THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN.
I
NHƠN-DUYÊN sanh ra cõi đời, có mười hai pháp, hằng, chuyền-níu nhau mãi, do đó chúng-sanh mới có, mới khổ, và rồi sau khi có khổ là tấn-hoá hay tiêu-diệt:
| Vô-minh sanh ra hành, Hành sanh ra thức, Thức sanh ra danh-sắc, Danh-sắc sanh ra lục-nhập Lục-nhập sanh ra xúc, Xúc sanh ra thọ, Thọ sanh ra ái, Ái sanh ra thủ, Thủ sanh ra hữu, Hữu sanh ra sanh, Sanh sanh ra tử. |
Tử trở lại vô-minh và luân-hồi quanh-quẩn chịu khổ nhọc. Vô-minh là không sáng hay là chưa có biết, cũng là cảnh võ-trụ, từ khi chưa có tứ-đại và chúng-sanh, ta không thể biết được. Vô-minh sanh ra hành. Hành là nước, đất, lửa, gió chuyển xây, thành quả địa-cầu rung động và thay đổi.
Hành sanh ra thức: Thức là cái biết, cái sống của chúng-sanh.
Thức sanh ra danh sắc: Danh sắc là tên gọi và sắc thân.
Danh-sắc sanh ra lục nhập: Lục nhập là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nơi ngoài; thức trong xúc đối tượng sanh mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Lục-nhập sanh ra xúc: Xúc là sự xúc đối, xúc-động, cảm-xúc, xúc-giác, xúc-tiếp, của giữa căn và trần.
Xúc sanh ra thọ: Thọ là ưa chịu, là thức do căn mà nhiễm trần.
Thọ sanh ra ái: Ái là thương yêu tríu mến, lục-trần, lục-căn và chúng-sanh các pháp.
Ái sanh ra thủ: Thủ là cất lấy giữ-gìn
Thủ sanh ra hữu: Hữu là có, cho là thiệt, có hoài hoài.
Hữu sanh ra sanh: Sanh là sanh-sản, nẩy-nở, chế biến tạo thêm.
Sanh sanh ra tử: Tử là thay đổi chết mất, tàn, tiêu, không-không diệt bỏ tan hoại.
Sau đó chúng-sanh trở lại nữa, quanh-quẩn trong bao nhiêu công việc, lay-quay chịu khổ nhọc mà không công, đành sống trong chiêm-bao hình bóng, ban đêm lo sợ, chẳng biết đi đâu, ở đâu ra sao. Cũng như cá cạn ở ao không đường lui tới, mặc cho may rủi, tôi mọi cho quỉ ma vậy.
II
Đó là mười hai nhơn-duyên của tứ-đại, còn đây là mười hai nhơn-duyên của chúng-sanh:
VÔ-MINH là thuở chưa có thai, chưa biết được. Sanh ra HÀNH là sự giao hợp. Sanh ra THỨC là cái biết, cái sống trong bào thai. Sanh ra DANH-SẮC là tên gọi và sắc thân. Sanh ra LỤC-NHẬP là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nhập vào sáu căn lúc mới sanh. Sanh ra XÚC là sự cảm-xúc, xúc tiếp, xúc-động, xúc-giác, xúc-đối. Sanh ra THỌ là ưa chịu, muốn ham. Sanh ÁI là thưong yêu trìu mến kẻ khác.
Sanh ra THỦ là lấy giữ vợ-chồng làm của riêng, ích-kỷ, tư-lợi, thói xấu. Sanh ra HỮU là có thai, có gia-đình riêng tư, có tham, sân, si độc ác, có sự nghiệp, cái có cho mình. Sanh ra SANH là sanh con nẩy cháu, sanh thêm tội ác nghề-nghiệp chơi bời khổ trược. Sanh ra TỬ là chết mất tiêu diệt, không không, bởi các việc sanh mà mau chết mất; càng sanh hoá, càng tiêu hoại đổi thay để mà chịu khổ nhọc. Đổ bể sắm thêm thất-bại thì làm lại cứ mãi xoay tròn như thế, trong sự dốt nát vô-minh. Chết rồi chỉ biết cõi đời có bấy nhiêu, đi nhập thai sanh lại nữa
Sống để rồi chết, chết để rồi sống, cam chịu luân-hồi, chẳng hiểu sao thiệt-giả, làm ăn, học-hành, nghề-nghiệp, danh lợi, tình yêu, giành-giựt, cướp bóc, chen đua trong vật chất để mua lấy cái sống tạm không chừng, cầu cho được vui, hay êm sướng, tới đâu hay đó; chẳng hề biết đầu trên chân dưới thiện ác ra sao! Hễ cái chi vừa ý thì chen chúc chui vào, bất phân phải quấy, khổ để chịu khổ, kham chịu cho là số phận hoặc tại thần quyền ám-muội. Ấy cũng bởi ở trong cái có.
VÔ-MINH là thuở chưa có thai, chưa biết được. Sanh ra HÀNH là sự giao hợp. Sanh ra THỨC là cái biết, cái sống trong bào thai. Sanh ra DANH-SẮC là tên gọi và sắc thân. Sanh ra LỤC-NHẬP là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nhập vào sáu căn lúc mới sanh. Sanh ra XÚC là sự cảm-xúc, xúc tiếp, xúc-động, xúc-giác, xúc-đối. Sanh ra THỌ là ưa chịu, muốn ham. Sanh ÁI là thưong yêu trìu mến kẻ khác.
Sanh ra THỦ là lấy giữ vợ-chồng làm của riêng, ích-kỷ, tư-lợi, thói xấu. Sanh ra HỮU là có thai, có gia-đình riêng tư, có tham, sân, si độc ác, có sự nghiệp, cái có cho mình. Sanh ra SANH là sanh con nẩy cháu, sanh thêm tội ác nghề-nghiệp chơi bời khổ trược. Sanh ra TỬ là chết mất tiêu diệt, không không, bởi các việc sanh mà mau chết mất; càng sanh hoá, càng tiêu hoại đổi thay để mà chịu khổ nhọc. Đổ bể sắm thêm thất-bại thì làm lại cứ mãi xoay tròn như thế, trong sự dốt nát vô-minh. Chết rồi chỉ biết cõi đời có bấy nhiêu, đi nhập thai sanh lại nữa
Sống để rồi chết, chết để rồi sống, cam chịu luân-hồi, chẳng hiểu sao thiệt-giả, làm ăn, học-hành, nghề-nghiệp, danh lợi, tình yêu, giành-giựt, cướp bóc, chen đua trong vật chất để mua lấy cái sống tạm không chừng, cầu cho được vui, hay êm sướng, tới đâu hay đó; chẳng hề biết đầu trên chân dưới thiện ác ra sao! Hễ cái chi vừa ý thì chen chúc chui vào, bất phân phải quấy, khổ để chịu khổ, kham chịu cho là số phận hoặc tại thần quyền ám-muội. Ấy cũng bởi ở trong cái có.
III
Lại nữa, cái khổ vô lý của chúng-sanh, là sự mảng lo nuôi sống chơi bời, cho mình hay giỏi tốt đẹp, học tập chữ tiếng, tự cao chấp tuổi mà đành chịu dốt nát VÔ-MINH. Không chịu tầm-tòi, quán-xét, ngó trước xem sau; hiện tại nay lần mai lữa, đến đâu hay đó, không thông chân-lý, chẳng biết lấy mình, mờ-mịt trong bóng tối, thôi thì cứ lần mò mà HÀNH ma tác quái, nhào lộn trong cái khổ múa xây thở mệt, cố an-ủi phủi quên, để nuôi giấc mộng đặng mà ngủ cứ ngủ, vui chịu sự hành-hà, lại còn tự-thị tài sức trí-THỨC mưu mô, nương theo DANH-SẮC, hình đẹp bóng xinh, tiến-tăm thanh-dịu mùi vị ngon thơm vật-chất bóng mịn, cố chấp mong cầu, để cho sáu căn thâm nhập, gọi là LỤC-NHẬP. Càng tiếp-XÚC vật-chất, càng sanh THỌ chịu, lấy tham sân si làm của-cải, gọi thân khẩu ý là ta, nên luyến ÁI không rời. Lấy giữ chúng-sanh làm quyến-thuộc mà THỦ giữ mãi, chấp là có HỮU. Thay đi đổi lại, có vẫn có hoài, thế mới SANH đi sanh lại. Đế TỬ chết rồi không quen chỗ vắng cảnh không, nhớ người nhớ vật, khổ ý phải nhập thai, luân-hồi mãi mãi, chỉ biết có bấy nhiêu, thả trôi theo nguồn dục-vọng , mặc cho cái thức nổi chìm.
Có kẻ lại vì quá tham sanh mà nhẩn tâm tàn bạo, đến nỗi phải bị khổ điên, tiêu diệt luôn cái THỨC, tử rồi mất luôn. Cũng có kẻ mãi giữ-gìn, chấp có cuộc đời: chọn chết cái thức trong trần, đến khi tỉnh-ngộ biết ra cái sống chơn thật chủ nhơn, liền chết bỏ cái ta giả-dối, chết bỏ cái sở-chấp, mà yên lặng nín-nghỉ, vào cỏi chơn-như tịch-diệt Niết-Bàn. Sanh như thế tức là sự sanh sống bằng tinh-thần. Tử như vậy là chết bỏ vật-chất, của bậc giác-ngộ, mới là dứt khổ.
Có kẻ lại vì quá tham sanh mà nhẩn tâm tàn bạo, đến nỗi phải bị khổ điên, tiêu diệt luôn cái THỨC, tử rồi mất luôn. Cũng có kẻ mãi giữ-gìn, chấp có cuộc đời: chọn chết cái thức trong trần, đến khi tỉnh-ngộ biết ra cái sống chơn thật chủ nhơn, liền chết bỏ cái ta giả-dối, chết bỏ cái sở-chấp, mà yên lặng nín-nghỉ, vào cỏi chơn-như tịch-diệt Niết-Bàn. Sanh như thế tức là sự sanh sống bằng tinh-thần. Tử như vậy là chết bỏ vật-chất, của bậc giác-ngộ, mới là dứt khổ.
IV
Sự luân hồi xây đi lộn lại, nào biết ai là lớn nhỏ, ai là trước sau, cứ mãi bám víu lấy nhau, lăn tròn chóng mặt. VÔ-MINH không biết, lại là trụ-cốt. HÀNH ác tức cây căm xe chỉ xuống THỨC, thức mới tiến lên DANH-SẮC, LỤC-NHẬP, XÚC-THỌ, và ÁI, ái là trên cao ÁI CHÚNG-SANH bình-đẳng chhơn chánh, thì lên đến trí- huệ, vào ở chơn-như làm Phật bay bổng khỏi bánh xe khổ là luân-hồi. Còn trái lại nếu ÁI DỤC-TÌNH thì ích-kỷ độc-ác, nặng nề dính chặt, phải rớt lộn trở xuống THỦ HỮU SANH TỬ. Tử rồi còn thức nhập thai sanh danh-sắc lục-nhập, xúc, thọ, ái trở lại.
Cái vòng khổ ấy càng vô-minh tối-tăm, càng hành-ác vận chuyển. Chúng-sanh như con mọt đeo trụ-cốt vô-minh, mà phải điên đầu rối óc. Có kẻ níu lấy cây căm vành, mà phải bị rớt té chơi-vơi, lộn ruột. Người mà ôm chặt vành xe, là thức, danh-sắc, lục-nhập, ái, thủ, hữu, sanh, tử, thì phải bị chết dẹp tan hình; ấy là kẻ mãi sanh, sanh tội ác, khi chết rồi lại diệt, diệt tiêu
Vậy ta nên nhớ rằng: ÁI CHÚNG-SANH là hành thiện đến trí-huệ vào chơn-như, ngôi giác-mãn, sống đời đời không khổ. Còn ÁI TÌNH-DỤC, vạy tà, là hành ác đến vô-minh, vào vọngđộng, hạng si-mê chết tiêu chẳng chút vui.
Cái vòng khổ ấy càng vô-minh tối-tăm, càng hành-ác vận chuyển. Chúng-sanh như con mọt đeo trụ-cốt vô-minh, mà phải điên đầu rối óc. Có kẻ níu lấy cây căm vành, mà phải bị rớt té chơi-vơi, lộn ruột. Người mà ôm chặt vành xe, là thức, danh-sắc, lục-nhập, ái, thủ, hữu, sanh, tử, thì phải bị chết dẹp tan hình; ấy là kẻ mãi sanh, sanh tội ác, khi chết rồi lại diệt, diệt tiêu
Vậy ta nên nhớ rằng: ÁI CHÚNG-SANH là hành thiện đến trí-huệ vào chơn-như, ngôi giác-mãn, sống đời đời không khổ. Còn ÁI TÌNH-DỤC, vạy tà, là hành ác đến vô-minh, vào vọngđộng, hạng si-mê chết tiêu chẳng chút vui.
V
Thật vậy nếu trí-huệ làm trụ-cốt, hành thiện làm căm xe, chơn-như làm vành bánh, thì tức là bánh xe pháp. Chúng-sanh sẽ được cỡi phía trên, sáng chói vui chơi bay nhẹ. Hơn là lấy vô minh làm trụ-cốt hành-ác làm căm xe, vọng làm vành bánh, mà phải chịu thảm hình.
Trong bánh xe vô-minh luân-hồi, phải chịu tám khổ lớn; sanh, già, bệnh, chết, cầu muốn không được, thương yêu xa lìa, thù ghét gặp-gỡ, ngũ-uẩn thạnh hành…cả muôn điều khổ.
Còn trong bánh xe trí-huệ Niết-Bàn, lại có tám đạo: thấy chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, nuôi sống chánh, siêng-năng chánh, niệm-tưởng chánh, yên định chánh, thảy hưởng toàn vui
Vô-minh ví như cuồn dây rối, càng cựa quậy càng trói buộc mình, chẳng biết đầu đuôi. Trí-huệ như gươm hươi, cắt đứt chỉ mành, đuôi đầu đều rã đoạn. Trí-huệ là đứng ngừng nín nghỉ, thanh-nhàn an-tịnh. Vô-minh là chạy nhảy nói làm cấu trược ồn-ào, mệt-nhọc không công. Suốt trọn đời quay múa giễu trò, khi đến chết còn mê-muội sợ-sệt, dầu tỉnh ra cũng đã trể rồi, mong cầu kiếp khác, chưa biết ra sao!
Thế mới biết rằng: Trần thế khói bụi mịt-mờ, gió mưa lạnh lẽo, khổ chịu tự mình, khó than cùng chồng vợ, cha con quyến thuộc, có miệng mà chẳng kêu cứu được với ai ai.
Trong bánh xe vô-minh luân-hồi, phải chịu tám khổ lớn; sanh, già, bệnh, chết, cầu muốn không được, thương yêu xa lìa, thù ghét gặp-gỡ, ngũ-uẩn thạnh hành…cả muôn điều khổ.
Còn trong bánh xe trí-huệ Niết-Bàn, lại có tám đạo: thấy chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, nuôi sống chánh, siêng-năng chánh, niệm-tưởng chánh, yên định chánh, thảy hưởng toàn vui
Vô-minh ví như cuồn dây rối, càng cựa quậy càng trói buộc mình, chẳng biết đầu đuôi. Trí-huệ như gươm hươi, cắt đứt chỉ mành, đuôi đầu đều rã đoạn. Trí-huệ là đứng ngừng nín nghỉ, thanh-nhàn an-tịnh. Vô-minh là chạy nhảy nói làm cấu trược ồn-ào, mệt-nhọc không công. Suốt trọn đời quay múa giễu trò, khi đến chết còn mê-muội sợ-sệt, dầu tỉnh ra cũng đã trể rồi, mong cầu kiếp khác, chưa biết ra sao!
Thế mới biết rằng: Trần thế khói bụi mịt-mờ, gió mưa lạnh lẽo, khổ chịu tự mình, khó than cùng chồng vợ, cha con quyến thuộc, có miệng mà chẳng kêu cứu được với ai ai.
VI
Một đứa trẻ con ở trong bụng mẹ VÔ-MINH, bị các sự HÀNH-động bên ngoài, mà sanh thức biết, có thức mới tượng DANH-SẮC, có danh-sắc mới biến thành LỤC-NHẬP mà chun ra ngoài. Lần lần ba tuổi có XÚC, lớn lên sáu tuổi có THỌ, mười hai tuổi mới ÁI, ái của người nhỏ là trong sạch chơn-chánh. Mười hai tuổi biết thương gia-đình. Ba mươi tuổi biết thương xã-hội. Bốn mươi tám tuổi biết thương cả chúng-sanh. Ái tình quí báu cao-thượng ấy, mà nẩy nở đúng như vậy, tức là BÁC-ái đại-đồng, từ-bi vô-lượng sẽ thành Phật.
Người là lòng thương yêu gia-đình. Trời là lòng thương yêu xã-hội. Phật là lòng thương-xót cả chúng-sanh. Các bực ấy thảy quên mình mà biết cho kẻ khác, nên muôn loại phải kính vì. Trái lại vì lòng tư-kỷ, tham vui mê-muội, gây ái tình nhục-dục, tức là đi đến hố si ngây, đem mình chôn sâu trong địa-ngục hắc-ám, để chịu sự đau khổ không ngừng, lần hồi diệt tận, khó nỗi ngồi yên. Thế mới biết rằng: Chữ ái là quí báu nhứt, mà cũng độc hại nhứt của chúng-sanh, từ vô-minh đến tử, là con đường tấn-hoá, từ địa-ngục đến Niết-Bàn: Từ khi chưa có đến vĩnh-viễn hay cũng là con đường bị cắt đứt nữa đường chúng-sanh vừa tấn-hoá, lại phải bị thục lùi tan hoại. Sự cắt đứt ấy là lưỡi gươm ái hay gọi suối vàng, là chỗ chôn người. Cũng gọi chữ ái là toà sen, hay cụm mây, chiếc xe, đưa chúng-sanh mau về cõi Phật.
Từ vô-minh đến hành thức, danh-sắc lục-nhập, xúc thọ, ái, là những chặn đường, nơi ấy chia hai nẻo
Người là lòng thương yêu gia-đình. Trời là lòng thương yêu xã-hội. Phật là lòng thương-xót cả chúng-sanh. Các bực ấy thảy quên mình mà biết cho kẻ khác, nên muôn loại phải kính vì. Trái lại vì lòng tư-kỷ, tham vui mê-muội, gây ái tình nhục-dục, tức là đi đến hố si ngây, đem mình chôn sâu trong địa-ngục hắc-ám, để chịu sự đau khổ không ngừng, lần hồi diệt tận, khó nỗi ngồi yên. Thế mới biết rằng: Chữ ái là quí báu nhứt, mà cũng độc hại nhứt của chúng-sanh, từ vô-minh đến tử, là con đường tấn-hoá, từ địa-ngục đến Niết-Bàn: Từ khi chưa có đến vĩnh-viễn hay cũng là con đường bị cắt đứt nữa đường chúng-sanh vừa tấn-hoá, lại phải bị thục lùi tan hoại. Sự cắt đứt ấy là lưỡi gươm ái hay gọi suối vàng, là chỗ chôn người. Cũng gọi chữ ái là toà sen, hay cụm mây, chiếc xe, đưa chúng-sanh mau về cõi Phật.
Từ vô-minh đến hành thức, danh-sắc lục-nhập, xúc thọ, ái, là những chặn đường, nơi ấy chia hai nẻo
- Ái chúng-sanh từ-bi, bác-ái, là đi tới thủ lấy sự thiện giúp đời; Hữu có ích-lợi cho chúng-sanh tấn-hoá. Sanh sanh nẩy các pháp-môn phương-tiện trí-tuệ độ người. Sau rốt đến tử là nhập-diệt chơn-như, Niết-bàn, hưu-trí, tồn-tại
- Ái tình-dục thì quẹo bên trái mà đến thủ là lấy, lấy sự ác, hữu là có, có cái nghiệp vô-ích tội-lỗi. Sanh là sanh mưu sâu kế độc, quả báo dẫy đầy, đến nỗi khi tử chết phải khổ điên khùng tiêu diệt.
Trí-huệ thì hành thiện, thức thiện, danh-sắc thiện, lục-nhập thiên, xúc thiện, thọ-thiện, ái-thiện, thủ thiện, hữu thiện, sanh thiện, tử thiện là Niết-Bàn.
Còn vô-minh là hành ác, thức ác, danh-sắc ác, lục-nhập ác, xúc ác, thọ ác, ái ác, hữu ác, sanh ác, tử ác là luân-hồi hay tiêu-diệt.
Khởi đầu tại vô-minh hay trí-huệ rồi thì nó kéo dài mãi mãi, một trong hai đường. Vậy trí-huệ là sự hiểu trắng, sáng suốt. Trí-huệ thì không có hành, không có hành đâu có thức, không thức đâu có danh-sắc, không danh-sắc đâu có lục-nhập, không lục-nhập đâu có xúc, không xúc đâu có thọ, không thọ đâu có ái, không ái đâu có thủ, không thủ đâu có hữu, không hữu đâu có sanh, không sanh đâu có tử, không tử đâu có vô-minh luân-hồi khổ.
Lại nữa, chúng-sanh từ khi đã biết rồi, vì sợ tử mới tham sanh, muốn sanh phải chấp hữu , giữ hữu là phải thủ lấy, thủ là phải ái, muốn ái phải thọ, muốn thọ phải xúc, muốn xúc phải lục-nhập, muốn lục-nhập phải nương danh-sắc, muốn có danh-sắc phải tập thức, muốn có thức phải hành, muốn có hành phải vô-minh, giả bộ mắt ngơ tai điếc, làm tuồng ngu dại dốt nát ngây khờ, không cần đen trắng miễn sống tạm qua ngày, no bụng sướng miệng thì thôi, chẳng phân chia phải quấy, làm như sâu mọt đục phá cây trần.
Mười hai nhơn-duyên do sự tập lần mà có, nên gọi là nhân-duyên tập, tự nơi sự tấn-hóa của mỗi người, kẻ bắt dưới đi lên, người bắt đầu trên đi xuống. Mười hai nhơn-duyên ấy tức là một cái vòng tròn hay cũng là một con đường dài đến Niết-Bàn hay đến địa-ngục cũng gọi chiếc thang mười hai nấc, để lên lầu cao hay xuống hố thẩm, là sự còn mất, khổ vui của chúng-sanh.
VII
Mười hai nhơn-duyên, cũng ví như một đám rừng có mười hai cửa, như một bánh xe có mười hai cây căm, động một cây là động tất cả, vào một cửa là vào trọn trong rừng.
Trong một nhơn-duyên sẵn chứa mười một nhơn-duyên khác, dính nhau như dây xích liên-hoàn, chúng-sanh vừa chạm phải một mắc, là đã bị quấn đeo. Thật vậy, chúng-sanh khi đã vướng vào, thì mãi quanh-quẩn xoay tròn chóng mặt không biết phương nào giải-thoát vĩnh kiếp không ngừng. Nhưng nếu may mà nhờ sự biết thương yêu nhau trong cảnh cùng khổ, đồng thời chung hiệp cùng nhau tìm xét học hỏi mới cắt đứt được xích-xiềng, khai vẹt cửa ngục, thoát ra khỏi chết.
Mười hai nhơn-duyên, tức là mười hai đạo, để tới Điạ-ngục hoặc đến Thiên-đường, hay vào trong cõi Phật. Cũng là mười hai địa-ngục (ác), mười hai thiên đường (thiện), hay mười hai cõi Phật (huệ). Mười hai nhơn-duyên của chúng-sanh, tức là mười hai chứng bệnh, tật xấu, tánh mê, mà cũng do đó, mới có mười hai thứ thuốc hay, nết tốt, tánh giác.
Chúng ta ai cũng có riêng một sở-chấp, thói quen, trong mười hai nhơn-duyên ấy. Vậy nên chúng ta muốn biết khổ luân-hồi thì tuỳ sự xét thấy mình ở cửa nào, hãy lui ra khỏi cửa đó, quay đầu lại là xong, chớ đừng mãi đi tới, và luồng tuôn, để chịu khốn hoạ. Nấm lấy mười hai nhơn-duyên đi tới, thì càng vọng-động khổ-sở, bằng buông tháo trở lại, thì càng chơn-như vui sướng, miễn giác-ngộ là thấy được đường.
Thế mới biết rằng: Trí-huệ là lưỡi gươm thần hươu múa phân tách ra và gom thiệt lại, để cắt đứt tuyệt các pháp khổ sầu phiền-não. Trí-huệ cũng là lửa sáng dẹp tan bóng tối vô-minh cùng thiêu đốt cả cỏ cây, người, thú, ma, Trời, địa-ngục. Cũng như chiếc cầu cao đưa ta qua biển ái, như cặp cánh để ta bay khỏi chuồng lồng, như đám mưa dẹp tan cát bụi, như chiếc bè vớt kẻ chìm sâu, như mái nhà che ta mưa nắng.
Trí-huệ là bến bờ giác, cũng tức là cặp mắt sáng của cuộc đi đường dài, cũng là mặt trời mặt trăng của muôn loài khó sống, cái sống mà ai cũng muốn hết. Chính Niết-Bàn mới là nếp sống chơn-như, chắc thiệt, vĩnh-viễn mà thôi. Cái sống ấy như hột sen khô, cất để đời đời, khác hơn cái sống của chúng-sanh là hột còn non nớt. Có khi vì cảnh qúa khổ điên của địa ngục dốt nát vô-minh, mà hư rã như hột sình thúi; chớ như cái thân vỏ mộng này, còn mất có tiếc chi; người trí dùng nó để che tạm cho cái hột kia mau già cứng vậy.
Cái chết ai cũng sợ, nhưng thân chết không có mất, chớ cái biết chết là mất luôn. Vậy cái biết của ta phải cho già cứng, đừng để non thúi sâu ăn, cái khổ là con sâu, ác gian là chết thúi, cái biết cái sống, ta phải nuôi nó vĩnh-viễn trường-tồn để sống một cách yên-vui bình-tỉnh.
VIIITrong một nhơn-duyên sẵn chứa mười một nhơn-duyên khác, dính nhau như dây xích liên-hoàn, chúng-sanh vừa chạm phải một mắc, là đã bị quấn đeo. Thật vậy, chúng-sanh khi đã vướng vào, thì mãi quanh-quẩn xoay tròn chóng mặt không biết phương nào giải-thoát vĩnh kiếp không ngừng. Nhưng nếu may mà nhờ sự biết thương yêu nhau trong cảnh cùng khổ, đồng thời chung hiệp cùng nhau tìm xét học hỏi mới cắt đứt được xích-xiềng, khai vẹt cửa ngục, thoát ra khỏi chết.
Mười hai nhơn-duyên, tức là mười hai đạo, để tới Điạ-ngục hoặc đến Thiên-đường, hay vào trong cõi Phật. Cũng là mười hai địa-ngục (ác), mười hai thiên đường (thiện), hay mười hai cõi Phật (huệ). Mười hai nhơn-duyên của chúng-sanh, tức là mười hai chứng bệnh, tật xấu, tánh mê, mà cũng do đó, mới có mười hai thứ thuốc hay, nết tốt, tánh giác.
Chúng ta ai cũng có riêng một sở-chấp, thói quen, trong mười hai nhơn-duyên ấy. Vậy nên chúng ta muốn biết khổ luân-hồi thì tuỳ sự xét thấy mình ở cửa nào, hãy lui ra khỏi cửa đó, quay đầu lại là xong, chớ đừng mãi đi tới, và luồng tuôn, để chịu khốn hoạ. Nấm lấy mười hai nhơn-duyên đi tới, thì càng vọng-động khổ-sở, bằng buông tháo trở lại, thì càng chơn-như vui sướng, miễn giác-ngộ là thấy được đường.
Thế mới biết rằng: Trí-huệ là lưỡi gươm thần hươu múa phân tách ra và gom thiệt lại, để cắt đứt tuyệt các pháp khổ sầu phiền-não. Trí-huệ cũng là lửa sáng dẹp tan bóng tối vô-minh cùng thiêu đốt cả cỏ cây, người, thú, ma, Trời, địa-ngục. Cũng như chiếc cầu cao đưa ta qua biển ái, như cặp cánh để ta bay khỏi chuồng lồng, như đám mưa dẹp tan cát bụi, như chiếc bè vớt kẻ chìm sâu, như mái nhà che ta mưa nắng.
Trí-huệ là bến bờ giác, cũng tức là cặp mắt sáng của cuộc đi đường dài, cũng là mặt trời mặt trăng của muôn loài khó sống, cái sống mà ai cũng muốn hết. Chính Niết-Bàn mới là nếp sống chơn-như, chắc thiệt, vĩnh-viễn mà thôi. Cái sống ấy như hột sen khô, cất để đời đời, khác hơn cái sống của chúng-sanh là hột còn non nớt. Có khi vì cảnh qúa khổ điên của địa ngục dốt nát vô-minh, mà hư rã như hột sình thúi; chớ như cái thân vỏ mộng này, còn mất có tiếc chi; người trí dùng nó để che tạm cho cái hột kia mau già cứng vậy.
Cái chết ai cũng sợ, nhưng thân chết không có mất, chớ cái biết chết là mất luôn. Vậy cái biết của ta phải cho già cứng, đừng để non thúi sâu ăn, cái khổ là con sâu, ác gian là chết thúi, cái biết cái sống, ta phải nuôi nó vĩnh-viễn trường-tồn để sống một cách yên-vui bình-tỉnh.
THỨ LỚP CỦA NHƠN-DUYÊN NƠI LOÀI NGƯỜI
- Vô-minh là địa-ngục, tứ-đại mới hiệp thành, cho đến khi một tuổi (chưa có biết sáng).
- Hành là ngạ-quỉ, cây cỏ, từ một tới sáu tuổi (chỉ có thọ-cảm đói khát tham-lam).
- Thức là súc-sanh thú-vật, từ 6 tới 12 tuổi (chỉ có tư-tưởng hơn thua sân giận).
- Danh-sắc là A-tu-la, ác-thần, từ 12 tới 18 tuổi (chỉ có hành ác si-mê).
- Lục-nhập là Nhơn, Người, từ 18 tới 24 tuổi (có hành thiện lòng nhơn)
- Xúc là Thiên, Trời, từ 24 tới 30 tuổi (có trí-hoá biết điều thiện cảm-xúc).
- Thọ là nhập-lưu, Tu-đà-huờn, từ 30 tới 36 tuổi (cư-sĩ biết ưa đạo)
- Ái là Nhứt-vãng-lai, Tu-đà-hàm, từ 36 tới 42 tuổi (có lòng từ-bi thương xót chúng-sanh).
- Thủ là Bất-Lai, A-na-hàm, từ 42 tới 48 tuổi, nắm giữ đạo không lìa, xuất-gia giải-thoát).
- Hữu là Vô-sanh, A-la-hán, từ 48 tới 54 tuổi (có cái sống chắc thật).
- Sanh là Duyên-giác, Bích-chi, từ 54 tới 60 tuổi (sanh trí-huệ, các pháp giác-ngộ nơi thanh-tịnh).
- Tử là Bồ-Tát, Giác-Tha, từ 60 tới 66 tuổi (chết bỏ ta mà lo cho người).
Qua khỏi 72 là Niết-Bàn trọn vẹn (chết bỏ đạo đời tắt nghỉ trọn vẹn). Đó là nhơn-duyên tấn-hoá từng trình độ pháp, theo tuổi của người, ai sống y như thế, tức là tu, sẽ đắc-đạo, kết-quả trong kiếp một không sai. Muốn biết rõ cách tu của từng bực hạng ấy, ta cần học giới-luật, vì giới-luật là chỗ ở của tất cả chúng-sanh; mà nơi bài này, ta cần phải biết nguồn gốc chúng-sanh là do nhơn-duyên tập trước đã! Quan-hệ nhứt là chữ ái chia tẻ hai đường: Người đứng trên chữ ái là chư Phật, kẻ nằm dưới chữ ái là chúng-sanh. Điều đó đáng cho chúng ta thận trọng!
NHƠN-QUẢ CỦA MƯỜI HAI NHƠN-DUYÊN
- Vô-minh + hành = là nhơn quá khứ.
- Thức + danh-sắc + lục-nhập = là quả hiện tại.
- Xúc + thọ + ái + thủ + hữu =là nhơn hiện tại.
- Sanh + tử = là quả vị lai.
Vậy muốn không quả vị lai: sanh, tử, khổ, thì đừng có nhơn hiện tại: xúc, thọ, ái, thủ, hữu.
Muốn không nhơn hiện tại, thì phải không quả hiện tại: thức, danh, sắc, lục, nhập.
Muốn không quả hiện tại, thì phải dứt trừ nhơn quá-khứ, vô-minh, hành.
Đã là nhơn quá khứ qua rồi, thì đâu có trừ dứt gì được, âu là chúng ta hôm nay, muốn sau này không còn khổ của sanh tử, thì phải rán mở mang trí-huệ, để trừ vô-minh. Tập hành thiện, để dứt bỏ hành ác, thì vòng luân-hồi sáng trưng, ngừng nghỉ là Niết-Bàn, và không còn tám vạn khổ, mà hưởng được tám vạn đạo yên vui, giác-ngộ chơn-như không có sanh tử tức là Phật.
Diệt dứt luân-hồi thì khổ sẽ hết.
Chơn-đạo do tâm giác-ngộ, bỏ các điều xấu lội lầm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment