NHẬP-ĐỊNH.
Định là yên lặng! Chơn-lý của võ-trụ là yên lặng, yên lặng là lẽ thật là huyền-bí, là không vọng động nên cũng gọi là chơn-như hay sự kín đáo. Định tức là mật, trong mật-định có chứa linh giác và thần, cho nên gọi định năng sanh chơn-huệ và giới. Định là chánh, loạn là tà, nên mới có tên chánh-định, và cũng là có chánh mới có định, chánh-định là Niết-Bàn, tâm người trở lại chánh-định chơn-như sau khi toàn-giác gọi là Như-Lai hay là Phật. Thế nên chánh-định là chỗ sanh ra tất cả chúng-sanh vạn-vật và các Pháp, mà cũng là chỗ trở về, hay chỗ đến, nghỉ-ngơi hưu-trí của chúng-sanh, vạn vật và các pháp kia vậy.Thể của định là bao-la vô-cực, không không vắng lặng và tối đen, tướng của định là chơn-như không vọng-động, đứng, ngừng, chết, nghỉ, trơ, sựng. Dụng của định là thay đổi tiến-hóa an-vui, giác-ngộ và quả linh thần-thông. Lý của định là tự-nhiên chơn thật, thân của định là giới, trí của định là huệ, tánh của định là chơn, còn định là tâm của tất cả chúng-sanh hay cũng là sự sống sức mạnh và bao gồm tất cả v.v…
Định là quả yên-vui, mà con đường đi đến định kêu là đạo, và đắc chánh-định là đắc quả. Định là chỗ đến, kết quả, mục-đích của các con đường, định là một năng lực-mạnh-mẽ nhất, định là sanh mạng thân tâm-trí ta, chính chánh-định mới là bổn-ngã vậy.
Trước quả địa-cầu là định, sau quả địa-cầu là định.
Trước sanh thân là định, sau sanh thân là định.
Trước khi thức là định, sau khi thức là định
Trước khi làm là định, sau khi làm là định.
Trước khi nói là định, sau khi nói là định.
Trước khi nghỉ-ngơi là định, sau khi nghỉ-ngơi là định.
Cái định hằng có nơi mỗi chỗ, nơi mọi lúc, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải định luôn luôn, ông thầy giáo không định thì chết, người học trò không định thì điên, ai ai không định thì khổ. Định là giấc ngủ ngon hay như cái chết sướng, cho nên định là mùi vị của các sự việc, có định mới có thành công, không thất bại cho mỗi hạng người.
Có chánh mới có định, chánh đạo là năng sanh định quả, chánh là thiện, thiện là không ác, ác là che mất bản tâm, che mất bản tâm là quên định, cho nên kẻ không định là ác-tà, loạn-vọng, rối-khổ tơi bời, không đường lui tới. Vậy muốn định thì phải răn ngừa ác, và tránh xa chỗ ồn-ào là giữ giới luật, tự ta chế ra giới luật cho ta, để bảo-tồn định, có định mới không còn phiền-não, vô-ích, tai-hại. Thế nên đời sống của ta phải có kỹ-luật, giới nhiều là định nhiều, giới ít là định ít, không giới là không định, tâm không định, là sự nghỉ ngơi quán-xét không đặng sáng, và chẳng năng dứt bỏ được điều càng. Không định, không có thần-thông quả linh, thì con người phải té sa vào vật-chất, giả-dối, nắm níu lấy ác tà loạn vọng, chôn nhốt giết hại tâm mình, cho nên tâm định thì trí mới huệ, huệ nhiều ít là do định, định nhiều là huệ nhiều, định ít là huệ ít, không định là không có huệ. Có huệ được học tỏ sáng, mới hết mê lầm, không mê lầm là không vọng động theo cảnh chiêm-bao mộng-ảo của lớp thấp thỏi đầu tiên, thì con người mới đặng hưu-trí, chơn-như nín nghỉ, làm kẻ ông già, làm người cao cả, không còn nói, làm bậy bạ ác quấy uổng công nhọc sức.
Có định trí mới chứa xa, đựng gồm lớn, nhờ nhớ đựng bao việc quá-khứ hiện-tại, mà thấy rõ các pháp vị-lai, xét rõ được việc đời, nhìn xa được tâm-lý, nghe rõ được trình-độ, diệt dứt được phiền-não, mà chứng được an-hòa.
Có định thì cái hình bóng của biết mới cứng vững, chắc già to lớn, tốt tươi không hư-hoại, định là một sức mạnh thần-thông, nhờ yên-lặng cái ý mới mạnh-mẽ gom hiệp mà điều-khiển sự biến-hóa linh-nghiệm.
Có định ta mới dám tin chắc là trọn lành, không lầm, loạn rối, loạn ác quấy, định nơi lẽ chánh, thiện sẽ đến kết-quả an-lạc nghỉ-ngơi đại-định. Bằng nhứt định nơi sự ác tà, ắt phải gặp rối khổ lao-chao đại-loạn, cho nên gọi sự quyết-định hay nhứt định là cái định yên lặng. Chỉ có cái ấn dấu không dời đổi, chắc chắn tin cậy làm định mạng cho chúng-sanh, cái ấn-định ấy là sự yên lặng mà thôi, lại sự yên lặng ấy có là do nơi lẽ chánh thiện, dầu chưa phải là đại-định lâu ngày, chớ cái định trong chốc lát, nó cũng giúp cho ta bao điều khoẻ khoắn, nghỉ-ngơi và làm cho ta được tỉnh-táo trí-huệ. Vậy chúng ta nên nhớ rằng, người không định là sẽ điên, mà kẻ điên thì đâu có cái biết sống chi chi ở tại chỗ nào? Cũng như nước xao-lộn là nước đục bùn, đã là nước dơ thì đó là đất chớ đâu còn nước. Nước yên lặng thì có mắt kiến sáng thấy rõ muôn hình, cũng như tâm định nới thấy có tâm, và trí sẽ được huệ soi ra cùng khắp, như vậy nghĩa là phông định nghĩa là không có tâm, không tâm là không có ta thì đâu còn sự sống.
Chúng-sanh ai mà không có định, hoặc nhiều hay ít, hoặc trong giấc ngủ yên, nhưng bởi sự sanh ra từ nhỏ tới lớn, là ở trong vật-chất, trong cái ăn, mặc, ở bịnh và vật-chất tứ-đại thì vô-thường hay thay đổi biến-hóa. Chúng ta mãi quanh-quẩn đảo lộn mỗi ngày, còn có đâu giờ phút rảnh-rang, mà xem xét lại coi cái sống, cái biết, cái ta, nó còn hay mất, sống hay chết, lớn hay nhỏ ra sao? Nào ta có cần biết nó định hay không định, lắm kẻ quên lửng đâu còn biết đến định là gì? Ích-lợi gì? Để khi đến lúc bịnh hoạn ốm đau, phải khi già yếu, hoặc thấy mình sắp chết, hoặc bị thất bại, hoặc phải mệt khổ đớn-đau, âu-sầu sợ-sệt, mà cũng không biết vì đâu? Lẽ nào? Nguyên cớ tại đâu? Vì sao? Thôi thì lại đánh liều nhắm mắt đưa chơn, há miệng, hoặc lại đổ thừa nghiệp-vận, khấn vái, rủi may, mặc cho số phận. Than ôi! Đời sống đường dài nhắm mắt quên mình mà đi như thế thì ta hỏi thử có ai là kẻ được bình-yên lâu dài, chẳng phải riêng nơi loài người, mà là tất cả chúng-sanh, sanh ra từ nơi tứ-đại địa-ngục, sanh ra từ trong cái ác, từ trong bóng tối, từ trong sự đảo lộn lăn-xăng của địa-cầu thì cỏ, cây, thú, người từ dưới thấp mọc lên đứng cao, cho đến khi đi chạy nói làm, lúc đầu ở trong cái loạn mà ra, mà nếu không đứng nơi cái loạn thì lại biết đứng đâu, ở đâu? Nhưng nếu chúng ta hôm nay may-mắn sống-sót tiến đến bậc người, nhờ nói làm sanh ra hiểu trắng, thì lẽ nào chẳng biết phân biệt cái đen, để giữ-gìn mạng sống, để khi chết thân thì tâm cò tồn tại. Hơn là đất nước lửa gió vô-tri sanh hóa lăn tròn đời đời là đất, nước lửa gió chẳng đầu đuôi, không có cái ta thật nhứt định, cũng như tứ-đại sanh cỏ cây, rồi cỏ, cây, thú, chết thành tứ-đại cứ mãi như thế mà không có cái gì là hột giống đứng vững lâu dài, cho nên chúng-sanh chỉ là tôi mọi của cái khổ, cái không ta. Ấy vậy chúng ta phải định, để nắm giữ cái ta đứng ngừng nơi một địa-vi tối cao tốt-đẹp mà đừng nhắm mắt ôm theo bánh xe vô-thường huỷ-diệt, để khỏi tan hình rã bóng, mà sau khi thân xác rã rồi, thì còn được lại cái chủ-tể tâm hồn.
Vậy chúng ta nên nhớ rằng, kẻ nào không có chút định, quá rối loạn khổ não theo vật-chất tứ-đại đất, nước, lửa, gió lăn xoay, thì sau khi chết rồi xác thân trả về tứ-đại, cái tâm hồn cũng sẽ tan rã rối loạn nhập đeo theo vào vật-chất, không còn hình bóng, chẳng còn có được cái chi để nhập thai trở lại kiếp thân người. Đến chừng đó chỉ còn là đất, nước, lửa, gió, lâu ngày sanh ra cỏ, cây, thú, khác, sự chết sống cũng y như cỏ cây, thú, mà chưa hề được có cái tự-chủ của ta, cái ta hột giống để đời chi cả.
Có định mới có vui và có sống, vui tức là sống, sống tức là vui, còn khổ là chết, chết là khổ. Nếu chúng ta sống đời để phải vô-minh chịu khổ thì sống để mà làm chi, và liệu ta có sống được chăng? Vô-minh khổ để sống hay là vô-minh sống để khổ, rối loạn tức là chết rồi vậy. Kẻ mà bị chết và ở trong vô-minh tức là địa-ngục thì còn có được sự vui vẽ gì? Ấy vậy như kẻ chết mà vui, hay vui mà chết, có chẳng phải là quí hơn không? Nhưng chính thật vui là ta, là sống, sống là vui là ta, muốn vui sống có ta thì phải định, muốn có định và biết định, thì phải tầm tòi quán xét thấy cho rõ lẽ thật là chánh-kiến. Có CHÁNH-KIẾN thấy rõ lẽ chánh mới phát sanh được những điều suy-gẫm về lẽ chánh chơn-như, mà thấu rõ đạo-lý các pháp! Có thấu đạo-lý do CHÁNH-TƯ-DUY mới năng nói lờI chơn chánh! Từ nơi CHÁNH-NGỮ mới có thật-hành. CHÁNH-NGHIỆP là việc làm đúng theo đạo-lý! Có làm việc phải mới được nuôi thân mạng bằng cách trong sạch thiện lành, hưởng sự yên vui! Có được CHÁNH-MẠNG mới biết mừng vui siêng-năng giữ đạo đi tới! Nhờ CHÁNH-TIN-TẤN mới không có thời-giờ xao-lãng vọng-động ác tà, bấy giờ tâm mới trong sạch, ý ngó ngay vào một chỗ chơn-như không vọng-động, niệm-tưởng không lìa xa một chỗ phải! Nhờ CHÁNH-NIỆM giữ ý nơi một điều lành, nơi một chỗ một, thì ý mới định. Ý định thì thân khẩu phải định, thân khẩu ý đều định gọi là tâm định, định tại nơi lẽ chánh, chỗ thiện lành sáng suốt kêu gọi CHÁNH-ĐỊNH là sự yên lặng nín nghỉ, hưu-trí, Niết-Bàn là nơi rốt ráo quyết-định, là cảnh giới nhứt định. Cái tâm đã ấn-định không còn dời đổi, hay là ý ở trong cái chơn-như không còn vọng động, ngủ nghỉ vui-sướng sống mãi đời đời.
Từ chánh-kiến đến chánh-định kêu là đạo, đến chánh-định gọi là kết-quả, quả ấy là quả yên vui sống mãi, do sự giác-ngộ, quét sạch việc dứt căn-trần, tứ-đại vô-minh nên kêu gọi là quả Phật, quả giác chơn. Giác-ngộ mới có chơn-như, có chơn-như mới được giác-ngộ, cũng như có chánh-kiến mới có chánh-định, có chánh-định mới có chánh-kiến. Có chánh-kiến mới giác-ngộ, có chánh-định mới có chơn-như hay tức là giác-ngộ sanh chánh-kiến, chơn-như sanh chánh-định, là thể nương nhau hiệp một chẳng chia lìa.
Cũng như có TẦM-SÁT là tầm tỏi quán xét, thấy rõ lẽ thật, mới có sự mừng, có HỶ mừng, vì lẽ đã gặp được đường đi, mới có sự vui có LẠC, vui khi đã đi tới trúng đường không còn khổ-não, thì thân tâm trí mới trong sạch, có TỊNH sạch ý mới yên lặng đứng ngừng, không còn bị sự lôi cuống hấp-dẫn nên mới ĐỊNH. Từ tầm-sát đến định kêu là đạo, đắc định thì có đủ quả linh và đạo-lý, tức là trí-huệ và thần-thông kêu là đắc-quả, quả ấy là tầm-sát và định trong đó có chứa hỷ-lạc-tịnh là sự vui mừng trong sạch, quí báu nhứt trong đời, là sự sống của ta đó.
Như vậy là muốn định thì phải có niệm, nhờ niệm tưởng ghi nhớ một câu, một việc, một lời, một điều gì đó mới được định, cũng như nước bị đựng trong tô chén để yên lặng thì sẽ định, cái ý nhờ trói buộc một chỗ, mà phải đứng ngừng, đến lâu sau quen lần, mới không còn loạn vọng. Định đây là cái ý-định, cũng như cái ngòi trong hột trái bị sự không nói (như thịt cơm), không làm (như bao vỏ) nhốt đậy lại chẳng cho nó phóng ý mọc vượt ra được, mới khỏi luân-hồi sanh-tử, mọc cây đâm rể trong cõi trần. Nhờ vậy mà hột giống tâm mới để đời đời, còn cái ý ngòi mộng thì ở được sâu trong giữa hột (Tâm đây là hột giống, gồm có ba phần: Bao vỏ là thân việc làm, thịt cơm là khẩu lời nói và các ý là ngòi mộng ở bên trong) ý có là do thân và khẩu, việc làm lời nói sanh ý tưởng. Bởi trong sự nói làm có hai lẽ tương-đối, là tình khi thì buồn khi thi vui mừng rồi giận, thương đến ghét thích, ưa đến nhàm chán, do đó sanh ra ý dục. Ý dục phát sanh nơi loài cây cỏ trước nhứt, khi đến thú nó rất ác, được làm người thì ý có chút thiện hơn, nhưng ý là vọng-động không ngừng, cho nên kẻ nào lấy ý làm ta là phải khổ-sở điên-đảo. Vậy ta phải nhốt nó lại và đổi nó ra cái trí là sự hiểu trắng biết phân-biệt, có được học-thức thì mới khỏi sai lầm theo ý dốt-nát muốn càng, mà tránh được khổ sở nạn tai. Người sống bằng cái trí sáng-láng hay khéo gọi là bậc Trời, nhưng cái trí khôn ngoan ấy cũng chưa phải là hết khổ sở thất-bại, người ta phải cần đổi trí ra làm cái giác, giác là cái biết sáng suốt chắc chắn chơn thật không mê lầm. Chính người sống chơn thật do nơi biết sáng mới vững bền yên vui, kết-quả hơn là sự khéo xảo mưu-mô của trí, vả lại trí có hai: Trí-say và trí-huệ! Trí say là biết phân biệt hiểu trắng đen mà chưa chịu tỉnh dứt bỏ điều vọng quấy, trí-huệ là cái hiểu trắng, bằng sự thật-hành dứt bỏ dược các điều tội-lỗi dối-trá giữ được chơn-như yên lặng tịnh-định chắc thiệt, cho nên cũng kêu gọi trí-huệ là chơn-trí, chính chơn-trí cũng kêu là giác hay tánh.
Vậy thì tất cả cũng là một cái biết, tùy theo mỗi chỗ đặt tên. Cái biết sa-ngã theo thọ tình hai lẽ tương-đối kêu là ý, cái biết thấy trắng phân-biệt kêu là trí (tri bạch), cái biết sáng suốt chơn thật tự-nhiên kêu là giác, cả thảy đều là cái biết tâm, nơi ý trí lúc đầu là tâm vọng, giả tạm đến giác chơn sau mới là tâm chơn chắc thiệt vĩnh-viễn. Tâm chơn tức là tâm của chư Phật, tất cả y nhau như một, trọn sáng lành, chẳng phải như tâm vọng non nớt, của chúng-sanh kẻ vầy người khác, giả dối hư-hoại ác tà, lắm khi tiêu hoại chẳng còn có dược.
Ý làm người, trí làm Trời, giác làm Phật, ý trí là còn khổ, chính giác-ngộ mới yên vui, vậy nên chúng ta phải cần tịnh-định để ém giấu bỏ mất ý của loài người thì mới mong làm Trời Phật đặng.
Cái ý của con ngựa không cương chạy sãi cùng đường ta phải dùng cái niệm làm giây cương kìm thúc trói nó lại, cho đi ngay đường thẳng lối, đến khi đã quen thuần thục, buông cương bỏ niệm, mà ý ngựa không chạy bậy, chừng đó ta mới dám gọi là ý của ta, ý phải tốt trọn lành, ta mới dám tin dùng xài nó được, và mạng ta là chủ ngồi trên mới chắc sống vững yên vui. Như thế tức là ta tập đổi sửa ý vọng ác tà định giả-dối cho nên ý chơn chắc thiệt ngay chánh thiện lành, để trở nên con người tốt đẹp quí giá cao siêu, ích-lợi cho chúng-sanh nhờ hưởng dám tin dùng. Nhờ chánh-niệm mới có được chánh-định, có niệm một chỗ như nước đứng ngừng mới tinh sạch, cho nên cũng gọi là có tịnh mới có định. Muốn có chánh-niệm phải nhờ chánh-tin-tấn, muốn có chánh-tin-tấn phải nhờ chánh-mạng, muốn có chánh-mạng phải nhờ chánh-nghiệp, muốn có chánh-nghiệp phải nhờ chánh-ngữ, muốn có chánh-ngữ phải nhờ chánh-tư-duy, muốn có chánh-tư-duy phải nhờ chánh-kiến. Chánh-kiến thì đi đến chánh-định, tà-kiến thì đi đến tà-định, chánh-định là sống yên vui, tà-định là chết rối-khổ, thế thì khởi đầu kiến thấy, hễ tà là tà mãi, còn chánh là chánh hoài. Cả thảy chánh là nên , cả thảy tà là hư, ấy vậy kiến thấy là cặp mắt của ta lúc đầu phải cho tỏ rõ, tìm xét kỹ-lưỡng rồi sẽ thật-hành đến ngay mục-đích, chớ ngàn đời vui khổ, sống, chết, chẳng phải là sự rủi may, mà chúng ta lại bỏ lãng thờ-ơ!
Nên nhớ rằng: Có tầm-sát đúng lẽ thật mới có hỷ lạc tịnh-định, định là do tịnh, tịnh là do lạc, lạc là do hỷ, hỷ là do tầm-sát. Bằng mà tầm-sát sái trật hay không có tầm-sát là sẽ có nộ giận, có nộ giận mới sanh buồn khổ, có buồn khổ mới sanh cấu trược, có cấu trược mới loạn vọng, bối rối chết khổ điên cuồng vô-ích tai hại.
Người có định thì thân, khẩu, ý mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết-quả yên vui biết bao nhiêu. Và cũng nhờ định, mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mới trọn lành hữu dụng, tốt đẹp trang-nghiêm mới ra con người có giá-trị xứng đáng để nêu gương. Căn nghiệp tròn sángáng, tức là viên ngọc quí báu của chúng-sanh tôn-trọng để dành cất-giữ về sau mãi mãi và là một nhân-vật đáng sống đời đời, Mỗi lời nói mỗi việc làm, mỗi ý niệm là những đám mưa hoa, là những cơn gió mát, là những sự phân phát của cải, đủ cách xinh lịch tốt đẹp.
Muốn nhập-định không phải một lần mà được định, chúng ta phải dò lối, bước đi từ bước và tập lần lần. Định yên lặng là cái kho tàng vô-tận, là phòng bí mật, là tủ sách chứa kinh, hay cũng như một cái trái, mà chúng-sanh từ xưa đã nhọc sức trơn-trợt, rờ rẫm leo trèo bên ngoài, chớ chẳng bao giờ vào được bên trong đắc-định, để hưởng quả quí báu hay lạ ấy, là bởi không tìm ra được chìa khóa, hoặc cái cửa kín hay cái cuống tim là chỗ ra vào. Đành rằng: Ai cũng biết sự nhập-định là vui sướng ích-lợi sống đời, trong định-trí mới huệ, cơ huệ từ vọng mới chơn, chơn-như là linh ứng, nghĩa là: Định nhiều thì huệ nhiều, phép linh nhiều, định ít thì huệ ít, phép linh ít, chắc ai cũng muốn có trí-huệ, đạo-lý với quả linh thần-thông và cũng biết rằng, cái sống là linh, cái biết là sáng nhưng khó nổi là sự thật-hành, hoặc thiếu sự kinh-nghiệm hoặc không bền chí, hoặc thiếu sự trợ lực của người khác, thì dễ gì đặng kết-quả thành-công. Cho nên lắm kẻ chán sợ sự hiểm-nguy, đành giữ tập việc thiện lành ngay chánh bên ngoài mà cho là vừa đủ với sức của mình, không ráng chịu khó để đến tận nơi tâm Phật. Thiện chánh là đi tới định, nếu đứng mãi một chỗ chánh thiện mà không định, thì đâu tránh khỏi khổ-não luân-hồi. Kẻ ác là bởi không định, người thiện mà không định thì khổ, kẻ trí mà không định là điên, hễ có sống ắt có khổ, mà nếu chúng ta chịu khổ tu trong một đời, thì muôn kiếp được thảnh-thơi, như thế có chẳng hay hơn là sự kéo dài đau-đớn? Vả lại sự nhập-định đâu có khổ nhọc gì sức lực, càng định là càng vui, miễn là ta chịu bỏ cái ham chơi dốt học, nô đùa cẩu-thả, thì sự nhập-định đối với ta cũng không có lấy chi làm lạ. Con người nếu làm được cái khó, cái hơn người, cái tiến hóa thì mới gọi là bậc siêu-nhân không còn lẩn -quẫn trong cái cỏ, cây, thú, người tứ-đại một chỗ, cũng như kẻ biết lìa bà mẹ, mới gọi là kẻ có chí lượng hơn người, không phải chịu ở trong thai bào mãi mãi.
Vậy thì chúng ta phải cố-gắng nhập-định, và phải hiểu những pháp nhập-định như vầy: Mà đừng trọn chung-thuỷ với cỏ, cây, thú người, tứ-đại, cùng là trọn tình nghĩa với ác tà vô-minh loạn khổ:
1) Từ nhỏ đến lớn thân và miệng sanh tập thành ý, mà thân miệng ác nên ý phải ác, vậy phải sửa thân và khẩu cho thiện thì ý mới thiện, chúng nó ác là bởi vọng động, vậy bây giờ cần phải tịnh-định, nên tập ngồi một chỗ, trói chân ngồi kiết già (hoặc bán già) nắm tay lại. Ngồi ngay, miệng ngậm, cắn răng, đầu cúi, mà chăm-chú nơi một việc phải nào đó, mỗi ngày một hai lần theo sức, vừa vừa, chớ đừng thái-quá hay bất-cập. Chớ nên cố-gắng quá hoặc lãng xao phải nhớ giữ một đề-mục mãi dầu trong lúc động tịnh không cho xao lãng, lâu ngày sẽ quen lần từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu. Cho đến khi ta đã được chủ tâm, thân khẩu ý đã qui phục tùy theo mạng lịnh, chừng đó mới gọi là có ta và thấy lần kết-quả.
2) Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân sanh ra ý, vậy muốn phục ý thì trước phải phục mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, xưa năm căn vọng động, cấu trược, mở cửa thâu trần chôn giết ý, ý ngộp mới giẫy-giụa, nay phải đóng các cửa tuông bỏ vật-chất ra ngoài, thì ý nhẹ-nhàn thong-thã mới ngồi yên, ý vốn hay chuyền theo các cửa, vậy hãy đóng cửa là ý hết chỗ leo-trèo, lâu ngày buồn ngủ, mỏi mệt là sẽ nằm yên. Xem chừng ý thiệt đã giãi-đãi không còn cử-động, chừng đó ta sẽ bắt đem ra tập dạy khiến xài, thì nó mới không còn tánh ác, và trở nên con vật hay quí khó tìm, chớ bỏ qua khi nó có sẵn, không biết nhốt dạy, thì sau nầy ta thiếu thốn, lại hối tiếc không nên.
3) Cái ý có ba là: Tham sân và si, bằng trị ngay nó là phải chăm nom gìn-giữ, rình đón ngăn rào. Xem chừng từ chút, nuôi nó như nuôi con, đừng cho tham sân si tam độc bên ngoài nhập vào, và coi chừng tham sân si tam độc bên trong lộ ra, thì phải mau trừ khữ chùi lau! Ý hay mắc bịnh độc tham sân si, vậy phải mau chữa chuyên chăm-sóc nó, vì nó là ý độc hại lây. Phải cần cho ăn uống bằng giới định, huệ, trì trong ta, từ ngoài vào phải là chỉ một thứ giới-định-huệ thôi, thì lâu ngày hết bịnh mới trở nên ý quí. Ý là ma, mà ý cũng là Phật, kẻ ở nhà của ta sai khiến đó, ta cần phải nuôi nấng nó tử-tế, nó mới có giúp được việc cho mình nên. Như vậy là đừng cho nó ra gần năm cửa, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (hay là thân khẩu), với kẻ ác tà, với đồ cấu trược thấp thỏi xấu dơ mà phải để nó lên cao chỗ thanh-tịnh, mặc cho áo tốt bằng sự vắng-lặng, cho ăn đồ ngon là thiện lành, thì nó mới lớn nên người được.
4) Hoặc đổi ý ra làm trí-giác, chỉ có còn biết trí-giác, mà quên bỏ hẳn ý đi, thì lâu ngày nó sẽ đi mất hoặc hổ thẹn mà phục tùng theo trí-giác, muốn như vậy thì đừng ở chỗ phiền-não và chớ đem bụi trần nuôi sóc nó. Mà muốn có tri-giác thì phải yên-lặng, ở nơi yên-lặng mãi cho đến khi ý hết khuấy rầy, bây giờ mới nên đứng dậy ra đi, làm nói theo trí giác.
5) Hoặc xem như mình đã chết, hưu-trí, nghỉ mệt mà bỏ hẳn việc đang làm, hoặc phải làm cho rồi, thấy mình như thây ma chết nằm trong hòm dưới đất, không còn dính mắc nợ chi chi nữa, hoặc cứ xem là ngủ nghỉ đời đời để đứng ngừng giữa lúc bánh xe lăn, mặc cho sự thế đổi xoay, đói, no sống chết, phải quấy, mất còn, đến đi không có…gì, trối mặc, chỉ biết một cái chơn-như yên tịnh mà thôi.
6) Hoặc cứ mãi nói một lời, hoặc cứ mãi làm một việc, chăm chú chẫm-rãi bền công không màng biết đến việc ngoài chi hết, hoặc phải lập đi lập lại mãi một câu, để cho thấy tỏ rõ nghĩa lý, phân biệt kỹ-càng. Hoặc ra đi giáo hóa cho đầy trí-huệ, đủ sự học nơi nghe thấy, lo tìm thật-hành và dạy nói, có đủ trí như chai nước đầy, thì mới không còn lưng vọng, tự nhiên chơn-như hiện đến.
7) Hoặc tập sửa tướng nói tướng làm, tướng nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cho có qui tắt điều-độ, chậm chạp chẫm-rải thong-thã, thanh-nhàn, ngay-thẳng, chính-chắn, trang-nghiêm, nết hạnh. Cái ý không cho ra ngoài các tướng bảo ấy cũng như bắt đứa tớ chăn bò, chẳng cho ở không thì nó không còn phóng túng, chạy chơi ngông dạo để gây tai nạn.
8) Hoặc tìm nơi tâm-lý giáo-lý của chúng-sanh xem xét nhơn-duyên, tìm lẽ thật hay sự nghe pháp nghe kinh, hoặc nghe trái tim nhảy, hoặc thấy hơi thở điều hòa, hoặc ghi nhớ thân mình nơi mọi chỗ, hoặc giữ -gìn ngũ-tạng, hoặc thận trọng ngăn ngừa bịnh, hoặc giữ oai nghi, hoặc ngồi đếm số, hoặc lượm món đồ, hoặc tập thở bằng rún, hoặc đếm bước đi, hoặc tưởng-tượng trên không, hoặc nghe hơi gió, hoặc lặng lóng bên trong, hoặc xét bên ngoài, hoặc hằng giữ đúng một chữ trung trung, hay tập cái công cái hòa, cái tự-nhiên cũng được v.v…thảy đều là phép nhập định từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu, mà người thật hành thì phải bền chí, chịu buồn giữ tâm nơi rừng rậm không cho thối chuyển.
9) Hoặc chỉ tìm xét trong cái không, cái vắng lặng tối tăm, cái huyền-bí của võ-trụ, hoặc yên lặng dè dặt mà xem nghe chừng, sự động-tịnh của tâm mình với các điều chi xảy đến, hoặc tin tưởng một vị Phật Thánh, hoặc vì giữ một câu triết-lý, hoặc suy gẫm từ tiếng nói của thế-gian, nhận xét sự biến hóa của vạn-vật, tìm hiểu thời-duyên, xét xem sự sống của thánh-hiền, tập sửa tư cách làm thầy dạy học, học trò…thảy điều là phép nhập-định, giữ tâm yên lặng tránh xa ác khổ.
10) Hoặc tìm xét nơi màu xanh, đỏ, trắng, vàng, đen, tím, đất, nước, lửa, gió khoảng trống, cái không, cái có nơi các tử-thi, sự chết, thây ma, hoặc suy gẫm nơi Phật, Pháp, Tăng Giới, Định, Huệ. Ơn đức của Phật và chư Thiên, nơi đức tin, nơi ánh sáng, nơi sự sống, hoặc quán xét nơi phép linh, nơi lòng từ-bi hỷ-xả vô-lượng, nơi cái không có, không lường, không biên, không nhớ tưởng, không nhận biết, không cái ta, không thường, không ranh mé…nơi miếng ăn dơ bẩn, nơi xác thân nhơ nhớp, hoặc chán ghê hổ thẹn, sợ cho cái khổ, cái luân hồi…Cả thảy các pháp lý sự gì trong thế-gian, quấy phải gì cũng có thể làm đề-mục nhập-định cho ta được cả. Khi ta hành đến là sẽ được học lần lần, cũng có pháp cao thấp tùy theo trình độ, nhưng ta có thật-hành mới có hiểu và rồi tự mình lựa chọn chế biến cho hạp vừa. Chớ đối với người đã nhập-định vững rồi, thì phép nào đề-mục nào cũng được, cũng y nhau vốn không cao thấp khác lạ, hoặc lúc đầu ta tập giữ một đề-mục hay một câu thoại-đầu, đặng chăm chú mà soi sáng, rồi về sau duyên-cảnh thay đổi là ta hay đổi đề-mục khác nữa. Hoặc bữa nay làm việc với một câu nầy, rồi ngày mai làm việc với câu kia, hễ khi làm việc xong, nghỉ xong, là đứng dậy chẳng luận lâu mau sau trước, hoặc giữ một đề-mục cho có ấn-chứng, rồi sẽ qua đề mục khác cao hơn cũng được.
Cần nhứt là phải biết rằng: Lúc mới khởi đầu thì phải TẦM-SÁT là tìm xét nghĩa-lý, hiểu nghĩa-lý rồi mới có HỶ, có hỷ rồi mới có LẠC, có lạc rồi mới có TỊNH, có tịnh rồi mới có ĐỊNH, về sau hết nghĩa-lý để tầm-sát rồi, tức là giác-ngộ hết pháp nơi mình, thì chỉ còn hỷ-lạc tịnh-định, lâu sau nữa chỉ con lạc-tịnh-định và sau rốt là còn định và xả, xả và định. Bấy giờ cái học sẽ từ nơi yên lặng mà ra, và từ nơi cảnh ngoài mà đến thêm, thêm mãi tức là giải-thoát đã đến bờ bên kia Niết-Bàn hết luân-hồi khổ-não.
Vậy nên Sơ định là: Tầm-sát, hỷ, lạc, tịnh, tịnh.
Nhị định là: Hỷ, lạc, tịnh, định.
Tam định là: Lạc. tịnh, định.
Tứ định là: Tịnh, định và sẽ đến định xả là đắc-đạo, đắc chơn-ngã, chủ tể, kết-quả.
Sơ-định là cảnh Trời Dục-Giới, nhị-định là cảnh Trời Sắc-Giới, tam-định là cảnh Trời Vô-Sắc-Giới hay xứ Cực-Lạc của Phật A-Di-Đà, tứ-định là xứ Tịnh-Độ. Qua khỏi tứ-định, xứ Tịnh-Độ mới gọi là đắc Niết-Bàn nín nghỉ, thiệt thọ kêu là đại-định là tự-nhiên chứ không còn có pháp gì, như niệm năm chú hay tầm-sát, hỷ, lạc, tịnh chi cả.
Trong cảnh tâm-định, thường có những sự vui như da nổi ốc, trán mát lạnh, như thấy hào quang xẹt, như thấy biển nước trắng xóa phủ chụp chung quanh, như thấy mình nhẹ bay bổng trên không trung và bay theo mây gió…Điều mà phải tránh là trong khi nhập-định, chớ khá đua tranh ngồi nhiều ngồi ít, ngồi lâu ngồi mau, hễ qua khỏi tầm-sát là đến hỷ lạc tịnh và định, hãy để tự-nhiên cho nó định chớ đừng có ý muốn vọng-tưởng đến và khi nó vừa hoạt-động thì phải xả đứng dậy đi ra, chớ đừng ngồi nán e thấy quấy, suy-nghỉ nhớ bậy, ngồi được lâu mau, là nhờ nhiều ngày tập lần từ chút, chớ đừng đua hay khoe giỏi và đừng vọng-tưởng nhớ ông kia bà nọ chi cả. Đức tin phải có mà đừng tưởng tượng ngóng trông, hãy sinh coi là ngồi chơi, nghỉ ngủ, giải-trí thế thôi. Chính không trông linh-nghiệm, thì lâu ngày mới linh-nghiệm, mà cần phải biết rằng, đó là phép tránh phiền-não giải-thoát, ta tập ngồi nhập-định, là để cho quen từ chỗ vắng-lặng ngủ nghỉ, mai sau đến khi đi đứng ngồi nằm đâu đâu, chỗ đông-đảo, xao-động ác trược, ta cũng có thể nhập-định giữ mình không cho ô-nhiễm và sống lấy riêng mình không loạn rối, đặng giúp-đỡ cho đời, ích-lợi cho mình cho người, chính phép nhập-định là để ngăn tà ác nơi ta trước vậy.
Hễ định được thì thần-thông và trí-huệ sẽ có một lượt, từ định mau tới lâu, là quả linh và đạo-lý cũng sẽ có, từ ít tới nhiều tự nhiên nơi ta sẵn có, nếu không xao-động che đậy là nó yên trụ và xuất hiện ra chớ chẳng cầu vái nơi ngoài ai cho mà có được.
Sắc thân trong sạch như không không thì thọ-cảm được yên vui, hễ thọ-cảm được yên vui là tư-tưởng được huyền bí, hễ tư-tưởng được huyền-bí là hành-vi được thần-thông, hễ hành-vi được thần-thông là thức-trí được huệ sáng, hễ thức-trí được huệ sáng là giác-ngộ được chơn-như. Cho nên gọi rằng: Trong “sắc thân không” có đủ giác linh và thần, sự sống, ba báu quí vô cùng mà ta phải biết gìn-giữ chùi lau, để yên cất kín, chớ cho dính dơ bụi bậm.
Nhờ nhập-định cái tâm mới già cứng, cái ý để cất lâu ngày sức lực mới mạnh, pháp thần-thông, trong cái định là kín đáo ẩn-mật, cũng như cái trái có làm vỏ kín đậy, nó mới trọn tốt ngon lành, định gom các tư-tưởng làm một khối không cho tán loạn làm cho sức cứng chắc.
Trong đó là ba cái mật: Thân mật, khẩu mật và ý mật, gom lại một thể là mạnh vô cùng, và bởi cùng trong cái mật như kẻ chết, nên thường đi lại với các bậc Thần Tiên Phật Thánh không thân, tuy xác thân còn mà sự sống ở bên kia cảnh giới, qua lại lui tới hai đường thong-dong tự tại. Sức mạnh của cái mật kêu là thần, cái thần mạnh hơn hết, gồm cả thân, khẩu, ý làm một lại, mà bảo no là no, bảo sống là sống, bảo chết là chết, bảo đứng là đứng, bảo đi là đi, bảo lên là lên, bảo xuống là xuống…biến hóa vô cùng. Ta là mật, mật là ta, chư Phật Thánh là ta, ta là chư Phật Thánh là cái mật là như nhau, là có một, nơi ấy chỉ còn một cái đức tính linh-thiêng, phép thần, trí-huệ với chơn-như mà thôi
Về phép tập nhập-định, chúng ta có thể hiểu tóm-tắc sơ-lược bước đầu ấy, muốn hiểu kỹ về thật-hành thì mỗi đoạn ắt phải giảng-giải ra thành nhiều quyển sách, quí giá vô cùng và thật hành là phải có bậc cao niên chỉ dẫn mới được.
Muốn định phải có giới ủng hộ, mà chỉ có giới xuất-gia khất-sĩ mới có thể vào giới đại-định nổi. Giới người cư-sĩ chỉ tập được chút ít thôi, vậy nên muốn nhập-định phải là xuất-gia khất-sĩ, chỉ có xuất-gia khất-sĩ mới tu nhập-định, không làm khất-sĩ khó định được.
Kẻ khất-sĩ mà không có định là ra người khất-cái, chỉ có định nới sanh huệ, định huệ song tu, do nơi giới luật khất-sĩ thì chơn-như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn-lý lẽ thật, tức là chánh-đạo, đạo của võ-trụ, của ta và của tất cả, hay là đạo của tâm mình.
Trong đời có lẽ ai cũng là khất-sĩ cả! Vì có ai mà không có sự xin từ nhỏ tới lớn? Ai mà không có sự học mỗi ngày? Ai mà không có sự định từ phút? Ai mà không có sẵn phép linh thần-thông? Vậy ai sống đúng phép thì nên, người hành sái trật là hư, nên hư tự mình, ai nấy hãy tìm xét trong cái tự-nhiên là thấy hiểu.
Chính trong tấm kiếng tự nhiên của tâm định như mặt nước, thì việc chi động đến cũng thấy biết rõ ràng, ứng hiện và lại tự nó biến-hóa linh-thiêng, cái ta khỏi phải cần học hay tập hành điều chi nữa cả.
Nói tóm lại: Chúng ta cần phải mượn cái thiện để học tập đến xuất-gia khất-sĩ, giới định huệ mà tu Phật. Như vậy là người xuất-gia khất-sĩ phải có đủ thiện-căn trí thức, chớ nên vì nghe nói ích-lợi mà ham muốn khi mình còn tội-lỗi, nếu kẻ còn quấy ác thiếu học không minh mà luyện tập tư-tưởng ắt cũng đưọc linh-thiêng, nhưng kẻ ác linh-thiêng là không có trí huệ, vì tự cao mà sanh quỉ-quyệt, là tà ác sái đạo. Vậy nên, ai muốn tu chánh-định đến Niết-Bàn, thì trước phải tu tập phước thiện, nuôi trí, học hành chơn-lý, mở trí thông-minh, tập lần giữ giới, sau lần chắc vững sẽ đi ngay vào trong nhà Phật. Cần nên hiểu biết sự tu là mãi mãi đời đời là nơi cuối chót của khoảng đường dài, mà ta kết thúc, chớ không phải ra vào lui tới không thường, hay là sự đắc quả trong một hai ngày giây lát, hoặc khi thì làm Phật lúc lại làm ma.
Vả lại sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm hay là đường quanh nẻo tắt gì cả. Vậy chúng ta hãy chẫm-rải mà đi, nếu là kẻ thiện hành thì tâm trí đâu có tiêu-diệt trong ngày hôm nay, mà hòng lo sợ! Còn như sự nhập-định là lúc đầu phải chấp để thật-hành, tu tập đi tới, khi đã tới nơi yên lặng rồi, thì cảnh ấy là tự nhiên vắng-lặng chơn-như, chớ không còn có chấp hay không chấp, cùng chấp có chấp không chi cả, theo như lời tranh luận.
Muốn nhập-định cũng phải cần cảnh tịnh, tâm tịnh phải y nhau, thời duyên phải hạp lúc, sanh-chúng chớ cho gần, hoặc gần thì phải thuận-hạp, hoặc hộ trì tán-trợ mà người lành thì phải kiên gan trì chí, tuy không sợ chết nhưng cũng chớ liều mình vì quả đạo không có ở nơi người chết. Cảnh định là cảnh tự-nhiên, tự-nhiên là yên-lặng, vậy nên tâm và cảnh phải yên-lặng thì mới có cái sống tự-nhiên được.
Trước khi nhập-định thì sự việc chi phải cho rồi xong hoặc nếu có thể bỏ ngang được, mà trong ngoài phải không còn dính mắc thì mới yên-lặng.
Phép tu phải có động tịnh tập lần từ chút cho quen, chớ khá ham mê thái quá mà ra tù túng bẩn-chật, mỗi khi ngồi phải thay đổi chỗ, không ngồi hai lần một chỗ ngồi, phải tìm nơi thanh vắng hoặc nơi trống trải thấy được chơn trời. Bằng nơi chỗ xao-động phải ngồi day mặt vào vách, vào gốc cây, tốt hơn là ban ngày ngồi dưới gốc cây, ban đêm ngồi nơi chỗ trống, sáng thì phơi chút nắng, khuya nên hứng chút sương. Phải thường thường thay đổi để không cho nhàm chán, nhưng không lìa xa mục-đích, chính nhờ sự tinh-tấn đó mà kết-quả vậy, con đường chánh-định là nơi cuối chót của chúng-sanh, chúng ta ai ai khá nên nhập-định hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment