúng ta không thích nói chuyện nhiều, mà nhất là những chuyện thị phi lại càng không muốn nghe và cũng không muốn nói.
3. Chúng ta thích sống đơn giản, không thích bon chen và cũng không thích giao thiệp nhiều. Chúng ta chỉ thích niệm Phật và làm những chuyện lợi ích cho chúng sanh.
Nếu chúng ta tu hành mà có được những dấu hiệu ở trên thì nên vui mừng, vì tâm của ta đã được giải thoát rồi đấy! Tuy sự giải thoát của ta chưa được viên mãn, nhưng ít ra ta đã sống được với tâm thanh tịnh của mình. Lúc đó, ta sẽ không còn lo sợ tâm tham, sân, si của ta khống chế và cũng không còn lo sợ mình bị cô đơn hay bị ai đó bỏ rơi. Chúng ta sẽ không còn lo sợ hay buồn phiền về những chuyện khen, chê, chửi, trách của người đời. Lúc đó, ta sẽ cảm thấy cuộc sống của ta nhẹ nhàng và an lạc. Sự nhẹ nhàng và an lạc đó chỉ tự ta hiểu rõ thôi. Còn gia đình, bạn bè và những người chung quanh sẽ không hiểu. Ngược lại, họ còn hiểu lầm cho rằng: Chúng ta vì tu hành nên trở thành trầm cảm… Nhưng họ lại không biết chúng ta đang sống trong sự an lạc và giải thoát.
Phần X: Chuyển đổi nghiệp: Nếu chúng ta tu hành có công phu, thì sẽ chuyển đổi được nhiều bệnh tật đang có và sẽ có. Ý nghĩa chuyển được nhiều bệnh tật sẽ có ở đây là: Tất cả chúng ta không ai có thể biết trước được ngày mai quả báo của mình phải trả là như thế nào.
Ví dụ: Năm sau quả báo của ta phải trả là bị đụng xe hay bị bệnh ung thư chết. Nhưng nhờ công đức niệm Phật và làm phước của ta trong một năm qua, mà quả báo chuyển đổi được nhẹ hơn. Nhẹ hơn nghĩa là: Lúc đó ta cũng sẽ bị đụng xe hay bị bệnh ung thư. Nhưng ta chỉ bị nhẹ thôi, không bị mất mạng. Các bệnh và các tai nạn khác của ta cũng chuyển đổi được như vậy! Chỉ có điều là tùy vào công phu tu hành, mà ta chuyển được nhiều hay ít.
Ngoài ra, còn có một loại người nhờ tu cao mà được trả dồn nghiệp. Dồn nghiệp nghĩa là hiện tại ta tu hành đã có đủ công đức để sanh về Cực Lạc, nhưng vì trong quá khứ ta đã tạo nghiệp tội quá nhiều, nên kiếp này ta phải trả nhiều hơn so với những người khác. Tại sao? Vì kiếp này là kiếp cuối cùng ta còn ở đây. Sau khi chết ta sẽ được vãng sanh thành Phật. Vì là kiếp cuối cùng, nên oan gia của ta trong quá khứ và hiện tại sẽ kéo đến để đòi nợ. Nếu chúng ta là người chưa giác ngộ, khi nghe nói đến vấn đề này thì sẽ lo sợ hoặc không tin. Nhưng đối với những người đã giác ngộ, thì họ sẽ tin và vui lòng trả nợ mà không oán trách.
Cũng như ở ngoài đời, nếu ta còn mắc nợ nhiều người, mà bây giờ ta có ý định ra nước ngoài để định cư luôn. Khi những con nợ của ta hay tin, thì dĩ nhiên họ sẽ tìm đến để đòi nợ ta. Khi họ kéo đến đòi nợ, dĩ nhiên là ta không lo sợ mà còn vui vẽ trả nợ cho họ, có phải vậy không? Người tu hành trả nghiệp cũng như vậy đó! Vì vậy trong lúc còn sống ta phải cố gắng tu hành và tạo thêm nhiều phước đức từ bây giờ. Để phút lâm chung ta mới vãng sanh được nhẹ nhàng. Còn nếu bây giờ ta không lo tu hành và tạo phước. Đến phút lâm chung, ta sẽ bị oan gia tìm đến níu kéo và xô đẩy ta vào ba đường ác, để chịu đau khổ luân hồi tiếp tục.
Kính thưa quý bạn! Ở trên tôi chia sẻ một chút kinh nghiệm, là để quý bạn hiểu được sự chuyển đổi thân tâm của chúng ta như thế nào. Nhưng trên thật tế, không phải chỉ có bấy nhiêu, mà chúng ta còn chuyển đổi được nhiều tướng đẹp khác nữa. Vì chúng ta có tất cả là 32 tướng tốt của Phật. Tóm lại, chúng ta niệm Phật không phải đợi đến khi chết, thì mới được thành Phật thôi đâu, mà ngay hiện tại ta có thể khôi phục lại từng phần tướng Phật sẵn có trong ta. Nói như vậy không có nghĩa là ta không bị bệnh, già, chết. Dĩ nhiên chúng ta ai cũng phải bị, vì thân của ta là do đất, nước, gió và lửa hợp thành. Nếu do tứ đại hợp thành, thì thân của ta cuối cùng phải trả về cho tứ đại. Chỉ có điều nếu ta biết tu hành, thì thân của ta sẽ được trẻ và sống lâu hơn, để có đủ thời gian tu hành thành Phật!
  HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment