Thursday, March 3, 2016

Hiểu Lầm Hai Chữ ThanhTịnh.
Có rất nhiều người trong chúng ta hiểu lầm về hai chữ: “Thanh tịnh”. Mỗi khi tôi khuyên gia đình, bạn bè hay người chung quanh niệm Phật, thì đa số họ đều nói rằng:Tâm của tôi chưa được thanh tịnh thì làm sao có thể niệm Phật”. Tôi hỏi tại sao thì họ đều trả lời rằng:Vì chúng tôi nghe quý thầy thường nói là phải dùng tâm thanh tịnh để niệm Phật”. Tôi hỏi họ: “Vậy tâm thanh tịnh nghĩa là gì”. Họ đều trả lời rằng:Là tâm không được suy nghĩ hay vọng tưởng chi cả”. Tôi hỏi họ:Vậy quý bạn chờ đến bao giờ mới hết vọng tưởng, mới có cái tâm thanh tịnh”. Khi nghe tôi hỏi đến đây, thì họ đều ngập ngừng không trả lời được và họ nói rằng: “Niệm Phật sao khó quá, mới khởi niệm thì vọng tưởng kéo đến dồn dập, vì sợ mang tội với chư Phật, nên tôi không dám niệm Phật”.
Kính thưa quý bạn! Cũng vì sự hiểu lầm này, mà nhiều người không dám niệm Phật. Nếu tâm chúng ta được thanh tịnh, thì chư Phật không cần thị hiện đến đây để dạy chúng ta tu hành. Chúng ta đã hiểu lầm hai chữ thanh tịnh của Phật dạy trong Kinh rồi. Phật dạy: “Chúng sanh phải dùng cái tâm thanh tịnh để niệm Phật”. Ý của Ngài muốn nói rằng: Chúng ta phải dùng chân tâm để niệm Phật, không nên dùng vọng tâm để niệm Phật.
Giờ tôi xin phân tích tóm gọn để bạn không còn lo lắng. Trong mỗi chúng ta, ai cũng có nhiều tâm khác nhau. Nhưng ta không cần tìm hiểu nhiều tâm khác làm gì cho nhọc. Vì càng tìm hiểu, chỉ làm cho ta bị phân tâm và sinh ra phân biệt, chấp trước. Ở đây, tôi xin tóm lại còn hai tâm.
1. Chân tâm (tức tâm Phật thanh tịnh của ta).
2. Tâm vọng tưởng, chấp trước (tâm giả từ thân ta mà có).
Khi chúng ta phát tâm niệm Phật để thành Phật, là đã phát cái tâm thanh tịnh của ta rồi. Tại sao? Vì chỉ có tâm thanh tịnh của ta mới phát được cái nguyện niệm Phật để thành Phật. Còn tâm vọng tưởng, chấp trước là giả, thì làm sao có thể phát nguyện? Chúng ta xưa nay chỉ dùng cái tâm vọng tưởng và chấp trước, rồi cho là tâm thật của ta. Còn tâm thật của ta thì bỏ qua một bên không ngó ngàng chi cả, nên ta mới hiểu lầm ý của Phật.
Khi niệm Phật vọng tưởng kéo đến, ta lại tưởng vì niệm Phật nên mới có nhiều vọng tưởng. Thật ra không phải vậy! Vọng tưởng của ta lúc nào cũng nhiều vô cùng tận. Chẳng qua trước kia ta dùng tâm giả, nên không thấy được vọng tưởng. Nay nhờ niệm Phật, ta mới thấy được vọng tưởng của ta. Nhờ thấy được vọng tưởng, mà ta mới chuyển được tâm si mê, điên đảo của mình.
Cũng như ta có một viên ngọc quý bị dính sình đất lâu năm. Nay đem nó ra chùi rửa, thì tay của ta sẽ bị dơ bẩn và thau nước cũng sẽ bị đen hôi. Nhưng nếu ta cứ tiếp tục thay nước và chấp nhận tay bị dơ bẩn, thì qua nhiều lần chùi rửa, tay của ta, nước và viên ngọc sẽ được sạch và chiếu sáng. Niệm Phật cũng vậy! Vọng tưởng là dơ, câu Phật hiệu là nước thần rửa sạch tâm dơ bẩn, để chân tâm của ta được hiển hiện. Khi ông Phật trong tâm được hiển hiện, thì trí tuệ của ta theo đó mà được thông, đây gọi là thần thông!
Thần: Là thần lực ánh sáng từ tâm Phật của ta phát ra, làm tiêu tan tâm Ma!
Thông: Là trí tuệ Bát nhã, nhờ có thần lực ánh sáng của chân tâm phát ra, mà trí tuệ của ta được thông và hiểu biết tất cả vạn pháp từ giả tới chân!
Tâm Niệm
Tâm ta niệm nào ngoại cảnh niệm
Chợ đông người mặc kệ chợ đông
Khen, chê, chửi, trách chuyện của người
Mưa, nắng, đêm, ngày chuyện thiên nhiên.
Tâm ta niệm nào thân ta niệm
Bận rộn đêm, ngày chuyện của thân
Đi, đứng, nằm, ngồi không chướng ngại
Thân mất, cảnh tàn vốn tự nhiên.
Tâm đã định ngại chi ngoại động
Niệm niệm Mi Đà, niệm tự tâm
Trí tuệ, chân tâm, thần thông đủ
Cực lạc danh đề Phật vị lai!
(Ta là Phật sẽ thành).
Những Dấu Hiệu Khi Được Nhất Tâm
Ở đây tôi xin chia sẻ một chút kinh nghiệm về những biến chuyển khi được nhất tâm, để quý bạn tìm hiểu thêm.
1. Trước một ngày được nhất tâm: Hôm đó, tôi cảm thấy tâm của tôi nóng hổi và đầu của tôi thì cứng như một khối đá đặc, không thể khởi câu niệm Phật. Hôm đó, tôi niệm Phật với các con tôi ra tiếng thì không sao, nhưng niệm thầm trong đầu thì không được. Hôm đó, lồng ngực của tôi nóng hổi và cứ chảy mồ hôi hoài, dù thời tiết của ngày hôm đó không có nóng. Cả ngày hôm đó, tôi cứ thắc mắc:Tại sao bao nhiêu năm niệm Phật, mình chưa bao giờ gặp phải tình trạng như thế này”. Sau đó, tôi giận quá nên dùng hai tay đập vào đầu, mong cho cái đầu của tôi tỉnh lại, nhưng cũng không sao khởi niệm được.
2. Ngày được nhất tâm: Cả đêm hôm đó vì buồn cho cái đầu, nên tôi ngủ không được yên. Qua sáng hôm sau vừa mới thức dậy, tôi liền khởi niệm để xem mình có niệm Phật thầm được không. Không ngờ, khi tôi vừa mới khởi niệm thì tôi nghe được cả Trời niệm Phật. Lúc đó, tôi lại tưởng con tôi hay là hàng xóm mở nhạc niệm Phật. Nhưng sau đó tôi nghĩ: “Không thể nào, vì trong nhà mình không có loại nhạc niệm Phật bốn chữ này. Còn hàng xóm toàn là người Mỹ, thì họ đâu có mở nhạc niệm Phật Việt Nam làm gì”.
Lúc đó, cảm giác của tôi cho biết đây không phải là nhạc niệm Phật bình thường, mà là tiếng niệm của chư Phật. Thế là tôi cứ nằm im lắng nghe và tự hỏi:Không lẽ mình có duyên nên mới nghe được tiếng niệm của chư Phật ở trên Trời”? Tiếng niệm Phật làm cho lòng tôi thanh thản và an lạc. Lúc đó, tôi cứ nằm im lắng nghe và tự sung sướng mỉm cười mãi. Bỗng nhiên tôi khựng lại và nói rằng:Không được, mình không được tham nghe, vì sẽ bị Ma mê hoặc”. Sau đó, tôi vội ngồi dậy chắp tay sám hối. Sau khi sám hối xong, tôi tự nói với mình rằng:Phải siêng năng niệm Phật không được tham thần thông, không được mong cầu, vì đây là điều cấm kị cho người tu hành”. Sau đó, tôi lại khởi niệm Phật để quên đi chuyện hồi nãy. Bỗng nhiên tôi lại nghe được cả Trời niệm Phật.
Sau đó, Tôi thử đi vòng hết trong nhà, ngoài sân, hàng xóm, ngoài đường, nhưng đi đâu tôi cũng nghe. Sau đó, tôi nhớ lại quý thầy thường nói rằng:Ma vương có thể biến thành Phật để mê hoặc chúng ta, nhưng Ma vương không thể nào giả được câu Phật hiệu A Mi Đà. Vì hể ai niệm câu A Mi Đà Phật, thì sẽ làm cho chúng Ma tránh xa 40 mươi dặm”. Khi vừa nghĩ đến đó thì tôi cảm thấy an tâm. Sau đó tôi tự hỏi:Không lẽ mình đã niệm được tới nhất tâm”. Sau đó, tôi thử không muốn nghe thì nhạc niệm Phật dừng. Tôi khởi niệm thì nhạc niệm Phật lại trỗi lên. Tôi cứ thử cả ngày như vậy. Thật đúng với câu: “Nhất tâm chỉ còn một niệm”.
Trước kia lúc chưa chứng đạo, tôi thường hay thắc mắc về hai câu đó là: “Nhất tâm chỉ còn một niệm” và “Niệm mà như không niệm, không niệm mà niệm”. Nhưng sau khi được nhất tâm, tôi mới hiểu được chân tướng của hai câu này:
1. Nhất tâm chỉ còn một niệm: Nghĩa là lúc đó ta chỉ cần khởi lên một niệm, thì trong đầu và trong tâm của ta giống như có một cái máy tự động niệm Phật mãi cho ta nghe. Nghe đến khi nào ta không muốn nghe nữa thì nó mới ngưng.
2. Niệm mà như không niệm, không niệm mà niệm: Nghĩa là lúc đó ta không cần dùng sức để niệm, mà tâm của ta sẽ tự động niệm Phật mãi cho ta nghe. Việc làm của ta lúc đó, chỉ cần giữ tánh nghe để nghe câu niệm Phật, thì cũng giống như là ta đang niệm Phật. (khi ta tập trung nghe câu niệm Phật là đã giữ tánh nghe của ta rồi).
Sau đó, qua nhiều ngày thử nghiệm, tôi mới hiểu là tôi đã niệm Phật được “nhất tâm”. Sau khi được nhất tâm, có hai vấn đề làm cho tôi luôn thắc mắc đó là. Một: “Tại sao bao nhiêu năm tôi niệm Phật sáu chữ, nhưng khi được nhất tâm, thì tôi chỉ nghe được nhạc niệm Phật có bốn chữ”. Hai: “Nếu tôi niệm được nhất tâm, thì tôi phải nghe được tiếng niệm của tôi mới đúng chứ. Nhưng tại sao tôi lại nghe được nhiều người niệm và có giọng nam, nữ niệm chung. Giống như tôi đang ở trong một đại đạo tràng tu niệm Phật thất vậy”. Tóm lại, hai vấn đề này làm cho tôi cứ suy nghĩ mãi trong thời gian mới được nhất tâm. Nhưng sau đó thì tôi mới hiểu tại sao?
Còn một điều kỳ lạ nữa là: Tiếng nhạc niệm Phật trong đầu và trong tâm của tôi nó tự động lên xuống và lớn nhỏ tùy theo tiếng động ồn ào ở bên ngoài. Nghĩa là tiếng động ở bên ngoài ồn bao nhiêu, thì tiếng niệm Phật trong đầu và trong tâm của tôi lại càng lớn hơn bấy nhiêu. Tôi thích nhất là khi lái xe ở ngoài đường, xe cộ càng ồn ào thì tiếng nhạc niệm Phật càng lớn. Tôi cảm tưởng như mình đang được mười phương Chư Phật đang hộ niệm. Vừa chạy xe, vừa nghe được nhạc niệm Phật bao phủ cả Trời, làm cho thân tâm của tôi vô cùng mát mẻ và an lạc. Ngôn ngữ không đủ để giải thích, chỉ có ai tu nấy hiểu mà thôi. Cũng như mình uống nước nóng hay lạnh, chỉ riêng mình hiểu. Tóm lại, chỉ có một câu để giải thích là: Phật pháp cao siêu không thể nghĩ bàn. (Nghĩ là không thể nghĩ tới. Bàn là không thể luận được).
Phần lưu ý: Sau khi được nhất tâm, chúng ta chỉ dùng tâm để nghe tiếng nhạc niệm, không nên dùng đầu để nghe. Nghĩa là dùng tánh nghe để nghe tiếng nhạc niệm từ tâm phát ra, không phải dùng tánh nghe để nghe tiếng nhạc niệm trong đầu. Nếu ta không hiểu dùng tánh nghe để nghe trong đầu, thì lâu ngày ta sẽ bị nhức đầu và khó chịu. Tại sao? Vì một niệm này quá lớn, lớn đến mức độ vượt khỏi không gian và thời gian, nên đầu của ta không thể chứa nổi, chỉ có tâm Phật của ta mới chứa nổi một niệm siêu việt này và niệm này không phải chỉ thoát ra một lần rồi hết, mà nó sẽ phát ra như dòng suối tuôn chảy trong tâm không cùng tận, sẽ theo ta cho tới ngày vãng sanh, nếu ta không thối chuyển.
Giải Tỏa Ba Nghi Vấn
Sau khi được nhất tâm tôi có ba điều nghi vấn. Tôi ngẫm nghĩ hết mấy tháng mới hiểu được chân tướng. Ở đây tôi xin chia sẻ cùng quý bạn.
1. Tại sao trước một ngày đầu tôi cứng như một khối đá đặc: Là vì câu niệm Phật lâu năm đã ăn sâu vào đầu, đóng thành một khối, và đúc thành một niệm, nên hôm đó tôi không thể khởi niệm Phật trong đầu. Một niệm này quá lớn, lớn đến mức độ vượt khỏi không gian và thời gian. Đầu của tôi không thể nào chứa nổi một niệm siêu việt này, vì vậy mà niệm này phải thoát ra ngoài. Khi thoát ra ngoài thì nó lan rộng khắp hư không. Vì vậy lúc đó tôi tưởng là tôi nghe được chư Phật và chư Thánh đang niệm Phật ở trên Trời. Sau này tôi mới hiểu tiếng nhạc niệm Phật đó từ trong tâm của tôi phát ra, không phải ở ngoài như trước kia tôi tưởng. Tuy trong tâm của tôi phát ra, nhưng nó bao phủ cả Trời!
2. Tại sao cả ngày tâm tôi nóng hổi: Cũng như câu nói của “Hòa thượng Đức Niệm”, Ngài nói rằng: “Muốn nấu nước thì ta phải canh củi, lửa liên tục đầy đủ thì nước mới được sôi”. Ý của Ngài muốn nói khi ta niệm Phật cũng vậy! Muốn niệm được nhất tâm, thì ta phải niệm Phật mỗi ngày không nên gián đoạn. Cũng như ta nấu nước, mà củi lửa không được đầy đủ hay bị tắt nửa chừng, thì đến bao giờ nước mới được sôi? Sau khi được nhất tâm, tôi mới hiểu câu nói của Ngài bao hàm một ý nghĩa rất sâu. Nhờ tôi niệm Phật nhiều năm không gián đoạn, nên đã thâu nhiếp được thần lực của mười phương chư Phật. Nhờ vậy mà tâm Phật của tôi mới có đủ thần lực, để chuyển hóa tâm si mê và vọng tưởng của tôi. Sức mạnh của thần lực phá tan tăm tối, để chân tâm của tôi được hiển hiện
3.Tại sao bao nhiêu năm tôi niệm Phật sáu chữ; nhạc niệm Phật trong nhà cũng chỉ có sáu chữ. Nhưng khi được nhất tâm, thì tôi chỉ nghe có nhạc niệm có bốn chữ và có giọng nam, nữ niệm chung? Chuyện là như vầy, trước một đêm đầu và tâm của tôi có chuyển biến khác thường. Đêm đó, tôi có xem một cuồn băng “Kinh Vô Lượng Thọ” do “Ngài Tịnh Không” thuyết giảng. Tới cuối cuộn băng có một đoạn nhạc niệm Phật bốn chữ, có nhiều giọng nam và nữ niệm chung nghe rất hay, nên tôi niệm theo. Không ngờ những niệm mà tôi niệm theo đó, lại là những niệm cuối cùng để được nhất tâm! Cũng như ly nước tới lúc đã đầy, ta chỉ cần bỏ thêm vài giọt thì nước sẽ bị tràn ra. Không ngờ những niệm cuối cùng mà tôi niệm theo đó rất là quan trọng, nó có thể chuyển hóa hết tất cả những niệm bao nhiêu năm của tôi. Thật là hy hữu không thể nghĩ bàn.
Sau khi được nhất tâm, nhận thức được mấy niệm cuối cùng, đã chuyển hóa toàn bộ những câu niệm Phật lâu năm của tôi, làm cho tôi kinh hoàng và sợ hãi. Lúc đó, tôi càng hiểu được những lời Phật dạy trong Kinh. Phật nói rằng: “Nếu thần thức của chúng sanh trước khi chết nghĩ ác thì sẽ đọa vào đường ác; nếu nghĩ lành thì được sanh vào cõi lành. Tùy theo nghiệp lực của thần thức mà dẫn dắt chúng sanh đi lên hay đi xuống”.
Cảm Xúc Sau Khi Được Nhất Tâm
Sau khi được nhất tâm khoảng hơn một tháng, tự nhiên có một ngày trí tuệ của tôi bừng sáng, tôi thấy rõ hết pháp của thế gian (tâm tôi thấy không phải mắt tôi thấy). Trước kia học Kinh Phật, tôi hiểu thế gian là giả tạm. Hiểu thì hiểu vậy thôi, nhưng tôi không biết sợ. Giờ chân tướng sự thật đã hiển bày trước mắt. Những thứ mà trước kia tôi cho là trân quý nguy nga, mỹ lệ tình nồng, bây giờ tất cả chỉ là một đống rác vụn, không hơn không kém.
Quá xúc động nên tôi bật khóc, thương cho thân tôi lâu nay sống mà như chết, có mắt mà như mù, lặn hụp bao nhiêu kiếp mãi đến bây giờ mới thấy được bờ giác. Tôi khóc cho tôi và cho Đấng Từ phụ. Vì Ngài đã hy sinh vô lượng kiếp để cứu độ chúng sanh, vậy mà thương cho chúng sanh vẫn còn mãi nghi ngờ, để rồi phải chịu đắm chìm trong biển khổ, không biết đâu là bờ giác. Khiến cho chư Phật và Bồ tát phải bôn ba đây đó không thể nhập Niết bàn.
Giờ tôi xin chia sẻ những cảm xúc sau khi được nhất tâm, để quý bạn tìm hiểu thêm. Vì sau khi được nhất tâm chúng ta sẽ có những cảm xúc giống nhau không khác. Sau khi thấy được chân tướng của vạn pháp, tôi vô cùng xúc động không cầm được nước mắt. Lúc đó, trong tôi có nhiều cảm xúc lẫn lộn khác nhau như là: Có lúc tôi cảm thấy giải thoát, có lúc tôi cảm thấy đau lòng, hối hận và xót xa. Rồi những cảm xúc vui, buồn lẫn lộn đó làm cho tôi khóc mãi tới gần ba tháng mới được nguôi. Đọc tới đây, tôi biết quý bạn sẽ hỏi rằng: “Tại sao một người niệm Phật đã đạt đến nhất tâm tam muội, mà vẫn còn có nhiều cảm xúc và khóc lâu như vậy”.
Kính thưa quý bạn! Cái khóc trước khi được nhất tâm, và sau khi được nhất tâm hoàn toàn khác nhau. Tại sao? Vì cái khóc trước khi được nhất tâm là cái khóc của tham, sân, si! Còn cái khóc sau khi được nhất tâm, là cái khóc từ bi và thương xót từ trong chân tâm tuôn chảy ra! Nhờ có được những dòng nước mắt từ trong chân tâm tuôn chảy ra, mà chư Phật, Bồ tát mới có đủ can đảm nhảy vào biển lửa, để cứu chúng sanh đời đời, kiếp kiếp! Giờ tôi xin chia sẻ từng phần cảm xúc để quý bạn tìm hiểu thêm.
1. Cảm xúc giải thoát: Lúc đó, tôi cảm thấy hạnh phúc giải thoát không thể tả. Cái hạnh phúc giải thoát đó, còn hơn vạn lần so với cái hạnh phúc giải thoát của một người bị nhốt trong căn nhà lửa nhiều năm, nay được giải thoát bay bổng dạo chơi khắp mười phương. Tóm lại, cái hạnh phúc giải thoát đó khó có thể giải thích bằng lời, chỉ có ai chứng ngộ mới hiểu được thôi.
Trước kia tôi thường hay thắc mắc: Không hiểu tại sao chư Cổ đức chỉ ẩn tu một nơi không đi đâu hết, mà quý Ngài lại nói rằng:Thường hay du hành đi khắp mười phương và luôn sống trong niềm an lạc, giải thoát”. Sau khi được nhất tâm, tôi mới hưởng được niềm an lạc và giải thoát đó. Cái hạnh phúc giải thoát mà tôi đang hưởng được, cho dù có ai đem cả thế giới vàng bạc châu báu, hay quyền uy hạnh phúc nhất ở trên thế gian này để đổi với tôi, thì tôi cũng không chịu. Tại sao? Vì những thứ đó chỉ là giả tạm như bọt nước. Còn cái hạnh phúc giải thoát mà tôi đang hưởng được, mới là chân thật và vĩnh cửu!
2. Cảm xúc đau lòng: Khi tôi càng được hạnh phúc và giải thoát bao nhiêu, thì tôi lại càng cảm thấy đau lòng và tan nát bấy nhiêu. Cái cảm xúc đau lòng đó, còn hơn vạn lần so với cái cảm xúc bị mất cha mẹ, vợ chồng hay con cháu. Tại sao? Vì khi cha mẹ, vợ chồng hay con cháu mất đi, thì ta chỉ đau lòng vì sự mất mát và thương nhớ thôi. Còn cái đau lòng sau khi được nhất tâm, là cái đau lòng khi phải chứng kiến cảnh thân bằng, quyến thuộc của mình từ vô lượng kiếp đến nay, họ đang bị đọa đày trong biển lửa luân hồi không thể thoát ra. Vì vậy mà tôi đau lòng tan nát!
3. Cảm xúc hối hận: Khi tôi càng đau lòng tan nát bao nhiêu, thì tôi càng hối hận và sám hối tội lỗi của tôi nhiều bấy nhiêu. Cái cảm xúc hối hận đó, còn hơn vạn lần so với cái cảm xúc hối hận của người con bất hiếu bỏ nhà, bỏ cha mẹ ra đi. Tại sao? Vì cho dù ta có bất hiếu bỏ nhà, bỏ cha mẹ ra đi, thì cha mẹ cũng chỉ khổ vì ta có một đời thôi. Còn sự si mê, điên đảo của ta từ vô lượng kiếp đến nay, đã làm cho chư Phật và Bồ tát khổ vì ta trong vô lượng kiếp rồi. Vì vậy mà tôi hối hận và sám hối nhiều như vậy.
4. Cảm xúc xót xa: Khi tôi càng hạnh phúc, đau lòng và hối hận bao nhiêu, thì tôi càng cảm thấy xót xa bấy nhiêu. Nỗi xót xa đó còn hơn vạn lần so với nỗi xót xa của một người mẹ; đang chứng kiến cảnh các con của mình tàn sát lẫn nhau. Tại sao? Vì cho dù ta có bất hạnh chứng kiến cảnh các con của mình tàn sát lẫn nhau, thì cũng chỉ chứng kiến chúng tàn sát lẫn nhau có một đời thôi. Còn sau khi được nhất tâm, ta sẽ chứng kiến được cảnh ông bà, cha mẹ, vợ chồng và con cháu của ta từ vô lượng kiếp đến nay; họ đang hành hạ, tàn sát và ăn nuốt lẫn nhau đời đời, kiếp kiếp không cùng tận. Vì vậy mà tôi tan nát cả tâm cang!
Sau khi được nhất tâm, tôi thấy được chân tướng của luân hồi sanh tử. Lúc đó, tôi chỉ muốn hét cho thấu tận mười phương, để nói cho tất cả chúng sanh mọi loài biết rằng: “Chúng ta vốn là thân bằng quyến thuộc, là huynh đệ một nhà…”. Lúc đó, tôi chỉ muốn hét thật lớn, để van xin tất cả chúng sanh mọi loài hãy mau thức tỉnh và phát tâm niệm Phật để được giải thoát! Lúc đó, tôi chỉ muốn đến từng người quỳ xuống lạy để xin họ phát tâm niệm Phật. Nhưng hỡi ôi! Không ai chịu nhận 100 lạy của tôi để niệm một câu A Mi Đà Phật. Ngược lại, họ còn cho tôi là một kẻ điên khùng… Vì vậy lúc đó tôi chỉ còn biết đau lòng thương khóc ngày đêm và cầu xin mười phương chư Phật, Bồ tát gia hộ cho chúng sanh mau được thức tỉnh hồi đầu!
Sau đó, nhờ chư Phật gia hộ, mà tôi mới hoàn thành được cuốn sách “Kinh Nghiệm Niệm Phật Và Những Chuyện Luân Hồi”. Cũng nhờ hoàn thành được cuốn sách đó, mà tâm của tôi mới nguôi đi được phần nào thương xót. Rồi bốn năm sau, tôi lại hoàn thành được thêm cuốn sách “Ý Nghĩa Hoằng Pháp Và Hộ Pháp”. Mỗi lần hoàn thành được một cuốn sách hay một băng đĩa thuyết pháp nào đó, thì tâm của tôi mới được nhẹ đi một chút.
Tóm lại, sau khi được nhất tâm chúng ta sẽ trải qua giai đoạn khóc thật nhiều. Rồi nhờ giai đoạn khóc thật nhiều đó, mà ta mới có đủ từ bi và can đảm phát ra đại nguyện để cứu độ chúng sanh đời đời, kiếp kiếp! Một khi đại nguyện từ bi của ta được phát khởi, thì cũng là lúc ta được giải thoát như như bất động. Ý nghĩa như như bất động ở đây, không phải là ta trở thành gỗ đá vô tri vô giác, mà là tâm ta không còn bị đau khổ và phiền não của thế gian trói buộc nữa.
Lúc đó, cho dù ta có muốn đau khổ cũng không được. Tại sao? Vì sự đau khổ của ta đã chuyển thành biển nguyện độ tha rồi. Nói như vậy không có nghĩa là ta không còn biết đau, biết khóc, biết khổ hay biết sầu. Dĩ nhiên là ta vẫn còn, nhưng tất cả những sự cảm xúc đau, khổ, buồn, vui đó đều là vì chúng sanh, không còn là vì bản thân ta nữa. Tóm lại, nếu chúng sanh hạnh phúc thì ta hạnh phúc, nếu chúng sanh đau khổ thì ta đau khổ. Nhưng cái hạnh phúc và đau khổ đó, không phải là cái hạnh phúc đau khổ của phàm phu, mà là cái hạnh phúc, đau khổ của Bồ tát. Tức là khổ mà như không khổ, không khổ mà khổ. Hạnh phúc mà như không hạnh phúc, không hạnh phúc mà hạnh phúc. Tóm lại, khó có thể giải thích chỉ có ai chứng ngộ mới hiểu được thôi.
Chuyển biến tâm lý: Ở đây chúng tôi xin chia sẻ một chút về sự chuyển biến tâm lý sau khi được nhất tâm, để quý bạn tìm hiểu thêm. Sau khi được nhất tâm, tôi thấy được chân tướng giả tạm của thế gian. Trong mắt tôi khi đó, tất cả vạn pháp chỉ là một đống rác vụn không hơn không kém. Nếu nói trên “tâm” thì lúc đó tôi không còn muốn ở đây thêm một giây một phút nào cả, mà chỉ muốn được vãng sanh càng nhanh càng tốt! Tại sao? Vì tôi đã thấy được tất cả vạn pháp chỉ là cát bụi, thì còn nuối tiếc ở lại đây để làm gì.
Còn nói trên “sự” thì lúc đó tôi cảm thấy như bị cực hình. Vì mỗi sáng thức dậy tôi phải lo chưng diện đi làm để kiếm tiền, phải lo đi chợ, nấu nướng, ăn uống... Tất cả những thứ đó đều là phiền phức, làm mất thời gian tu hành và độ tha của tôi. Lúc đó, tôi chỉ muốn buông xả hết, tìm một nơi ẩn tu để thành tựu đạo nghiệp tự độ và độ tha. Nhưng nghiệp tội của tôi còn quá nặng, vẫn còn bị ràng buộc bởi gia đình con cái... Vì vậy thời gian đó tôi cảm thấy khổ sở vô cùng.
Nhưng qua một thời gian, thì tôi không còn cảm thấy đau khổ nữa. Tại sao? Vì tôi thấy được những việc mà tôi đang làm hằng ngày, đều là đang cúng dường cho tất cả chúng sanh. Nhờ vậy mà từ đó mỗi sáng thức dậy, tôi đều vui vẻ chưng diện, vui vẻ đi làm, đi chợ, nấu nướng, ăn uống, tập thể dục… Vì nếu không có sức khỏe, thì tôi sẽ không duy trì được mạng sống để tu hành và cứu độ chúng sanh lâu dài. Còn nếu không có tiền, thì tôi sẽ không lưu thông được Kinh sách đi khắp mười phương. Tóm lại, sau khi được nhất tâm chúng ta sẽ trải qua hai giai đoạn chuyển biến tâm lý khác nhau đó là:
Giai đoạn thứ nhất: Chúng ta sẽ cảm thấy chán nản và không muốn làm gì cả, mà chỉ muốn thoát ra khỏi cái thế giới Ta bà đau khổ này càng nhanh càng tốt. Tại sao? Vì đâu có ai thấy được biển lửa, mà còn muốn ở trong biển lửa để làm gì.
Giai đoạn thứ hai: Chúng ta sẽ hăng hái tình nguyện làm tất cả mọi chuyện, mà trong tâm lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc và an lạc. Tại sao?không có gì hạnh phúc và sung sướng cho bằng, khi biết rõ mỗi hành động của mình đang làm hằng ngày, đều đang cứu được vô lượng đời ông bà, cha mẹ và chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Thức Tỉnh
Ước chi tôi tu thành chánh quả
Khai thông trí tuệ mở chân tâm
Đời đời, kiếp kiếp chuyên hoằng nguyện
Phổ độ mười phương cứu chúng sanh!
Không Niệm
Sau khi được nhất tâm chỉ còn một niệm, tôi càng tin sâu vào sự nhiệm mầu của pháp môn Tịnh độ. Tôi quyết tâm niệm Phật tinh tấn hơn. Lâu ngày, không ngờ Phật pháp vô cùng hy hữu. Trước kia khi nào tôi khởi niệm, thì tôi mới nghe được tiếng niệm. Còn bây giờ tôi không cần khởi niệm chi cả, mà tiếng niệm Phật trong tâm tôi tự nhiên trỗi lên và một điều kỳ lạ hơn là: Nhạc niệm Phật này có linh tánh. Khi nào tôi suy nghĩ hay nói chuyện thì nó tạm ngưng, còn khi nào đầu óc tôi rảnh thì nó niệm. Sự hoạt động tay chân không làm trở ngại đến tiếng niệm. Nếu tôi suy nghĩ ít thì tiếng niệm vẫn tiếp tục. Chỉ khi nào tôi suy nghĩ thật sự thì nó mới tạm ngưng.
Tóm lại, nhạc niệm trong đầu và trong tâm của tôi không bao giờ ngừng. Nếu ngủ mê thì không nghe, nửa đêm lỡ giật mình thức giấc thì lại nghe. Thật ra không phải nhạc niệm Phật có linh tánh, mà là khi chúng ta niệm Phật tới cảnh giới không niệm, thì ông Phật trong ta niệm hoài không dứt. Ý nghĩa không niệm ở đây là nói: Ta không khởi niệm mà tiếng niệm Phật trong tâm ta vẫn trỗi lên. Chẳng qua khi ta suy nghĩ hay tức giận, thì không còn định tâm để nghe câu niệm Phật (tức giận ở đây không phải là tham, sân, si).
Chắc có lẽ quý bạn sẽ nghĩ rằng: Nếu nghe tiếng niệm Phật cả ngày lẫn đêm như vậy thì chán chết. Thật ra không phải vậy, mà âm thanh của nhạc niệm Phật rất là an lạc và thanh tịnh, không chi sánh bằng. Ở trên đời này, không có điệu nhạc nào hay bằng nhạc niệm Phật từ trong chân tâm tuôn chảy ra. Trước kia tôi rất thích nghe nhạc, vì nhạc là một phần sự sống của tôi. Nhưng bây giờ tôi không còn muốn nghe nhạc ngoài đời nhiều nữa, mà tôi chỉ thích nghe nhạc niệm Phật thôi. Tại sao? Vì tiếng nhạc niệm trong đầu và trong tâm của tôi là một dòng suối mát, là khúc nhạc Trời với âm thanh du dương huyền diệu, làm cho cõi lòng tôi thanh thản và thoát tục.
Còn một điều kỳ diệu nữa là, khi chúng ta đã niệm tới cảnh giới “không niệm” thì có thể thay đổi nhạc niệm Phật trong tâm. Cũng như ta nghe một điệu nhạc niệm hoài thấy chán. Muốn thay đổi thì ta chỉ cần nghe nhạc niệm Phật khác cho thâm nhập vào tâm, là sẽ có thêm nhạc niệm mới. Thậm chí, ta có thể nghe một lúc hai hay ba loại nhạc niệm khác nhau, tùy theo tâm khởi.
Nhưng nếu muốn giữ được tiếng nhạc niệm mới trong tâm rõ ràng, thì ta nên thường xuyên nghe băng niệm Phật. Nếu không, ta chỉ còn lại một loại nhạc niệm Phật nguyên thủy mà thôi. Đó là nói thời gian mới được nhất tâm. Nhưng qua một thời gian thì ta không cần nghe băng niệm Phật nữa, mà vẫn có thể thay đổi được nhạc niệm Phật trong tâm theo ý thích. Ở đây tôi chỉ nêu thêm vài điều nhiệm mầu của Phật pháp, để cho quý bạn hiểu thêm. Trên thực tế, khi ta đã tới cảnh giới không niệm thì sẽ không còn phân biệt.
Không
Miệng tôi khoe tâm tôi không động
Ý độ người mặc kệ chê khen
Khen, chê, chửi, trách chuyện của đời
Đời là giả cần chi chấp trước.
Bút giả tôi đặt kệ viết bài
Đã chấp nhận khen, chê, chửi trách
Vốn thế gian tất cả là không
Lời phiếm dị nhẹ hơn gió thoảng!
Cảnh Giới Nội Tâm
Ở đây, tôi xin chia sẻ một chút kinh nghiệm về những cảnh giới nội tâm mà tôi đã trải qua, để quý bạn tìm hiểu thêm. Vì sự tìm hiểu này rất là quan trọng, nếu chúng ta không hiểu rõ thì sẽ bị thối tâm. Nói về cảnh giới nội tâm thì là đa dạng, vì mỗi người đều mang nghiệp nặng, nhẹ và có tâm ma khác nhau. Ở đây tôi chỉ nói lên vài điều căn bản. Chỉ cần nắm được căn bản thì ta sẽ có cách điều ngự nội tâm và đối phó với tâm ma của mình. Muốn khôi phục lại ông Phật trong ta có đủ thần thông, thì ta phải biết bảo vệ tâm Phật của ta. Nghĩa là ngoài chuyên tâm niệm Phật ra, ta cần phải có nghị lực để đối phó với tâm ma của mình.
Sau đây là những biến chuyển căn bản mà chúng ta sẽ phải gặp. Lúc bắt đầu niệm Phật, ta sẽ cảm thấy thân tâm yên ổn và thoải mái. Niệm một thời gian (ngắn hay dài còn tùy theo nghiệp và tâm ma của mỗi người), thì ta sẽ nằm mơ thấy ma hoặc thú dữ rượt đòi giết chúng ta. Nếu không hiểu, ta sẽ hiểu lầm cho rằng vì niệm Phật mà nằm mơ gặp ác mộng (sự hiểu lầm này đã xảy ra trong gia đình, con cái và bạn bè của tôi).
Kính thưa quý bạn! Không phải vậy đâu, mà là công phu tu niệm của ta đã có kết quả. Tại sao? Vì một khi ông Phật trong ta được thức tỉnh, thì tâm ma, tâm thú trong ta sẽ bị hoảng sợ. Vì hoảng sợ nên chúng sẽ hợp sức để đánh ông Phật trong ta (nghĩa là đánh chúng ta). Trong thời gian này rất là quan trọng, là thời gian thắng hay bại. Nếu ta bỏ niệm Phật, thì sẽ bị tâm ma dẫn dắt luân hồi tiếp tục. Muốn thắng được tâm ma, thì ta phải quyết tâm dũng mãnh niệm Phật tinh tấn hơn, để ông Phật trong ta có đủ thần lực của chư Phật gia trì. Lâu ngày, ông Phật trong ta sẽ đánh đuổi được ma ra khỏi người của ta, nên sự quyết tâm rất là quan trọng! Vì thấy được những điều quan trọng này, mà Phật khuyên dạy chúng ta khi tu niệm Phật, thì phải có đầy đủ “Tín, Nguyện, Trì Danh” (trì danh tức là hạnh). Nếu thiếu một trong ba điều này thì ta sẽ bị thất bại, vì ma trong người chúng ta rất mạnh!
Sau khi vượt qua những giai đoạn đánh đuổi tâm ma, thì ta sẽ bước vào giai đoạn nhất tâm! Sau khi nhất tâm ta sẽ thấy được cảnh giới nội tâm và cảnh giới bên ngoài. Cảnh giới nội tâm là những gì khi ta ngủ mới thấy. Còn cảnh giới bên ngoài là khi ta đang thức mà thấy. Khi thấy được cảnh giới nội tâm, thì giấc mơ của ta sẽ hoàn toàn khác hẳn với những giấc mơ bình thường trước kia. Tại sao? Vì giấc mơ của nội tâm rõ ràng y như thật và mỗi giấc mơ đều có sự kỳ diệu. Chữ kỳ diệu ở đây bao gồm nhiều ý nghĩa như là: Đẹp, kỳ lạ, thần kỳ… Tóm lại, khó có thể giải thích bằng lời để cho quý bạn hiểu hoặc tin, vì những cảnh giới đó không có ở thế gian chúng ta, chỉ có người nào chứng ngộ mới thấy được thôi.
Ở đây, tôi xin nêu ra vài điều mà tôi đã thấy (chỉ nói về cảnh giới) để quý bạn có thể hình dung, còn tin hay không là tùy quý bạn. Trong giấc mơ tôi thường thấy đủ cảnh đẹp, danh lam thắng cảnh. Tất cả đều to lớn, sông núi xanh tươi mát rượi thoải mái. Mặt nước yên tịnh, lấp lánh, trong suốt thấy tận đáy. Ánh nắng vàng nhu nhuyễn nhẹ nhàng an lạc thân tâm. Cả bầu Trời đều là cầu vòng ngũ sắc, mưa ngũ sắc. Tượng rồng mỗi con đều làm bằng ngọc báu đủ màu khác nhau. Tượng nào cũng to lớn cả một góc trời. Chim đủ màu to lớn. Chuỗi và chuông cũng đều to lớn. Tóm lại, có rất nhiều cảnh vật to lớn lạ thường.
Trước kia tôi thường hay mơ ước được đi coi danh lam thắng cảnh của thế gian. Nhưng từ khi có cảnh giới nội tâm, tôi không còn mơ ước nhiều nữa. Vì trên thế gian này không có cảnh nào đẹp bằng cảnh giới của nội tâm. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta tham đắm. Cảnh giới nội tâm tuy có, nhưng ta không nên chấp có hoặc chấp không. Vì cảnh giới nội tâm vốn có cũng vốn không.
Có: Là nói trên công phu tu tập đã có sự chứng đắc, nên ta mới thấy được cảnh giới của nội tâm. Nghĩa là ta đã chứng ngộ được một phần của chân như (tức là thấy được một phần diệu tâm của ta).
Không: Là nói trên cảnh của nội tâm. Cảnh tuy có nhưng không tồn tại, vì khi ta thức giấc thì cảnh đó cũng tan. Tóm lại, chúng ta hãy để chúng tự nhiên không nên phân biệt, mà hãy coi như mình đang trên đường tìm về cõi Phật. Mỗi đoạn đường đi qua, ta sẽ thấy nhiều cảnh lạ khác nhau. Vừa đi vừa ngắm không sao, nhưng đừng để cảnh làm mê hoặc. Vì nếu bị mê hoặc thì đường tu của ta sẽ bị lạc vào ma đạo. Chúng ta cứ một lòng tiến bước đi nhanh về nhà để gặp Phật A Mi Đà. Khi đến được cõi Phật rồi, thì có thiếu gì cảnh đẹp bảy báu trang nghiêm, để cho ta vui chơi và hưởng lạc vĩnh cửu!
Kính thưa quý bạn! Có chuyện này rất là quan trọng, tôi kể ra đây là mong quý bạn có thêm kinh nghiệm. Có một đêm tôi nằm mơ, tuy nói là mơ nhưng không phải. Vì sau khi thức dậy hồn của tôi vẫn còn bị hồi hộp, cho tới gần một tuần mới được định tâm. Trong giấc mơ tôi thấy mình bước vào một căn phòng có tấm gương lớn. Tôi nhìn vào gương, nhưng không thấy người của tôi. Lúc đó, tôi chưa kịp hốt hoảng, thì hồn của tôi tự nhiên xuất ra bay xuyên qua nóc nhà, qua xóm, qua phố và bay vào hư không. Trong lúc hồn xuất ra, tôi thấy thân của tôi vẫn còn đứng ở trong căn phòng đó, nên tôi lo sợ đủ thứ. Tôi sợ lỡ có ai đó vào phòng đem thân xác của tôi đi. Phần tôi lại sợ bị chúng ma hãm hại. Hồn của tôi lúc đó bay chới với giữa hư không, thật là sợ hãi vô cùng.
Trong lúc sợ hãi, tôi dùng hết sức để niệm Phật. Niệm được một hồi thì hồn tôi đứng lại giữa hư không. Rồi tự nhiên tôi thức dậy và thấy miệng của tôi đang còn niệm Phật. Qua lần xuất hồn đó, tôi đã thấu hiểu được nhiều điều. Trước kia tôi không hiểu tại sao quý Ngài Sư tổ bên Thiền tông, cuối cùng đều khuyên Phật tử nên tu niệm Phật. Sau lần xuất hồn đó tôi mới hiểu, vì cảm giác xuất hồn thật là sợ hãi. Vì hồn rất nhẹ và bay rất nhanh, cho dù một người có định lực cao cũng không thể khống chế, chưa nói là lỡ gặp chướng duyên. Cảm giác của tôi lúc đó như bị rơi vào cơn xoáy giữa hư không. Không điểm tựa, không phương hướng và hoang mang sợ hãi. Nhưng khi niệm Phật, tâm của tôi cảm thấy an ổn và cảm giác an toàn, như người sắp chết đuối gặp được cái phao. Cảm giác đó khó có thể giải thích bằng lời.
Qua lần xuất hồn đó, tôi hiểu thêm một điều quan trọng nữa đó là: Nếu chúng ta hằng ngày niệm Phật được ăn sâu vào tâm thức. Dù phút lâm chung nghiệp nặng còn nhiều; không may gặp chướng duyên làm thể xác bị đau đớn; sanh tâm thù hận quên đi niệm Phật; không được Phật đến tiếp dẫn ngay lúc đó. Nhưng sau khi chết, dù hồn của ta có bị lưu lạc tứ phương hay bị chúng ma níu kéo. Trong lúc sợ hãi ta sẽ nhớ đến câu niệm Phật. Chỉ cần ta niệm Phật, thì dù có ở trong địa ngục, ta cũng được chư Phật đến nơi tiếp dẫn. Nếu hằng ngày chúng ta không lo tu niệm Phật để ăn sâu vào tâm thức. Khi bị nghiệp lực dẫn dắt sợ hãi và hoang mang, chúng ta sẽ không dể gì mà giữ được chánh niệm.
Chuyển biến thân tâm: Còn điều này rất là quan trọng đó là: Khi bắt đầu niệm Phật thân tâm của ta sẽ cảm thấy yên tịnh. Niệm một thời gian thì thân tâm của ta sẽ cảm thấy hồi hộp và khó chịu mỗi khi thấy những cảnh đau lòng, hay coi những phim sợ hãi. Lâu ngày, ta sẽ không còn muốn coi những phim sợ hãi nữa. Tại sao? Vì ông Phật trong ta đã được thức tỉnh, nên thân tâm và hành vi của ta cũng được chuyển đổi từ bi và thanh tịnh. Trí tuệ của ta cũng được khai mở và buông xả tham đắm theo thời gian, mà chính mình cũng không hay. Đây là sự nhiệm mầu của câu A Mi Đà!
Sau khi qua giai đoạn hồi hộp, ta sẽ bước vào giai đoạn định (tức định trên tâm vọng). Sau khi được định, ta sẽ bước qua giai đoạn “nhất tâm” (tức được chánh định). Sau khi được nhất tâm, cho dù ta có đi, đứng hay nằm, ngồi đều được an vui và tự tại. Đặc biệt là những lúc tĩnh tọa niệm Phật, ta sẽ quên hết thân tâm, cảnh vật; quên cả không gian và thời gian, chỉ còn lại mỗi câu A Mi Đà Phật là hiện hữu
Kính thưa quý bạn! Nói về cảnh giới nội tâm thì là đa dạng và biến hóa không thể nghĩ bàn. Nhưng dù chúng có biến hóa thế nào, thì cũng không ra ngoài bốn nguyên nhân chính sau đây đó là: Có những giấc mơ từ trong tự tánh hiển lộ ra. Có những giấc mơ từ trong tàng thức hiển lộ ra. Có những giấc mơ từ ngoài tác động vào. Có những giấc mơ vì ban ngày vọng tưởng mà đêm ta mộng thấy. Tóm lại, tuy chỉ có bốn nguyên nhân chính, nhưng trong mỗi nguyên nhân chính đó, còn có vô lượng nguyên nhân phụ khác. Vì vậy mà chúng ta ai cũng có vô lượng giấc mơ giả, thật và đẹp, xấu khác nhau, không ai giống ai. Nhưng cho dù giả hay thật, đẹp hay xấu thì ta cũng không nên xem trọng hay chấp trước. Vì đa số giấc mơ đều là do tâm vọng của ta biến hiện ra. Vì vậy ta không nên lo sợ hay vui mừng mà chỉ để chúng tự nhiên. Nếu trên đường tu hành, chúng ta thấy được những cảnh giới đặt biệt nào đó, thì nên để chúng qua một bên rồi từ từ tìm hiểu sau. Vì sự tìm hiểu về những giấc mơ đặc biệt, cũng sẽ giúp cho ta có thêm kinh nghiệm trong việc tu hành và độ tha. Tóm lại, người tu hành điều quan trọng là phải luôn giữ tâm của mình thanh tịnh. Có như vậy thì ta mới không bị chúng ma mê hoặc.
Đánh Đuổi Tâm Ma
Trong mỗi chúng ta đều có vô số tâm ma và tâm thú khác nhau. Có người tâm ma mạnh, có người tâm ma yếu. Nhưng dù có tâm ma mạnh hay yếu cũng không quan trọng. Điều quan trọng là tâm Phật của ta có đủ mạnh để đánh đuổi được tâm ma và tâm thú ra khỏi người của ta hay không.
Ở đây, tôi xin kể một câu chuyện mà tôi đã trải qua khi đánh đuổi tâm ma, tâm thú để quý bạn tìm hiểu thêm. Chỉ cần hiểu rõ thì ta sẽ không sợ khi phải đối diện với chúng. Tuy mỗi người đều có tâm ma, tâm thú khác nhau. Nhưng cách đánh đuổi tâm ma, tâm thú trong ta thì chỉ có một đó là: “Ý chí dũng mãnh và quyết tâm niệm Phật không thối chuyển”. Vì chỉ có câu Phật hiệu A Mi Đà mới đánh đuổi được hết tâm ma, tâm thú ra khỏi người chúng ta.
Có một đêm tôi nằm mơ (giấc mơ của nội tâm), tôi đi vào một khu rừng có nhiều cây cối âm u rất lớn. Trong tâm tôi cho biết ở đây có nhiều rắn độc. Ý nghĩ trong tâm chưa kịp dứt, thì tự nhiên có ba con rắn độc rất lớn nhào tới, chúng muốn giết hại tôi. Lúc đó, trong tay tôi tự nhiên có một sợi dây thừng rất lớn, trong tâm tôi cho biết chỉ có sợi dây thừng này mới đối phó được với chúng. Tôi liền dùng dây thừng quất chúng tới tấp. Trong lúc đánh nhau với chúng tôi nghĩ thầm: “Tôi phải tiêu diệt chúng. Nếu không, chúng sẽ hại tôi và hại vô số người”.
Đánh nhau một hồi chúng sợ bỏ chạy, tôi rượt theo đến hang của chúng. Hang của chúng rất lớn ở trong một hang núi. Tôi đứng núp một bên để rình. Trong hang âm u có một ngọn đèn lập lòe. Khi chúng vừa bò vào trong thì liền biến thành người. Chúng kề tai to nhỏ như bày mưu để đối phó với tôi. Tôi đứng ở bên ngoài vừa sợ, vừa quyết tâm phải tiêu diệt chúng, vì vậy tôi canh ở ngoài để chờ chúng bò ra.
Một lát sau chúng biến thành rắn bò ra ngoài. Chúng vừa ló đầu thì tôi liền dùng dây thừng quất chúng tới tấp. Dây thừng quất tới đâu thì chúng đứt ra từng khúc tới đó. Nhưng chúng rất mạnh và có phép thuật, vì vậy dù bị đứt khúc, nhưng chúng tự nối và trở lại nguyên hình. Lúc đó, tôi càng đánh tâm tôi càng sợ hãi, nhưng ý chí của tôi nói với mình rằng:Không được thua mà nhất định phải thắng. Nếu thắng không được thì bất quá ôm nhau chết chung”.
Lúc đó, ý nghĩ trong tôi chưa kịp dứt, thì bỗng nhiên sợi dây thừng trên tay tôi liền biến thành con rắn. Tôi hốt hoảng vứt con rắn đó xuống đất và trong tâm tôi nói với chúng rằng:Dù không có dây thừng, tao vẫn chết sống với tụi bây. Không ngờ con rắn tôi vừa vứt xuống đất, nó liền lăn tới quấn chặt ba con rắn kia để chết chung. Sau đó, thân xác của chúng từ từ tan rã. Rồi tự nhiên có một dòng nước trong mát từ đâu chảy đến, làm tiêu tan hết những chất dơ bẩn tanh hôi, cây cối cỏ hoa cũng bắt đầu từ từ mọc lên xanh tươi hết cả khu rừng. Tâm của tôi cũng từ từ mát rượi, nhẹ nhàng và thoải mái.
Lúc đó, tôi mừng là đã thoát được một cơn sống chết, nhưng tôi buồn và hối hận vì đã hiểu lầm sợi dây thừng. Tôi cứ tưởng nó biến thành rắn để hại tôi, nhưng không ngờ nó vì tôi mà liều mạng chết chung với ba con rắn kia. Trong lúc thương tiếc, thì bỗng nhiên có một giọng nói đàn bà nhẹ nhàng thoảng qua tai:Con đã thắng rồi, con đã thắng rồi”. Tôi giật mình thức dậy, thấy mồ hôi ướt đẫm cả người. Sau khi thức dậy tim của tôi vẫn còn hồi hộp và suy nghĩ về câu chuyện đó mãi. Qua mấy ngày sau thì tôi được nhất tâm! Sau khi được nhất tâm, tôi mới hiểu được chân tướng của giấc mơ đó. Thì ra ba con rắn độc kia là ba tâm độc tham, sân, si của tôi! Trong mỗi chúng ta, ai cũng đều có ba tâm độc này, vì vậy mà chúng ta mới bị chúng hành hạ đau khổ luân hồi vô số kiếp.
Còn sợi dây thừng trong tay tôi chính là tôi! Vì vậy trong lúc tôi nghĩ đến là sẽ ôm chúng để chết chung, thì sợi dây thừng đó liền biến thành con rắn lăn tới ôm chúng để chết chung! Còn khu rừng trước đó âm u, sau khi tiêu diệt được ba con rắn độc, thì khu rừng trở lại sáng sủa, xanh tươi và mát rượi. Khu rừng là biểu tượng cho tâm thanh tịnh của tôi (nghĩa là tâm Phật). Tâm Phật của ta lúc nào cũng trong sáng và thanh tịnh. Chẳng qua ba tâm độc tham, sân, si trong ta quá mạnh, nên đã chôn vùi đi tâm Phật của ta. Khiến cho ta phải bị lặn hụp đau khổ luân hồi vô số kiếp. Nhờ tôi niệm Phật nhiều năm không gián đoạn, nên tâm Phật của tôi mới có đầy đủ thần lực và ý chí dũng mãnh, để tiêu diệt ba tâm độc tham, sân, si của tôi, để tôi được nhất tâm. Nhất tâm nghĩa là tôi đã làm chủ được tâm thanh tịnh của tôi.
Kính thưa quý bạn! Muốn đánh đuổi được tâm ma, tâm thú thì ta chỉ cần niệm Phật, chúng sẽ tự nhiên tiêu tan biến mất! Nhưng muốn tâm ta niệm Phật được thuần thục, thì ta phải siêng năng niệm Phật mỗi ngày không gián đoạn. Có như vậy thì tâm Phật của ta mới có đủ thần lực để đánh đuổi tâm ma và tâm thú ra khỏi người chúng ta. Niệm Phật không gián đoạn nghĩa là: Tùy theo hoàn cảnh mà ta tự đặt ra thời khóa cho mình. Khi đã đặt ra rồi thì không nên bỏ, như vậy gọi là niệm Phật không bị gián đoạn. Nếu ta niệm một ngày mà bỏ cả tháng thì gọi là bị gián đoạn.
Quý bạn nên biết rằng: Trong mỗi chúng ta ai cũng có bốn chủng tử tâm làm căn bản đó là: Tâm Phật, tâm Người, tâm Ma và tâm Thú. Khi ta chết tâm nào trong ta mạnh hơn, thì tâm đó sẽ dẫn ta đi tái sanh làm thân đó! Nghĩa là nếu tâm thú của ta mạnh hơn, thì ta sẽ đi tái sanh làm thân thú! Tại sao? Vì tâm thú phải đi làm thú, đó là điều đương nhiên.
Cũng như cuộc sống hằng ngày chúng ta thường thấy: Người có tâm tốt thì đi tới những nơi làm việc từ thiện giúp người (tâm Người). Người có tâm tham thì đi lường gạt trộm cướp (tâm Thú). Người có tâm ác thì đi hãm hại giết người (tâm Ma). Người có tâm Phật thì đi tu hành độ chúng (tâm Phật). Khi sống tâm của ta dẫn dắt, khi chết tâm của ta cũng dẫn dắt ta đi. Không có Trời, Phật hay một đấng Thiên liêng nào có thể xếp đặt, trừng phạt hay ban phước cho ta.
Nếu chúng ta biết tu hành độ chúng, thì chư Phật và Bồ tát lúc nào cũng gia hộ cho ta. Gia hộ không có nghĩa là xếp đặt việc luân hồi của ta, mà là trợ lực cho ta có đủ phương tiện, khả năng tự độ và độ tha! Dù Trời Phật có muốn xếp đặt việc luân hồi của ta cũng không được. Tại sao? Vì tạo hóa có luật của tạo hóa. Nếu Phật, Trời có thể xếp đặt thì quý Ngài đã biến cõi Ta bà đau khổ này thành Thiên đàng vĩnh cửu hết rồi. Quý Ngài không cần phải cực nhọc thị hiện xuống đây để dạy cho ta tu hành giải thoát.
Chuyển Biến Khi Khôi Phục Sáu Căn
Ở đây tôi xin chia sẻ một chút kinh nghiệm, khi khôi phục được sáu căn thanh tịnh, để quý bạn tìm hiểu thêm. Chúng ta ai cũng có sáu căn đó là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Tuy có, nhưng chúng ta không biết làm chủ sáu căn của mình. Ngược lại, còn để cho chúng điều khiển và hại ta luân hồi không thể thoát ra! Chúng ta xưa nay vì không biết làm chủ sáu căn của mình, nên để cho chúng tự làm chủ như là: Mắt thì làm chủ của cái thấy. Tai thì làm chủ của cái nghe. Mũi thì làm chủ của cái ngửi. Lưỡi thì làm chủ của cái nếm. Thân thì làm chủ của cảm thọ. Ý thì làm chủ của tư tưởng.
Vì mỗi căn đều có bản lĩnh riêng, nên chúng không chịu dung thông, hợp nhất với nhau. Ngược lại, chúng lúc nào cũng đố kỵ và tranh chấp với nhau như là: Mắt của ta thì thấy món ăn đó ngon, nhưng lưỡi của ta thì không thích vì quá đắng; hoặc mắt của ta không thích màu sắc của chiếc áo đó, nhưng thân của ta thì thích, vì nó mát mẻ và thoải mái... Tóm lại, sáu căn của ta lúc nào cũng đố kỵ và tranh chấp lẫn nhau không ngừng, nên mới hại ta bị luân hồi sanh tử mãi. Tại sao chúng lúc nào cũng đố kỵ và tranh chấp lẫn nhau? Là vì chúng không có người chỉ dạy. Nay được thức tỉnh, ta phải biết làm chủ sáu căn của mình và dạy cho chúng biết dung thông, hợp nhất với nhau!
Thay vì trước kia ta để cho chúng khống chế, nên mắt của ta chỉ thấy nhưng không thể nghe, ngửi, nếm, cảm giác hay khởi ý. Các căn khác cũng vậy, đều bị hạn chế! Nay ta trở về điều khiển cho sáu căn của ta được dung thông, hợp nhất với nhau, thì mắt của ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác và khởi ý. Các căn khác cũng vậy, đều có bản năng giống nhau! Nói như vậy không có nghĩa là ta không cần dùng đến bản năng đặc biệt của mỗi căn. Dĩ nhiên là ta vẫn dùng sáu căn của mình như cũ không thay đổi. Chỉ có khác ở chỗ là: Sáu căn của ta bây giờ được sáng suốt và hòa thuận với nhau, không còn si mê chạy theo sáu trần, để tranh chấp với nhau nữa. Sáu trần đó là: Sắc, thanh, hương, vị, súc pháp (phần này tôi đã giải thích rõ trong bài “Tâm là gì” rồi).
Sáu căn của ta không còn bị khống chế nghĩa là: Mắt của ta bây giờ nhìn thấy sắc, nhưng không bị sắc làm mê hoặc! Tai nghe âm thanh, nhưng không bị âm thanh cám dỗ! Lưỡi nếm vị nhưng không để vị đắm nhiễm! Các căn khác cũng vậy, nên gọi là sáu căn thanh tịnh! Nói như vậy không có nghĩa là ta trở thành gỗ đá, không còn biết thưởng thức hay chiêm ngưỡng. Nếu tu để rồi trở thành gỗ đá thì ai còn dám tu? Quý bạn nên biết tu hành là bỏ cái ta giả để trở về với cái ta thật, không phải tu để rồi không còn có cái ta nào. Nếu tu để rồi không còn cái ta nào vậy ai thành Phật? Nếu không có ai thành Phật thì làm sao có chư Phật?
Kính thưa quý bạn! Qua sự phân tích tóm lược ở trên, quý bạn đã hiểu được ý nghĩa thông sáu căn rồi, giờ tôi xin chia sẻ vào kinh nghiệm. Khi chúng ta niệm Phật có đủ thần lực, thì thần lực của ta sẽ dung thông được sáu căn. Lúc đó, ta sẽ thấy có một luồng khí lực trong người, từ đan điền (dưới lỗ rốn) đột phá và chạy lên qua khỏi đỉnh đầu của ta. Khi luồng khí lực đó chạy từ lỗ rốn lên tới gần giữa lồng ngực, thì nó sẽ tự động chẻ ra làm hai như chữ “V kép” và từ từ mở lớn ra. Luồng khí lực đó càng đột phá lên cao, thì độ chẻ của nó càng lớn hơn. Nó chẻ lớn tới đâu thì sáng rực tới đó! Nghĩa là ở giữa hai lằn chẻ ra thì sáng rực, còn hai bên bị chẻ ra thì tối đen. Nó cũng giống như một tấm màn đen che cửa sổ, bị ta dùng kéo cắt tỉa nó ra làm đôi. Cắt tới đâu thì độ rách của nó càng lớn, ánh sáng mặt Trời càng chiếu vào nhà sáng hơn.
Khi luồng khí lực đó đột phá lên tới đỉnh đầu, thì ta sẽ không còn thấy thân, mặt và đầu của mình ở đâu nữa, mà chỉ thấy cảnh vật chung quanh và cảm giác hai luồng khí lực tuôn ra hai bên lỗ tai kêu rét rét, làm cho tai của ta cảm thấy đau buốt. Luồng khí lực đó đột phá khoảng gần một phút. Trong thời gian gần một phút đó, ta có thể dùng sáu căn để thay thế cho nhau. Nghĩa là lúc đó ta có thể dùng thân để thấy, dùng mắt để cảm nhận, dùng mũi để nghe… Tóm lại, ta có thể dùng một căn để thay thế cho sáu căn, thật là vi diệu không thể nghĩ bàn! Khi luồng khí lực đó đột phá đến đâu, ta sẽ cảm nhận được sự an lạc và thông suốt đến đó! Sự an lạc và thông suốt đó không thể giải thích bằng lời, chỉ có ai chứng ngộ mới cảm nhận được thôi. Cảnh giới này bên Thiền tông gọi là “Lăng Nghiêm đại định”.
Sau khi khôi phục được sáu căn thanh tịnh, chúng ta lúc nào cũng cảm thấy từ lỗ rốn lên tới đỉnh đầu của mình, trống rỗng như không có vật gì. Trống rỗng tới mức độ, ta cảm nhận được mỗi hơi thở của mình từ trên thông xuống tới lỗ rốn mát rượi thoải mái và từ lỗ rốn thông lên qua đỉnh đầu rất là an lạc! Từ đó, mỗi khi nhắm mắt, ta sẽ không còn thấy thân của mình hiện hữu nữa. Sáu căn của ta lúc nào cũng được thanh tịnh và sáng suốt, không còn chạy theo trần cảnh. Rồi qua vài ngày sau, ta sẽ không còn thấy hơi thở của ta thông xuống lỗ rốn hay thông lên đỉnh đầu nữa, mà là thông cả toàn thân trên dưới, trong ngoài đều thanh tịnh!
Kính thưa quý bạn! Người tu Thiền trước hết là phải khôi phục lại được sáu căn thanh tịnh, rồi sau đó mới khôi phục được thần thông thanh tịnh của sáu căn. Còn người tu Tịnh thì hoàn toàn khác hẳn. Chúng ta có thể khôi phục sáu căn và thần thông thanh tịnh cùng một lúc! Tại sao? Vì mỗi niệm của ta đang niệm, một bên là khôi phục thần thông của sáu căn! Còn một bên là khôi phục sáu căn thanh tịnh! Nghĩa là cho dù hiện tại ta chưa khôi phục được sáu căn dung thông hợp nhất với nhau, nhưng ta có thể khôi phục được từng phần thần thông thanh tịnh của sáu căn!
Ở đây chúng tôi xin lấy sự thành tựu của hai chị em tôi để phân tích, thì quý bạn dễ hiểu hơn. Chị Diệu Ngọc của tôi thì khôi phục được sáu căn thanh tịnh trước, rồi sau đó mới khôi phục được một phần thần túc thông (chỉ mới khôi phục được thần túc thông thôi). Còn tôi thì khôi phục được một phần “nhĩ thông”, ‘nhãn thông” và “thần túc thông” thanh tịnh trước, rồi sau đó mới khôi phục được “sáu căn thanh tịnh”. Tại sao? Vì sự tu hành và túc mạng của hai chị em tôi có chỗ khác nhau. Túc mạng nghĩa là sự tu hành và hạnh nguyện của chị em tôi trong quá khứ có khác nhau, nên kiếp này sự chứng ngộ cũng khác nhau.
Tuy sự chứng ngộ của hai chị em tôi trước sau có khác nhau. Nhưng sự chuyển biến của chứng ngộ thì giống nhau không khác! Cũng như sự chuyển biến khi khôi phục được thần túc thông và sự chuyển biến khi dung thông được sáu căn của hai chị em tôi đều giống nhau! Tôi chỉ khác với chị tôi ở chỗ là: Vì tôi khôi phục được một phần thần túc thông, nhĩ thông và nhãn thông trước, nên sự đột phá khi thông sáu căn của tôi mạnh hơn của chị tôi. Mạnh hơn nghĩa là: Trong thời gian luồng khí lực trong tôi đột phá từ lỗ rốn lên tới đỉnh đầu, thì Thần thức của tôi cũng xuất ra, Nhĩ thông và Huệ nhãn của tôi cũng chuyển biến! Tóm lại, lúc đó tôi thấy được bốn cảnh giới chuyển biến khác nhau:
1. Tôi thấy có một luồng khí lực từ lỗ rốn chạy lên đỉnh đầu, chẻ người tôi ra làm hai và tuôn ra hai bên tai như là thác lũ!
2. Tôi thấy trong tôi có một cơn lốc rất mạnh vụt khỏi đỉnh đầu bay lên hư không (tức thần thức của tôi xuất ra)!
3. Tôi nghe được tiếng người và vạn vật chung quanh (tức nhĩ thông của tôi mở ra).
4. Tôi thấy bạch hào quang ở giữa hai chân mày tôi xoay nhanh như cái chong chóng và biến hóa đủ màu (tức huệ nhãn của tôi chuyển biến).
Lúc đó, vì bốn sự việc biến chuyển cùng một lúc quá mạnh và quá nhanh, nên làm cho tôi hơi bị chới với. Nhưng sau đó thì tôi cảm thấy toàn thân trống rỗng và an lạc không thể tả! Tóm lại, chị tôi khi khai thông sáu căn rất là nhẹ nhàng, còn tôi thì mạnh như cơn lốc và biến hóa đủ dạng.
Kính thưa quý bạn! Nhiều năm qua có nhiều vị Tu sĩ và Cư sĩ gởi thơ hoặc gọi phone để chia sẻ sự chứng ngộ với chúng tôi. Qua những lời chia sẻ của chư vị đó, chúng tôi thấy sự chứng ngộ của họ không có khác chị em tôi lắm. Trong số những chư vị đó, có vị thì thông được sáu căn, nhưng chưa khôi phục được thần thông của sáu căn. Còn có vị thì khôi phục được thần thông của một vài căn, nhưng chưa thông được sáu căn. Tóm lại, tuy mỗi người có sự chứng ngộ trước sau không đồng, nhưng sự chuyển biến và cảnh giới thì tương tự không sai biệt lắm. Nó chỉ có khác ở chỗ là: Có người thì khôi phục được thần thông ít, có người thì khôi phục được thần thông nhiều (thần thông của tâm thanh tịnh, không phải là thần thông biến hóa). Nhưng dù khôi phục được nhiều hay ít, thì khi về Cực Lạc ta sẽ thành Phật giống nhau không khác!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM  LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment