Monday, February 22, 2016

Ngũ Uẩn (Chơn Lý Số 2).

I. NGŨ- UẨN HAY NGŨ-ẤM

NGŨ-UẨN hay ngũ-ấm là năm pháp cái trong võ-trụ. Mỗi vật chi trong thế-gian nầy, dầu có hình tướng, dầu không hình tướng, đều thuộc về chi-tiết của ngũ-uẩn cả. Năm pháp cái ấy là:

  1. Sắc-uẩn (hình sắc thể chất)

  2. Thọ-uẩn (thọ-cảm ưa chịu)

  3. Tưởng-uẩn (tư-tưởng hay tưởng-tượng)

  4. Hành-uẩn (hành-vi tức việc làm)

  5. Thức-uẩn (thức-trí phân biệt)

Chữ uẩn là: súc-tích, chứa nhóm, gom kết, khối to cả thể như kho tàng. 
Chữ ấm là: che đậy, thể rộng lớn trùm chứa (nghĩa tương tợ với chữ uẩn).

Ngũ-uẩn hay ngũ-ấm có ra, là nương sanh bởi pháp nầy và pháp kia. Như đất, nước, lửa, gió nóng lạnh, dung hợp sanh thọ-cảm. Thọ-cảm là ấm của tứ-đại, nên kêu là thọ-ấm, còn tứ-đại là sắc-ấm. Thọ-ấm dung hợp với sắc-ấm tứ-đại mà sanh tưởng-ấm. Tưởng-ấm dung hợp với sắc-ấm, thọ-ấm, tưởng-ấm nảy sanh thức-ấm. Thế là ngũ-ấm nương sanh lấy nhau, vì ấm là sự sanh nảy giữa cái này và cái kia

Ngũ-ấm là chơn-lý chung của võ-trụ vạn-vật, là sự sanh-hoá, kết qủa của các pháp.
Không có cái chi ngoài ấm, vì chính nó là sự sanh nẩy mọi vật, cũng như có nước, có bột, rồi làm thành bánh; ấm hay là uẩn đây là bánh, mà cũng là nước và bột, hay đúng hơn hết là “sự sanh nảy, sự thành tựu”, nghĩa là có bột, có nước thì có bánh. Nước, bột, bánh, đều ở trong sự sanh nảy, sự thành tựu, Cho nên nói rằng: ngũ-uẩn hay ngũ ấm, là năm pháp cái trong thế-gian, võ-trụ và vạn-vật, đâu đâu cũng ở trong cái thể rộng lớn, súc-tích, chứa nhóm, gom kết, che đậy, trùm khắp tất cả rồi.

 

II. NHƠN DUYÊN CỦA SẮC-UẨNSắc-uẩn tức là mọi vật có hình sắc trong thế gian, như: đất, nước, lửa, gió, qủa địa cầu, vạn vật chúng sanh muôn loại…Có đất, nưóc, lửa, gió mới có qủa địa cầu. Vậy muốn biết qủa địa cầu từ đâu mà có? Đất, nước, lửa, gió từ đâu mà sanh? Ta nên xét về nhơn-duyên của sắc-uẩn!

  • Sắc-uẩn từ đâu mà có?

  • Sắc-uẩn vốn sẳn nơi không. Không là sự thay đỗi thông thường của qủa địa-cầu, khi nổi khi xẹp[1]

Sắc-uẩn không có nhơn-duyên chi cả, vì nó là cái có không đầu, không đuôi, tự nhiên như vậy (cũng có thể nói: qủa địa-cầu trước kia là nhơn, sau đến lúc tan hoại là duyên, có nhơn-duyên đó mới sanh ra sắc-
uẩn, là qủa địa-cầu hiện tại). Có sắc uẩn là có qủa địa-cầu, đất, nước, lửa, gió là nguồn gốc tạo sanh vạn-vật (sắc-uẩn)
___________________________________________________________________
 

 

III. SẮC-UẨN ĐẾN THỌ-UẨNĐất nước sẳn có mầm sống. Lâu ngày đất sanh nhựa chỉ mồ-hôi, lâu biến sanh rể cây, cỏ (và thú). Nước sanh bèo, rong, đặc lền, lâu cũng biến sanh rể, cây, cỏ (và thú). Cỏ cây đã có sự biết sống khá trổi, cái biết sống này kêu thọ-cảm (nghĩa chử thọ-cảm là lần lần tự cảm-ứng hay bị cảm-hoá, lãnh nạp niệm cảm của giống khác). Cây nhỏ thì thọ cảm rất yếu ớt, những cây to lớn sống nhiều năm, thọ cảm được già, như ta thấy các cây to hay có thọ-thần, lắm kẻ ngỡ là ma quỉ hoặc thần thánh: chính là cái thọ-cảm già. Do sự sống lâu ngày xúc tích (thọ-uẩn)

 

IV. THỌ-UẨN ĐẾN TƯỞNG-UẨNCây sống nhiều năm thọ-cảm đã già mà tập lần tưởng-tượng. Khối tưởng-tượng làm cho linh hồn yếu ớt kia (thọ-cảm càng đứng vững. Linh hồn đã có nên nhập thai bằng tư-tưởng rất mạnh mà tương hình động vật[1] thành con thú. Thú có tư-tưởng hay tưởng tượng mà mạng kiếp kéo dài, tư-tưởng ấy càng giá cứng, sức khôn ngoan đựng chứa càng lúc càng nhiều. Nó đã có một linh-hồn chắc thiệt. Đến đây tư-tưởng đã già nhờ lâu ngày chứa nhóm (tưởng-uẩn)
________________________________________________________________
 

 

V. TƯỞNG-UẨN ĐẾN HÀNH-UẨNThú sống nhiều năm tư-tưởng đã già, mà tập lần hành vi. Sự hành-vi cho linh-hồn khờ dại yếu-ớt kia (tưởng-tượng), lần lần khôn ngoan cứng-vững, linh-hồn đã khôn ngoan cứng-vững, nên nhập thai bằng hành-uẩn, tập hình người[1]. Người sống chung chạ trong thế-gian nhờ hành-vi mà khéo xảo khôn ngoan, lần lần tấn hoá vượt trổi. Tuổi sống kéo dài, hành-vi nhờ khinh-nghiệm càng vững chãi, linh hồn càng khôn ngoan. Ấy là hành vi đã dến mức tối cao tột điểm, nhờ lâu ngày nhiều khiếp gom kết đầy đủ (hành-uẩn). 
________________________________________________________________
 

 

VI. HÀNH-UẨN ĐẾ THỨC-UẨNNgưòi sống nhiều năm tuổi, sự hành-vi đã già kinh-nghiệm mà lần sanh thức trí. Khiếu thức trí, là cái biết giá dặn kia, làm cho linh-hồn càng tiến hoá đến bậc Siêu nhơn loại (người vượt trổi hơn chủng-loại người), cũng gọi là Trời. Từ lớp thường-nhơn đến lớp siêu-nhơn, là trải qua một quảng đường dài của thức-trí, tức là cái biết phân-biệt, cái biết phân-biệt chẳng phải chỉ trong một kiếp một đời mà có được. Nhờ trải qua ngàn vạn ức kiếp, cái biết ấy mới càng già-dặn, vững-chãi kết gom từng khối to cả thể như kho-tàng (thức-uẩn)

 

VII. THỨC-UẨN ĐẾN GIÁC-CHƠNTrời sống rất lâu, thức-trí thông-minh sáng suốt, lần đến giác chơn là tỏ ngộ chỗ thoát trần; tâm chơn chẳng vọng, tánh giác không mê thường gọi là Phật.
Phật là đấng Toàn-Giác, Toàn-Chơn, Toàn-Thiện, Toàn-Mỹ, Toàn-Năng, Toàn-Trí, Toàn-Đức, Toàn-Nhân, sau khi đã làm xong phận sự giáo hoá (qua khỏi lớp Trời) đến lúc nghỉ-ngơi, công-viên quã mãn.

 

VIII. NGŨ-UẨN HAY NGŨ-ĐẠO Thân hình đứa trẻ mới tượng trong thai là sắc.
Lúc sanh ra là thọ
Đến sáu tuổi là tưởng 
Khi mười hai tuổi là hành
Chừng ba mươi tuổi là thức
(Bốn mươi tám tuổi là giác)
Đia-ngục là tứ-đại, hay thân hình trong thai, có sắc.
Ngạ-quỉ là cây cỏ, hay đứa trẻ mới sanh , có thọ
Súc-sanh là con thú, hay em nhỏ sáu tuổi, có tưởng.
Nhơn là người, hay người nhỏ có hành.
Thiên là Trời, hay Trời lớn, có thức.
(Phật hay người già, bốn mươi tám tuổi có giác)

A) ĐỊA-NGỤC
Cảnh của một đứa trẻ , ngồi trong bụng mẹ, bọc thai như bao vỏ của hột giống, da bụng mẹ như đất. Ở trong ấy nhờ cái ấm mà tượng hình. Lúc ban đầu mê như người ngủ, vốn chưa có cái biết, về sau bởi có sự xao động bên ngoài là pháp-hành, mới sanh-thức biết lần lần. Cái thức mới ấy gọi là thọ-cảm, có thọ-cảm mới chun ra, cũng như kẻ ngộp nhô tìm ánh sáng, vượt bỏ chốn vô minh si mê (địa-ngục)

B) NGẠ-QUỈ
Đứa trẻ sanh ra chỉ biết đòi ăn, đòi bú, cũng như cỏ mọc ra, là chỉ biết đói khát, đòi ăn phân, uống nước, gốc tham-lam (ngạ-quỉ)

C) SÚC-SANH
Trẻ con sáu tuổi vọc đất chơi bùn, ưa lùm, thích buội khác nào con vật; lại thêm ngịch ngợm phá phách, hung dữ, ham gây gốc, sân giận (súc-sanh).
(Ba hạng này ở trong cái ác mà không tự biết, sống bằng cách hại kẻ khác chung quanh, mà vẫn không hay. Như cây cỏ sanh ra bỏi đất nước, rồi ăn đất nước mà sống, khác nào như đưá con sống bằng thân mẹ, ăn máu thịt mẹ? Đứa trẻ lấy máu thịt mẹ làm thân (điạ-ngục) sanh ra rồi lại còn bú là ăn máu thịt mẹ nữa, thêm sự thèm đói như ma đói (ngạ-quỉ).
Lớn lên sáu tuổi hết giết mẹ, lại đến tuổi đùa-nghịch, phá-phách, gây-gỗ khổ hại ông cha (súc-sanh).
Ấy bởi chỉ có sắc thân như địa-ngục; thọ-cảm như ngạ-quỉ, tư-tưởng như súc-sanh, thôi! Nào ta có nên chấp trách, kẻ chưa có cái biết đầy đủ ấy, vì theo từng lớp tiến-hoá, ai ai cũng vậy. Chính ta, chúng ta mỗi người đã phải trải qua ba lớp ác ấy rồi: Ta dã ở trong cảnh mê ngộp của địa-ngục thai bào (sắc) mà tiến đến cõi đói khát tìm đòi của ngạ-quỉ (thọ), rồi vượt lên đến lớp nghịch-ngợm phá-phách của súc-sanh (tưởng). Nhưng lần lươt ta sẽ đến với cái thiện của lớp người (hành). Trời (thức) mà tha thứ cùng giúp đỡ cho bao kẻ khác. Người giúp ta, ta giúp lại cho kẻ khác, ai cũng sanh nơi cha mẹ gốc vốn, và phải nương theo chỗ sanh gốc vốn ấy một lúc đầu. Về sau ta mới biết tự lo cho ta và đền ơn cha mẹ, là ta giúp đỡ nuôi dạy lại kẻ khác).

D) NHƠN, NGƯỜI
Khi tuổi mười hai, không làm ác, tha-thứ cha mẹ, không giết hại, lòng nhơn nhỏ hẹp, tự làm nuôi sống, có hành-vi phụ-giúp gia-đình, lần lần biết thương quyến-thuộc. Tập ăn chay, giảm tha mạng thú vật, bắt đầu ham sống vật-chất, chú trọng cho mình nhiều, gọi là người nhỏ (nhơn)

Đ) THIÊN TRỜI
Chừng tuổi ba mươi, lòng nhơn to rộng, gọi là người lớn, giao du cùng xứ, sống trong xã-hội, biết thương chủng-tộc người. Nói việc lớn, làm việc lớn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đều hạp theo lẽ lớn, sự lành. Quên mình mà lo cho thiên-hạ, giúp đỡ kẻ dưới mình, gần là con, vợ, xa là một xứ. Thanh-cao quảng-đại, gác mình bực bề trên, kêu gọi là Trời. Sống với tinh-thần, chồng vợ lâu ngày xem ra như bạn, giúp nương coi là bổn-phận. Hiểu lẽ trắng, biết điều thiện, có thức-trí, ăn chay phóng sanh, trọng mạng sống của thú người, lòng nhơn đã rộng lớn (thiên)

PHẬT
Trên bốn mươi tám tuổi, tuổi đã giác-ngộ, trong sạch sáu căn, từ-bi trí-huệ, sống nơi thanh-tịnh, biết kinh-nghiệm, chơn-lý thấy rỏ vô-thường, khổ-não, không cái ta. Chuyên dạy lành cho trẻ nhỏ, nết hạnh trang-nghiêm, giác-ngộ hoàn-toàn; không giống như người lớn cùng trẻ nhỏ; qua khỏi sự làm ác và làm thiện bằng vật-chất; chỉ nói chút lẽ đạo, no đói không cần, có chi ăn nấy. Ngày ăn một bữa để nuôi tâm chơn như, rảnh-rang không bạc tiển. Ai chôn giết chừng nào cũng được. Thương tất cả chúng sanh. Bình- đẳng cỏ thú người thuận theo lẽ một [1], thế-gian người nuôi để xin lời vàng ngọc. Không sống cho mình, sanh, già, bịnh, chết, rõ biết, vui khổ, hết ham.

Trên sáu mươi tuổi, không còn đi đây đó, ở trụ một chỗ hưu-trí, thôi dạy, nín nghỉ chơn-như. Trí đầy tâm đủ, gọi Niết-Bàn sáng láng. Như hột giống sen khô cứng, cất để đời đời trường-sanh bất-diệt. 
________________________________________________________________
[1]Một thân, một áo, một bát, ngày một bữa ăn

 

IX. TỪ NGŨ-UẨN ĐẾN GIÁC CHƠNSắc là thân phàm (địa-ngục).
Thọ (ngạ-quỉ)
Tưởng (súc-sanh)                      là tâm phàm vọng
Hành (nhơn-loại)
Thức là trí-phàm (thiên-đường)

Chót hết là giác, giác là tánh, hay tâm chơn, của chư Phật. Trong Phât có chứa sẵn rồi năm ấm. Trong mỗi một ấm đều có chứa ảnh-hưởng của bốn cái kia và cái giác. Cũng như trái dừa non có vỏ (vật, thân), lớn có thịt cơm (trí) già có (mộng) hột, thì vỏ thịt cơm đều tiêu lần (tâm).
Như vậy là trong vỏ đương ngầm tựu hột (mộng) và thịt cơm, trong thịt cơm có hột (mộng), hột (mộng) ấy sẽ nảy tượng. Trong hột mộng chứa thể chất của thịt cơm, nước, vỏ, cho nên nói rằng: Chúng-sanh có Phật-tánh, có ảnh-hưởng Phật, sẽ thành tựu qủa Phật, và cũng có thể nói rằng: Trong Phật có chúng-sanh, nhưng bởi hột giống không gieo trồng thì không lên, bằng ương xuống ắt cũng mọc liền.
Phần chia ra ngũ-uẩn, chỉ rõ từng giới-hạn ấy để cho dễ phân biệt, cái giác có từ đâu? Giác là gì? Tại sao mà có? Có để chi? Sự thật nơi năm pháp nầy ta thấy thân sanh tâm trước, trí sanh tánh trước. Khi có tánh rồi, tánh sanh trí sau.Có tâm rồi, tâm sanh thân sau. Như vậy là từ thân đến tánh, từ Địa-Ngục đến Niết-Bàn, là con đường tiến-hoá hay lớp học của chúng-sanh cũng kêu là đạo. Từ đầu vô-minh đến cuối chót giác-ngộ là đắc-đạo. Nơi đó chỉ có cái biết. Từ không biết đến biết hoàn toàn. Từ vô động sanh ra động, và đến nghỉ-ngơi, còn tồn tại hột giống, hay cái ta chắc thiệt.

 

X. NGŨ-UẨN QUÁ THẠNH CHÚNG SANH KHỔSống trong cỏi đời hiện tại chung-quanh ta, mọi vật dường như quyến-rủ ta, sa vào vòng ham muốn mãi mãi không thôi. Kìa như dinh-thự lâu đài nguy-nga tráng-lệ, gấp vóc tố-sa đẹp tốt mịn màng, cao-lương mỹ-vị bỉ-bàng ngon quí…tất cả ngần ấy như thúc-giục, như cuốn lôi con người vào vòng bận rộn, vì thức ăn, sự mặc cùng chỗ ở, mà thiết-tưởng mỗi người trong thế-gian, khó bề tránh cưởng được ba điều ấy, một khi đã có sắc thân. Huống chỉ với kết-qủa của văn-minh vật-chất, cơ-khí đã rực-rỡ kỳ-công khiến cho ngày nay, khắp nơi đầy rẩy vật-chất, cung-phụng cho lòng khao khát, muốn ham không hạn- lượng của loài người.

Với bao vật SẮC hữu hình ấy, một khi nó đã quá thạnh hành, ta phát sanh ý muốn thích ưa, THỌ cảm vui chịu, TƯỞNG-tượng tư lương, tính sao chiếm lấy cho kỳ được, sanh ra HÀNH-vi, bởi nơi vọng THỨC. Thế rồi quanh quẩn bao nhiêu đó mãi, khi chưa được cũng khổ, khi đang có cũng khổ, và khi đã mất lại càng khổ

Ngũ-uẩn này là nguồn gốc phát sanh ra sự khổ, lại có hai pháp: khách-quan và chủ-quan, như đoạn trên chỉ về ngũ-uẩn làm khách quan bên ngoài, xâm nhập vào ta, mà sanh rối khổ, nhưng bên trong cũng có chủ-quan tiếp nhận khách-quan kia. Bởi ta có sắc thân, mới có thọ-cảm, tư-tưởng hành-vi và trí-thức (vọng) mà tiếp nhận hình-sắc thể-chất bên ngoài, rồi mới sanh ra thọ-cảm, tư-tưởng hành-vi và thức-trí (vọng). Lại cũng vì vọng-thức ta mới có hành-vi, bởi hành-vi mới có tư-tưởng, bởi có tư-tưởng mới có thọ-cảm, bởi có thọ-cảm mới có sắc thân. Như thế là ta đã mắc vào trong guồng máy của ngủ-uẩn, đang lăn xoay quay cuồng rối-tít, mà chịu khổ. Muốn diệt khổ ta phải diệt ngũ-uẩn, tức là không còn ngũ-uẩn, ngũ-uẩn đều không, không ngũ-uẩn gọi là giác-chơn, vì có ngũ-uẩn vốn là mê vọng [1].
________________________________________________________________
[1]Đây là ngũ-uẩn của vọngpháp

 

XI. PHÁP DÌỆT NGŨ-UẨNBởi có sắc thân, lâu ngày mới sanh thọ-cảm.
Bởi có thọ-cảm, lâu ngày mới sanh tư-tưởng.
Bởi có tư-tưởng, lâu ngày mới sanh hành-vi.
Bởi có hành-vi, lâu ngày mới sanh thức-trí.
Bởi có thức-trí, lâu ngày mới sanh giác-chơn.
Hễ giác-chơn thì không còn trí-thức, hành-vi, tư-tưởng, cảm-thọ sắc thân nữa.

Không sắc thân đâu có thọ-cả.
Không thọ-cảm có đâu tư-tưởng.
Không tư-tưởng có đâu hành-vi.
Không hành-vi có đâu thức-trí.
Không thức-trí có đâu giác-chơn!

Giác-chơn tức là lý không, hay cũng nói ngược là: không thức-trí mới gọi giác-chơn. Đến đây không còn mê lầm trong vọng cảnh nữa, thì ý chí, khổ tình, đâu có ở tại chỗ nào?

Muốn giác-chơn thì phải diệt trừ thức-trí.
Muốn không thức-trí phải bỏ hành-vi.
Muốn không hành-vi, phải đừng tư-tưởng.
Muốn không tư-tưởng, phải dứt thọ-cảm.
Muốn không thọ-cảm, phải không sắc-thân.

Nghĩa là hãy coi sắc-thân như không có, hay là chết rồi, hết mê tríu, dứt luân-hồi, không còn nhập thai trở lại.
Giác-chơn là trọn yên vui, không khổ-não, cảnh cao-viễn nhứt của chúng-sanh, cũng là bậc không còn trở lại
Ngũ-uẩn cũng là nấc thang hay trình độ, lớp học tiến-hóa của chúng-sanh, mà trong ấy cái khổ là gió làm duyên để đưa lên. Lên đến cái tột vui là Phật, Niết-Bàn, hay mục-đích của chúng-sanh. Thế nên khổ là tiến-hoá, là bài học đưa từ vật-chất lên đến tinh-thần.

 

XII. NGŨ-UẨN NẾU MẤT CHÚNG SANH ĐIÊNNgũ-uẩn là duyên tiến-hoá của chúng-sanh, từ đất, nước, lửa, gió đến lớp cỏ cây, con thú, loài người, bậc Trời và rốt ráo là vị Phật. Cho nên nói: Ngũ-uẩn ví như một thân hình: Thức là đầu, hành là tay, tưởng là ngực, thọ là bụng, sắc là chân, gồm cả năm thể thành một thân hình. Có ba thứ thân hình:

  1. Sắc ác, thọ ác, tưởng ác, hành ác, thức ác là thân hình đen (địa ngục)

  2. Sắc thiên, thọ thiện, tuởng thiện, hành thiện, thức thiện, là thân hình trắng (thiên đường)

  3. Sắc trong sạch, thọ trong sạch, tưởng trong sạch, hành trong sạch, thức trong sạch, là thân hình trong sạch (Niết-Bàn)

Trong sạch là hạnh thanh-tịnh xuất-gia giải-thoát giác-ngộ chơn-như, khỏi bụi trần ô-nhiểm.
Lại nữa ngũ-ấm cũng ví như một cái nhà: Thức là nóc nhà, hành là bốn vách, tưởng là đồ-vật, thọ là kho lẩm, sắc là nền nhà, còn giác là người chủ nhà, tự-do an lạc; hay mê là kẻ tội tù, bị nhốt để chịu khổ phạt. Mê thì ở quanh-quẩn trong cỏi địa-ngục, thiên-đường, khổ não. Giác thì ra khỏi nhà ngũ-uẩn, được an-vui Niết-Bàn. Niết-Bàn là kẻ ra khỏi trường, sau khi thi đậu, hết học. Luân-hồi là kẻ đang học sau, còn mệt nhọc, mới vào trường, mới lên lớp. (Ta chỉ hiểu để rõ thông đuờng lối vậy thôi, chớ Niết-Bàn không phải nhảy một cái mà đến. Nếu ta còn ở lớp thấy, thì hiểu để cố gắng và yên lòng
Con đường chúng ta còn dài, ấm tứ-đại sanh ra, nào có ai muốn bảo, nhưng khi đã có cái sống, cái biết rồi, thì vui hơn là khổ. Vui đạo lý vĩnh viễn hơn vui thiện. Vui thiện nhẹ hơn vui ác. Vui ác, vui vật-chất là gốc khổ sầu tai hoạ. Vậy ta nên đạp ác là Đất, đội thiện là Trời mà đi trên đường chơn-lý của Phật Thánh, mới chắc đến Niết-bàn vĩnh-viễn được. 
Trái lại địa-ngục vô-gián là nơi tiêu diệt, là cảnh giới của kẻ quá khổ mà điên. Cái khổ sẽ diệt mất thức trí, khổ nữa diệt mất luôn thọ-cảm
Như một kẻ quá điên kia, ban đầu mất thức trí, như trẻ nhỏ chơi với trẻ nhỏ. Kế nữa mất hành vi như con thú, chơi với thú, lần đến mất tư-tưởng, như cây cỏ ở nơi lùm buội. Sau rốt thọ-cảm dứt, thì còn sắc thân trơ như chết, và khi sắc thân chết là đất nước rã luôn. Đó là vì mất ngũ-uẩn, mà người ta tiêu diệt. Sự tiêu-diệt bởi cái khổ, khổ phát sanh tại gốc ác. Ác là trứng sâu, khổ là con sâu, ăn mòn chết cái biết, cái sống là cành cây ngũ-uẩn.
Chúng ta hình như ai cũng có con vi trùng khổ, vậy phải bắt đầu, chữa sửa, nuôi cây lấy giống để đời. Khổ là chết luôn, vui là sống mãi, ác là bệnh độc, thiện ấy thuốc hay.
Muốn cho sắc thân thiện, thì phải coi như là không.
Sắc thân không thì thọ-cảm được yên vui.
Thọ-cảm được yên vui, thì tư-tưởng được huyền-bí.
Tư-tưởng được huyền-bí, thì hành-vi được thần thông.
Hành-vi được thần-thông, thì thức-trí được huệ-sáng.
Thức-trí được huệ-sáng, thì chơn như được giác-ngộ.
Sắc thân ác, là bởi coi như có.
Sắc thân có, thì thọ-cảm rối khổ.
Thọ-cảm rối khổ, thì tư-tưởng không linh nghiệm.
Tư-tưởng không linh nghiệm, thì hành-vi theo vật-chất
Hành-vi theo vật-chất, thì thức-trí phải lu mờ.

Thức-trí lu mờ, thì mê lầm vọng động, không còn biết đầu đuôi thiệt giả, xưa nay, trên dưới chi hết…Chỉ sống bằng cách nhắm mắt đưa chơn, đánh liều mặc cho cái ý dục lôi kéo, trối trệ theo trước mặt, do đó mà nhục-vinh lợi hại, khổ vui làm gió, xô đẩy ngửa-nghiêng, đầu óc đảo lộn. Rồi thì sống đến đi ,còn mất có không, mặc sức cho vô-thường hãm hại, phạt mãi một chỗ, luân-hồi mãi một nơi, ấy là chưa kể sự đi lui, trăm kiếp ngàn đời không trông tiến hoá!

 

XIII. PHÁP NUÔI NGŨ-UẨNTừ khi qủa địa-cầu nổ xẹt tắt lửa, chỉ còn là một lớp dày lợn-cợn. Lâu về sau chất nặng lóng xuống là đất, trên là nước, trên nữa là hơi. Đất nặng dẽ, đặc dày; lâu ngày hầm nóng phát lửa, lửa cháy thổi mạnh lên, nước đất cuốn tròn lại làm bọt, gọi quả thuỷ-tinh. Sau có đất nổi lên, kêu là địa-cầu.

Võ-trụ có vô số qủa địa-cầu không thể đếm, vì cái nổi, cái tan, dồn qua, tẻ lại. Võ-trụ là vô minh hay cái không, không biết; là cảnh giới bao-la, tối đen và im-lặng. Bởi có địa-cầu mới có nhựt-nguyệt, bằng không thì âm-thầm không không.
Đất nước lửa gió ở trong cái không, thành ra chơn-lý tương-đối, thế nên lẽ có, lẽ không, luận mãi không rồi, nhơn-duyên sanh-hoá là sau này; còn đầu tiên ta chỉ nói là tự-nhiên, trong tự-nhiên sẵn chứa CÁI KHÔNG, CÁI CÓ vậy thôi.

Ngũ-uẩn có từ nơi quả địa-cầu tứ-đại, chỉ rõ trước mặt sự thật. Còn trước tứ-đại, quá xa vời, dầu có nói luận, e thêm khó hiểu.

Ta chỉ biết rằng: Sự sống trong võ-trụ, quả địa-cầu là ngũ-uẩn, thì thân ta đây, một thể sống trong võ-trụ, cũng có đủ ngũ-uẩn không sai. Ta có sắc-thân, thọ-cảm, tư-tưởng, hành-vi, thức –trí. Vậy ta hãy xét đến điều ác, điều thiện của ngũ-uẩn:

Sắc-thân ác sanh sát-sanh.
Thọ-cảm ác sanh trộm cắp.
Tư-tuởng ác sanh tà-dâm.
Hành-vi ác sanh vọng-ngữ.
Thức-trí ác sanh uống rượu.

Đó là năm điều hại phải răn ngừa, vì ác ví như con sâu, sanh nơi cây và trở lại ăn hại chết cây. Nó sanh tại nhánh nào thì nhánh đó phải chết trước, và lần hồi phải chết hết cây.
Sát-sanh thì sắc-thân phải chết.
Trộm-cắp thì thọ-cảm phải chết.
Tà-dâm thì tư-tuởng phải chết.
Vọng-ngữ thì hành-vi phải chết.
Uống rượu thì thức-trí phải chểt.
Vậy những ai muốn nuôi cái sống, thì phải nuôi ngũ-uẩn để sanh giác-chơn, như trồng cây lấy trái vậy
Sắc-thân thiện sanh nhơn-ái.
Thọ-cảm thiện sanh nghĩa ân.
Tư-tưởng thiện sanh lễ phép.
Hành-vi thiện sanh tín-thiệt.
Thức-trí thiện sanh trí-huệ.
Trí-huệ mới kết quả chơn, thiện là sống, ác là chết.
Nhơn-ái nuôi sắc-thân.
Nghĩa-ân nuôi thọ-cảm.
Lễ-phép nuôi tư-tưởng.
Tín-thiệt nuôi hành-vi.
Trí-huệ nuôi thức-trí.
Có thức-trí mới được giác chơn. Giác-ngộ rồi mới biết chơn-như. Muốn chơn-như phải thường giác-ngộ. Ấy là pháp tu vắn tắt, nếu ai hành như thế, cũng thấy rõ sự giải-thoát, vì hết tham, sân, si là hết khổ, không khổ tức là đạo.

XIV. NGŨ-UẨN CỦA THỜI CUỘCCõi đời ngày nay có bởi do ngũ-uẩn. Như một người kia, từ nơi xứ sở yên vui tĩnh-mịch của mình, đi qua một xứ văn-minh khác, thấy mọi vật máy móc tối-tân tinh-xảo, sáng chế lạ lùng như; nhà cất cao ngất ngưởng trọc trời, xe không đẩy mà chạy, thuyền không chèo mà vượt biển khơi. Người có thể bay trên hư-không hay lặn dưới đáy nước, bằng máy bay, tàu lặn v.v…mỗi, mỗi vật SẮC, đều lạ-lùng kỳ-diệu, khiến người sanh THỌ-cảm thích ưa. Khi về xứ hằng lo nhớ TƯỞNG-tượng, mới khởi sự thi-HÀNH tạo sắm. Càng kinh-nghiệm khéo-léo, mở-mang THỨC-trí càng phân biệt. Bởi có thức-trí phân-biệt mới cố chấp say mê, sanh tình vọng ý-chí, cho đến đỗi lãng quên đường đạo-đức; lạm-dụng cơ-khí, để làm cho thoả lòng tham vọng bất công, gây ra sự oán cừu sân hận, hai khối chạm nhau, chiến-tranh bùng nổ, cảnh khổ diển khắp nơi. Sau chiến-tranh khổ, con người mới giác-ngộ, bỏ cái trí là chơn-như không mê vọng nữa, cũng gọi là nín nghỉ hết mê lầm. Tức là chừng nào con nguời được học, được kinh-nghiệm, mới nhận ra cái vô-ích, vô-lý của mình. Mới thấy điều thiện là cần và trau-giồi cái giác-chơn là quí báu nhứt. Chừng đó sự tự-nhiên đến mới hay vậy

XV. CHƠN-LÝ CỦA NGŨ-UẨNVề thuyết ngũ-uẩn, rất cần cho sự hiểu biết của chúng ta, vì sau khi hiểu biết, ta mới có sự tu tập đúng theo chơn-lý, lối tu rất tự-nhiên, có thể cải thiện cho đời sống của chúng ta nếu chúng ta nhận ra cuộc sống, còn có ít nhiều khuyết-điểm. Ta có tìm hiểu tất sẽ thấy ngũ-uẩn có nhiều pháp khác nhau, hầu như tương phản như thuyết ngũ-uẩn của võ-trụ vạn-vật, kể từ quả địa-cầu mới nổi đất, nước, cỏ, cây, thú, vật sanh ra, và tiến-hoá cho dến lớp người, Trời, Phật…Thuyết ngũ-uẩn của một đời người, từ lúc ở trong thai bào, đến khi sanh ra, tuần tự theo lớp tuổi của sắc thân tiến hoá…Thuyết ngũ-uẩn của con người, từ khởi điểm của vọng-thức cho đến lúc có sắc-thân, hay từ lúc có thân hình lần lần đến thức-trí…Thuyết ngũ-uẩn bởi vọng-pháp, chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức bằng lối mê tríu mà khổ…Thuyết ngũ-uẩn chia hai pháp: có và không, thiện và ác, giác và mê, lớn và nhỏ, thân và tâm, chủ và khách v.v…Thuyết-lý vốn không cùng cho nên ngũ-uẩn phải bị phân tách ra từng pháp-môn, nhưng tóm lại cũng không ngoài chơn-lý “làm cho con người mau giác ngộ”. Để khi giác ngộ rồi con người tìm ra lẽ sống an vui, không còn khổ-não với sự vọng-lầm, chấp lấy cõi đời là thật, cái thân ta là thật.
Chính nghĩa hai chử chơn-lý, chơn là không vọng tự-nhiên, lý là lẽ, lẽ thật tự nhiên. Chơn như tự-nhiên là gốc vốn nguyên xưa. Nếu ta đang rối khổ, mà hiểu được lẽ tự-nhiên chơn-như là sẽ hết khổ.
Có thiên có chánh cũng đến tư-nhiên chơn-như, không ác không tà cũng đến tự-nhiên chơn-như. Kẻ tối trong Niết-Bàn cũng yên vui, người sáng trong luân hồi cũng yên vui. Thế là sao cũng được, cũng xong; chỉ cần nên biết cái tự-nhiên chơn-như là đủ.

Tóm lại: Chúng-sanh, sanh ra là bởi ấm, do nhơn-duyên chuyền nẩy, cái nầy cái kia sanh cái nọ. Cái có sanh cái có mà thôi, có hiệp có tan. Tứ đại càng lăn, thì vạn vật càng hoá, lâu lắm mới được thân người, khó lắm mới có thân người; ai mà sống đúng chơn-lý, thi sẽ trọn-vui trọn sống, đến Niết-Bàn một kiếp một chẳng sai-ngoa.
Vậy chúng ta mau nên phải đến giác-chơn hết.

TXNKHET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment